Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 33

Chương 33 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây

Khi vợ chồng Falck và John Pollikop bị bắt và vào tù hội ngộ với cha cô, khi những kẻ nổi loạn nhút nhát hơn như Mungo Kitterick và Harry Kindermann đã sợ đến mức tránh xa các hoạt động của Tân Địa hạ, Mary Greenhill buộc phải tiếp quản việc điều hành chi bộ Fort Beulah, với lực lượng còn lại chỉ gồm Sissy, Cha Perefixe, bác sĩ Olmsted cùng người tài xế của ông, và nửa tá điệp viên khác; và cô đã điều hành nó, bằng một lòng tận tụy đầy phẫn nộ nhưng không mấy khôn ngoan. Khi Julian đã đi rồi, tất cả những gì cô có thể làm là giúp những người tị nạn đào thoát và chuyển đi những mẩu tin chống Corpo vụn vặt mà cô tìm được.

Con quỷ lớn dần trong cô kể từ khi chồng cô bị hành quyết giờ đã biến thành một khối u khổng lồ, và Mary điên tiết vì phải khoanh tay bất động. Cô nói đến chuyện ám sát với vẻ hết sức nghiêm trang—và từ rất lâu trước thời của Mary Greenhill, con gái Doremus, những bạo chúa khoác giáp vàng trong các tòa tháp đã từng run sợ trước mối đe dọa từ những góa phụ trẻ nơi các làng mạc giữa miền đồi tối.

Trước hết, cô muốn giết Shad Ledue, kẻ mà cô (tuy không biết chắc, nhưng đoán rằng) có lẽ đã đích thân bắn chồng cô. Nhưng ở một nơi nhỏ bé thế này, việc đó có thể khiến gia đình cô còn chịu tổn thương nặng nề hơn cả những gì họ đã phải chịu. Trước khi Shad bị bắt và sát hại, cô từng nghiêm nét mặt đề nghị rằng nếu Sissy đến sống với hắn thì đó sẽ là một màn gián điệp tuyệt đẹp. Sissy, thuở trước còn bông lơn mà từ khi Julian của cô bị bắt đi đã trở nên gầy guộc và lặng lẽ, tin chắc Mary đã hóa điên, và đêm đến cô kinh hãi.... Cô nhớ ngày Mary còn là một nữ vận động viên cứng như pha lê, sáng như pha lê, đã dùng roi ngựa quất một gã nông dân vì hắn hành hạ một con chó.

Mary đã chán ngấy sự thận trọng của bác sĩ Olmsted và Cha Perefixe, những người khá ưa một trạng thái mơ hồ gọi là Tự do nhưng lại chẳng mấy thiết tha với chuyện bị hành hình kiểu lynch. Cô nổi trận lôi đình với họ. Cũng tự xưng là đàn ông ư? Sao họ không ra ngoài mà LÀM một việc gì đi?

Ở nhà, cô bực bội với mẹ mình, người dường như chẳng than tiếc chuyện Doremus bị tống giam nhiều hơn chuyện những chiếc bàn nhỏ yêu quý bị đập tan trong lúc ông bị bắt.

Những lời tung hô inh tai trên báo chí Corpo về sự vĩ đại của tân Ủy viên Tỉnh Effingham Swan, cùng những bản ghi nhớ trong báo cáo mật của Tân Địa hạ về các bản án tử hình chóng vánh hắn tuyên cho tù nhân, đều góp phần khiến cô quyết định giết vị quyền quý này. Còn hơn cả Shad (lúc ấy chưa bị đưa tới Trianon), cô quy trách nhiệm cho hắn về số phận của Fowler. Cô suy tính chuyện đó hết sức bình thản. Chính lối suy nghĩ ấy là điều các Corpo đang cổ xúy nơi những phụ nữ nội trợ tử tế bằng chương trình phục hưng niềm tự hào dân tộc Mỹ của chúng.

Ngoại trừ trẻ sơ sinh đi cùng mẹ, các trại tập trung cấm hai người cùng vào thăm. Vì vậy, khi Mary gặp Doremus và, tại một trại khác, Buck Titus vào đầu tháng Mười, cô chỉ có thể thì thầm với mỗi người gần như cùng một câu: "Nghe này! Lúc rời khỏi cha, con sẽ bế David lên ở cổng—nhưng, trời đất, thằng bé đã thành một cục chắc nịch đến thế rồi cơ đấy!—để cha nhìn thấy nó. Nếu con có mệnh hệ gì, nếu con lâm bệnh hay đại loại thế, khi được thả ra cha sẽ chăm nom David—phải không, PHẢI KHÔNG?"

Cô cố nói bằng giọng thản nhiên để họ khỏi lo. Cô làm việc ấy không được thành công cho lắm.

Thế là cô rút từ khoản tiền nhỏ mà cha đã lập cho cô sau cái chết của Fowler một số đủ dùng trong vài tháng, làm giấy ủy quyền để mẹ hoặc em gái có thể rút phần còn lại, hôn tạm biệt David, Emma và Sissy như thể chẳng có gì, rồi—vẫn líu lo và vui vẻ khi lên tàu—đi Albany, thủ phủ của Tỉnh Đông Bắc. Câu chuyện được đưa ra là cô cần thay đổi không khí và sẽ đến ở gần Albany với người chị đã có chồng của Fowler.

Cô quả có đến ở với chị chồng—đủ lâu để nắm được tình hình. Hai ngày sau khi tới nơi, cô đến sân huấn luyện mới ở Albany của Quân đoàn Nữ phi công Corpo và ghi danh học lái máy bay cùng ném bom.

Khi cuộc chiến không thể tránh khỏi nổ ra, khi chính phủ quyết định xem Canada, Mexico, Nga, Cuba, Nhật Bản, hay có lẽ đảo Staten mới là kẻ "đe dọa biên giới của mình", rồi tiến hành tự vệ bằng cách đánh ra bên ngoài, những nữ phi công xuất sắc nhất của Quân đoàn sẽ được phong sĩ quan trong một lực lượng phụ trợ chính thức của quân đội. Những "quyền" lỗi thời mà phe Tự do ban cho phụ nữ có thể (vì lợi ích của chính họ) bị tước đi, nhưng chưa bao giờ họ được hưởng nhiều quyền chết ngoài chiến trận đến thế.

Trong thời gian học, cô viết thư trấn an gia đình—phần lớn là bưu thiếp gửi David, dặn nó phải nghe mọi lời bà ngoại bảo.

Cô sống trong một nhà trọ náo nhiệt, đầy các sĩ quan Minute Men, những người biết hết nhưng chỉ nói đôi chút về các chuyến thị sát thường xuyên bằng máy bay của Ủy viên Swan. Tại đó cô được ban cho khá nhiều lời gạ gẫm xúc phạm đội lốt tâng bốc.

Cô đã lái ô tô từ năm mười lăm tuổi: giữa dòng xe cộ Boston, băng qua những đồng bằng Quebec, trên những con đường đồi đá lởm chởm giữa bão tuyết; cô từng sửa xe lúc nửa đêm; cô có con mắt chuẩn xác, thần kinh tôi luyện ngoài trời, và sự vững vàng quyết liệt của một kẻ điên cố tránh bị chú ý trong khi âm mưu giết người. Sau mười giờ được một phi công Minute Men hướng dẫn—một kẻ cho rằng trên không cũng là chỗ ve vãn tốt như bất cứ nơi nào khác và chẳng bao giờ hiểu nổi tại sao Mary lại cười nhạo hắn—cô thực hiện chuyến bay một mình đầu tiên, với cú hạ cánh đáng khâm phục. Người hướng dẫn nói (giữa những điều khác ít liên quan hơn) rằng cô không biết sợ; rằng điều duy nhất cô cần để làm chủ kỹ thuật là một chút sợ hãi.

Trong khi đó, cô là một học viên ngoan ngoãn trong các lớp ném bom, một ngành văn hóa được các Corpo truyền bá rộng rãi hơn qua từng ngày.

Cô đặc biệt quan tâm đến lựu đạn cầm tay Mills. Người ta rút chốt an toàn, dùng các ngón tay giữ cần bẩy áp sát thân lựu đạn, rồi ném. Năm giây sau khi cần bẩy được thả ra như vậy, quả lựu đạn phát nổ và giết rất nhiều người. Nó chưa từng được dùng từ máy bay, nhưng có lẽ cũng đáng thử, Mary nghĩ. Các sĩ quan Minute Men kể với cô rằng khi một đám công nhân luyện thép bị đá khỏi nhà máy và bắt đầu nổi loạn, Swan đã nắm quyền chỉ huy lực lượng trị an và đích thân ném một quả lựu đạn như thế (họ cười khúc khích, thán phục sự mau lẹ của hắn). Nó đã giết hai phụ nữ và một đứa bé.

Mary thực hiện chuyến bay một mình thứ sáu vào một buổi sáng tháng Mười một xám xịt và tĩnh lặng dưới những đám mây tuyết. Cô vốn chẳng bao giờ nói nhiều với toán nhân viên mặt đất, nhưng sáng ấy cô bảo mình thấy phấn khích khi nghĩ rằng cô có thể rời mặt đất "như một thiên thần thứ thiệt", vọt lên rồi lảng vảng trong miền hoang vu mây trắng chưa ai biết ấy. Cô vỗ nhẹ vào một thanh chống của chiếc máy bay, một phi cơ cánh đơn Leonard cánh cao, buồng lái mở, loại máy bay quân sự mới và rất nhanh, dành cho cả việc truy kích lẫn những phi vụ ném bom chớp nhoáng... những phi vụ chớp nhoáng để tàn sát vài trăm binh sĩ đang tập trung trong đội hình khít.

Tại sân bay, đúng như tin cô nhận được, Ủy viên Khu Effingham Swan đang bước lên chiếc máy bay khoang kín công vụ cỡ lớn, có lẽ để bay tới New England. Hắn cao lớn; một nhân vật quyền quý đường bệ, dáng quân nhân, gợi đến môn polo, mặc bộ đồ serge xanh đơn giản một cách đầy uy quyền, đầu chỉ đội chiếc mũ bay nhẹ. Một tá kẻ chỉ biết vâng dạ vo ve quanh hắn—thư ký, vệ sĩ, tài xế, đôi ba ủy viên hạt, giám đốc giáo dục, giám đốc lao động—mũ cầm trong tay, nụ cười đeo trên mặt, linh hồn quằn quại vì biết ơn hắn đã cho phép chúng tồn tại. Hắn liên hồi quát tháo chúng và tất bật ngược xuôi. Khi hắn bước lên bậc thang vào khoang (Mary nghĩ đến "Casey Jones" và mỉm cười), một liên lạc viên cưỡi chiếc mô tô khổng lồ rú máy lao tới, mang theo những bức điện tín cuối cùng. Mary kinh ngạc: dường như phải có tới nửa trăm chiếc phong bì màu vàng. Hắn quăng chúng cho viên thư ký đang khúm núm bò theo sau. Cánh cửa cỗ xe dành cho phó vương khép lại, nhốt bên trong vị Ủy viên, viên thư ký và hai vệ sĩ người u cục vì súng ống.

Người ta đồn rằng trên máy bay của Swan có một chiếc bàn từng thuộc về Hitler, và trước Hitler là Marat.

Khi Mary vừa trèo vào buồng lái, một thợ máy vừa ngưỡng mộ chỉ theo chiếc máy bay của Swan đang chao mình lăn tới vừa hét với cô: "Chà, Sếp Swan đúng là một nhân vật cừ khôi! Tôi nghe nói sáng nay ngài ấy bay xuống Washington để chuyện trò với Lãnh tụ—chà, thử nghĩ xem, với Lãnh tụ đấy!"

"Nếu có kẻ bắn ông Swan và Lãnh tụ thì chẳng khủng khiếp lắm sao? Có khi cả lịch sử sẽ thay đổi," Mary hét xuống.

"Không đời nào có chuyện đó! Cô thấy đám vệ sĩ của ngài ấy không? Này nhé, họ có thể cầm chân cả một trung đoàn—họ có thể đánh bại Walt Trowbridge cùng tất cả bọn Cộng sản khác hợp lại!"

"Tôi đoán đúng là thế. Ngoài Chúa từ thiên đường bắn xuống, chẳng gì có thể chạm tới ông Swan."

"Ha, ha! Câu ấy hay đấy! Nhưng vài hôm trước tôi nghe có một gã nói hắn tính ra rằng Chúa đã ngủ mất rồi."

"Có lẽ đã đến lúc Người thức dậy!" Mary nói và giơ tay lên.

Máy bay của cô đạt tốc độ tối đa hai trăm tám mươi lăm dặm một giờ—cỗ xe vàng của Swan chỉ đạt hai trăm ba mươi. Chẳng bao lâu sau, cô đã bay phía trên và hơi chếch sau hắn. Chiếc máy bay khoang kín của hắn, khi cô đứng dưới đất ngước nhìn sải cánh thì tưởng đồ sộ như tàu Queen Mary, giờ trông nhỏ như một con bồ câu trắng, chập chờn trên tấm vải sơn loang lổ là mặt đất.

Cô lấy từ các túi áo bay ra ba quả lựu đạn cầm tay Mills mà chiều hôm qua cô đã tìm cách đánh cắp khỏi trường. Cô không thể mang đi bất kỳ quả bom nào nặng hơn. Khi nhìn chúng, lần đầu tiên cô rùng mình; cô trở thành một sinh vật có dòng máu ấm hơn, chứ không còn chỉ là một bộ phận gắn vào máy bay, máy móc như chính động cơ.

"Tốt hơn hết là làm cho xong trước khi mình trở nên yểu điệu," cô thở dài rồi bổ nhào xuống chiếc máy bay khoang kín.

Hẳn việc cô đến chẳng được hoan nghênh. Cả Thần Chết lẫn Mary Greenhill đều không hẹn chính thức với Effingham Swan vào sáng hôm ấy; chẳng ai gọi điện, mặc cả với những viên thư ký cáu kỉnh, hay được đánh máy ngay ngắn vào lịch trình ngày sống cuối cùng của vị đại nhân. Trong hàng tá văn phòng của hắn, trong dinh thự cẩm thạch, tại phòng hội đồng và lễ đài duyệt binh hoàng gia, sự ưu việt quý báu nhất của hắn được thép sắt bảo vệ. Những kẻ tầm thường như Mary Greenhill không thể đến gần hắn—trừ trên không trung, nơi hoàng đế cũng như dân đen đều chỉ được nâng đỡ bởi đôi cánh đồ chơi và ân sủng của Chúa.

Ba lần Mary điều khiển máy bay tới phía trên máy bay hắn rồi thả một quả lựu đạn. Lần nào cũng trượt. Chiếc máy bay khoang kín đang hạ thấp để đáp xuống, còn đám vệ sĩ đang bắn lên cô.

"Thôi được!" cô nói rồi thẳng thừng bổ nhào vào một cánh kim loại sáng loáng.

Trong mười giây cuối cùng, cô nghĩ cánh máy bay trông giống biết bao chiếc bàn giặt bằng kẽm mà hồi con gái cô từng thấy người tiền nhiệm của bà Candy sử dụng—mà tên bà ta là gì nhỉ?—Mamie hay gì đó. Và cô ước gì mấy tháng qua mình đã dành nhiều thời gian hơn cho David. Và cô nhận thấy dường như chiếc máy bay khoang kín đang lao vọt lên phía cô, chứ không phải cô đang lao xuống phía nó.

Cú va chạm thật kinh hoàng. Nó xảy đến đúng lúc cô đang vỗ vào chiếc dù và đứng dậy định nhảy ra—quá muộn. Tất cả những gì cô trông thấy là một vòng quay điên loạn gồm những cánh máy bay vỡ nát và những động cơ khổng lồ dường như bị quăng thẳng vào mặt cô.