Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 7
Chương 7 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây
Khi tôi bị lôi khỏi phòng làm việc và mái ấm gia đình, bất chấp mọi lời phản đối, để đến những cuộc mít-tinh công cộng mà tôi hết sức căm ghét, tôi cố diễn thuyết giản dị và thẳng thắn như Chúa Hài đồng trò chuyện với các học giả trong Đền thờ.
Giờ Số Không, Berzelius Windrip.
Sấm rền trên núi, mây trùng trùng kéo xuống Thung lũng Beulah, bóng tối trái tự nhiên phủ lên thế giới như màn sương đen, và chớp giật soi bật những vách núi xấu xí như thể đó là đá bị một vụ nổ tung lên.
Doremus thức giấc vào buổi sáng cuối tháng Bảy ấy giữa cơn cuồng nộ như vậy của trời cao thịnh nộ.
Đột ngột như một tử tù choàng tỉnh trong xà lim và sực hiểu: "Hôm nay họ sẽ treo cổ mình!", ông ngồi bật dậy, bàng hoàng khi nghĩ rằng hôm nay Thượng nghị sĩ Berzelius Windrip rất có thể sẽ được đề cử làm ứng viên Tổng thống.
Đại hội Đảng Cộng hòa đã kết thúc, với Walt Trowbridge là ứng viên tổng thống. Đại hội Đảng Dân chủ, nhóm họp tại Cleveland giữa vô số rượu gin, nước xô-đa dâu và mồ hôi, đã hoàn tất các báo cáo của ủy ban, những lời tốt đẹp dành cho Quốc kỳ, những lời bảo đảm với vong linh Jefferson rằng ngài ắt sẽ hài lòng trước những việc—nếu Chủ tịch Jim Farley ưng thuận—sẽ được tiến hành tại đây trong tuần này. Họ đã bước sang phần đề cử—Thượng nghị sĩ Windrip được Đại tá Dewey Haik, dân biểu và nhân vật thế lực trong Hội Cựu chiến binh Hoa Kỳ, đưa ra đề cử. Những Ái tử của các tiểu bang như Al Smith, Carter Glass, William McAdoo và Cordell Hull đã được đón chào bằng những tràng pháo tay tán thưởng rồi vội vàng bị loại. Giờ đây, đến vòng bỏ phiếu thứ mười hai, chỉ còn bốn ứng viên tranh đua, xếp theo số phiếu là Thượng nghị sĩ Windrip, Tổng thống Franklin D. Roosevelt, Thượng nghị sĩ Robinson của Arkansas và Bộ trưởng Lao động Frances Perkins.
Đã xảy ra những màn trò trống vừa trọng đại vừa kịch tính, và trí tưởng tượng của Doremus Jessup đã nhìn thấy tất cả thật rõ ràng qua lời tường thuật của chiếc radio phát cuồng và những bản tin từ A.P. rơi xuống bàn ông tại tòa soạn Informer, nóng đỏ và bốc khói.
Để tôn vinh Thượng nghị sĩ Robinson, ban kèn đồng của Đại học Arkansas tiến vào, dẫn đầu là một người ngồi trên cỗ xe ngựa cũ dán kín những tấm biển lớn tuyên bố "Hãy Cứu lấy Hiến pháp" và "Robinson vì Sự Sáng suốt". Tên cô Perkins được hoan hô suốt hai giờ, trong khi các đại biểu diễu hành với cờ hiệu tiểu bang; còn tên Tổng thống Roosevelt được hoan hô suốt ba giờ—một cách trìu mến mà cũng thật muốn giết người, bởi đại biểu nào cũng biết ông Roosevelt và cô Perkins quá thiếu kim tuyến gánh xiếc cùng vẻ hề hước nói chung để có thể thành công trong giờ phút cuồng loạn nguy cấp này của đất nước, khi cử tri đang muốn một tay chủ trò kiêm nhà cách mạng như Thượng nghị sĩ Windrip.
Màn biểu dương lực lượng của chính Windrip, đã được người thư ký kiêm đại diện báo chí kiêm triết gia riêng Lee Sarason dàn dựng trước một cách khoa học, chẳng hề thua kém ai. Bởi Sarason đã đọc Chesterton đủ kỹ để biết rằng chỉ có một thứ lớn hơn một thứ rất lớn, ấy là một thứ nhỏ đến mức người ta có thể nhìn thấy và hiểu được.
Khi Đại tá Dewey Haik đưa tên Buzz ra đề cử, Đại tá kết thúc bằng tiếng hét: "Còn một điều nữa! Xin hãy nghe đây! Thượng nghị sĩ Windrip đặc biệt yêu cầu quý vị KHÔNG lãng phí thời giờ của đại hội làm nên lịch sử này bằng bất kỳ lời hoan hô nào dành cho tên ông—tuyệt đối không hoan hô. Chúng tôi thuộc Liên đoàn Những Người đàn ông Bị Lãng quên (vâng—cả Phụ nữ nữa!) không muốn những lời tung hô sáo rỗng, mà muốn mọi người nghiêm túc xem xét những nhu cầu tuyệt vọng và cấp bách của sáu mươi phần trăm dân số Hoa Kỳ. Không hoan hô—cầu xin Đấng Quan phòng dẫn dắt chúng ta trong cuộc suy xét trang nghiêm nhất mà chúng ta từng thực hiện!"
Khi ông ta vừa dứt lời, một đoàn người riêng biệt tiến xuống lối đi chính giữa. Nhưng đây không phải cuộc diễu hành của hàng nghìn người. Cả đoàn chỉ có ba mươi mốt người, còn cờ xí chỉ gồm ba lá cờ và hai tấm biển lớn.
Dẫn đầu, trong những bộ quân phục xanh cũ, là hai cựu binh G.A.R.; đi giữa, tay khoác tay với họ, là một cựu binh Liên minh miền Nam mặc quân phục xám. Họ là những ông già bé nhỏ vô cùng, tất cả đều đã ngoài chín mươi, dựa vào nhau mà bước và rụt rè nhìn quanh, mong sao không ai cười nhạo mình.
Người lính Liên minh miền Nam mang một lá quân kỳ trung đoàn Virginia rách tươm như vì mảnh đạn; một trong hai cựu binh Liên bang miền Bắc giương cao lá cờ bị xé nát của Trung đoàn Minnesota Số Một.
Những tràng vỗ tay chiếu lệ mà đại hội dành cho các màn biểu dương của những ứng viên khác chỉ như tiếng mưa lộp độp so với cơn cuồng phong đón chào ba ông già run rẩy, lê bước. Trên bục, ban nhạc chơi—không ai nghe thấy—bản "Dixie", rồi "Khi Johnny Lại Hành quân Trở về"; còn đứng trên ghế giữa hội trường, với tư cách một thành viên bình thường trong đoàn đại biểu tiểu bang mình, Buzz Windrip cúi chào—cúi chào—lại cúi chào và cố mỉm cười, trong khi nước mắt trào ra, ông ta nức nở không sao kìm được, và cử tọa cũng bắt đầu nức nở theo.
Theo sau các ông già là mười hai thành viên Hội Cựu chiến binh, bị thương năm 1918—loạng choạng trên chân gỗ, lê mình giữa đôi nạng; một người ngồi xe lăn mà nom vẫn trẻ trung, vui vẻ biết bao; và một người đeo chiếc mặt nạ đen trước nơi lẽ ra phải là một khuôn mặt. Trong số họ, một người mang lá cờ khổng lồ, người khác cầm tấm biển đòi hỏi: "Gia đình Đói khát của Chúng tôi Phải được Lĩnh Tiền Thưởng—Chúng tôi Chỉ Muốn Công lý—Chúng tôi Muốn Buzz Làm Tổng thống."
Dẫn đầu họ, không mang thương tích mà đứng thẳng, cường tráng và kiên nghị, là Thiếu tướng Hermann Meinecke của Lục quân Hoa Kỳ. Theo trí nhớ của những phóng viên cao niên nhất, chưa từng có quân nhân tại ngũ nào xuất hiện với tư cách một kẻ công khai vận động chính trị. Giới báo chí rỉ tai nhau: "Ông tướng ấy sẽ bị đá khỏi quân đội, trừ phi Buzz đắc cử—mà khi đó chắc ông ta sẽ được phong làm Công tước Hoboken."
Theo sau những người lính là mười người đàn ông và đàn bà, ngón chân thò ra khỏi giày, khoác những bộ quần áo rách càng thảm hại hơn vì đã được giặt đi giặt lại đến bạc hết màu. Đi cùng họ, lảo đảo bước, là bốn đứa trẻ xanh xao, răng đã mục hết; cả bọn hợp sức mới vừa đủ sức giơ tấm biển tuyên bố: "Chúng tôi Sống bằng Cứu trợ. Chúng tôi Muốn Trở lại Làm Con Người. Chúng tôi Muốn Buzz!"
Cách phía sau hai mươi bộ là một người đàn ông cao lớn, đơn độc. Các đại biểu đã ngoái cổ nhìn quanh để xem thứ gì sẽ theo sau những nạn nhân sống nhờ cứu trợ. Khi trông thấy, họ đứng bật dậy, gào vang, vỗ tay. Bởi người đàn ông đơn độc ấy—Trong đám đông, ít người từng tận mắt nhìn thấy ông; tất cả đều đã thấy ông hàng trăm lần trên ảnh báo chí: được chụp giữa những chồng sách ngổn ngang trong phòng làm việc—được chụp khi hội đàm với Tổng thống Roosevelt và Bộ trưởng Ickes—được chụp lúc bắt tay Thượng nghị sĩ Windrip—được chụp trước micro, cái miệng đang thét há ra như chiếc bẫy đen ngòm và cánh tay phải gầy guộc vung lên nhấn mạnh một cách cuồng loạn; tất cả đều đã nghe giọng ông trên radio nhiều đến mức quen thuộc như giọng anh em ruột thịt; tất cả đều nhận ra người đang tiến qua cửa chính rộng lớn, ở cuối đoàn diễu hành của Windrip: vị tông đồ của Những Người đàn ông Bị Lãng quên, Giám mục Paul Peter Prang.
Rồi đại hội hoan hô Buzz Windrip suốt bốn giờ không nghỉ.
Trong những bài tường thuật chi tiết về đại hội mà các hãng tin gửi đi sau loạt bản tin đầu tiên đầy sốt sắng, một phóng viên năng nổ ở Birmingham đã chứng minh khá thuyết phục rằng lá chiến kỳ miền Nam do cựu binh Liên minh miền Nam mang được bảo tàng tại Richmond cho mượn, còn lá cờ miền Bắc thuộc về một nhà đóng gói thịt danh tiếng ở Chicago, cháu nội của một vị tướng thời Nội chiến.
Lee Sarason không bao giờ nói với ai ngoài Buzz Windrip rằng cả hai lá cờ đều được chế tạo tại phố Hester, New York, vào năm 1929 cho vở kịch ái quốc Cuộc Cưỡi ngựa của Morgan, và cả hai đều lấy từ một nhà kho đạo cụ sân khấu.
Trước màn hoan hô, khi đoàn diễu hành của Windrip tiến gần sân khấu, họ được bà Adelaide Tarr Gimmitch, nữ văn sĩ, diễn giả kiêm nhà soạn nhạc lừng danh, chào đón; bà—đột ngột hiện ra trên bục như thể được phẩy từ trong không khí ra—hát theo điệu "Yankee Doodle" những lời do chính bà sáng tác:
Berzelius Windrip tới Wash., Cưỡi ngựa mê say— Thề đuổi Tư bản Lớn, ô hay, Làm Người Dân vận động thay!
Điệp khúc:
Buzz đi, Buzz mãi, cứ vang lên, Lo toan ta, ông gánh hết, Chú cún vô ơn nhất dưới trần, Nếu không bỏ phiếu Buzz lên!
Liên đoàn Người Bị Lãng quên Không muốn đời quên lãng, Họ tới Washington rồi bèn Hát: "Có gì thối rữa!"
Bài chiến ca vui nhộn ấy được mười chín nữ danh ca khác nhau hát trên radio trước nửa đêm, được chừng mười sáu triệu người Mỹ kém thanh nhạc hơn hát trong vòng bốn mươi tám giờ, và được ít nhất chín mươi triệu người ủng hộ lẫn kẻ giễu cợt hát trong cuộc đấu tranh sắp tới. Suốt chiến dịch tranh cử, Buzz Windrip tha hồ đùa cợt vui vẻ bằng lối chơi chữ giữa việc đi tới Wash. và việc rửa ráy. Hắn chế nhạo rằng Walt Trowbridge sẽ chẳng làm được việc nào!
Tuy nhiên, Lee Sarason biết rằng ngoài kiệt tác hài hước này, sự nghiệp của Windrip còn cần một khúc quốc ca cao cả hơn về tư tưởng và tinh thần, xứng với tính chất nghiêm túc của những người Mỹ đang tiến hành thánh chiến.
Rất lâu sau khi màn hoan hô Windrip tại đại hội đã chấm dứt và các đại biểu lại quay về với công việc chính đáng là cứu quốc và cắt cổ lẫn nhau, Sarason cho bà Gimmitch hát một khúc thánh ca truyền cảm hứng hơn, với lời do chính Sarason viết, cộng tác cùng một bác sĩ phẫu thuật hết sức phi thường, Tiến sĩ Hector Macgoblin.
Vị Tiến sĩ Macgoblin này, người chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành một tượng đài quốc gia, thành thạo nghề viết báo y khoa đăng đồng loạt, phê bình sách về giáo dục và phân tâm học, soạn lời chú giải cho triết thuyết của Hegel, Giáo sư Guenther, Houston Stewart Chamberlain và Lothrop Stoddard, trình tấu Mozart bằng vĩ cầm, quyền Anh bán chuyên nghiệp và sáng tác trường ca chẳng kém gì hành nghề y.
Tiến sĩ Macgoblin! Thật là một con người!
Khúc tụng ca Sarason–Macgoblin mang tên "Hãy Mang Ra Khẩu Hỏa mai Thuở Trước" đối với đoàn quân giải phóng của Buzz Windrip cũng như "Giovanezza" đối với người Ý, "Bài ca Horst Wessel" đối với Quốc xã, "Quốc tế ca" đối với mọi tín đồ Marx. Cùng với đại hội, hàng triệu thính giả radio nghe giọng nữ trầm của bà Adelaide Tarr Gimmitch, đậm như than bùn, cất lời ngâm:
HÃY MANG RA KHẨU HỎA MAI THUỞ TRƯỚC
Lạy Chúa, chúng con đã phạm tội, đã ngủ mê, Và quốc kỳ nhuốm bẩn nằm trong cát bụi, Những linh hồn Quá khứ đang gọi, gọi mãi, "Hãy vùng lên khỏi uể oải—phải vùng lên!" Hồn Lincoln ơi, xin dẫn dắt chúng con, Khí thiêng Lee, xin truyền nguồn cảm hứng, Để chính nghĩa cai quản khắp thế gian, Vì lẽ phải chiến đấu, Lấy sức mạnh oai trấn, Như chúng ta từng làm năm sáu-ba.
Điệp khúc
Kìa tuổi trẻ, khát khao bừng cháy, Kìa trinh nữ, ánh mắt không nao, Dẫn đầu hàng ngũ Xe tăng sấm rú, Phi cơ phủ kín trời cao.
Hãy mang ra khẩu hỏa mai thuở trước, Khơi dậy ngọn lửa thuở xưa! Kìa, cả thế gian đang sụp đổ, Khủng khiếp, tối tăm, hiểm nguy. Nước Mỹ! Hãy vùng lên chinh phục Thế giới thỏa lòng ta mong!
"Tài trình diễn tuyệt hảo. P. T. Barnum hay Flo Ziegfeld cũng chưa từng dựng nổi màn nào khá hơn," Doremus trầm ngâm khi đọc những tờ tin mỏng của A.P., khi nghe chiếc radio ông tạm thời cho lắp trong văn phòng. Và mãi sau ông lại nghĩ: "Khi Buzz lên nắm quyền, hắn sẽ chẳng cho thương binh diễu hành đâu. Như thế trái với tâm lý học phát-xít. Hắn sẽ giấu tất cả những kẻ khốn khổ ấy vào các cơ sở tập trung, chỉ đưa ra những gia súc trẻ trung, hoạt bát mặc quân phục để đem đi giết. Hừm."
Cơn giông, vốn đã nhân từ dịu xuống, lại bùng lên đầy đe dọa thịnh nộ.
Suốt buổi chiều, đại hội bỏ phiếu hết vòng này đến vòng khác, mà thứ tự số phiếu của các ứng viên tổng thống vẫn không thay đổi. Gần sáu giờ, người điều hành chiến dịch của cô Perkins chuyển số phiếu của bà sang Roosevelt, và nhờ đó ông đuổi sát Thượng nghị sĩ Windrip. Họ dường như đã chuẩn bị cho một cuộc giằng co suốt đêm, và đến mười giờ tối, Doremus mệt mỏi rời văn phòng. Đêm nay ông không muốn bầu không khí đầy cảm thông và cực kỳ nữ tính ở nhà, bèn ghé qua nhà xứ của người bạn là Cha Perefixe. Tại đó, ông gặp một nhóm người nam tính đến thỏa lòng, không phấn sáp. Mục sư Falck cũng có mặt. Perefixe trẻ tuổi, rắn chắc, nước da ngăm đen và Falck già tóc bạc thường làm việc cùng nhau, quý mến nhau, đồng ý về lợi ích của đời độc thân giáo sĩ cùng hầu hết mọi giáo lý khác, trừ quyền tối thượng của Giám mục thành Rome. Cùng với họ còn có Buck Titus, Louis Rotenstern, Bác sĩ Fowler Greenhill và Chủ ngân hàng Crowley, một nhà tài chính thích tạo cho mình vẻ ưa thảo luận tư tưởng tự do, dù chỉ sau những giờ dành để từ chối cấp tín dụng cho các chủ trại và chủ hiệu đang khốn quẫn.
Và không thể quên chú chó Foolish, vào buổi sáng sấm sét ấy đã cảm thấy nỗi lo của chủ, theo ông đến văn phòng, rồi suốt ngày gầm gừ Haik, Sarason và bà Gimmitch trên radio, đồng thời biểu lộ niềm tin nghiêm túc rằng nó phải nhai nát mọi tờ tin tường thuật đại hội.
Doremus thích phòng làm việc nhỏ của Cha Perefixe hơn phòng khách ốp gỗ trắng lạnh như băng ở nhà mình với những bức chân dung các bậc danh nhân Vermont đã khuất; nơi đây kết hợp vẻ giáo hội và sự thoát ly khỏi Thương mại (ít nhất là thứ Thương mại thông thường), thể hiện qua cây thánh giá, pho tượng Đức Mẹ bằng thạch cao và bức tranh Giáo hoàng kiểu Ý đỏ lục chói lói, với những công việc thực tế, thể hiện qua chiếc bàn gỗ sồi có nắp cuộn, tủ hồ sơ bằng thép và máy chữ xách tay đã sờn mòn. Đó là hang động của một ẩn sĩ ngoan đạo, nhưng có thêm tiện nghi là ghế da và rượu rye pha xô-đa hảo hạng.
Đêm trôi qua khi cả tám người (bởi Foolish cũng có phần sữa nhấm nháp của nó) cùng nhâm nhi và lắng nghe; đêm trôi qua khi đại hội bỏ phiếu hết vòng này đến vòng khác, dữ dội mà vô hiệu quả... cái đại hội cách đó sáu trăm dặm, sáu trăm dặm đêm mù sương, vậy mà từng bài diễn văn, từng tiếng tru nhạo báng, đều vọng vào phòng làm việc của vị linh mục đúng ngay giây phút người ta nghe thấy chúng trong hội trường Cleveland.
Bà quản gia của Cha Perefixe (bà đã sáu mươi lăm tuổi trong khi ông ba mươi chín, khiến tất cả những tín đồ Tin Lành địa phương mê chuyện tai tiếng vô cùng thất vọng) mang vào món trứng bác và bia lạnh.
"Khi người vợ thân yêu của tôi còn ở với chúng ta, bà ấy thường bắt tôi đi ngủ lúc nửa đêm," Bác sĩ Falck thở dài.
"Vợ tôi bây giờ vẫn thế!" Doremus nói.
"Vợ tôi cũng vậy—thế mà cô ấy là gái New York đấy!" Louis Rotenstern nói.
“Cha Steve đây và tôi là hai gã duy nhất biết sống cho ra sống,” Buck Titus oang oang. “Độc thân. Chúng tôi có thể mặc nguyên quần mà lên giường, hoặc chẳng lên giường chút nào,” và Cha Perefixe lẩm bẩm: “Nhưng lạ thật đấy, Buck, thiên hạ tìm đủ thứ để khoe khoang—ông thì khoe mình thoát khỏi ách chuyên chế của Chúa, lại còn có thể mặc nguyên quần mà đi ngủ—ông Falck, bác sĩ Greenhill và tôi thì khoe Chúa khoan dung với chúng tôi đến mức có những đêm Người miễn cho chúng tôi khỏi phải đi thăm bệnh, để chúng tôi được cởi quần mà lên giường! Còn Louis thì vì—Nghe kìa! Nghe kìa! Có vẻ sắp vào việc rồi!”
Đại tá Dewey Haik, người đề cử Buzz, đang thông báo rằng Thượng nghị sĩ Windrip cảm thấy nếu giờ đây ông trở về khách sạn thì chỉ là một hành động khiêm nhường phải lẽ, nhưng ông đã để lại một lá thư mà Haik sẽ đọc. Và Haik quả đã đọc, không gì ngăn nổi.
Windrip tuyên bố rằng, phòng khi vẫn còn ai chưa hiểu hết cương lĩnh của ông, ông muốn làm cho mọi điều rõ ràng vang dội.
Tóm lại, lá thư giải thích rằng ông hoàn toàn chống các ngân hàng nhưng hoàn toàn ủng hộ các chủ ngân hàng—trừ những chủ ngân hàng Do Thái, những kẻ sẽ bị đuổi sạch khỏi ngành tài chính; rằng ông có những kế hoạch đã được kiểm nghiệm kỹ lưỡng (nhưng không nói rõ là kế hoạch gì) nhằm nâng mọi mức lương lên thật cao, đồng thời hạ giá tất cả những gì chính các công nhân được trả lương cao ấy sản xuất xuống thật thấp; rằng ông ủng hộ Lao động một trăm phần trăm, nhưng cũng chống mọi cuộc đình công một trăm phần trăm; và rằng ông chủ trương Hoa Kỳ phải tự vũ trang, phải chuẩn bị tự sản xuất cà phê, đường, nước hoa, vải tuýt và nickel thay vì nhập khẩu, đến mức có thể thách thức cả Thế giới... và có lẽ, Buzz bóng gió, nếu cái Thế giới ấy xấc xược đến nỗi dám thách thức lại nước Mỹ, ông có thể sẽ phải tiếp quản nó và điều hành cho đàng hoàng.
Mỗi lúc Doremus càng thấy những lời chèo kéo chói tai từ chiếc radio thêm khó chịu, trong khi sườn đồi ngủ yên giữa đêm hè nặng trĩu; ông nghĩ đến điệu mazurka của những con đom đóm, nhịp dế kêu tựa như nhịp quay của chính trái đất, những làn gió nồng nàn cuốn đi mùi hôi của xì gà, mồ hôi, hơi thở whisky và kẹo cao su bạc hà—những mùi dường như theo sóng âm từ đại hội truyền đến chỗ họ cùng với những lời diễn thuyết.
Trời đã rạng sáng, và Cha Perefixe (hoàn toàn mất vẻ giáo sĩ, chỉ còn áo sơ mi xắn tay và dép đi trong nhà) vừa mang vào cho họ một khay xúp hành đáng quý, kèm một cục thịt bò Hamburg cho Foolish, thì phe chống Buzz tan rã; và ngay trong vòng bỏ phiếu kế tiếp được tiến hành vội vã, Thượng nghị sĩ Berzelius Windrip đã được đề cử làm ứng viên Tổng thống Hoa Kỳ của Đảng Dân chủ.
Doremus, Buck Titus, Perefixe và Falck ủ ê đến mức một lúc lâu không ai nói nổi lời nào—có lẽ cả con chó Foolish cũng vậy, bởi khi chiếc radio bị tắt, nó chỉ đập đuôi một cách hết sức dè dặt.
R. C. Crowley hả hê: “Chà, cả đời tôi vẫn bỏ phiếu cho Đảng Cộng hòa, nhưng đây là một người mà—Chà, tôi sẽ bỏ phiếu cho Windrip!”
Cha Perefixe chua chát nói: “Còn tôi vẫn bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ từ khi rời Canada sang đây và nhập quốc tịch, nhưng lần này tôi sẽ bỏ phiếu cho Đảng Cộng hòa. Còn các ông thì sao?”
Rotenstern im lặng. Ông không thích lời Windrip nói về người Do Thái. Những người ông thân quen nhất—không, họ là người Mỹ! Ông thề rằng Lincoln cũng là vị thần của dân tộc ông.
“Tôi à? Dĩ nhiên tôi sẽ bỏ phiếu cho Walt Trowbridge,” Buck gầm gừ.
“Tôi cũng vậy,” Doremus nói. “Không! Tôi cũng chẳng bỏ cho ông ta đâu! Trowbridge không có cơ may nào cả. Tôi nghĩ, chỉ lần này thôi, tôi sẽ tự cho mình hưởng cái xa xỉ của một người độc lập, rồi bỏ phiếu cho đảng Cấm Rượu, hay cái liên danh cám lúa mì với rau chân vịt của Battle Creek, hoặc bất cứ thứ gì nghe còn có lý đôi chút!”
Khi Doremus về đến nhà thì đã quá bảy giờ sáng, và lạ lùng thay, Shad Ledue—lẽ ra phải bắt đầu làm việc lúc bảy giờ—lại quả thực đang làm việc vào lúc bảy giờ. Bình thường hắn chẳng bao giờ rời túp lều độc thân của mình dưới Lower Town trước tám giờ kém mười, nhưng sáng nay hắn đã bắt tay vào việc, đang chẻ củi mồi. (À phải, Doremus ngẫm nghĩ—có lẽ thế là hiểu rồi. Nếu bắt đầu chẻ củi mồi đủ sớm thì sẽ đánh thức được tất cả mọi người trong nhà.)
Shad cao lớn, lực lưỡng; áo sơ mi đẫm mồ hôi; và như thường lệ, hắn cần cạo râu. Foolish gầm gừ với hắn. Doremus ngờ rằng đã có lúc hắn đá Foolish. Ông muốn kính trọng Shad vì chiếc áo đẫm mồ hôi, vì lao động lương thiện và mọi đức tính cứng cỏi ấy, nhưng ngay cả với tư cách một Nhà Nhân đạo Tự do Mỹ, Doremus vẫn thấy thật khó lúc nào cũng nhất quán giữ được quan điểm pha trộn giữa Người Thợ Rèn Làng của Longfellow và Marx, mà không đôi khi sa ngã trở lại niềm tin rằng trong giới lao động hẳn PHẢI CÓ một số kẻ gian manh và đồ lợn, cũng như—ai cũng biết—có nhiều đến mức đáng kinh hoàng trong đám người kiếm hơn 3.500 đô-la một năm.
“Chà—tôi thức suốt đêm nghe radio,” Doremus dịu giọng nói. “Anh biết Đảng Dân chủ đã đề cử Thượng nghị sĩ Windrip chưa?”
“Vậy à?” Shad gầm gừ.
“Phải. Vừa mới xong. Anh định bỏ phiếu thế nào?”
“À, để tôi nói cho ông nghe, ông Jessup.” Shad làm ra vẻ, chống người lên cán rìu. Đôi khi hắn có thể khá dễ chịu và kẻ cả, ngay cả với người đàn ông nhỏ thó chẳng biết gì về săn gấu mèo, chơi xúc xắc và đánh poker này.
“Tôi sẽ bỏ phiếu cho Buzz Windrip. Ông ấy sẽ thu xếp để ai cũng được lĩnh ngay bốn nghìn đô, rồi tôi sẽ mở một trại gà. Nuôi gà kiếm được cả đống tiền! Tôi sẽ cho mấy gã cứ tưởng mình giàu lắm kia biết tay!”
“Nhưng Shad này, lần anh thử nuôi gà trong cái lán đằng kia đâu có được may mắn cho lắm. Anh, ờ, tôi e là mùa đông anh đã để nước uống của chúng đóng băng, rồi chúng chết sạch, anh nhớ chứ.”
“Ồ, lũ ấy hả? Thì sao nào! Quỷ thật! Có ít quá chứ gì. TÔI chẳng phí thì giờ loay hoay với vài chục con gà đâu! Khi nào tôi có năm sáu nghìn con cho bõ công, BẤY GIỜ tôi sẽ cho ông thấy! Chắc chắn đấy.” Rồi hắn nói với vẻ kẻ cả tột bậc: “Buzz Windrip được lắm.”
“Tôi mừng vì ông ấy đã được anh chuẩn y.”
“Hả?” Shad nói, cau mặt.
Nhưng khi Doremus lê bước lên hiên sau, ông nghe Shad khẽ nói giọng giễu cợt:
“Được lắm, Sếp!”