Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 29

Chương 29 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây

Công tác tuyên truyền khắp cả nước không hoàn toàn thuộc về Tân Địa hạ; thậm chí phần lớn cũng không; và mặc dù trong hàng ngũ những người viết truyền đơn cho Tân Địa hạ, cả ở trong nước lẫn lưu vong ngoài nước, có hàng trăm nhà báo chuyên nghiệp tài năng nhất nước Mỹ, họ vẫn bị bó buộc bởi một sự tôn trọng nhất định đối với sự thật—thứ chưa bao giờ làm suy yếu các chuyên viên tuyên truyền của chủ nghĩa Corpo. Còn các Corpo thì có một ban tham mưu đáng kể. Trong đó có các hiệu trưởng đại học, một số phát thanh viên lừng danh nhất—những người thuở trước từng ngọt ngào thỏ thẻ tình yêu của mình dành cho nước súc miệng và thứ cà phê không gây mất ngủ—các cựu phóng viên chiến trường nổi tiếng, các cựu thống đốc, các nguyên phó chủ tịch Liên đoàn Lao động Mỹ, cùng một nghệ sĩ không kém phần lỗi lạc: cố vấn quan hệ công chúng của một đại công ty sản xuất thiết bị điện.

Báo chí khắp nơi có thể không còn tự do một cách nhạt nhẽo, ba phải đến mức đăng ý kiến của những người không phải Corpo; có thể chỉ đưa rất ít tin tức từ những xứ sở dân chủ cổ lỗ ấy—Anh, Pháp và các nước Scandinavia; quả thực có thể hầu như chẳng đăng tin quốc tế nào, trừ những thắng lợi của Ý trong việc ban cho Ethiopia đường sá tốt đẹp, tàu hỏa đúng giờ, sự giải thoát khỏi phường ăn mày và những con người có danh dự, cùng mọi ân huệ tinh thần khác của nền văn minh La Mã. Nhưng mặt khác, chưa bao giờ báo chí lại đăng nhiều truyện tranh đến thế—được ưa chuộng nhất là một truyện rất khôi hài về một gã cuồng Tân Địa hạ lố bịch, mặc đồ tang đen, đội mũ chóp cao quấn băng nhiễu, và lúc nào cũng bị các Minute Men đánh cho một trận hết sức tức cười. Ngay cả vào thời ông Hearst giải phóng Cuba, cũng chưa bao giờ có nhiều hàng tít lớn màu đỏ đến thế. Chưa bao giờ có nhiều tranh vẽ đầy kịch tính về những vụ giết người đến thế—mà hung thủ bao giờ cũng là những tên chống Corpo khét tiếng. Chưa bao giờ có một kho văn chương phong phú đến thế, xứng với sự bất tử dài hai mươi bốn giờ của nó, như những bài báo chứng minh—chứng minh bằng số liệu hẳn hoi—rằng lương bổng ở Mỹ đâu đâu cũng cao hơn, hàng hóa đâu đâu cũng rẻ hơn, ngân sách chiến tranh nhỏ hơn nhưng quân đội và trang bị lại lớn hơn rất nhiều so với bất kỳ thời nào trong lịch sử. Chưa bao giờ có những bài luận chiến chính nghĩa đến thế như các chứng minh rằng mọi kẻ không phải Corpo đều là Cộng sản.

Hầu như ngày nào Windrip, Sarason, bác sĩ Macgoblin, Bộ trưởng Chiến tranh Luthorne hoặc Phó tổng thống Perley Beecroft cũng khiêm nhường lên đài phát thanh thưa chuyện với các Chủ nhân của mình—Đại Công chúng—và chúc mừng họ đã lấy tinh thần đoàn kết Mỹ làm gương mà tạo nên một thế giới mới: vai kề vai tiến bước dưới Lá Cờ Già Vĩ Đại, cùng là đồng chí trong phúc lành của hòa bình và cùng là đồng chí trong niềm vui của cuộc chiến sắp tới.

Những bộ phim được quảng bá rầm rộ, do chính phủ trợ cấp (và còn bằng chứng nào hùng hồn hơn cho thấy bác sĩ Macgoblin cùng các lãnh tụ Quốc xã khác quan tâm đến nghệ thuật, ngoài sự kiện các diễn viên điện ảnh trước thời Ngài Thủ lĩnh chỉ nhận được một nghìn năm trăm đô-la vàng mỗi tuần thì nay được hưởng năm nghìn?), chiếu cảnh các Minute Men lái xe bọc thép với vận tốc tám mươi dặm một giờ, điều khiển một hạm đội một nghìn máy bay, và hết sức âu yếm với một cô bé ôm mèo con.

Năm 1935, tất cả mọi người, kể cả Doremus Jessup, đều từng nói: “Nếu ở đây quả thực xuất hiện một nền độc tài Phát xít, thì óc hài hước và tinh thần độc lập của người khai phá Mỹ nổi bật đến mức nó nhất định sẽ hoàn toàn khác mọi thứ bên châu Âu.”

Trong gần một năm sau khi Windrip lên nắm quyền, điều ấy dường như là thật. Ngài Thủ lĩnh được chụp ảnh đang chơi bài poker, mặc sơ mi xắn tay, đội chiếc mũ quả dưa ngả ra sau đầu, cùng một nhà báo, một tài xế và hai công nhân luyện thép lực lưỡng. Đích thân bác sĩ Macgoblin chỉ huy một ban kèn đồng của hội Elks và thi lặn với các người đẹp áo tắm Atlantic City. Có những nguồn khả tín thuật lại rằng các Minute Men đã xin lỗi tù nhân chính trị vì buộc phải bắt họ, còn tù nhân thì vui vẻ đùa cợt với lính canh... lúc đầu.

Tất cả những điều ấy biến mất chưa đầy một năm sau lễ nhậm chức, và các nhà khoa học kinh ngạc phát hiện rằng roi vọt và còng tay gây đau đớn trong bầu không khí quang đãng của nước Mỹ chẳng kém gì giữa màn sương độc địa của Phổ.

Doremus, khi đọc những tác giả mà ông giấu trong chiếc ghế sofa nhồi lông ngựa—Karl Billinger, người Cộng sản can trường; Tchernavin, người chống Cộng can trường; và Lorant, người trung lập can trường—bắt đầu nhận ra một thứ gần như sinh học của các nền độc tài, của mọi nền độc tài. Nỗi lo sợ phổ quát, những lời chối bỏ đức tin đầy khiếp nhược, cùng những phương pháp bắt bớ như nhau—tiếng đập cửa bất thần lúc đêm khuya, toán cảnh sát xô vào, những cú đánh, cuộc lục soát, những lời chửi rủa tục tĩu ném vào đám phụ nữ kinh hoàng, cuộc tra khảo cấp ba do lũ quan chức ranh con tiến hành, kèm theo những cú đấm đá rồi đến các trận đòn chính thức, khi tù nhân bị buộc phải đếm từng roi cho đến lúc ngất đi, những chiếc giường ghẻ lở và món hầm chua loét, lính canh đùa cợt bắn vòng quanh một tù nhân đang tưởng mình bị hành quyết, sự chờ đợi cô độc để biết chuyện gì sẽ xảy đến, cho tới khi người ta phát điên và treo cổ tự sát—

Mọi sự đã diễn ra như thế ở Đức, y hệt như thế tại nước Nga Xô-viết, tại Ý, Hungary và Ba Lan, Tây Ban Nha, Cuba, Nhật Bản và Trung Quốc. Dưới phúc lành của tự do và bác ái trong Cách mạng Pháp, tình hình cũng chẳng khác là bao. Mọi nhà độc tài đều tuân theo cùng một trình tự tra tấn, như thể tất cả đều đã đọc chung một cuốn cẩm nang lễ nghi bạo dâm. Và giờ đây, trên quê hương hài hước, thân thiện, vô tư lự của Mark Twain, Doremus thấy những kẻ điên cuồng sát nhân đang vui thú chẳng kém gì chúng từng vui thú ở Trung Âu.

Nước Mỹ cũng noi theo những thủ pháp tài chính tài tình tương tự châu Âu. Windrip đã hứa làm cho mọi người giàu hơn, và đã xoay xở khiến mọi người—ngoại trừ vài trăm chủ ngân hàng, nhà công nghiệp và quân nhân—nghèo đi rất nhiều. Ông ta chẳng cần đến nhà toán học cao cấp nào để lập các báo cáo tài chính: một chuyên viên tuyên truyền bình thường nào cũng làm được. Muốn phô ra mức tiết kiệm một trăm phần trăm trong chi tiêu quân sự trong khi quân số tăng bảy trăm phần trăm, chỉ cần tính toàn bộ chi phí dành cho Minute Men vào các bộ phi quân sự, nhờ vậy việc huấn luyện nghệ thuật đâm lưỡi lê của họ được ghi nợ cho Bộ Giáo dục. Muốn chứng tỏ mức lương trung bình đã tăng, người ta chỉ cần giở vài trò với “các loại hình lao động” và “mức lương tối thiểu bắt buộc”, rồi quên không nói có bao nhiêu công nhân thật sự từng hội đủ điều kiện hưởng mức “tối thiểu” ấy, cũng như trên sổ sách đã ghi bao nhiêu tiền ăn ở dành cho hàng triệu người trong các trại lao động thành tiền lương.

Tất cả đọc lên thật chói lọi. Chưa bao giờ có một thứ tiểu thuyết thanh nhã và lãng mạn hơn.

Ngay cả các Corpo trung thành cũng bắt đầu tự hỏi tại sao các lực lượng vũ trang—quân đội và Minute Men gộp lại—được tăng cường đến thế. Phải chăng Windrip đang khiếp sợ, chuẩn bị tự vệ trước cuộc nổi dậy của toàn dân? Ông ta định tấn công toàn bộ Bắc Mỹ và Nam Mỹ rồi tự phong hoàng đế chăng? Hay cả hai? Dù thế nào, các lực lượng cũng phình to đến mức, ngay cả với quyền đánh thuế chuyên chế, chính phủ Corpo vẫn chẳng bao giờ có đủ tiền. Họ bắt đầu cưỡng ép xuất khẩu, thực hành việc “bán phá giá” lúa mì, ngô, gỗ, đồng, dầu mỏ và máy móc. Họ gia tăng sản xuất, dùng tiền phạt và đe dọa để cưỡng ép sản xuất, rồi vét sạch mọi thứ người nông dân có để đem xuất khẩu với giá hạ thấp. Nhưng trong nước, giá cả không hạ mà lại tăng, thành thử chúng ta càng xuất khẩu nhiều thì công nhân công nghiệp Mỹ càng ít cái ăn. Và những Ủy viên Quận thật sự sốt sắng còn lấy của người nông dân (theo lối yêu nước của nhiều quận miền Trung Tây năm 1918) đến cả thóc giống, khiến anh ta không thể trồng trọt thêm; ngay trên chính những mẫu ruộng từng cho ra lúa mì dư thừa, giờ đây anh ta chết đói vì thiếu bánh mì. Và trong lúc anh ta chết đói, các Ủy viên vẫn tiếp tục tìm cách bắt anh ta thanh toán những trái phiếu Corpo mà anh ta đã bị ép mua theo phương thức trả góp.

Nhưng dù sao, một khi anh ta rốt cuộc chết đói, chẳng điều nào trong số ấy còn khiến anh ta bận tâm.

Giờ đây ở Fort Beulah đã có những hàng người chờ nhận bánh mì, mỗi tuần một hai lần.

Hiện tượng khó hiểu nhất của chế độ độc tài đối với một người như Doremus, ngay cả khi ngày nào ông cũng chứng kiến nó trên chính phố nhà mình, là niềm vui trong dân chúng cứ đều đặn hao mòn.

Nước Mỹ, cũng như Anh và Scotland, chưa bao giờ thật sự là một dân tộc vui tươi. Đúng hơn, nó vẫn đùa vui một cách nặng nề và ầm ĩ, bên dưới là một lớp nền lo âu và bất an, theo đúng hình ảnh vị thánh bảo hộ của nó: Lincoln với những câu chuyện huyên náo và trái tim bi kịch. Nhưng ít nhất người ta từng chân thành chào hỏi nhau, đàn ông với đàn ông; từng có tiếng jazz ầm vang cho những cuộc khiêu vũ, những lời trêu chọc sống động, đầy tiếng lóng của đám thanh niên, và tiếng còi chát chúa, bồn chồn của dòng xe cộ khổng lồ.

Giờ đây, tất cả vẻ vui tươi giả tạo ấy mỗi ngày một vơi đi.

Các Corpo nhận thấy chẳng có gì thuận tiện để vắt tiền hơn những thú vui công cộng. Sau khi bánh mì đã mốc, các rạp xiếc bị đóng cửa. Xe hơi, phim ảnh, nhà hát, khiêu vũ và kem soda đều phải chịu thuế hoặc tăng thuế. Bất cứ nhà hàng nào mở máy hát hoặc radio cũng phải đóng thuế. Lee Sarason, bản thân là người độc thân, nảy ra ý đánh siêu thuế lên trai chưa vợ và gái không chồng, đồng thời, ngược lại, đánh thuế mọi đám cưới có hơn năm người tham dự.

Ngay cả những thanh niên liều lĩnh nhất cũng ngày càng ít lui tới các nơi giải trí công cộng, bởi thời buổi này, chẳng ai không phô trương khoác quân phục lại muốn bị người ta để ý. Không thể ngồi ở một nơi công cộng mà không tự hỏi những tên mật thám nào đang theo dõi mình. Thế là cả thiên hạ ở lì trong nhà—và lo âu giật bắn lên trước mỗi tiếng chân đi ngang, mỗi hồi chuông điện thoại, mỗi tiếng nhánh thường xuân gõ vào cửa sổ.

Khoảng hai chục người đã dứt khoát tuyên thệ với Tân Địa hạ là những người duy nhất Doremus dám trò chuyện về bất cứ điều gì dễ buộc tội hơn chuyện trời có khả năng mưa hay không, mặc dù trước kia ông vốn là người thích chuyện trò thân mật nhất thị trấn. Bao giờ ông cũng mất nhiều hơn mười phút so với mức con người ta có thể mất để đi bộ đến tòa soạn Daily Informer, bởi ở góc phố nào ông cũng dừng lại hỏi thăm bà vợ đau ốm của ai đó, chuyện chính trị, vụ khoai tây, ý kiến về Thuyết tự nhiên thần giáo, hoặc vận may câu cá.

Khi đọc về những người chống lại chế độ đang hoạt động ở Rome, ở Berlin, ông thấy ghen tị với họ. Họ có hàng nghìn mật vụ chính phủ mà họ không biết mặt, bởi thế lại càng nguy hiểm, rình rập theo dõi; nhưng họ cũng có hàng nghìn đồng chí để tìm kiếm sự khích lệ, những chuyện riêng tư hấp dẫn, chuyện nghề nghiệp, cùng lời bảo đảm rằng họ không hoàn toàn ngu xuẩn khi liều mạng vì một tình nhân bạc bẽo như Cách mạng. Những căn hộ bí mật ấy trong các thành phố lớn—có lẽ vài nơi quả thật tràn ngập ánh hồng như trong tiểu thuyết. Nhưng những Fort Beulah ở bất cứ đâu trên thế giới đều quá cô lập, những kẻ mưu phản lại quen thuộc với nhau đến tẻ nhạt, thành thử chỉ có một niềm tin không sao lý giải nổi mới giúp người ta tiếp tục.

Giờ Lorinda đã đi, quả thực chẳng còn gì thú vị trong chuyện lén lút rẽ qua các góc phố, cố làm ra vẻ mình là một người khác, chỉ để gặp Buck, Dan Wilgus và người phụ nữ tốt bụng ấy—Sissy!

Buck, ông và những người còn lại—họ đúng là một lũ nghiệp dư. Họ cần sự dìu dắt của những nhà sách động lão luyện như ông Ailey, ông Bailey và ông Cailey.

Những truyền đơn yếu ớt, tờ báo in nhòe nhoẹt của họ dường như vô dụng trước tiếng gào thét khổng lồ của bộ máy tuyên truyền Corpo. Liều chịu tử đạo trong một thế giới nơi bọn Phát xít đàn áp người Cộng sản, người Cộng sản đàn áp phái Dân chủ Xã hội, phái Dân chủ Xã hội đàn áp bất cứ ai chịu để họ đàn áp; nơi những người “Aryan” trông giống người Do Thái đàn áp những người Do Thái trông giống người Aryan, còn người Do Thái đàn áp các con nợ của mình; nơi mọi chính khách và giáo sĩ đều ca ngợi Hòa bình và vui vẻ quả quyết rằng cách duy nhất để có Hòa bình là chuẩn bị cho Chiến tranh—điều ấy dường như còn tệ hơn vô dụng, dường như điên rồ.

Người ta có thể có lý do nào để tìm kiếm sự chính trực trong một thế giới căm ghét sự chính trực đến thế? Tại sao phải làm bất cứ điều gì ngoài ăn uống, đọc sách, ân ái và lo liệu một giấc ngủ không bị cảnh sát vũ trang quấy nhiễu?

Ông chẳng bao giờ tìm được lý do nào đặc biệt thuyết phục. Ông chỉ đơn giản tiếp tục.

Tháng Sáu, khi chi bộ Tân Địa hạ ở Fort Beulah đã hoạt động được chừng ba tháng, ông Francis Tasbrough, nhà khai thác đá giàu sụ, sang thăm người hàng xóm Doremus.

“Anh khỏe chứ, Frank?”

“Khỏe, Remus. Còn lão phê bình hay bới móc thì sao?”

“Khỏe, Frank. Vẫn bới móc. Mà thời tiết này cũng tuyệt để bới móc đấy. Làm một điếu xì gà nhé?”

“Cảm ơn. Có diêm không? Cảm ơn. Hôm qua tôi gặp Sissy. Trông con bé khỏe lắm.”

“Ừ, nó khỏe. Hôm qua tôi thấy Malcolm lái xe ngang qua. Cậu ấy thấy Đại học Tỉnh ở New York thế nào?”

“Ồ, tốt—tốt lắm. Nó bảo thể thao ở đó tuyệt vời. Sang năm họ sẽ mời Primo Carnera về huấn luyện quần vợt—tôi nghĩ là Carnera—tôi nghĩ là quần vợt—nhưng dù sao thì thể thao ở đó cũng tuyệt vời, Malcolm bảo thế. Này, ờ, Remus, có chuyện này tôi vẫn định hỏi anh. Tôi, ờ—Sự thật là—tôi muốn anh nhất định đừng kể lại với bất kỳ ai. Tôi biết anh là người giữ được bí mật, dù anh là nhà báo—hay trước kia là nhà báo, ý tôi là, nhưng—Sự thật là (và đây là tin nội bộ; chính thức đấy), sắp có một đợt thăng chức trong toàn bộ chính quyền—chuyện này tuyệt mật, và tôi được nghe trực tiếp từ Ủy viên Tỉnh, Đại tá Haik. Luthorne sắp thôi chức Bộ trưởng Chiến tranh—ông ấy là người tử tế, nhưng từ cơ quan của mình, ông ấy không kiếm được cho các Corpo nhiều tiếng tăm như Ngài Thủ lĩnh mong đợi. Haik sẽ nhận chức của ông ấy, đồng thời tiếp quản chức Đại Thống chế Minute Men từ Lee Sarason—tôi cho là Sarason có quá nhiều việc phải làm. Thế rồi John Sullivan Reek dự kiến sẽ làm Ủy viên Tỉnh; như vậy chức Ủy viên Khu vực Vermont–New Hampshire sẽ để trống, và tôi là một trong những người đang được nghiêm túc cân nhắc. Tôi đã diễn thuyết rất nhiều cho các Corpo, và tôi biết Dewey Haik rất rõ—tôi từng giúp ông ấy ý kiến về việc xây dựng các công trình công cộng. Dĩ nhiên chẳng có Ủy viên Quận nào quanh đây đủ tầm làm ủy viên khu vực—ngay cả bác sĩ Staubmeyer cũng không—Shad Ledue thì chắc chắn không. Vậy nếu anh thấy có thể đứng về phía tôi, ảnh hưởng của anh sẽ có ích—”

“Trời đất ơi, Frank, nếu anh muốn có chức ấy thì điều tệ hại nhất có thể xảy ra chính là tôi ủng hộ anh! Các Corpo không ưa tôi. Ồ, tất nhiên họ biết tôi trung thành, không phải một trong những tên chống Corpo bẩn thỉu, lén lút kia, nhưng trên báo tôi chưa bao giờ hò hét đủ lớn để làm họ vừa lòng.”

“Chính là chỗ đó đấy, Remus! Tôi có một ý thật sự rất đắt. Dù họ không ưa ông, các Corpo vẫn kính trọng ông, và họ biết ông đã là một nhân vật quan trọng trong bang này lâu đến thế nào. Tất cả chúng tôi sẽ vô cùng vui mừng nếu ông chịu công khai đứng về phía chúng tôi và gia nhập hàng ngũ. Bây giờ cứ giả sử ông làm thế, rồi cho mọi người biết rằng chính ảnh hưởng của tôi đã cải hóa ông theo chủ nghĩa Corpo. Việc ấy có thể giúp tôi tiến một bước khá xa. Mà giữa đôi bạn cũ như chúng ta, Remus, tôi có thể nói thật với ông rằng chức Ủy viên Đặc khu này sẽ rất có ích cho tôi trong việc kinh doanh mỏ đá, chưa kể những lợi thế về giao tế. Nếu giành được chức ấy, tôi xin hứa hoặc là sẽ lấy tờ Daily Informer khỏi tay Staubmeyer và thằng nhãi hôi hám Itchitt ấy, rồi giao lại cho ông toàn quyền điều hành theo ý mình—dĩ nhiên, với điều kiện ông đủ khôn ngoan để không chỉ trích Lãnh tụ và Nhà nước. Hoặc, nếu ông thích hơn, tôi nghĩ có lẽ tôi xoay xở được cho ông một chân thẩm phán quân sự (họ đâu nhất thiết phải là luật sư), hay có khi là chức Giám đốc Giáo dục Đặc khu của Hiệu trưởng Peasley—ông sẽ tha hồ vui với chức ấy!—buồn cười chết đi được, cái cách tất cả giáo viên hôn chân ngài Giám đốc! Nào, ông bạn già! Hãy nhớ lại ngày xưa chúng ta đã từng vui biết bao! Tỉnh ngộ đi, nhìn thẳng vào điều không thể tránh khỏi, gia nhập với chúng tôi và lo cho tôi ít bài tuyên truyền ra trò. Thế nào—hả, hả?”

Doremus nghĩ rằng thử thách tồi tệ nhất đối với một người làm công tác tuyên truyền cách mạng không phải là liều mạng, mà là phải giữ phép lịch sự với những kẻ như Ủy viên-tương-lai Tasbrough.

Ông cho rằng giọng mình vẫn lịch sự khi lẩm bẩm: “E rằng tôi già quá rồi, không thử nổi đâu, Frank,” nhưng xem chừng Tasbrough đã phật ý. Hắn bật dậy, nện bước bỏ đi, miệng càu nhàu: “Ồ, thế thì thôi vậy!”

“Mà mình còn chưa cho hắn cơ hội nói gì về chuyện phải thực tế, hay muốn làm trứng tráng thì phải đập trứng,” Doremus tiếc rẻ.

Hôm sau, gặp Sissy ngoài phố, Malcolm Tasbrough vận dụng hết vẻ lực lưỡng của mình để làm ra mặt không thèm nhìn cô. Bấy giờ, gia đình Jessup thấy chuyện ấy rất buồn cười. Nhưng họ thấy sự việc kém vui hơn khi Malcolm đuổi David bé bỏng ra khỏi vườn táo nhà Tasbrough, nơi thằng bé vẫn thường dùng làm Khu Rừng Miền Tây Vĩ Đại, chốn mà bất cứ lúc nào người ta cũng rất có thể bắt gặp Kit Carson, Robin Hood và Đại tá Lindbergh cùng đi săn với nhau.

Chỉ có lời Frank làm căn cứ, Doremus không thể làm gì hơn ngoài việc bóng gió trên tờ Vermont Vigilance rằng Đại tá Dewey Haik sắp được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Chiến tranh, đồng thời đăng thành tích quân ngũ thật sự của Haik, trong đó có những sự kiện sau: khi mang hàm trung úy nhất tại Pháp năm 1918, hắn đã ở dưới làn đạn chưa đầy mười lăm phút; và chiến công thực sự duy nhất của hắn là chỉ huy lực lượng dân quân bang trong một cuộc đình công ở Oregon, khi mười một công nhân đình công bị bắn hạ, năm người trong số đó trúng đạn từ phía sau lưng.

Rồi Doremus hoàn toàn quên bẵng Tasbrough, một cách nhẹ nhõm và vui vẻ.