Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 31

Chương 31 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây

Khi chiếc xe tù mui trần tiến gần trại tập trung ở Trianon, ánh chiều cuối ngày ve vuốt những rặng bạch dương, phong và dương rậm rạp trải lên sườn hình kim tự tháp của núi Faithful. Nhưng sắc xám mau chóng bò lên triền núi, và cả thung lũng chìm trong bóng lạnh. Trên ghế, Doremus đau yếu lại rũ xuống, thờ ơ mệt mỏi.

Những tòa nhà kiểu Georgia đoan trang của ngôi trường nữ sinh đã bị biến thành trại tập trung ở Trianon, cách Fort Beulah chín dặm về phía bắc, còn bị đối xử tệ hơn cả Dartmouth, nơi nguyên những tòa nhà được dành riêng cho các Corpo cùng đám chị em họ hàng của họ hưởng lạc—tất cả đều hợm hĩnh và trưởng giả mới phất. Ngôi trường Trianon trông như vừa bị một trận lụt khoét nát. Những bậc cửa bằng cẩm thạch đã bị tháo đi. (Một bậc giờ đây tô điểm cho tư dinh của bà vợ viên Quản đốc, bà Cowlick, một người đàn bà béo phì, cáu kỉnh, đầy nữ trang, sùng đạo, và thường tuyên bố rằng tất cả những ai chống lại Lãnh tụ đều là Cộng sản và phải bị bắn ngay không cần xét xử.) Cửa sổ vỡ tan. Trên những bức tường gạch, người ta viết phấn “Lãnh tụ muôn năm”, còn những từ khác cũng viết bằng phấn, mỗi từ bốn chữ cái, đã bị xóa đi, nhưng chẳng kỹ càng gì. Những bãi cỏ và luống thục quỳ là một mớ cỏ dại hỗn độn.

Các tòa nhà nằm trên ba cạnh của một khoảng sân vuông; cạnh thứ tư và những khoảng trống giữa các tòa nhà được khép kín bằng hàng rào gỗ thông không sơn, bên trên chăng nhiều lớp dây thép gai.

Mọi căn phòng, trừ văn phòng của Đại úy Cowlick, viên Quản đốc (ông ta gần như chẳng là gì hết, gần đến mức một người từng đạt những vinh dự như làm đại úy trong Quân đoàn Quân nhu và đứng đầu một nhà tù có thể đạt tới), đều lem luốc bẩn thỉu. Văn phòng của ông ta chỉ đơn thuần ảm đạm và sặc mùi whisky, chứ không khai mùi amoniac như những phòng khác.

Cowlick không đến nỗi quá ác độc. Ông ta mong đám lính gác trại, toàn là M.M., đừng đối xử tàn bạo với tù nhân, trừ khi họ tìm cách trốn. Nhưng ông ta là người ôn hòa; quá ôn hòa để làm tổn thương tình cảm của đám M.M. và có lẽ còn gây ức chế trong tâm lý họ bằng cách can thiệp vào những phương pháp kỷ luật của họ. Có lẽ những anh chàng tội nghiệp ấy cũng có ý tốt khi quất roi những tù nhân om sòm khăng khăng rằng mình không phạm tội. Và Cowlick tốt bụng đã cứu mạng Doremus được một thời gian; cho ông nằm suốt một tháng trong bệnh xá ngột ngạt và được ăn thịt bò thật trong món bò hầm hằng ngày. Viên bác sĩ nhà tù, một lão nghiện rượu suy đồi được đào tạo y khoa hồi cuối thập niên 1880 và từng suýt gặp rắc rối trong đời thường vì đã thực hiện quá nhiều ca phá thai, lúc tỉnh rượu cũng đủ tốt bụng, và cuối cùng lão cho phép Doremus mời bác sĩ Marcus Olmsted từ Fort Beulah tới; lần đầu tiên trong bốn tuần, Doremus có được tin tức—bất cứ tin tức nào—về thế giới bên ngoài nhà tù.

Trong cuộc sống bình thường, chờ một giờ để biết bạn bè mình có thể đang gặp chuyện gì cũng đã là cực hình; vậy mà giờ đây suốt một tháng ông không biết họ còn sống hay đã chết.

Bác sĩ Olmsted—mang cái tội mà các Corpo gọi là phản quốc chẳng kém gì chính Doremus—chỉ dám nói với ông trong chốc lát, bởi viên bác sĩ nhà tù cứ ở lì trong phòng bệnh, vừa nhỏ dãi nhìn những bệnh nhân hằn sẹo roi vừa quệt iốt ít nhiều gần chỗ thương tích của họ. Olmsted ngồi xuống mép chiếc giường xếp của ông, với đống chăn bẩn thỉu hàng tháng chưa giặt, và lẩm bẩm thật nhanh:

“Nhanh! Nghe đây! Đừng nói! Bà Jessup và hai cô con gái của ông đều bình an—họ sợ lắm, nhưng chưa có dấu hiệu sẽ bị bắt. Nghe nói Lorinda Pike vẫn ổn. Cháu ông, David, trông khỏe mạnh—dù tôi e nó sẽ lớn lên thành một Corpo, giống như tất cả lũ trẻ. Buck Titus còn sống—ở một trại tập trung khác—trại gần Woodstock. Chi bộ Tân Địa hạ của chúng ta ở Fort Beulah vẫn làm những gì có thể—không xuất bản, nhưng chúng tôi chuyển tin tức đi—nhận được rất nhiều từ Julian Falck—buồn cười lắm: cậu ấy được thăng chức rồi, giờ là Đội trưởng M.M.! Mary, Sissy và Cha Perefixe vẫn phân phát truyền đơn từ Boston; họ giúp cậu Quinn (tài xế của tôi) và tôi đưa người tị nạn sang Canada... Phải, chúng tôi vẫn tiếp tục... Cũng giống như lều ôxy cho một bệnh nhân sắp chết vì viêm phổi!... Thấy ông trông như bóng ma thế này đau lòng quá, Doremus. Nhưng ông sẽ qua khỏi. Một lão nhãi như ông mà thần kinh khá lắm đấy! Lão bác sĩ nhà tù ngâm rượu lâu năm kia đang nhìn về phía này. Chào nhé!”

Ông không được phép gặp lại bác sĩ Olmsted, nhưng có lẽ nhờ ảnh hưởng của Olmsted mà khi rời bệnh xá, người vẫn còn run rẩy song đã đủ khỏe để lảo đảo đi lại, ông kiếm được một công việc cực kỳ đáng ao ước: quét các phòng giam và hành lang, dọn nhà vệ sinh và cọ bồn cầu, thay vì phải làm trong toán khai thác gỗ trên núi Faithful, nơi người ta đồn rằng những ông già quỵ xuống dưới sức nặng của khúc gỗ sẽ bị lính gác dưới quyền Thiếu úy Stoyt tàn ác đánh đến chết khi Đại úy Cowlick không trông thấy. Công việc ấy cũng tốt hơn cảnh nhàn rỗi chẳng đáng ao ước khi bị kỷ luật trong “chuồng chó”, nơi người ta phải nằm trần truồng trong bóng tối, và những “ca khó trị” được cải tạo bằng cách không cho ngủ suốt bốn mươi tám, thậm chí chín mươi sáu giờ. Doremus là một người cọ cầu tiêu tận tụy. Ông không thích công việc ấy cho lắm, nhưng tự hào vì có thể cọ rửa thành thạo chẳng kém bất cứ tay thợ chuyên mò ngọc trai nào trong một quán ăn Hy Lạp, và hài lòng vì đã làm vơi đi đôi chút nỗi khốn khổ của các bạn tù bằng cách đem lại cho họ những sàn nhà sạch sẽ.

Bởi vì, ông tự nhủ, họ là những người đồng đội của mình. Ông nhận ra rằng mình, người vẫn tự coi là nhà tư bản vì có quyền thuê và đuổi nhân công, và vì trên lý thuyết ông “làm chủ cơ nghiệp của mình”, cũng bất lực chẳng kém tay lao công lang bạt nhất, một khi giới Đại Tư bản mà chủ nghĩa Corpo đại diện thấy đáng công loại bỏ ông. Tuy vậy, ông vẫn quả quyết với chính mình rằng ông không tin vào nền chuyên chính vô sản hơn gì nền chuyên chính của giới chủ ngân hàng và chủ các công ty tiện ích; ông vẫn khăng khăng rằng bất cứ bác sĩ hay mục sư nào, dù về kinh tế có thể bấp bênh chẳng kém người hèn mọn nhất trong đàn chiên của mình, nếu không cảm thấy bản thân cao hơn họ một chút và được đặc ân làm việc vất vả hơn một chút, thì đó là một bác sĩ tồi tệ hoặc một mục sư không có ơn phước. Ông cảm thấy chính mình từng là một phóng viên tài giỏi và đáng kính hơn Doc Itchitt, và là người nghiên cứu chính trị giỏi hơn phần đông độc giả của ông—những chủ tiệm, nông dân và công nhân nhà máy—một trời một vực.

Thế nhưng lòng kiêu hãnh tư sản trong ông đã tiêu tan đến mức ông thấy hãnh diện, hơi xúc động nữa, khi tất cả nông dân, công nhân, tài xế xe tải và những kẻ lang thang chính hiệu đều gọi ông là “Doremus” chứ không phải “ông Jessup”; khi họ coi trọng lòng can đảm của ông dưới những trận đòn và tính khí ôn hòa của ông khi bị nhồi nhét cùng người khác trong một phòng giam chật hẹp, đến mức xem ông gần như ngang hàng với những đấng nam nhi cường tráng như họ.

Karl Pascal chế giễu ông. “Tôi đã bảo mà, Doremus! Rồi ông cũng sẽ thành người Cộng sản thôi!”

“Phải, có lẽ tôi sẽ thành, Karl ạ—sau khi những người Cộng sản các anh đá hết lũ tiên tri giả, lũ chuyên kêu ca và lũ say quyền lực ra ngoài, cùng toàn bộ đám nhân viên tuyên truyền cho tàu điện ngầm Moskva.”

“Thôi được, thế sao ông không gia nhập Max Eastman? Tôi nghe nói ông ta đã trốn sang Mexico và ở đó có hẳn một đảng Cộng sản Trotsky thuần thành cực lớn gồm mười bảy đảng viên!”

“Mười bảy à? Đông quá. Điều tôi muốn là hành động quần chúng của đúng một thành viên, đơn độc trên đỉnh đồi. Tôi là một người cực kỳ lạc quan, Karl ạ. Tôi vẫn hy vọng một ngày nào đó nước Mỹ có thể vươn tới chuẩn mực của Kit Carson!”

Với công việc quét dọn và cọ rửa, Doremus có những cơ hội khác thường để trò chuyện, nghe ngóng với các tù nhân khác. Ông bật cười khi nghĩ xem trong đám bạn tù phạm tội có bao nhiêu người quen: Karl Pascal, Henry Veeder, người anh em họ của chính ông, Louis Rotenstern, giờ trông như một xác chết, lòng kiêu hãnh năm xưa vì đã trở thành một “người Mỹ đích thực” vẫn mang vết thương không nguôi; Clif Little, người thợ kim hoàn đang chết dần vì bệnh lao; Ben Tripper, từng là người thợ vui tính nhất trong xưởng xay bột của Medary Cole; Giáo sư Victor Loveland thuộc trường Isaiah nay đã giải thể; và Raymond Pridewell, lão bảo thủ ấy vẫn khinh miệt thói xu nịnh đến thế, vẫn sạch sẽ giữa cảnh nhơ bẩn, vẫn có đôi mắt diều hâu đến thế, khiến lính gác cũng thấy bất an khi đánh lão... Pascal, người Cộng sản, Pridewell, nhà quý tộc địa chủ Cộng hòa, và Henry Veeder, người xưa nay chẳng hề bận tâm đến chính trị và đã hồi phục sau những cú sốc đầu tiên của cảnh tù đày—ba người này trở thành bạn thân, bởi họ có lòng kiêu hãnh của sự can trường tuyệt đối hơn bất cứ ai khác trong nhà tù.

Doremus cùng năm người khác coi một phòng giam dài mười hai bộ, rộng mười bộ và cao tám bộ là nhà—căn phòng mà một nữ sinh trường dạy phép tắc thượng lưu thuở trước từng cho là chật chội đến không thể chấp nhận nổi đối với một thiếu nữ đơn độc. Ở đây họ ngủ trên hai tầng, mỗi tầng ba giường; ở đây họ ăn, rửa ráy, đánh bài, đọc sách và hưởng sự trầm tư nhàn nhã mà, như Đại úy Cowlick vẫn thuyết giảng với họ mỗi sáng Chủ nhật, sẽ cải hóa những linh hồn đen tối của họ và biến họ thành các Corpo trung thành.

Chẳng ai trong số họ, nhất là Doremus, phàn nàn nhiều. Họ quen với việc ngủ trong một khối nhầy nhụa khói thuốc và hơi người hôi thối, ăn những món hầm lúc nào cũng khiến họ đói cồn cào, không có phẩm giá hay tự do nào hơn lũ khỉ trong chuồng, cũng như người ta quen với nỗi nhục phải chịu đựng ung thư. Chỉ có điều nó để lại trong họ lòng căm thù đến mức muốn giết những kẻ áp bức mình, khiến tất cả họ, vốn đều là những người yêu chuộng hòa bình, đều sẵn lòng treo cổ mọi Corpo, dù ôn hòa hay tàn ác. Doremus đã hiểu John Brown rõ hơn nhiều.

Bạn cùng phòng giam của ông là Karl Pascal, Henry Veeder và ba người ông chưa từng quen: một kiến trúc sư ở Boston, một người làm thuê trong trang trại và một kẻ nghiện ma túy từng điều hành những nhà hàng mờ ám. Họ trò chuyện rất thú vị—nhất là kẻ nghiện ma túy, người điềm nhiên bênh vực tội ác trong một thế giới mà tội ác thực sự duy nhất là nghèo đói.

Sự tra tấn tồi tệ nhất đối với Doremus, ngoài nỗi đau đớn của những trận đòn roi thực sự, là sự chờ đợi.

Sự Chờ Đợi. Nó trở thành một vật thể riêng biệt, hữu hình, có cá tính và chân thực như Bánh mì hay Nước. Ông sẽ bị giam bao lâu? Ông sẽ bị giam bao lâu? Đêm ngày, lúc ngủ lẫn lúc thức, ông cứ day đi day lại câu hỏi ấy, và bên giường ông là hình hài của sự Chờ Đợi đang chực chờ, một bóng ma xám xịt, nhơ nhớp.

Nó giống như chờ một chuyến tàu trễ trong nhà ga bẩn thỉu, không phải hàng giờ mà hàng tháng trời.

Liệu Swan có mua vui bằng cách lôi Doremus ra bắn không? Giờ đây ông chẳng thể quan tâm nhiều; ông không thể hình dung ra chuyện ấy, cũng như không thể hình dung việc hôn Lorinda, đi trong rừng với Buck, chơi với David và Foolish, hay bất cứ điều gì ít tính xác thịt hơn những ảo ảnh luôn giễu cợt về món bò quay chan xốt, về một bồn tắm nước nóng—món xa xỉ tột bậc và quý giá nhất—trong khi cách tắm rửa duy nhất của họ, ngoài một lần tắm vòi sen mỗi hai tuần, là dùng chiếc áo sơ mi bẩn nhúng vào chậu nước lạnh duy nhất dành cho sáu người.

Ngoài sự Chờ Đợi, còn một bóng ma khác lởn vởn quanh họ—ý niệm Trốn Thoát. Chính chuyện ấy (hơn xa sự thú vật và ngu xuẩn của các Corpo) là điều họ thì thầm trong phòng giam ban đêm. Trốn khi nào. Trốn bằng cách nào. Lẻn qua bụi rậm khi họ ra ngoài cùng toán khai thác gỗ ư? Dùng phép thần thông nào đó cắt xuyên song sắt cửa sổ phòng giam, tụt xuống và may mắn làm sao không bị các toán tuần tra trông thấy ư? Tìm cách bám dưới gầm một chiếc xe tải nhà tù để được chở đi ư? (Một ảo tưởng trẻ con!) Họ khao khát trốn thoát cuồng loạn và thường xuyên chẳng khác gì một chính khách khao khát phiếu bầu. Nhưng họ phải bàn bạc thận trọng, vì khắp nhà tù đâu đâu cũng có chỉ điểm.

Doremus khó lòng tin được chuyện ấy. Ông không thể hiểu nổi một người lại phản bội bạn bè mình, và ông không tin cho đến khi, hai tháng sau ngày Doremus bị đưa vào trại tập trung, Clifford Little tiết lộ với lính gác kế hoạch trốn trong một xe chở cỏ khô của Henry Veeder. Henry được xử lý thích đáng. Little được trả tự do. Và có lẽ Doremus đau khổ vì chuyện ấy gần bằng một trong hai người kia, dù ông vẫn cố cứng cỏi biện giải rằng Little mắc bệnh lao và những trận đòn liên miên đã rút cạn linh hồn anh ta.

Mỗi tù nhân được phép tiếp một người khách mỗi hai tuần, và lần lượt Doremus gặp Emma, Mary, Sissy, David. Nhưng lúc nào cũng có một M.M. đứng cách hai bộ để nghe lén, nên Doremus chỉ nhận được từ họ những lời thảng thốt: “Tất cả chúng em đều khỏe—nghe nói Buck vẫn bình an—nghe nói Lorinda làm ăn khá lắm ở phòng trà mới—Philip viết thư bảo anh ấy vẫn ổn.” Và một lần chính Philip đến, cậu con trai vênh váo của ông, giờ làm thẩm phán Corpo lại càng vênh váo hơn bao giờ hết, và rất đau lòng trước chủ nghĩa cấp tiến điên rồ của cha mình—càng đau lòng hơn đáng kể khi Doremus chua chát nhận xét rằng ông thà được con chó Foolish đến thăm còn hơn.

Và còn những lá thư—tất cả đều bị kiểm duyệt—tệ hơn cả vô dụng đối với một người từng vui sướng đến thế khi nghe giọng nói sống động của bạn bè mình.

Về lâu dài, những cuộc thăm nom bất như ý, những lá thư rỗng tuếch ấy càng khiến sự chờ đợi của ông thêm thê lương, bởi chúng gợi rằng có lẽ những ảo ảnh hằng đêm của ông đã sai; có lẽ thế giới bên ngoài không chan chứa yêu thương, háo hức và phiêu lưu như ông nhớ, mà chỉ ảm đạm như phòng giam của ông.

Ông vốn chẳng biết Karl Pascal bao nhiêu, vậy mà giờ đây con người Marxist ham tranh luận ấy lại là người bạn thân thiết nhất, niềm an ủi vui thú duy nhất của ông. Karl có thể chứng minh, và quả thực vẫn chứng minh, rằng rắc rối ở những chiếc van rò rỉ, những bãi chăn bò cỏ chua, việc giảng dạy môn vi tích phân và mọi cuốn tiểu thuyết đều nằm ở chỗ chúng không tuân theo những trước tác của Lenin.

Trong tình bạn mới mẻ ấy, Doremus bồn chồn kiểu một bà cô già vì sợ Karl bị lôi ra bắn, cách công nhận thường dành cho những người Cộng sản. Ông phát hiện mình không cần lo. Karl từng ngồi tù rồi. Anh chính là người cổ động lão luyện mà Doremus từng ao ước có được trong những ngày hoạt động cho Tân Địa hạ. Anh đã moi ra nhiều vụ bê bối đến thế về những trò gian lận tài chính và tình dục của từng tên lính gác, khiến chúng sợ rằng ngay cả trong lúc bị bắn, anh vẫn có thể mách lẻo với đội hành quyết. Chúng khao khát được anh đánh giá tốt hơn cả được Đại úy Cowlick khen ngợi, và rụt rè mang đến cho anh những món quà nhỏ gồm thuốc lá nhai và báo Canada, như đám học trò lấy lòng thầy giáo.

Khi Aras Dilley được điều từ đội tuần tra đêm ở Fort Beulah sang làm lính gác tại Trianon—phần thưởng vì đã cung cấp cho Shad Ledue một số tin tức về R. C. Crowley khiến tay chủ ngân hàng ấy mất hàng trăm đôla—Aras, cái gã lén lút ấy, tay rình mò tài ba ấy, giật nảy mình khi trông thấy Karl rồi lập tức khoác bộ mặt ngoan đạo và tử tế. Hắn từng quen Karl!

Bất chấp sự hiện diện của Stoyt, viên Thiếu úy chỉ huy lính gác, một cựu thu ngân từng thích bắn chó và giờ đây, nhờ sự giải thoát diễm phúc của chủ nghĩa Corpo, lại thích quất roi con người, trại Trianon vẫn không tàn ác bằng nhà tù khu vực ở Hanover. Nhưng qua ô cửa sổ bẩn thỉu của phòng giam, Doremus đã chứng kiến quá đủ những cảnh kinh hoàng.

Vào khoảng giữa một buổi sáng tháng Chín rực rỡ, khi không khí đã phảng phất vẻ thanh bình của mùa thu, ông thấy đội hành quyết áp giải người anh em họ của mình, Henry Veeder, người vừa tìm cách vượt ngục không lâu trước đó, đi ra. Henry từng là một người như khối đá hoa cương. Ông bước đi như một quân nhân. Trong phòng giam, ông từng tự hào cạo râu mỗi sáng, như thuở trước ông vẫn làm với một chậu thiếc đựng nước đun trên bếp trong gian bếp ngôi nhà trắng cũ của mình trên núi Terror. Giờ đây ông còng lưng, lê chân bước về phía cái chết. Khuôn mặt của một nguyên lão La Mã lem luốc phân bò, nơi chúng đã ném ông vào để trải qua giấc ngủ cuối cùng.

Khi họ rầm rập đi qua cổng sân tứ giác, Thiếu úy Stoyt, chỉ huy đội hành quyết, ra lệnh cho Henry dừng lại, cười nhạo ông rồi thản nhiên đá vào háng ông.

Chúng đỡ ông dậy. Ba phút sau, Doremus nghe một loạt súng rộ lên. Ba phút nữa, toán lính quay lại, khiêng trên một cánh cửa cũ một hình nhân bằng đất sét vặn vẹo, đôi mắt mở trừng trừng vô hồn. Bấy giờ Doremus bật khóc thành tiếng. Khi những người khiêng nghiêng chiếc cáng, hình nhân ấy lăn xuống đất.

Nhưng qua ô cửa sổ đáng nguyền rủa ấy, ông còn phải chứng kiến một điều tệ hại hơn. Lính gác lùa vào hai tù nhân mới: Julian Falck, quân phục rách bươm, và ông nội Julian, nom thật yếu ớt, tóc bạc trắng, ngơ ngác và kinh hoàng trong bộ lễ phục giáo sĩ lấm bùn.

Ông thấy họ bị đá qua sân vuông, vào một tòa nhà trước kia dành cho việc dạy khiêu vũ và những khúc nhạc dương cầm thanh nhã hơn; nay dành cho phòng tra tấn và những xà lim biệt giam.

Phải hai tuần sau—hai tuần chờ đợi như một cơn đau nhức không dứt—ông mới có dịp, vào giờ vận động, nói với Julian trong chốc lát. Julian lẩm bẩm: “Chúng bắt gặp cháu đang viết ít tin nội bộ về chuyện ăn chặn của bọn M.M. Đáng lẽ nó sẽ được chuyển cho Sissy. Tạ ơn Chúa, trên đó không có gì cho biết nó được viết cho ai!” Julian đã đi tiếp. Nhưng Doremus đã kịp thấy đôi mắt cậu tuyệt vọng, và khuôn mặt giáo sĩ nhỏ nhắn, chỉnh tề của cậu bầm tím đen.

Ban quản lý (theo Doremus đoán) quyết định rằng Julian, tên gián điệp đầu tiên trong hàng ngũ M.M. bị bắt tại vùng Fort Beulah, là một món đồ chơi quá hay, không thể phí phạm mà bắn ngay được. Cậu phải được giữ lại làm gương. Doremus thường thấy lính gác đá cậu qua sân vuông tới phòng đánh roi, rồi sau đó tưởng như mình nghe được tiếng Julian gào thét. Cậu thậm chí không bị nhốt trong xà lim trừng phạt, mà trong một cái cũi song sắt để ngỏ bên hành lang thường, để tù nhân đi ngang có thể ghé mắt nhìn vào và thấy cậu, những lằn roi vắt ngang tấm lưng trần, co quắp trên sàn, rên ư ử như con chó bị đánh.

Doremus còn trông thấy ông nội Julian lén lút băng qua sân vuông, lấy trộm một mẩu bánh mì nhão nhoét trong thùng rác rồi nghiến ngấu nhai.

Suốt tháng Chín, Doremus lo sợ rằng, giờ Julian đã rời khỏi Fort Beulah, Sissy sẽ bị Shad Ledue cưỡng hiếp... Trong lúc ấy Shad sẽ cười dâm đãng, hả hê vì mình đã từ một kẻ làm thuê vươn lên thành ông chủ không ai cưỡng nổi.

Bất chấp nỗi đau đớn vì hai ông cháu Falck, vì Henry Veeder và vì mọi người bạn tù, dẫu có quê mùa nhất, đến cuối tháng Chín Doremus đã gần như bình phục sau những trận đòn. Ông bắt đầu hân hoan tin rằng mình sẽ còn sống thêm mười năm nữa; giữa bao đau khổ thế này, ông hơi xấu hổ vì niềm vui ấy, nhưng ông cảm thấy mình như một chàng trai trẻ, và—Và ngay lập tức Thiếu úy Stoyt đã có mặt ở đó (hẳn phải vào khoảng hai, ba giờ sáng), giật Doremus khỏi giường, kéo ông đứng lên, rồi lại đánh ông ngã xuống bằng một cú giáng vào miệng dữ dội đến nỗi Doremus tức khắc chìm trở lại trong mọi nỗi sợ run rẩy, trong cảnh quỵ lụy không còn chút nhân tính.

Ông bị lôi vào văn phòng Đại úy Cowlick.

Viên Đại úy nhã nhặn:

“Ông Jessup, chúng tôi có tin cho biết ông có dính líu tới hành vi phản bội của Tiểu đội trưởng Julian Falck. Cậu ta đã, ờ, thôi thì nói thẳng, cậu ta đã suy sụp và thú nhận rồi. Còn bản thân ông sẽ không gặp nguy hiểm gì, tuyệt đối không có nguy cơ bị trừng phạt thêm, nếu ông chịu giúp chúng tôi. Nhưng quả thật chúng tôi phải dùng cậu Falck trẻ tuổi làm lời cảnh cáo, nên nếu ông kể cho chúng tôi tất cả những gì ông biết về sự bất trung ghê gớm của cậu ta đối với màu cờ, chúng tôi sẽ ghi nhận điều ấy có lợi cho ông. Ông thấy sao nếu được ngủ trong một phòng riêng tử tế, chỉ một mình ông?”

Mười lăm phút sau, Doremus vẫn một mực thề rằng ông hoàn toàn không biết gì về bất cứ “hoạt động lật đổ” nào của Julian.

Đại úy Cowlick nói, giọng khá cáu kỉnh: “Chà, vì ông khước từ lòng hào hiệp của chúng tôi, e rằng tôi đành giao ông lại cho Thiếu úy Stoyt... Nhẹ tay với ông ấy nhé, Thiếu úy.”

“Vâng, thưa ngài,” viên Thiếu úy đáp.

Viên Đại úy mệt mỏi bước lóc cóc ra khỏi phòng, và quả nhiên Stoyt nói năng nhẹ nhàng, khiến Doremus ngạc nhiên, bởi trong phòng có hai tên lính gác mà Stoyt vẫn thích phô trương trước mặt chúng:

“Jessup, ông là người có đầu óc. Ông cố che chở cho thằng Falck này cũng vô ích, vì đằng nào chúng tôi cũng đã có đủ bằng chứng để xử tử nó rồi. Thành thử ông cho chúng tôi thêm vài chi tiết về tội phản quốc của nó cũng chẳng hại gì đến nó. Mà lại có lợi cho chính ông.”

Doremus không nói gì.

“Có chịu nói không?”

Doremus lắc đầu.

“Được thôi... Tillett!”

“Vâng, thưa ngài.”

“Đưa cái lão đã khai Jessup vào đây!”

Doremus tưởng tên lính gác sẽ dẫn Julian tới, nhưng người lảo đảo bước vào phòng lại là ông nội Julian. Ngoài sân vuông của trại, Doremus thường thấy ông cố giữ vẻ trang nghiêm cho chiếc áo đuôi tôm bằng cách lấy giẻ ướt chà những vết bẩn, nhưng trong xà lim không có móc treo quần áo, mà bộ áo của vị mục sư—ông Falck vốn nghèo, ngay từ đầu nó cũng chẳng phải thứ đắt tiền—giờ đã nhàu nhĩ đến lố bịch. Ông chớp mắt vì ngái ngủ, mái tóc bạc rối tung như tổ quạ.

Stoyt (hắn chừng ba mươi tuổi) vui vẻ nói với hai ông già: “Nào, hai cậu bé hư hỏng nên thôi nghịch ngợm đi, cố nhồi chút lẽ phải vào hai bộ óc già mốc meo ấy, rồi tất cả chúng ta còn được ngủ cho tử tế. Sao hai ông không thử thành thật xem nào, khi mỗi người đều đã thú nhận rằng người kia là kẻ phản bội?”

“Cái gì?” Doremus kinh ngạc.

“Đúng thế! Lão Falck đây nói chính ông đã chuyển bài của cháu lão cho tờ Vermont Vigilance. Nào, nếu ông chịu nói cho chúng tôi biết ai xuất bản cái giẻ rách ấy—”

“Tôi không thú nhận gì hết. Tôi chẳng có gì để thú nhận,” ông Falck nói.

Stoyt gào lên: “Lão có câm mồm đi không? Đồ đạo đức giả già nua!” Stoyt đánh ông ngã xuống sàn, và khi ông Falck choáng váng lắc lư trên hai tay hai gối, hắn lấy chiếc ủng nặng nề đá vào sườn ông. Hai tên lính gác kia ghì Doremus đang giãy giụa, phì phò. Stoyt chế nhạo ông Falck: “Chà, lão già khốn kiếp, đã quỳ gối rồi thì cầu nguyện cho ta nghe xem nào!”

“Ta sẽ cầu!”

Trong đau đớn, ông Falck ngẩng khuôn mặt lấm bụi sàn lên, thẳng vai, giơ đôi tay run rẩy, và bằng giọng dịu dàng như Doremus từng nghe thuở con người còn là con người, ông kêu lớn: “Lạy Cha, Ngài đã tha thứ quá lâu rồi! Xin đừng tha thứ cho chúng, mà hãy nguyền rủa chúng, vì chúng biết rõ việc mình làm!” Ông đổ sấp về phía trước, và Doremus biết mình sẽ không bao giờ còn nghe giọng nói ấy nữa.

Trên tờ La Voix littéraire ở Paris, Guillaume Semit, vị giáo sư văn chương danh tiếng và hòa nhã, đã viết với niềm cảm thông quen thuộc:

Tôi không dám nhận mình hiểu biết gì về chính trị, và có lẽ những gì tôi thấy trong chuyến đi thứ tư tới Hợp Chúng Quốc vào mùa hè năm 1938 này phần lớn chỉ là bề nổi, không thể coi là một sự phân tích sâu sắc về những ảnh hưởng của chủ nghĩa Corpo; nhưng tôi xin cam đoan rằng chưa bao giờ tôi thấy quốc gia vĩ đại ấy, người em họ trẻ tuổi và khổng lồ của chúng ta ở phương Tây, lại tràn trề sức khỏe và phấn chấn đến thế. Tôi xin nhường cho các đồng nghiệp kinh tế học việc giải thích những hiện tượng buồn tẻ như thang lương, còn tôi chỉ kể những gì mắt thấy: vô số cuộc diễu hành và những đại hội thể thao rộng lớn của Minute Men cùng các nam thanh nữ tú thuộc Phong trào Thanh niên Corpo đã phô bày những gương mặt hồng hào, mãn nguyện, một lòng nhiệt thành trước sau như một dành cho vị anh hùng của họ, Lãnh tụ, ngài Windrip, đến nỗi tôi bất giác thốt lên: “Đây là cả một dân tộc vừa được nhúng mình trong Dòng sông Tuổi trẻ.”

Khắp đất nước đâu đâu cũng diễn ra việc xây dựng lại các công thự và chung cư cho người nghèo với khí thế sôi sục chưa từng thấy. Tại Washington, đồng nghiệp cũ của tôi, ngài Bộ trưởng Macgoblin, đã rộng lòng kêu lên, bằng phong thái cường tráng mà tao nhã vốn lừng danh của ngài: “Kẻ thù của chúng tôi quả quyết rằng các trại lao động của chúng tôi thực chất là chế độ nô lệ. Đi nào, ông bạn già! Ông sẽ tận mắt thấy.” Ngài đưa tôi trên một trong những chiếc ô tô Mỹ nhanh đến kỳ diệu tới một trại như thế gần Washington, rồi cho tập hợp công nhân lại và thẳng thắn hỏi họ: “Các anh có nản lòng không?” Đồng thanh như một người, họ hô “Không”, với tinh thần giống những chiến sĩ quả cảm của chúng ta trên chiến lũy Verdun.

Trong suốt một giờ chúng tôi ở đó, tôi được phép tự do đi lại, hỏi bất cứ điều gì mình muốn, thông qua người phiên dịch do ngài Tiến sĩ Macgoblin ưu ái cung cấp; và mọi công nhân tôi tiếp xúc theo cách ấy đều cam đoan với tôi rằng chưa bao giờ anh ta được ăn uống đầy đủ đến thế, được đối xử ân cần đến thế, và được giúp đỡ đến thế để tìm thấy một niềm hứng thú gần như thi vị trong công việc mình đã lựa chọn, như tại trại lao động này—sự hợp tác khoa học vì phúc lợi của tất cả mọi người.

Với đôi chút táo bạo, tôi đánh liều hỏi ngài Macgoblin có bao nhiêu phần sự thật trong những lời đồn đại được truyền bá một cách đáng hổ thẹn (đặc biệt, than ôi, tại nước Pháp yêu dấu của chúng ta), rằng trong các trại tập trung, những người chống chủ nghĩa Corpo bị cho ăn thiếu thốn và đối xử hà khắc. Ngài Macgoblin giải thích với tôi rằng không hề có cái gọi là “trại tập trung”, nếu thuật ngữ ấy mang bất kỳ hàm nghĩa hình phạt nào. Thật ra, đó là những trường học, nơi những người trưởng thành chẳng may bị các nhà tiên tri khéo mồm của thứ tín ngưỡng nhạt nhẽo gọi là “Chủ nghĩa Tự do” dẫn lạc đường được cải huấn để thấu hiểu thời đại mới của sự kiểm soát kinh tế bằng quyền uy. Ngài cam đoan với tôi rằng trong những trại như thế thực ra không hề có lính gác, chỉ có những người thầy kiên nhẫn; và những người trước kia hoàn toàn không hiểu chủ nghĩa Corpo, vì thế chống lại nó, nay hằng ngày ra đi với tư cách những môn đồ nhiệt thành nhất của Lãnh tụ.

Than ôi, nước Pháp và nước Anh vẫn còn đang vùng vẫy trong vũng lầy của chủ nghĩa Đại nghị và cái gọi là Dân chủ, mỗi ngày một lún sâu hơn vào nợ nần và tình trạng công nghiệp tê liệt, bởi sự hèn nhát và thói thủ cựu của các lãnh tụ Tự do của chúng ta—những con người yếu đuối, lỗi thời, không dám dứt khoát chọn Phát xít hay Cộng sản; những kẻ không dám—hoặc quá tham quyền—vứt bỏ các phương pháp lỗi thời như người Đức, người Mỹ, người Ý, người Thổ và những dân tộc thật sự can đảm khác, để trao quyền kiểm soát sáng suốt và khoa học của Nhà nước Toàn trị toàn năng vào tay những Con Người Cương Quyết!

Tháng Mười, John Pollikop, bị bắt vì tình nghi rất có thể đã giúp một người tị nạn trốn thoát, tới trại Trianon; những lời đầu tiên giữa ông và người bạn Karl Pascal không phải là hỏi han sức khỏe, mà là một màn đối đáp giễu cợt, như thể họ chỉ đang tiếp tục một cuộc trò chuyện mới bị ngắt quãng nửa giờ trước:

“Chà, lão Bolshevik, tôi đã bảo mà! Nếu đám Cộng sản các ông chịu cùng tôi và Norman Thomas ủng hộ Frank Roosevelt, giờ chúng ta đâu phải ở đây!”

“Vớ vẩn! Chính Thomas và Roosevelt đã khởi xướng chủ nghĩa Phát xít! Tôi hỏi ông đấy! Giờ im đi, John, nghe đây: Chính sách Kinh tế Mới chẳng phải chủ nghĩa Phát xít thuần túy thì là gì? Họ đã làm gì với công nhân? Nghe đây! Không, khoan, nghe tôi nói—”

Doremus lại cảm thấy như ở nhà và được an ủi—dẫu ông cũng cảm thấy rằng có lẽ Foolish có nhiều trí khôn kinh tế hữu ích hơn John Pollikop, Karl Pascal, Herbert Hoover, Buzz Windrip, Lee Sarason và bản thân ông cộng lại; hoặc nếu không, Foolish ít nhất cũng đủ khôn để che giấu sự thiếu khôn ngoan của mình bằng cách giả vờ không biết nói tiếng Anh.

Trở về phòng khách sạn của mình, Shad Ledue ngẫm rằng hắn đang bị đối xử thật chó má. Hắn đã có công tống nhiều kẻ phản bội vào trại tập trung hơn bất kỳ Ủy viên Hạt nào khác trong tỉnh, vậy mà vẫn chưa được thăng chức.

Trời đã khuya; hắn vừa trở về từ bữa tiệc tối do Francis Tasbrough tổ chức để khoản đãi Ủy viên Tỉnh Swan và một ủy ban gồm Thẩm phán Philip Jessup, Giám đốc Giáo dục Owen J. Peaseley và Chuẩn tướng Kippersly, những người đang điều tra xem Vermont có đủ khả năng đóng thêm thuế hay không.

Shad cảm thấy bất mãn. Cả lũ trưởng giả khốn kiếp ấy chỉ lo khoe mẽ! Trong bữa tối cứ nói mãi về cái vở diễn nhảm nhí ở New York—vở tạp kỹ Corpo đầu tiên, Callin’ Stalin, do Lee Sarason và Hector Macgoblin sáng tác. Bọn gàn ấy làm bộ quan trọng biết bao khi nói về “nghệ thuật Corpo”, rồi “kịch nghệ đã được giải phóng khỏi tính khêu gợi Do Thái”, rồi “đường nét thuần khiết của điêu khắc Anglo-Saxon”, thậm chí, có Chúa chứng giám, cả “vật lý Corpo” nữa! Chỉ cốt khoe mẽ! Mà chúng chẳng thèm để ý đến Shad khi hắn kể câu chuyện khôi hài về lão mục sư làm bộ làm tịch ở Fort Beulah, một lão tên Falck, vì ghen tức chuyện bọn M.M. tập trận vào sáng Chủ nhật thay vì đến cửa hàng Phúc âm của lão, nên đã xúi cháu trai bịa chuyện về M.M., và đã bị Shad bắt một cách hết sức thú vị ngay trong nhà thờ của lão! Chẳng thèm để ý đến hắn một chút nào, mặc dù hắn đã cẩn thận đọc hết cuốn Zero Hour của Lãnh tụ để có thể trích dẫn, và mặc dù hắn đã cẩn thận tỏ ra tao nhã trong cung cách ăn uống, cứ uống nước trong ly là lại chìa ngón út ra.

Hắn cô đơn.

Những người bạn hắn từng thân nhất ở phòng bi-da và hiệu cắt tóc giờ dường như sợ hắn, còn lũ trưởng giả khốn kiếp như Tasbrough vẫn phớt lờ hắn.

Hắn cô đơn vì nhớ Sissy Jessup.

Từ khi cha cô bị đưa tới Trianon, Shad dường như không sao dụ được cô tới phòng hắn, mặc dù hắn là Ủy viên Hạt, còn giờ cô chẳng qua chỉ là đứa con gái khánh kiệt của một tên tội phạm.

Mà hắn mê cô như điếu đổ. Chà, hắn gần như sẵn lòng cưới cô, nếu không còn cách nào khác để có được cô! Nhưng khi hắn bóng gió đến chuyện ấy—hoặc gần như thế—cô chỉ cười vào mặt hắn, con ranh trưởng giả khốn kiếp!

Hồi còn là kẻ làm thuê, hắn đã tưởng làm người giàu có và nổi tiếng thì phải vui thú hơn nhiều. Vậy mà hắn chẳng thấy mình khác trước một chút nào! Buồn cười thật!