Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 30

Chương 30 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây

Nhưng còn tệ hơn cả việc phải nhã nhặn với ông Tasbrough rỗng tuếch là phải ngậm miệng khi, vào cuối tháng Sáu, một nhà báo ở Battington, Vermont, đột nhiên bị bắt vì bị cho là chủ bút tờ Vermont Vigilance và tác giả mọi truyền đơn của Doremus cùng Lorinda. Ông ta bị đưa vào trại tập trung. Buck, Dan Wilgus và Sissy ngăn Doremus ra thú nhận, thậm chí không cho ông đến thăm nạn nhân; và khi Lorinda không còn ở đó để ông giãi bày, Doremus thử giải thích mọi chuyện với Emma, bà liền bảo: Chính phủ đổ tội cho người khác, thế chẳng phải may sao!

Emma đã dựng nên một giả thuyết rằng hoạt động Tân Địa hạ là một thứ trò nghịch ngợm giúp cậu bé Doremus của bà có việc làm sau khi nghỉ hưu. Ông chỉ hơi quấy rầy các Corpo một chút thôi. Bà không chắc quấy rầy nhà chức trách hợp pháp có thật là đứng đắn hay không, nhưng dù sao, với một người bé nhỏ, Doremus của bà xưa nay vẫn gan góc đến bất ngờ—hệt như (bà thường tâm sự với Sissy) một con chó sục Scotland gan góc bà từng nuôi hồi còn con gái—nó tên là ông McNabbit, một con chó sục Scotland bé tí, nhưng trời đất ơi! nó gan góc đến nỗi cứ làm như mình là sư tử chính hiệu!

Bà cũng khá mừng vì Lorinda đã đi, mặc dù bà quý Lorinda và lo không biết cô sẽ xoay xở ra sao với một phòng trà ở thành phố mới, nơi cô chưa từng sống. Nhưng bà không sao ngăn được cảm giác (bà tâm sự điều đó không chỉ với Sissy mà cả với Mary và Buck) rằng Lorinda, cùng tất cả những ý tưởng điên rồ ngông cuồng về quyền phụ nữ và về chuyện công nhân cũng tốt đẹp chẳng kém gì chủ thuê mình, đã ảnh hưởng xấu đến thói thích phô trương và làm thiên hạ sửng sốt của Doremus. (Bà hơi thắc mắc không hiểu tại sao Buck và Sissy lại phì mũi như thế. Bà đâu có định nói điều gì đặc biệt buồn cười!)

Suốt quá nhiều năm, bà đã quá quen với giờ giấc thất thường của Doremus nên giấc ngủ chẳng còn bị quấy rầy khi ông từ nhà Buck trở về vào cái giờ không phải phép mà bà gọi là “chẳng kể giờ giấc”; nhưng bà vẫn mong ông “đúng giờ ăn hơn một chút”, và bà đành thôi không tìm hiểu tại sao dạo này ông có vẻ thích giao du với những Người Bình thường như John Pollikop, Dan Wilgus, Daniel Babcock và Pete Vutong—trời đất ơi! có người còn bảo Pete thậm chí không biết đọc biết viết, trong khi Doremus lại học cao hiểu rộng đến thế! Tại sao ông không gặp gỡ nhiều hơn những người đáng mến như Frank Tasbrough, Giáo sư Staubmeyer, ông R. C. Crowley và người bạn mới này của ông, ngài John Sullivan Reek đáng kính?

Tại sao ông không thể tránh xa chính trị? Bà vẫn luôn NÓI rằng đó đâu phải nghề nghiệp dành cho một quý ông!

Cũng như David, nay đã mười tuổi (và như hai mươi hay ba mươi triệu người Mỹ khác, từ một đến một trăm tuổi, nhưng đều có cùng một tuổi trí khôn), Emma cho rằng cảnh các Minute Men diễu hành quả là một màn trình diễn hết sức tuyệt vời, giống phim về Nội chiến biết bao, thật sự rất có tính giáo dục; và dĩ nhiên, nếu Doremus không ưa Tổng thống Windrip thì bà cũng chống ông ta, thế nhưng chẳng phải ông Windrip đã diễn thuyết tuyệt hay về sự trong sáng của ngôn ngữ, việc đi lễ nhà thờ, thuế thấp và quốc kỳ Mỹ đó sao?

Những nhà thực tế, những kẻ làm món trứng tráng, quả nhiên đã leo cao như Tasbrough tiên đoán. Đại tá Dewey Haik, Ủy viên Tỉnh Đông Bắc, trở thành Bộ trưởng Chiến tranh kiêm Đại Thống chế Minute Men, còn vị bộ trưởng tiền nhiệm, Đại tá Luthorne, lui về Kansas kinh doanh địa ốc và được mọi giới doanh nhân ca ngợi vì đã sẵn lòng từ bỏ cảnh huy hoàng ở Washington để làm tròn bổn phận với những công việc thiết thực và với gia đình, những người được toàn thể báo chí mô tả là đã thường xuyên nhớ nhung ông. Trong các chi bộ Tân Địa hạ có lời đồn Haik còn có thể lên cao hơn cả chức Bộ trưởng Chiến tranh; rằng Windrip đang lo ngại trước vẻ ẻo lả nào đó bị ánh đèn hồ quang của vinh quang ép cho nảy nở nơi Lee Sarason.

Francis Tasbrough được thăng lên chức Ủy viên Đặc khu tại Hanover. Nhưng ông Sullivan Reek không nhờ thế mà lần lượt tiến lên làm Ủy viên Tỉnh. Người ta nói ông ta có quá nhiều bạn bè trong chính giới kỳ cựu, chính những kẻ mà các Corpo đang hăng hái chiếm lấy chức vị. Không, vị Ủy viên Tỉnh mới, vừa là phó vương vừa là tướng lĩnh, chính là Thẩm phán Quân sự Effingham Swan, người duy nhất mà Mary Jessup Greenhill căm ghét hơn cả Shad Ledue.

Swan là một ủy viên xuất sắc. Trong vòng ba ngày sau khi nhậm chức, ông ta đã cho bắt, xét xử và bỏ tù John Sullivan Reek cùng bảy trợ lý ủy viên đặc khu, tất cả chỉ trong vòng hai mươi bốn giờ; lại còn tống một bà lão tám mươi tuổi—mẹ của một điệp viên Tân Địa hạ nhưng ngoài việc ấy không bị cáo buộc tội ác nào—vào trại tập trung dành cho những kẻ phản bội hết sức nguy hiểm. Trại nằm trong một mỏ đá bỏ hoang, quanh năm ngập nước sâu một foot. Người ta kể rằng sau khi tuyên án bà, Swan đã cúi chào bà hết sức lịch thiệp.

Từ tổng hành dinh ở Montreal, Tân Địa hạ gửi đi lời cảnh báo yêu cầu siết chặt toàn diện các biện pháp đề phòng bị bắt khi phân phát tài liệu tuyên truyền. Các điệp viên đang biến mất với tốc độ khá đáng ngại.

Buck chế giễu lời cảnh báo, nhưng Doremus thì lo lắng. Ông nhận thấy cùng một người đàn ông lạ mặt, bề ngoài có vẻ là tay chào hàng, một gã to lớn với đôi mắt khó ưa, đã hai lần bắt chuyện với ông trong tiền sảnh Khách sạn Wessex và ám chỉ một cách quá lộ liễu rằng hắn chống Corpo, rất muốn nghe Doremus nói điều gì cay độc về Lãnh tụ và Minute Men.

Doremus bắt đầu thận trọng mỗi khi đến nhà Buck. Ông đỗ xe luân phiên trên sáu con đường rừng khác nhau rồi lén đi bộ tới căn hầm bí mật.

Tối ngày hai mươi tám tháng Sáu năm 1938, ông có cảm giác mình đang bị bám theo, bởi một chiếc xe có đèn pha nhuộm ánh đỏ—mà ông căng thẳng quan sát trong gương chiếu hậu—cứ bám sát phía sau khi ông theo đường cái Keezmet xuống nhà Buck. Ông rẽ vào một đường nhánh, rồi lại rẽ xuống một đường khác. Chiếc xe mật thám vẫn theo sau. Ông dừng lại trên lối xe vào một ngôi nhà ở bên trái đường rồi giận dữ bước xuống, vừa kịp thấy chiếc xe kia chạy qua, người cầm lái trông giống Shad Ledue. Bấy giờ ông quay ngoắt xe lại và chẳng buồn che giấu nữa, phóng thẳng đến nhà Buck.

Trong tầng hầm, Buck đang mãn nguyện buộc những bó báo Vigilance, còn Cha Perefixe, mặc sơ-mi không áo khoác, áo gi-lê mở phanh và miếng yếm đen đung đưa bên dưới cổ áo giáo sĩ quay ngược, ngồi bên chiếc bàn gỗ thông mộc mạc, viết lời cảnh báo gửi tín đồ Công giáo vùng New England rằng tuy các Corpo, không như bọn Quốc xã ở Đức, đã đủ khôn ngoan để tâng bốc các giáo phẩm, chúng vẫn hạ lương công nhân nhà máy Công giáo gốc Canada nói tiếng Pháp và bỏ tù các lãnh tụ của họ nghiêm khắc chẳng kém gì đối với những tín đồ Tin lành công khai xấu xa.

Perefixe ngẩng lên mỉm cười với Doremus, vươn vai, châm tẩu rồi khúc khích: “Với tư cách một bậc giáo phẩm vĩ đại, Doremus, theo ông thì tôi sẽ phạm tội nhẹ hay tội trọng nếu cho xuất bản kiệt tác nhỏ này—tác phẩm của tác giả tôi yêu thích nhất—mà không có chuẩn ấn của Giám mục?”

“Stephen! Buck! Tôi nghĩ chúng đã lần ra chúng ta rồi! Có lẽ ta phải dẹp ngay và chuyển máy in cùng chữ chì khỏi đây!” Ông kể chuyện mình bị bám đuôi. Ông gọi điện cho Julian tại tổng hành dinh Minute Men và (vì quanh đó có quá nhiều thanh tra gốc Canada nói tiếng Pháp nên ông không dám dùng thứ tiếng Pháp đặc trưng của mình) ông nói bằng thứ tiếng Đức mới mẻ tuyệt vời mà mình đã học qua phương pháp dịch:

“Denks du ihr Freunds dere haben a Idee die letzt Tag von vot ve mach here?”

Và Julian, người đã học đại học, có đủ văn hóa quốc tế để trả lời: “Ja, Ich mein ihr vos sachen morning free. Look owid!”

Họ có thể chuyển đi bằng cách nào? Đi đâu?

Một giờ sau, Dan Wilgus hốt hoảng chạy đến.

“Này! Chúng đang theo dõi chúng ta!” Doremus, Buck và vị linh mục vây quanh người đàn ông to lớn, đen sạm như một chiến binh Viking. “Vừa rồi khi vào đây, tôi tưởng nghe thấy tiếng động trong bụi cây ngoài sân, gần ngôi nhà, và chưa kịp nghĩ ngợi, tôi đã lia đèn pin vào hắn; trời đất chứng giám, đó chính là Aras Dilley, lại không mặc quân phục—các ông biết Aras yêu Chúa của hắn đến mức nào—xin Cha thứ lỗi—hắn yêu bộ quân phục của mình đến mức nào rồi đấy. Hắn cải trang! Đúng thế! Mặc quần áo lao động! Trông như một con lừa vừa chui qua dây phơi quần áo! Chà, hắn đã nhòm ngó ngôi nhà. Dĩ nhiên rèm đều kéo kín, nhưng tôi không biết hắn đã thấy gì và—”

Ba người đàn ông cao lớn nhìn Doremus chờ lệnh.

“Ta phải chuyển hết những thứ này khỏi đây! Mau! Mang chúng đi giấu trên gác mái nhà Truman Webb. Stephen: gọi điện cho John Pollikop, Mungo Kitterick và Pete Vutong—bảo họ đến đây ngay—bảo John ghé qua nhắn Julian tới sớm hết sức. Dan: bắt đầu tháo máy in. Buck: bó hết tài liệu lại.” Vừa nói, Doremus vừa gói chữ chì trong những mảnh báo vụn. Và lúc ba giờ sáng hôm sau, khi trời chưa rạng, Pollikop lái chiếc xe tải nông trại cũ của Buck về phía trang trại của Truman Webb, chở toàn bộ thiết bị của cơ sở in Tân Địa hạ; trên xe, vì lợi ích của bất cứ đôi tai nào có thể quan tâm, hai con bê hoảng sợ cứ be be.

Hôm sau, Julian đánh liều mời các sĩ quan cấp trên của mình là Shad Ledue và Emil Staubmeyer tới nhà Buck chơi một ván bài poker. Họ sốt sắng nhận lời. Tại đó, họ thấy Buck, Doremus, Mungo Kitterick và Bác sĩ Itchitt—người cuối cùng hoàn toàn vô can trong một số màn đánh lừa nhất định.

Họ chơi trong phòng khách nhà Buck. Nhưng giữa buổi tối, Buck tuyên bố rằng ai muốn uống bia thay vì whisky thì sẽ thấy bia ngâm trong một chậu nước đá dưới tầng hầm, còn ai muốn rửa tay thì trên lầu có hai phòng tắm.

Shad vội vã đi lấy bia. Bác sĩ Itchitt còn vội vã hơn khi đi rửa tay. Cả hai đều vắng mặt lâu hơn nhiều so với người ta có thể chờ đợi.

Khi cuộc vui tan và chỉ còn Buck với Doremus, Buck rú lên cười khoái trá kiểu nhà quê: “Tôi suýt nữa không giữ nổi vẻ mặt nghiêm chỉnh khi nghe lão Shad thân mến mở các tủ và tha hồ ngó nghiêng tìm truyền đơn dưới tầng hầm. Chà, Đại úy Jessup, tôi đoán thế là chúng hết nghi nơi này là sào huyệt phản loạn rồi! Lạy Chúa, Shad ngu không để đâu cho hết!”

Lúc ấy có lẽ vào khoảng ba giờ sáng ngày ba mươi tháng Sáu.

Suốt chiều và tối ngày ba mươi, Doremus ở nhà viết tài liệu phản loạn, giấu các trang giấy bên dưới những tờ báo trong lò sưởi Franklin ở phòng làm việc, để khi bị đột kích ông có thể quẹt diêm đốt chúng—một mẹo ông học được từ cuốn Fatherland chống Quốc xã của Karl Billinger.

Tác phẩm mới này nói về những vụ giết người do Ủy viên Effingham Swan ra lệnh.

Ngày mồng một và mồng hai tháng Bảy, khi ông thong thả dạo lên khu trung tâm, chính tay chào hàng lực lưỡng từng bắt chuyện với ông trong tiền sảnh Khách sạn Wessex trước kia lại chạm mặt ông một cách khá lộ liễu, và lần này nhất quyết đòi cùng ông đi uống một ly. Doremus thoát được, rồi nhận ra mình đang bị một thanh niên lạ mặt bám theo, ăn vận lòe loẹt với áo polo màu quả mơ và quần rộng màu xám; ông nhận ra hắn từng mặc quân phục Minute Men trong một cuộc diễu hành hồi tháng Sáu. Ngày mồng ba tháng Bảy, khá hoảng hốt, Doremus lái xe đến nhà Truman Webb, mất cả giờ chạy ngoằn ngoèo mới tới nơi, rồi cảnh báo Truman không được in thêm bất cứ thứ gì cho tới khi nhận được lệnh cho phép.

Khi Doremus về nhà, Sissy thản nhiên cho ông biết Shad đã khăng khăng đòi cô cùng hắn đi dự buổi dã ngoại của Minute Men vào chiều hôm sau, ngày mồng Bốn, và bất kể có moi được tin tức hay không, cô vẫn từ chối. Cô sợ hắn khi hắn ở giữa đám bạn chơi lúc nào cũng sẵn sàng của mình.

Đêm mồng ba ấy, Doremus chỉ ngủ được từng cơn chập chờn bệnh hoạn. Chẳng có lý do gì, ông vẫn tin chắc mình sẽ bị bắt trước rạng đông. Đêm phủ mây, sực điện và bất an. Tiếng dế nghe như thể chúng đang bị cưỡng ép phải thổi sáo theo một nhịp điệu kinh hoàng. Ông nằm đó, mạch đập thình thịch theo âm thanh ấy. Ông muốn chạy trốn—nhưng bằng cách nào, đi đâu, và làm sao ông có thể bỏ lại gia đình đang bị đe dọa? Lần đầu tiên sau nhiều năm, ông ước mình đang ngủ bên Emma điềm nhiên chẳng gì lay chuyển nổi, bên cái gò thân thể nhỏ bé, chắc nịch như đất của bà. Ông tự cười mình. Emma có thể làm gì để bảo vệ ông trước Minute Men? Chỉ biết thét lên thôi! Rồi sao nữa? Nhưng ông, người vẫn luôn đóng kín cửa khi ngủ để bảo vệ sự cô độc thiêng liêng của mình, liền bật khỏi giường mở cửa, hầu tìm chút an ủi trong tiếng thở của bà, tiếng Mary dữ dằn hơn trở mình trong giấc ngủ và tiếng Sissy thỉnh thoảng thút thít non trẻ.

Trước rạng đông, tiếng pháo nổ sớm đánh thức ông. Ông nghe tiếng chân rầm rập. Ông nằm căng cứng. Rồi ông lại tỉnh dậy lúc bảy giờ rưỡi và hơi bực mình vì chẳng có chuyện gì xảy ra.

Sáng ngày Quốc khánh mồng Bốn tháng Bảy, để tổ chức đại lễ mừng Tự do Mới, Minute Men mang những chiếc mũ sắt đánh bóng ra và trưng dụng mọi con ngựa cưỡi được trong vùng—một số vốn nổi tiếng là ngựa kéo cày thượng hạng. Không có đơn vị nào của Hội Cựu chiến binh Mỹ tham gia đoàn diễu hành nhộn nhịp. Tổ chức ấy đã bị đàn áp hoàn toàn, và một số lãnh đạo của Hội Cựu chiến binh Mỹ đã bị bắn. Những người khác khôn khéo nhận chức ngay trong Minute Men.

Đám binh lính đứng thành đội hình vuông rỗng, dân chúng bình thường khiêm nhường chen chúc phía sau, còn gia đình Jessup có phần cao ngạo đứng ngoài rìa; diễn giả trước họ là cựu Thống đốc Isham Hubbard, một lão gà trống đỏ au tuyệt đẹp có thể nói “Ò ó o” thâm trầm hơn bất cứ giống gia cầm nào kể từ thời Æsop. Ông ta tuyên bố rằng Lãnh tụ giống Washington, Jefferson và William B. McKinley một cách phi thường, lại giống cả Napoleon vào những ngày đẹp trời hơn của ông này.

Kèn đồng nổi lên, các Minute Men oai phong hành quân về một nơi chẳng có gì đặc biệt, còn Doremus về nhà, cảm thấy khá hơn nhiều sau trận cười. Sau bữa trưa, vì trời mưa, ông đề nghị chơi một ván bài bridge với Emma, Mary và Sissy—có bà Candy tình nguyện làm trọng tài.

Nhưng tiếng sấm vùng đồi núi khiến ông bất an. Mỗi khi làm người chết, ông lại lững thững bước tới cửa sổ. Mưa tạnh; mặt trời ló ra trong một khoảnh khắc giả dối, ngập ngừng, và thảm cỏ ướt trông không thật. Những đám mây có đáy rách tươm như gấu một chiếc váy tả tơi bị lùa xuống thung lũng, che khuất phần lớn núi Faithful; mặt trời vụt tắt như trong một tai họa khổng lồ; và tức khắc thế giới chìm vào bóng tối tà dị, tràn cả vào căn phòng.

“Ôi, trời tối hẳn rồi nhỉ! Sissy, bật đèn lên đi,” Emma nói.

Mưa lại tấn công bằng một tiếng nổ dữ dội, và trước mắt Doremus đang nhìn ra ngoài, cả thế giới mà con người có thể biết dường như đã bị rửa trôi. Qua màn mưa xối xả, ông thấy một chiếc xe khổng lồ phóng vụt tới, những bánh xe lớn tung lên từng vòi nước. “Không biết xe hiệu gì nhỉ? Chắc là một chiếc Cadillac mười sáu xi-lanh,” Doremus ngẫm nghĩ. Chiếc xe ngoặt vào cổng nhà ông, suýt húc đổ một trụ cổng, rồi khựng mạnh trước hiên. Năm Minute Men nhảy xuống xe, áo choàng đen chống mưa phủ ngoài quân phục. Trước khi ông kịp nghĩ cho xong rằng mình không nhận ra một ai trong bọn chúng, chúng đã có mặt trong phòng. Tên chỉ huy, một thiếu úy (và Doremus tuyệt nhiên không nhận ra HẮN), tiến thẳng tới trước mặt Doremus, hờ hững nhìn ông rồi giáng một cú trúng giữa mặt.

Ngoại trừ một lần duy nhất bị lưỡi lê châm rớm máu khi ông bị bắt trước đó, ngoại trừ đôi khi đau răng hay đau đầu, hoặc nhói buốt vì đập dập móng tay, suốt ba mươi năm Doremus Jessup chưa từng biết đến nỗi đau thực sự. Cực hình trong mắt, trong mũi và nơi miệng bị đánh giập của ông vừa không thể tin nổi vừa khủng khiếp. Ông đứng lom khom, thở hổn hển, và viên Thiếu úy lại nện vào mặt ông, rồi tuyên bố: "Ông đã bị bắt."

Mary lao vào viên Thiếu úy, lấy chiếc gạt tàn bằng sứ đánh hắn. Hai tên M.M. kéo cô ra, quăng cô xuống đi-văng, rồi một tên ghì chặt cô tại đó. Hai tên lính canh còn lại sừng sững trước Emma tê liệt và Sissy như bị điện giật.

Doremus đột ngột nôn mửa rồi đổ sụp xuống, như thể say mềm.

Ông vẫn nhận thức được rằng năm tên M.M. đang giật sách khỏi kệ, ném xuống sàn cho bìa sách toác ra, và dùng báng súng đập vỡ bình hoa, chao đèn cùng những chiếc bàn nhỏ kê rải rác. Một tên lấy súng tự động bắn khắc nguệch ngoạc hai chữ M M lên tấm ván ốp trắng phía trên lò sưởi.

Viên Thiếu úy chỉ nói: "Cẩn thận đấy, Jim," rồi hôn Sissy đang cuồng loạn.

Doremus cố sức đứng dậy. Một tên M.M. đá vào khuỷu tay ông. Cú đá chẳng khác nào chính cái chết, và Doremus quằn quại trên sàn. Ông nghe tiếng chúng rầm rập lên gác. Bấy giờ ông mới nhớ bản thảo viết về những vụ giết người của Ủy viên Tỉnh Effingham Swan được giấu trong chiếc lò Franklin ở phòng làm việc.

Tiếng chúng đập phá đồ đạc trong các phòng ngủ trên tầng hai nghe như cả tá tiều phu phát điên.

Giữa mọi đau đớn, Doremus vẫn cố đứng lên—để đốt những giấy tờ trong lò trước khi chúng bị tìm thấy. Ông cố nhìn những người phụ nữ của mình. Ông nhận ra Mary bị trói vào đi-văng. (Chuyện ấy đã xảy ra từ lúc nào?) Nhưng mắt ông quá nhòe, đầu óc quá choáng váng, chẳng thể thấy rõ bất cứ điều gì. Lảo đảo, có lúc bò bằng cả hai tay hai gối, ông quả thực đã vượt qua được những tên lính trong các phòng ngủ, lên cầu thang tới tầng ba và phòng làm việc.

Ông đến vừa kịp trông thấy viên Thiếu úy ném những cuốn sách ông yêu quý nhất cùng đống hồ sơ thư từ tích lũy suốt hai mươi năm qua khỏi cửa sổ phòng làm việc; thấy hắn lục soát giấy tờ trong lò Franklin, ngẩng lên với vẻ đắc thắng vui sướng và cười khành khạch: "Xem ra ông viết được một bài hay ho ở đây đấy, Jessup. Ủy viên Swan hẳn sẽ thích đọc lắm!"

"Tôi yêu cầu—được gặp—Ủy viên Ledue—Ủy viên Khu vực Tasbrough—bạn tôi," Doremus lắp bắp.

"Chẳng biết gì về họ cả. Ở đây tôi điều khiển cuộc chơi," viên Thiếu úy cười khùng khục rồi tát Doremus, không đau lắm, chỉ nhục nhã—nhục nhã chẳng kém gì cảm giác của Doremus khi nhận ra mình đã hèn nhát đến mức cầu viện Shad và Francis. Ông không mở miệng lần nữa, không rên rỉ, thậm chí cũng không mua vui cho bọn lính bằng những lời van xin vô ích thay cho mấy người phụ nữ, trong khi chúng xốc ông xuống hai đợt cầu thang—chúng quăng ông xuống đợt dưới, khiến ông đập vai trầy trụa xuống đất—rồi lôi ra chiếc xe lớn.

Tên M.M. lái xe vẫn chờ sau tay lái và đã cho máy chạy sẵn. Chiếc xe rít lên phóng đi, mỗi lúc một chực trượt bánh. Nhưng Doremus, người vốn hay nôn nao vì xe trượt bánh, chẳng hề để ý. Dẫu sao ông thì làm được gì? Ông bất lực kẹt giữa hai tên lính ở ghế sau, và việc không thể bắt tài xế chạy chậm lại dường như là một phần trong toàn bộ sự bất lực của ông trước quyền lực nhà độc tài... ông, người xưa nay vẫn đinh ninh rằng nhờ phẩm giá và địa vị xã hội vững vàng, mình hơi đứng trên luật pháp, quan tòa và cảnh sát, trên mọi hiểm nguy và đau khổ của những người lao động bình thường.

Ông bị dỡ xuống như một con la ương ngạnh tại lối vào nhà giam của tòa án. Ông quyết rằng khi bị dẫn tới trước mặt Shad, ông sẽ quở trách tên vô lại ấy một trận khiến hắn suốt đời không quên. Nhưng Doremus không bị đưa vào tòa án. Ông bị đá về phía một chiếc xe tải lớn sơn đen, không đề chữ, đậu cạnh lối vào—bị đá theo đúng nghĩa đen, trong khi ngay giữa cơn đau đớn mê loạn ông vẫn suy tính: "Không biết cái nào tệ hơn?—nỗi đau thể xác vì bị đá, hay nỗi nhục tinh thần vì bị biến thành nô lệ? Quỷ tha ma bắt! Đừng ngụy biện nữa! Chính cái đau ở mông mới đau nhất!"

Ông bị lùa lên một chiếc thang bậc vào thùng sau xe tải.

Từ bên trong tối om vọng ra một tiếng rên: "Lạy Chúa, cả ông nữa sao, Dormouse!" Đó là giọng Buck Titus; cùng bị giam với ông ta còn có Truman Webb và Dan Wilgus. Dan bị còng tay vì đã chống trả quá dữ.

Cả bốn người đau ê ẩm đến mức không nói được bao nhiêu khi cảm thấy chiếc xe giật mạnh chuyển bánh, hất họ va vào nhau. Có lần Doremus thành thật nói: "Tôi không biết phải nói thế nào để các ông hiểu tôi ân hận khủng khiếp đến đâu vì đã lôi các ông vào chuyện này!" và có lần ông nói dối, khi Buck rên lên: "Lũ ----- ----- ấy có làm hại mấy cô gái không?"

Hẳn họ đã đi suốt ba giờ. Doremus chìm trong cơn mê mụ vì đau đớn đến nỗi, dù lưng ông giật buốt mỗi khi nảy lên va xuống sàn xe thô ráp và cả khuôn mặt chỉ còn là một khối đau nhức thần kinh, ông vẫn thiếp đi rồi choàng tỉnh trong kinh hoàng, thiếp đi rồi tỉnh, thiếp đi rồi tỉnh vì chính tiếng rên rỉ bất lực của mình.

Chiếc xe tải dừng lại. Cửa mở ra, trước những ánh đèn dày đặc giữa các tòa nhà gạch trắng. Trong cơn mơ hồ, ông nhận ra họ đang ở khuôn viên Dartmouth thuở trước—nay là tổng hành dinh của Ủy viên Khu vực Corpo.

Vị ủy viên ấy chính là người quen cũ của ông, Francis Tasbrough! Ông sẽ được thả! Cả bốn người họ sẽ được tự do!

Cảm giác không sao tin nổi nỗi nhục nhã của mình tan biến. Ông thoát khỏi nỗi sợ bệnh hoạn như người đắm tàu trông thấy một con thuyền đang tiến lại gần.

Nhưng ông không gặp Tasbrough. Bọn M.M., im lặng ngoại trừ những tiếng chửi rủa máy móc, lùa ông qua một hành lang, vào một phòng giam trước kia vốn là một phần của lớp học nghiêm trang, rồi bỏ ông lại sau cú nện cuối cùng vào đầu. Ông ngã xuống tấm phản gỗ có chiếc gối rơm và ngủ thiếp đi tức khắc. Ông choáng váng đến mức—ông, người thường quan sát mọi nơi như để ghi chép—khi ấy cũng như về sau không hề nhận thấy phòng giam của mình ra sao, ngoài việc nó có vẻ ngập đầy hơi lưu huỳnh từ đầu máy xe lửa.

Khi tỉnh lại, ông cảm thấy mặt mình cứng đờ như đóng băng. Áo khoác bị rách và bốc mùi nôn mửa ghê tởm. Ông thấy mình nhơ nhuốc, như thể chính ông đã làm một điều đáng hổ thẹn.

Cửa phòng giam bị mở tung; một bát cà phê loãng bám đầy cáu bẩn cùng một mẩu vỏ bánh mì phết một lớp oleomargarine mỏng đến khó nhận ra được dúi vào tay ông; và sau khi ông bỏ cả hai xuống vì buồn nôn, hai tên lính canh dẫn ông ra hành lang đúng lúc ông đang muốn đi vệ sinh. Ngay cả nhu cầu ấy cũng bị ông quên mất trong cơn tê liệt vì sợ hãi. Một tên túm bộ râu nhỏ tỉa gọn của ông, giật mạnh và cười khoái trá. "Tao vẫn muốn biết râu dê có nhổ ra được không!" tên lính cười khẩy. Trong lúc bị hành hạ như thế, Doremus lại lãnh một cú nện sau tai từ tên kia, kèm lời quát mắng: "Đi nào, dê! Muốn bọn tao vắt sữa mày hả? Đồ khốn bẩn thỉu! Mày vào đây vì tội gì? Trông mày như thằng thợ may Do Thái nhỏ thó, đồ -----"

"Nó á?" tên kia chế giễu. "Không đâu! Nó là một tay chủ bút báo tỉnh lẻ tai điếc tai ngơ gì đó—chắc chắn chúng sẽ bắn nó—tội xúi giục nổi loạn—nhưng tao mong trước hết chúng sẽ nện nó nhừ tử vì làm chủ bút tồi đến thế."

"Nó á? Chủ bút sao? Này! Nghe đây! Tao có một ý hay tuyệt. Này! Anh em!" Bốn năm tên M.M. quần áo xộc xệch ló đầu ra khỏi một căn phòng cuối hành lang. "Thằng này là dân viết lách! Tao sẽ bắt nó cho chúng ta xem nó viết thế nào! Nhìn đây!"

Tên lính canh lao dọc hành lang tới một cánh cửa phía trước treo biển "Nam", trở lại với một tờ giấy không lấy gì làm sạch sẽ, ném xuống trước mặt Doremus rồi tru tréo: "Nào, sếp. Cho bọn tao xem ông viết bài thế nào! Nào, viết cho bọn tao một bài—bằng mũi ấy!" Hắn khỏe như sắt. Hắn ấn mũi Doremus xuống tờ giấy bẩn thỉu và giữ chặt ở đó, trong khi đồng bọn cười rúc rích. Một sĩ quan ngắt trò của chúng, ra lệnh, tuy không quá gay gắt: "Thôi nào, các cậu, dẹp trò khỉ đi và đưa thằng ----- này vào phòng tạm giam. Sáng nay xét xử."

Doremus bị dẫn vào một căn phòng bẩn thỉu, nơi nửa tá tù nhân đang chờ. Một trong số đó là Buck Titus. Trên một mắt Buck quấn miếng băng nhếch nhác đã lỏng ra đến mức để lộ vết rách trên trán sâu tận xương. Buck cố nháy mắt vui vẻ. Doremus cố nén tiếng nức nở, nhưng vô ích.

Ông phải đứng chờ suốt một giờ, hai cánh tay ép sát bên mình theo lệnh một tên lính canh mặt mày hung ác đang quất đét chiếc roi chó; hắn đã hai lần quất Doremus khi tay ông buông lỏng.

Buck bị dẫn vào phòng xét xử ngay trước ông. Cánh cửa đóng lại. Doremus nghe Buck kêu lên khủng khiếp, như thể vừa bị đánh trọng thương đến chết. Tiếng kêu yếu dần thành những hơi thở nghẹn ngào. Khi Buck bị dẫn ra khỏi căn phòng bên trong, mặt ông ta bẩn thỉu và tái nhợt như miếng băng, trên đó lúc này máu đang rịn ra. Tên đứng ở cửa căn phòng bên trong giật mạnh ngón tay cái về phía Doremus và gầm gừ: "KẾ TIẾP là mày!"

Giờ thì ông sẽ đối mặt với Tasbrough!

Nhưng trong căn phòng nhỏ nơi ông bị đưa vào—và ông bối rối, vì không hiểu sao mình đã chờ đợi một phòng xử án rộng lớn—chỉ có viên Thiếu úy đã bắt ông hôm qua ngồi bên bàn, lật xem giấy tờ, trong khi mỗi bên hắn là một tên M.M. mặt lì lợm đứng cứng đờ, tay đặt trên bao súng.

Viên Thiếu úy bắt ông chờ, rồi bất ngờ quát cộc lốc đến nản lòng: "Tên!"

"Ông biết rồi!"

Hai tên lính canh bên cạnh Doremus mỗi tên đánh ông một cú.

"Tên?"

"Doremus Jessup."

"Mày là Cộng sản!"

"Không, tôi không phải!"

"Hai mươi lăm roi—và dầu."

Không tin nổi, không hiểu chuyện gì xảy ra, Doremus bị lôi xềnh xệch qua phòng, vào một căn hầm phía sau. Một chiếc bàn gỗ dài ở đó sẫm màu máu khô, nồng nặc mùi máu khô. Bọn lính túm lấy Doremus, giật ngửa đầu ông ra sau, cạy hai hàm rồi đổ vào miệng ông một quart dầu thầu dầu. Chúng xé hết quần áo phía trên thắt lưng, ném xuống sàn nhớp nháp. Chúng quăng ông úp mặt xuống chiếc bàn dài và bắt đầu quất bằng một cần câu thép liền khối. Mỗi roi rạch vào da thịt trên lưng ông; chúng đánh chậm rãi, nhấm nháp khoái cảm để ông khỏi ngất quá sớm. Nhưng khi dầu thầu dầu phát tác, khiến bọn lính canh vô cùng thích thú, ông đã bất tỉnh. Thực ra ông chỉ biết chuyện đó khi thấy mình nằm mềm nhũn trên một mảnh bao bố nhơ nhớp dưới sàn phòng giam.

Hai lần trong đêm, chúng đánh thức ông để tra hỏi: "Mày là Cộng sản, hả? Tốt hơn hết là nhận đi! Bọn tao sẽ đánh mày nhừ tử cho đến khi mày chịu nhận!"

Dù ốm yếu hơn bất cứ lúc nào trong đời, ông đồng thời cũng giận dữ hơn; giận đến mức không chịu thừa nhận bất cứ điều gì, ngay cả để cứu mạng sống đã tan nát của mình. Ông chỉ gầm gừ: "Không." Nhưng đến trận đòn thứ ba, ông cay độc tự hỏi liệu "Không" giờ đây còn là câu trả lời thành thật nữa không. Sau mỗi lần thẩm vấn, ông lại bị đấm đá, nhưng không bị quất bằng cần thép, vì bác sĩ của tổng hành dinh đã cấm.

Đó là một bác sĩ trẻ trông bảnh bao, mặc quần chẽn phồng. Trong căn hầm nồng nặc mùi máu, hắn vừa ngáp vừa bảo bọn lính canh: "Tốt hơn nên thôi quất roi, không thằng ----- này sẽ ngất xỉu mất."

Doremus ngẩng đầu khỏi bàn, hổn hển: "Anh tự xưng là bác sĩ mà lại giao du với lũ sát nhân này sao?"

"Ồ, câm mồm đi, đồ ----- nhỏ thó! Lũ phản quốc bẩn thỉu như mày đáng bị đánh đến chết—và có khi mày sẽ chết thật, nhưng tao nghĩ anh em nên để dành mày cho phiên tòa!" Tên bác sĩ phô bày bản lĩnh khoa học bằng cách vặn tai Doremus cho tới khi ông tưởng nó đã bị xé lìa, cười khùng khục: "Làm tiếp đi, anh em," rồi đủng đỉnh bỏ đi, cố ý huýt sáo nghêu ngao.

Suốt ba đêm ông bị thẩm vấn và quất roi—một lần, vào khuya muộn, bởi những tên lính canh than phiền về sự vô cảm vô nhân đạo của cấp trên khi bắt chúng làm việc trễ đến thế. Chúng mua vui bằng cách dùng một dây đai ngựa cũ có gắn khóa để đánh ông.

Ông suýt suy sụp khi viên Thiếu úy thẩm vấn tuyên bố Buck Titus đã thú nhận việc tuyên truyền bất hợp pháp của họ, rồi thuật lại nhiều chi tiết về công việc đến mức Doremus gần như có thể tin là lời thú nhận có thật. Ông không nghe nữa. Ông tự nhủ: "Không! Buck thà chết chứ không thú nhận bất cứ điều gì. Tất cả đều do Aras Dilley do thám mà ra."

Viên Thiếu úy ngọt ngào thủ thỉ: "Giờ nếu ông đủ khôn ngoan mà noi gương bạn Titus, cho chúng tôi biết ngoài hắn, ông, Wilgus và Webb ra còn ai trong âm mưu, chúng tôi sẽ thả ông. Chúng tôi biết cả rồi—ồ, chúng tôi biết toàn bộ âm mưu!—nhưng chỉ muốn xem cuối cùng ông đã tỉnh ngộ và được cảm hóa hay chưa thôi, ông bạn nhỏ ạ. Nào, còn ai nữa? Chỉ cần cho chúng tôi tên của họ. Chúng tôi sẽ thả ông. Hay ông muốn nếm lại dầu thầu dầu và roi?"

Doremus không trả lời.

"Mười roi," viên Thiếu úy nói.

Mỗi buổi chiều, ông bị lùa ra đi bộ nửa giờ quanh khuôn viên—có lẽ vì ông thích được nằm trên chiếc giường cứng hơn, cố giữ mình bất động đủ để trái tim thôi nện những nhịp chết chóc. Năm chục tù nhân diễu quanh đó, hết vòng này đến vòng khác một cách vô nghĩa. Ông đi ngang Buck Titus. Chào ông ta đồng nghĩa với lãnh một cú đánh từ lính canh. Họ chào nhau bằng một cái chớp mắt thật nhanh, và khi nhìn thấy đôi mắt chó săn bình thản ấy, Doremus biết Buck chưa hề khai báo.

Và trong sân vận động ông nhìn thấy Dan Wilgus, nhưng Dan không được tự do đi lại; anh bị lính canh dẫn ra khỏi các phòng tra tấn, và với chiếc mũi bị đánh giập, tai bị đập bẹp, anh trông như vừa bị một võ sĩ quyền Anh nhà nghề nện cho một trận. Anh dường như đã liệt một phần. Doremus cố dò hỏi tin tức về Dan từ một tên lính canh ở hành lang phòng giam. Tên lính—một thanh niên đẹp trai, má sáng sủa, nổi danh là tay hào hoa trong một thung lũng thuộc dãy White Mountains, và rất hiếu thảo với mẹ—cười: "Ồ, bạn Wilgus của ông à? Thằng ngốc ấy tưởng nó có thể cân sức với cả bầy mèo rừng. Nghe nói nó lúc nào cũng tìm cách nện lính canh. Chúng sẽ trị cho nó chừa hẳn, khỏi lo!"

Đêm ấy, Doremus nghĩ—ông không thể chắc chắn, nhưng ông ngỡ mình đã nghe tiếng Dan gào khóc suốt nửa đêm. Sáng hôm sau, người ta cho ông biết Dan, kẻ xưa nay vẫn ghê tởm mỗi khi phải sắp chữ cho bản tin về một tên yếu đuối tự sát, đã treo cổ trong xà lim.

Rồi, thật bất ngờ, Doremus bị đưa vào một căn phòng, lần này khá rộng rãi, vốn là lớp học tiếng Anh nay được cải thành pháp đình, để chịu xét xử.

Nhưng ngồi trên ghế thẩm phán không phải Ủy viên Địa hạt Francis Tasbrough, cũng chẳng phải một Thẩm phán Quân sự nào, mà chính là một vị Bảo hộ Nhân dân không ai khác ngoài tân Ủy viên Tỉnh lừng danh, Effingham Swan.

Swan đang đọc bài Doremus viết về hắn khi Doremus bị dẫn lên đứng trước ghế xét xử. Hắn cất tiếng—và người đàn ông khắc nghiệt, có vẻ mệt mỏi này không còn là chàng học giả Rhodes phong nhã từng đùa giỡn với Doremus như một đứa trẻ vặt cánh ruồi.

“Jessup, ông có nhận tội hoạt động phản loạn không?”

“Nhưng—” Doremus bất lực nhìn quanh, mong tìm được một người nào đó có thể làm cố vấn pháp lý.

“Ủy viên Tasbrough!” Swan gọi.

Vậy là cuối cùng Doremus cũng được trông thấy người bạn thuở thiếu thời của mình.

Tasbrough không làm một việc đáng khen đến thế là tránh ánh mắt Doremus. Trái lại, y nhìn thẳng vào Doremus, hết sức niềm nở, khi đọc phần lời lẽ của mình:

“Thưa ngài, tôi vô cùng đau lòng khi buộc phải vạch mặt người này, Jessup, người mà tôi đã quen biết suốt đời và từng cố gắng giúp đỡ, nhưng hắn bao giờ cũng là một kẻ tự phụ láu cá—hắn từng là trò cười cho cả Fort Beulah vì cái thói khoe khoang, làm ra vẻ mình là một lãnh tụ chính trị vĩ đại!—và khi Lãnh tụ đắc cử, hắn tức tối vì không được trao một chức vụ chính trị nào, rồi đi khắp nơi tìm cách khiến dân chúng bất mãn—chính tai tôi đã nghe hắn làm thế.”

“Đủ rồi. Cảm ơn. Ủy viên Quận Ledue... Đại úy Ledue, có đúng là tên Jessup này đã tìm cách thuyết phục ông tham gia một âm mưu bạo lực nhằm chống lại cá nhân tôi hay không?”

Nhưng Shad không nhìn Doremus khi lầm bầm: “Đúng.”

Swan quát giọng sắc lạnh: “Thưa các vị, tôi cho rằng lời khai ấy, cộng với bằng chứng nằm trong chính bản thảo của tù nhân mà tôi đang cầm đây, đã là chứng cứ đầy đủ. Tù nhân, nếu không vì tuổi tác và cái vẻ suy nhược già nua ngu xuẩn chết tiệt của ông, tôi đã tuyên phạt ông một trăm roi, như tôi vẫn phạt tất cả những tên Cộng sản khác cùng loại với ông dám đe dọa Nhà nước Hợp đoàn. Xét tình hình hiện tại, tôi tuyên phạt ông bị giam trong trại tập trung tùy theo ý muốn của Tòa, nhưng thời hạn tối thiểu là mười bảy năm.” Doremus tính nhanh. Giờ ông đã sáu mươi hai tuổi. ĐẾN LÚC ẤY ông sẽ bảy mươi chín. Ông sẽ không bao giờ còn được thấy tự do nữa. “Và, căn cứ quyền ban hành sắc lệnh khẩn cấp đã được trao cho tôi với tư cách Ủy viên Tỉnh, tôi cũng tuyên án tử hình ông bằng hình thức xử bắn, nhưng tạm đình chỉ thi hành bản án ấy—song chỉ cho đến khi ông bị bắt quả tang đang tìm cách trốn thoát! Và tôi hy vọng ông sẽ có thật nhiều, thật nhiều thời gian trong tù, Jessup, để suy ngẫm xem mình đã tài tình đến mức nào khi viết bài báo quyến rũ này về tôi! Và để nhớ rằng vào bất cứ một buổi sáng lạnh lẽo khó chịu nào, người ta cũng có thể lôi ông ra ngoài trời mưa mà bắn.” Hắn kết thúc bằng một lời gợi ý nhẹ nhàng với lính gác: “Thêm hai mươi roi nữa!”

Hai phút sau, chúng đã cưỡng ép đổ dầu thầu dầu vào họng ông; ông nằm đó, cố cắn vào mặt gỗ cáu bẩn của bàn quất roi; và ông nghe thấy tiếng vun vút của chiếc cần câu thép khi một tên lính gác nghịch ngợm vung thử nó trong không khí, trước khi quật xuống những vết thương chằng chịt trên tấm lưng đã tóe thịt của ông.