Kim — Chương 3
Chương 3 / 15 · Bài review Kim
Phải, tiếng mỗi Linh hồn bám riết Vào đời, từng bậc gắng vươn lên, Thuở quyền Devadatta còn non trẻ, Gió ấm mang Kamakura về.
Phía sau họ, một người nông dân giận dữ vung cây sào tre. Y là dân trồng rau đem chợ, thuộc đẳng cấp Arain, chuyên trồng rau và hoa cho thành Umballa; Kim biết quá rõ hạng người ấy.
“Một kẻ như thế,” lạt-ma nói, chẳng để tâm đến lũ chó, “thì vô lễ với khách lạ, lời lẽ nóng nảy và lòng dạ thiếu từ ái. Đệ tử của ta, hãy lấy cung cách của y mà răn mình.”
“Hô, quân ăn mày trơ trẽn!” người nông dân quát. “Cút đi! Xéo khỏi đây!”
“Chúng ta đi đây,” lạt-ma điềm tĩnh, đường hoàng đáp. “Chúng ta rời khỏi những thửa ruộng không được ban phước này.”
“À,” Kim nói, hít mạnh một hơi. “Nếu vụ tới thất bát, ông chỉ có thể trách cái lưỡi của chính mình thôi.”
Người kia bồn chồn lê đôi dép. “Đất này đầy rẫy ăn mày,” y mở lời, giọng nửa như phân trần.
“Mà dựa vào dấu hiệu nào ông biết chúng tôi sẽ xin ông bố thí, hỡi Mali?” Kim chua chát hỏi, dùng đúng cái tên mà dân trồng rau đem chợ ghét nhất. “Chúng tôi chỉ muốn nhìn con sông bên kia cánh đồng đó thôi.”
“Sông với chả suối!” người kia khịt mũi. “Các người từ thành nào tới mà không nhận ra một con kênh đào? Nó chạy thẳng như tên bắn, còn ta phải trả tiền nước như thể đó là bạc nung chảy. Phía xa có một nhánh sông. Nhưng nếu các người cần nước, ta có thể cho—cả sữa nữa.”
“Không, chúng ta sẽ ra sông,” lạt-ma nói và sải bước đi.
“Sữa và một bữa ăn.” Người kia lắp bắp khi nhìn dáng người cao lớn lạ lùng. “Tôi—tôi không muốn chuốc điều dữ vào mình—hay mùa màng của mình. Nhưng trong buổi khó khăn này, ăn mày nhiều quá.”
“Hãy lưu tâm.” Lạt-ma quay sang Kim. “Y đã bị Màn Sương Đỏ của cơn giận xui khiến nói lời cay nghiệt. Khi màn sương ấy tan khỏi mắt, y trở nên nhã nhặn và có tấm lòng hòa ái. Cầu cho ruộng đồng của y được ban phước! Hỡi người nông dân, chớ xét đoán người khác quá vội vàng.”
“Tôi từng gặp những bậc thánh thiện có thể nguyền rủa ông từ bếp lửa cho tới chuồng bò,” Kim nói với người đàn ông đang hổ thẹn. “Thầy chẳng phải vừa minh triết vừa thánh thiện sao? Tôi là đệ tử của thầy.”
Cậu hếch mũi lên trời, trịnh thượng bước qua những bờ ruộng hẹp với vẻ vô cùng đường bệ.
“Không có lòng kiêu hãnh,” lạt-ma nói sau một lúc ngừng, “không có lòng kiêu hãnh nơi những người đi theo Trung đạo.”
“Nhưng thầy đã nói y thuộc đẳng cấp thấp và vô lễ.”
“Ta không nói đẳng cấp thấp, bởi cái không tồn tại thì sao có thể thấp được? Sau đó y đã sửa lại sự vô lễ của mình, và ta quên sự xúc phạm ấy rồi. Hơn nữa, y cũng như chúng ta, bị trói buộc vào Bánh xe Luân hồi; nhưng y không bước trên con đường giải thoát.” Thầy dừng bên một lạch nước nhỏ giữa đồng và ngắm bờ đất lỗ chỗ dấu móng guốc.
“Nào, làm sao thầy nhận ra Sông của mình?” Kim hỏi, ngồi xổm dưới bóng mấy cây mía cao.
“Khi tìm thấy, ắt ta sẽ được soi sáng. Ta cảm thấy đây không phải nơi ấy. Ôi dòng nước nhỏ bé nhất, giá ngươi có thể bảo ta Sông của ta chảy nơi đâu! Nhưng cầu cho ngươi được ban phước để khiến ruộng đồng sinh hoa lợi!”
“Nhìn kìa! Nhìn kìa!” Kim nhảy bổ đến bên thầy và kéo thầy lùi lại. Một vệt vàng nâu trườn từ những thân cây tím đang xào xạc ra bờ, vươn cổ xuống nước, uống rồi nằm im—một con hổ mang lớn với đôi mắt trừng trừng không mi.
“Con không có gậy—con không có gậy,” Kim nói. “Con sẽ đi kiếm một cây rồi đập gãy lưng nó.”
“Tại sao? Nó cũng ở trên Bánh xe Luân hồi như chúng ta—một sinh mệnh đang đi lên hoặc đi xuống—còn rất xa sự giải thoát. Hẳn linh hồn ấy đã gây nghiệp dữ lớn lắm mới bị đày vào hình hài này.”
“Con ghét mọi loài rắn,” Kim nói. Không sự rèn giũa bản xứ nào dập tắt được nỗi kinh hãi con Rắn trong người da trắng.
“Hãy để nó sống hết kiếp mình.” Vật cuộn tròn kia rít lên và bạnh nửa mang. “Cầu cho ngươi sớm được giải thoát, người anh em!” lạt-ma vẫn điềm nhiên nói tiếp. “Tình cờ _ngươi_ có biết gì về Sông của ta chăng?”
“Con chưa từng thấy người nào như thầy,” Kim thì thầm, lòng choáng ngợp. “Đến cả rắn cũng hiểu lời thầy nói sao?”
“Ai biết được?” Thầy đi qua, cách cái đầu đang chực mổ của con hổ mang chưa đầy một bộ. Nó ép mình xuống giữa những khoanh thân phủ bụi.
“Lại đây, con!” thầy ngoái gọi.
“Con thì không,” Kim nói. “Con đi vòng.”
“Lại đây. Nó không làm hại con đâu.”
Kim do dự một lát. Lạt-ma củng cố mệnh lệnh bằng mấy câu trích dẫn tiếng Trung ngân nga mà Kim tưởng là thần chú. Cậu vâng lời, nhảy qua lạch nước; quả nhiên con rắn không hề động tĩnh.
“Con chưa từng thấy người nào như thầy.” Kim lau mồ hôi trên trán. “Giờ chúng ta đi đâu?”
“Đi đâu là tùy con quyết định. Ta đã già, lại là khách lạ—xa quê mình. Nếu cỗ xe _rêl_ không làm đầu ta đầy tiếng trống ma quỷ, thì giờ ta đã đi nó tới Benares... Song đi như thế, chúng ta có thể bỏ lỡ Sông. Hãy tìm một con sông khác.”
Nơi đất đai bị vắt kiệt sức vẫn cho ba, thậm chí bốn vụ mỗi năm, với từng khoảnh mía, thuốc lá, củ cải trắng dài và su hào, họ cứ thế thơ thẩn suốt ngày, rẽ sang bên mỗi khi thoáng thấy nước; làm lũ chó làng sủa vang và những thôn làng giữa trưa đang ngủ phải thức giấc; còn lạt-ma đáp lại những tràng câu hỏi bằng sự chân thật không hề lay chuyển. Họ tìm một con Sông: một con Sông có phép chữa lành kỳ diệu. Có ai biết dòng nước như thế chăng?
Đôi khi người ta cười, nhưng thường hơn, họ nghe câu chuyện cho đến hết rồi mời hai thầy trò một chỗ trong bóng râm, một bát sữa và một bữa ăn. Phụ nữ bao giờ cũng tử tế, còn trẻ nhỏ thì như trẻ nhỏ khắp thế gian, lúc rụt rè, lúc bạo dạn.
Chiều xuống, họ nghỉ dưới gốc cây làng của một xóm nhỏ tường đất mái đất, trò chuyện với trưởng làng trong lúc gia súc từ bãi chăn trở về và đàn bà sửa soạn bữa cuối ngày. Họ đã vượt khỏi vành đai vườn rau quanh Umballa đói khát, đến giữa màu xanh rộng hàng dặm của những cánh đồng hoa màu chủ lực.
Trưởng làng là một bậc cao niên râu bạc, hòa nhã, quen tiếp đãi khách lạ. Ông kéo ra một chiếc giường dây cho lạt-ma, đặt trước mặt thầy thức ăn nấu nóng, sửa soạn một ống điếu, rồi khi các nghi lễ buổi tối ở đền làng đã xong, sai người mời thầy tư tế trong làng tới.
Kim kể cho đám trẻ lớn nghe chuyện Lahore rộng lớn và đẹp đẽ nhường nào, chuyện đi xe lửa cùng những sự đời thành thị tương tự, trong khi cánh đàn ông trò chuyện chậm rãi như đàn bò của họ nhai lại.
“Ta không sao hiểu nổi,” cuối cùng trưởng làng nói với thầy tư tế. “Thầy luận câu chuyện này thế nào?” Lạt-ma, sau khi kể xong chuyện của mình, lặng lẽ lần tràng hạt.
“Ông ấy là một Người Tầm Đạo,” thầy tư tế đáp. “Xứ này đầy những người như vậy. Nhớ kẻ mới đến tháng trước—vị _faquir_ mang theo con rùa chứ?”
“Phải, nhưng người ấy có đầy đủ căn cứ và lý do, bởi chính Krishna hiện ra trong mộng, hứa cho ông ta lên Thiên đường mà không cần giàn hỏa thiêu nếu ông ta hành hương tới Prayag. Còn người này chẳng tìm vị Thần nào mà ta biết.”
“Thôi nào, ông ấy đã già; từ nơi xa xôi tới, và ông ấy điên,” vị tư tế mặt nhẵn nhụi đáp. “Hãy nghe ta.” Ông quay sang lạt-ma. “Ba _kos_ (sáu dặm) về phía tây có con đường lớn chạy tới Calcutta.”
“Nhưng ta muốn tới Benares—tới Benares.”
“Cũng tới Benares nữa. Nó băng qua mọi dòng nước ở phía bên này xứ Hind. Giờ lời ta khuyên ngài, hỡi Bậc Thánh Thiện, là hãy nghỉ lại đây đến ngày mai. Rồi đi theo con đường ấy” (ý ông là Đường Grand Trunk) “và thử từng dòng nước nó vượt qua; bởi theo chỗ ta hiểu, diệu lực của Sông ngài không nằm trong một vũng hay một nơi nào, mà suốt dọc dòng sông. Khi ấy, nếu các vị Thần của ngài muốn, xin ngài tin chắc rằng ngài sẽ gặp được sự giải thoát của mình.”
“Nói rất hay.” Kế hoạch ấy gây ấn tượng mạnh với lạt-ma. “Ngày mai chúng ta sẽ bắt đầu, cầu phước lành đến với ông vì đã chỉ cho đôi chân già một con đường gần đến vậy.” Một chuỗi tiếng Trung trầm sâu, nửa ngâm nửa tụng, khép lại câu nói. Ngay cả thầy tư tế cũng bị lay động, còn trưởng làng thì sợ một bùa phép dữ; nhưng chẳng ai có thể nhìn gương mặt chân thật, háo hức của lạt-ma mà ngờ vực thầy được lâu.
“Ông thấy _đệ tử_ của ta chứ?” thầy nói, thọc tay vào quả bầu đựng thuốc hít và hít một hơi ra vẻ quan trọng. Đáp lại sự tử tế bằng sự tử tế là bổn phận của thầy.
“Ta thấy—và nghe nữa.” Trưởng làng đảo mắt về phía Kim đang chuyện trò với một cô gái áo xanh khi cô đặt những cành gai nổ lách tách lên lửa.
“Nó cũng có một cuộc Tầm Cầu riêng. Không phải một con sông, mà là một con Bò Mộng. Phải, một ngày kia, Bò Mộng Đỏ trên nền xanh sẽ đưa nó lên chốn vinh hiển. Ta nghĩ nó không hoàn toàn thuộc về thế giới này. Nó bất ngờ được phái tới giúp ta trong cuộc tìm kiếm này, và tên nó là Bạn của Cả Thế Gian.”
Thầy tư tế mỉm cười. “Hô, đằng kia, Bạn của Cả Thế Gian,” ông gọi qua làn khói nồng hắc, “ngươi là thứ gì vậy?”
“Đệ tử của Bậc Thánh Thiện này,” Kim đáp.
“Thầy ấy bảo ngươi là một _būt_ (một linh hồn).”
“_Būt_ có ăn được không?” Kim hỏi, mắt lấp lánh tinh quái. “Vì tôi đang đói.”
“Không phải chuyện đùa,” lạt-ma kêu lên. “Một nhà chiêm tinh nọ ở cái thành mà ta đã quên tên—”
“Chẳng phải đâu xa, chính là thành Umballa, nơi chúng tôi ngủ đêm qua,” Kim thì thầm với thầy tư tế.
“Phải, là Umballa chăng? Ông ta lập lá số tử vi và tuyên rằng _đệ tử_ của ta sẽ tìm thấy điều nó mong muốn trong vòng hai ngày. Nhưng ông ta đã nói ý nghĩa những vì sao thế nào, hỡi Bạn của Cả Thế Gian?”
Kim đằng hắng và đưa mắt nhìn quanh các bậc râu bạc trong làng.
“Ý nghĩa Ngôi Sao của tôi là Chiến Tranh,” cậu đáp với vẻ khoa trương.
Có người bật cười trước hình hài bé nhỏ rách rưới đang vênh váo trên bệ gạch dưới gốc đại thụ. Ở chỗ một người bản xứ hẳn đã ngồi xuống, dòng máu da trắng trong Kim lại khiến cậu đứng thẳng trên hai chân.
“Phải, Chiến Tranh,” cậu đáp.
“Đó là một lời tiên tri chắc chắn,” một giọng trầm ầm vang. “Bởi dọc Biên cương lúc nào cũng có chiến tranh—ta biết rõ điều ấy.”
Đó là một ông già khô quắt, từng phục vụ Chính phủ vào thời Binh biến, với chức sĩ quan bản xứ trong một trung đoàn kỵ binh mới thành lập. Chính phủ đã cấp cho ông một phần ruộng đất khá tốt trong làng; và tuy những đòi hỏi của các con trai—nay cũng đã là những sĩ quan râu bạc—khiến ông trở nên túng thiếu, ông vẫn là một nhân vật có thế lực. Các quan chức Anh—ngay cả những Phó Ủy viên—cũng rẽ khỏi đường cái để tới thăm ông; vào những dịp ấy, ông mặc bộ quân phục thời xa xưa và đứng thẳng như cán giáo.
“Nhưng đây sẽ là một cuộc chiến lớn—một cuộc chiến của tám nghìn người.” Giọng Kim the thé vang qua đám đông đang mau chóng tụ lại, khiến chính cậu cũng kinh ngạc.
“Lính áo đỏ hay các trung đoàn của chúng ta?” ông già hỏi xẵng, như thể đang hỏi một người ngang hàng. Giọng ông khiến mọi người kính nể Kim.
“Lính áo đỏ,” Kim đánh liều đáp. “Lính áo đỏ và đại bác.”
“Nhưng—nhưng nhà chiêm tinh không nói một lời nào về chuyện này,” lạt-ma kêu lên, vì kích động mà hít thuốc lấy hít thuốc để.
“Nhưng _tôi_ biết. Lời ấy đã đến với tôi, đệ tử của Bậc Thánh Thiện này. Sẽ nổi lên một cuộc chiến—một cuộc chiến của tám nghìn lính áo đỏ. Họ sẽ được điều từ Pindi và Peshawur. Điều này là chắc chắn.”
“Thằng bé đã nghe chuyện ngoài chợ,” thầy tư tế nói.
“Nhưng nó luôn ở bên ta,” lạt-ma nói. “Làm sao nó biết được? Ta còn không biết.”
“Khi ông già chết, nó sẽ thành một tay làm xiếc khôn ngoan,” thầy tư tế lẩm bẩm với trưởng làng. “Lại trò mới gì đây?”
“Một dấu hiệu. Cho ta một dấu hiệu,” người lính già bỗng quát vang như sấm. “Nếu có chiến tranh, các con trai ta hẳn đã báo cho ta.”
“Khi mọi thứ sẵn sàng, các con trai ông, chớ nghi ngờ, sẽ được báo. Nhưng đường từ các con ông tới người nắm những việc này trong tay còn xa lắm.” Kim càng chơi càng hăng, vì việc này gợi cậu nhớ những trải nghiệm hồi làm nghề chuyển thư, khi vì vài đồng pice, cậu giả vờ biết nhiều hơn những gì mình thực biết. Nhưng giờ đây cậu đang chơi vì những thứ lớn hơn—niềm kích động thuần túy và cảm giác nắm quyền lực. Cậu hít một hơi mới rồi nói tiếp.
“Ông lão, hãy cho _tôi_ một dấu hiệu. Đám thuộc cấp có ra lệnh điều động tám nghìn lính áo đỏ—cùng đại bác—hay không?”
“Không.” Ông già vẫn đáp như thể Kim là người ngang hàng.
“Vậy ông có biết Người ban mệnh lệnh là ai không?”
“Ta từng thấy Người.”
“Có nhận ra lại được không?”
“Ta đã biết Người từ khi Người còn là trung úy trong _top-khana_ (pháo binh).”
“Một người cao lớn. Một người cao lớn tóc đen, bước đi thế này?” Kim đi mấy bước với dáng cứng đờ như người gỗ.
“Phải. Nhưng ai cũng có thể từng thấy điều đó.” Đám đông nín thở—im phăng phắc suốt cuộc đối đáp.
“Đúng thế,” Kim nói. “Nhưng con sẽ nói thêm. Nhìn đây. Trước hết vị đại nhân đi thế này. Rồi Ngài nghĩ thế này.” (Kim kéo ngón trỏ ngang trán rồi đưa xuống, cho đến khi dừng bên góc hàm.) “Lát sau Ngài giật giật các ngón tay thế này. Lát sau Ngài nhét mũ dưới nách trái.” Kim diễn lại động tác ấy rồi đứng như con cò.
Ông già rên lên, kinh ngạc đến không thốt nên lời; đám đông rùng mình.
“Đúng—đúng—đúng. Nhưng khi sắp ban lệnh, Ngài làm gì?”
“Ngài xoa lớp da sau gáy—thế này. Rồi một ngón tay hạ xuống bàn, và Ngài khịt nhẹ qua mũi. Sau đó Ngài lên tiếng: ‘Điều trung đoàn này nọ ra trận. Cho gọi những khẩu pháo này nọ.’”
Ông già cứng nhắc đứng dậy, đưa tay chào.
“‘Bởi vì’”—Kim dịch sang tiếng bản xứ những lời quả quyết cậu đã nghe trong phòng thay đồ ở Umballa—“‘Bởi vì,’ Ngài nói, ‘lẽ ra ta phải làm việc này từ lâu rồi. Đây không phải chiến tranh—đây là một cuộc trừng phạt. Khịt!’”
“Đủ rồi. Ta tin. Ta đã thấy Ngài như thế giữa khói trận. Đã thấy và đã nghe. Chính là Ngài!”
“Con không thấy khói”—giọng Kim chuyển sang điệu ngâm nga xuất thần của thầy bói ven đường. “Con thấy việc này trong bóng tối. Trước hết một người đến làm mọi sự sáng tỏ. Rồi những kỵ sĩ đến. Sau đó Ngài hiện ra, đứng giữa một vòng sáng. Phần còn lại diễn ra như con đã kể. Ông lão, con nói có thật không?”
“Chính là Ngài. Không còn mảy may nghi ngờ, chính là Ngài.”
Đám đông hít vào một hơi dài run rẩy, hết nhìn ông già vẫn đứng nghiêm lại nhìn Kim rách rưới giữa buổi chạng vạng tím sẫm.
“Ta chẳng đã nói—chẳng đã nói nó đến từ thế giới bên kia sao?” lạt-ma kiêu hãnh kêu lên. “Nó là Bạn của Cả Thế Gian. Nó là Bạn của các Vì Sao!”
“Ít ra chuyện ấy không can hệ đến chúng ta,” một người kêu lên. “Hỡi nhà tiên tri trẻ tuổi, nếu tài năng ấy lúc nào cũng ở cùng ngươi, ta có một con bò cái đốm đỏ. Biết đâu nó lại là chị em với Bò Mộng của ngươi—”
“Mà ta cũng chẳng quan tâm,” Kim nói. “Các Vì Sao của ta không bận lòng đến gia súc nhà ngươi.”
“Không, nhưng nó ốm nặng lắm,” một người đàn bà xen vào. “Nhà tôi đúng là trâu, bằng không đã biết lựa lời hơn. Hãy nói xem nó có khỏi không?”
Nếu chỉ là một đứa trẻ bình thường, hẳn Kim đã diễn trò tiếp; nhưng chẳng ai có thể biết thành Lahore, nhất là đám _faquir_ bên Cổng Taksali, suốt mười ba năm mà lại không hiểu lòng người.
Vị tư tế liếc xéo cậu, có phần cay độc—môi nở một nụ cười khô khốc, làm héo lòng người.
“Thế trong làng không có tư tế sao? Ta tưởng vừa rồi đã thấy một vị rất cao trọng kia mà,” Kim kêu lên.
“Có—nhưng—” người đàn bà mở lời.
“Nhưng ngươi và chồng ngươi mong chữa khỏi con bò chỉ bằng một nắm lời cảm tạ.” Đòn ấy trúng chỗ hiểm: tiếng keo kiệt của hai vợ chồng họ vang khắp làng. “Lừa dối đền thờ là không nên. Hãy dâng một con bê non cho chính vị tư tế của ngươi, và nếu các Thần chưa giận đến mức không sao cứu vãn, trong vòng một tháng con bò sẽ cho sữa.”
“Đúng là tay hành khất bậc thầy,” vị tư tế rù rì tán thưởng. “Mưu mẹo tích lũy bốn mươi năm cũng không thể làm khá hơn. Chắc ngươi đã làm ông già ấy giàu to rồi chứ?”
“Một ít bột, một ít bơ và một miệng đầy bạch đậu khấu,” Kim vặn lại, đỏ mặt vì lời khen nhưng vẫn dè chừng—“Chừng ấy mà giàu được sao? Với lại, như ông thấy đấy, thầy ta điên. Nhưng ít nhất thầy cũng có ích cho ta trong lúc ta học đường đi.”
Cậu biết đám _faquir_ ở Cổng Taksali nói năng thế nào khi chuyện trò với nhau, và bắt chước đúng từng ngữ điệu của lũ đệ tử phóng đãng của họ.
“Vậy cuộc Tìm kiếm của lão là thật, hay chỉ là tấm áo che cho mục đích khác? Có thể là kho báu.”
“Thầy ta điên—điên gấp nhiều lần người khác. Chẳng có gì nữa đâu.”
Bấy giờ người lính già lật đật bước tới, hỏi Kim có chịu nhận sự khoản đãi của ông trong đêm ấy không. Vị tư tế khuyên cậu nên nhận lời, nhưng nhất quyết rằng vinh dự tiếp đãi lạt-ma phải thuộc về ngôi đền—nghe vậy lạt-ma mỉm cười không chút ngờ vực. Kim nhìn từ gương mặt này sang gương mặt kia rồi tự rút ra kết luận.
“Tiền đâu?” cậu thì thầm, ngoắc ông già đi theo vào bóng tối.
“Trong ngực ta. Còn ở đâu nữa?”
“Đưa cho con. Đưa cho con thật kín đáo và mau lẹ.”
“Nhưng tại sao? Ở đây đâu có vé phải mua.”
“Con có phải _đệ tử_ của thầy hay không? Chẳng phải con gìn giữ đôi chân già của thầy trên mọi nẻo đường sao? Đưa tiền cho con, đến rạng đông con sẽ trả lại.” Cậu luồn tay lên trên đai lưng của lạt-ma và lấy chiếc túi tiền ra.
“Cứ thế đi—cứ thế đi.” Ông già gật đầu. “Đây là một thế giới rộng lớn và đáng sợ. Ta chưa từng biết trong đó lại có nhiều người sống đến vậy.”
Sáng hôm sau, vị tư tế hết sức cáu kỉnh, nhưng lạt-ma lại hoàn toàn vui vẻ; còn Kim đã hưởng một buổi tối thú vị vô cùng bên người lính già. Ông đem thanh gươm kỵ binh ra, đặt thăng bằng trên đôi gối khẳng khiu, rồi kể những chuyện về cuộc Binh biến và những viên đại úy trẻ đã nằm dưới mồ ba mươi năm, mãi đến khi Kim thiếp ngủ.
“Quả nhiên không khí xứ này thật tốt,” lạt-ma nói. “Ta ngủ rất nhẹ, như mọi người già; vậy mà đêm qua ta ngủ một mạch đến sáng bảnh. Ngay lúc này ta vẫn còn nặng nề.”
“Hãy uống một ngụm sữa nóng,” Kim nói; cậu từng không ít lần mang phương thuốc như thế cho những người nghiện thuốc phiện quen biết. “Đã đến lúc lại lên Đường.”
“Con Đường dài vượt qua mọi dòng sông của xứ Hind,” lạt-ma vui vẻ nói. “Ta đi thôi. Nhưng con nghĩ phải báo đáp những người này, nhất là vị tư tế, thế nào vì lòng tử tế lớn lao của họ, hỡi _đệ tử_? Quả họ là _būt-parast_, những kẻ thờ ngẫu tượng, nhưng trong những kiếp khác, có lẽ họ sẽ được giác ngộ. Một rupee dâng cho đền chăng? Vật bên trong chẳng qua chỉ là đá và sơn đỏ, nhưng lòng người, khi nào và ở đâu có điều thiện, ta đều phải ghi nhận.”
“Bậc Thánh, thầy đã bao giờ một mình lên Đường chưa?” Kim ngước nhìn sắc lẹm, như những con quạ Ấn đang tíu tít trên đồng.
“Hẳn rồi, con ạ: từ Kulu đến Pathânkot—từ Kulu, nơi _đệ tử_ đầu tiên của ta qua đời. Khi người ta tử tế với hai thầy trò, ta dâng lễ vật, và khắp miền Đồi Núi ai nấy đều có thiện ý.”
“Ở xứ Hind thì khác,” Kim khô khan nói. “Các Thần của họ nhiều tay và hiểm độc. Cứ mặc họ.”
“Ta muốn tiễn ngươi một quãng, hỡi Bạn của Cả Thế Gian—cả ngươi lẫn người áo vàng của ngươi.” Người lính già cưỡi một con ngựa lùn chân sau bắt chéo, lọc cọc ngược con đường làng còn chìm trong bóng sớm. “Đêm qua đã khơi thông những nguồn ký ức trong trái tim khô cạn của ta, và đó là một phúc lành đối với ta. Quả thật hơi chiến tranh đang lan trong không khí. Ta ngửi thấy nó. Xem này! Ta đã mang theo gươm.”
Ông ngồi trên con vật bé nhỏ, đôi chân thõng dài, thanh gươm lớn bên hông—một tay buông trên chuôi—mắt dữ dội nhìn qua miền đất bằng phẳng về phương Bắc. “Kể lại cho ta xem Ngài hiện ra trong linh kiến của ngươi thế nào. Lên đây ngồi sau ta. Con vật chở được hai người.”
“Ta là đệ tử của Bậc Thánh này,” Kim nói khi họ ra khỏi cổng làng. Dân làng dường như gần tiếc vì họ ra đi, nhưng lời tiễn biệt của vị tư tế lạnh nhạt và xa cách. Ông ta đã phí mất ít thuốc phiện vào một kẻ chẳng mang theo tiền.
“Nói thế là phải. Ta không quen giao du với các bậc thánh, nhưng kính trọng bao giờ cũng là điều tốt. Thời nay chẳng còn lòng kính trọng—ngay cả khi một Commissioner Sahib đến thăm ta cũng vậy. Nhưng tại sao một người được Vì Sao dẫn tới chiến tranh lại đi theo một bậc thánh?”
“Nhưng thầy _đúng là_ một bậc thánh,” Kim tha thiết nói. “Thánh trong sự thật, trong lời nói và trong việc làm. Thầy không giống những người khác. Ta chưa từng thấy ai như thế. Thầy trò ta không phải thầy bói, kẻ làm xiếc hay người ăn mày.”
“Ngươi thì không. Điều đó ta nhìn ra được. Nhưng người kia thì ta chưa biết. Dẫu sao ông ấy đi đường rất khỏe.”
Khí trời tươi mát đầu ngày đưa lạt-ma tiến về phía trước bằng những bước dài, nhẹ nhàng như lạc đà. Ông đang chìm sâu trong suy tưởng, tay lần tràng hạt theo thói quen, khiến từng hạt khẽ chạm nhau lách cách.
Họ đi theo con đường quê hằn lún, mòn vẹt, uốn qua đồng bằng giữa những rặng xoài lớn xanh thẫm; đường nét dãy Himalaya đội tuyết mờ nhạt phía đông. Cả xứ Ấn đang làm việc ngoài đồng, giữa tiếng cót két của guồng giếng, tiếng dân cày quát sau đàn gia súc và tiếng quạ huyên náo. Ngay con ngựa lùn cũng cảm thấy ảnh hưởng tốt lành ấy, gần như chuyển sang nước kiệu khi Kim đặt tay lên quai bàn đạp.
“Ta ân hận vì đã không dâng một rupee cho điện thờ,” lạt-ma nói khi lần đến hạt cuối trong chuỗi tám mươi mốt hạt.
Người lính già gầm gừ trong râu, đến lúc ấy lạt-ma mới nhận thấy ông.
“Ông cũng tìm kiếm Dòng Sông sao?” ông quay lại hỏi.
“Ngày còn mới,” ông kia đáp. “Cần gì đến sông, ngoài việc cho ngựa uống trước khi mặt trời lặn? Ta đến để chỉ cho ông một lối tắt ra Đường Lớn.”
“Đó là một nghĩa cử đáng ghi nhớ, hỡi người có thiện tâm. Nhưng gươm để làm gì?”
Người lính già bối rối như một đứa trẻ bị bắt gặp giữa trò giả vờ của mình.
“Thanh gươm,” ông vừa nói vừa lúng túng sờ nó. “Ồ, đó chỉ là ý thích của ta—ý thích của một ông già. Quả thật nhà chức trách đã ra lệnh không ai được mang vũ khí khắp xứ Hind, nhưng”—ông phấn chấn lên và vỗ chuôi gươm—“tất cả đám cảnh binh quanh đây đều biết ta.”
“Đó không phải một ý thích tốt,” lạt-ma nói. “Giết người thì có ích gì?”
“Rất ít—ta biết điều ấy; nhưng nếu kẻ ác không thỉnh thoảng bị giết, thế giới này sẽ chẳng tốt đẹp gì cho những người mộng tưởng tay không tấc sắt. Ta nói bằng hiểu biết, vì đã thấy miền đất từ Delhi xuôi về nam ngập trong máu.”
“Vậy đó là cơn điên gì?”
“Chỉ các Thần, những vị đã giáng nó xuống làm tai họa, mới biết. Một cơn điên ngấm vào toàn quân, khiến họ quay lại chống các sĩ quan. Đó là điều ác đầu tiên, nhưng vẫn còn cứu vãn được nếu khi ấy họ biết dừng tay. Song họ lại chọn giết vợ con các Sahib. Rồi các Sahib từ bên kia biển tới và bắt họ trả giá nghiêm khắc nhất.”
“Ta tin rằng một lời đồn nào đó về chuyện ấy từng đến tai ta từ rất lâu rồi. Theo ta nhớ, người ta gọi đó là Năm Đen.”
“Ông đã sống kiểu gì mà không biết đến Năm Ấy? Lời đồn ư! Cả thế gian đều biết và run sợ!”
“Mặt đất của chúng ta chỉ rung chuyển một lần—vào ngày Đấng Thù Thắng đạt Giác ngộ.”
“Hừm! Ít nhất ta đã thấy Delhi rung chuyển—mà Delhi là rốn của thế gian.”
“Vậy họ quay lại chống phụ nữ và trẻ em sao? Đó là một việc ác, hình phạt dành cho nó không thể tránh được.”
“Nhiều kẻ đã cố tránh, nhưng chẳng ích gì mấy. Khi ấy ta ở trong một trung đoàn kỵ binh. Trung đoàn tan vỡ. Trong sáu trăm tám mươi thanh gươm, có bao nhiêu người giữ trọn lòng trung với hạt muối đã ăn—ông thử đoán xem? Ba. Ta là một trong ba người ấy.”
“Công đức càng lớn.”
“Công đức! Thời ấy chúng ta đâu coi đó là công đức. Đồng bào ta, bạn bè ta, anh em ta đều lìa bỏ ta. Họ nói: ‘Thời của người Anh đã tận. Mỗi người hãy tự giành lấy một mảnh đất nhỏ.’ Nhưng ta từng chuyện trò với những người của Sobraon, Chilianwallah, Moodkee và Ferozeshah. Ta nói: ‘Hãy chờ thêm một chút, gió sẽ đổi chiều. Việc này chẳng có phúc lành.’ Những ngày ấy, ta đã cưỡi bảy mươi dặm, đưa một Memsahib người Anh đi cùng, đứa con thơ của bà ngồi trên bầu yên. (Chà! Con ngựa ấy mới thật xứng cho một trang nam tử!) Ta đưa họ đến nơi an toàn rồi quay lại với sĩ quan của mình—người duy nhất trong năm sĩ quan của chúng ta không bị giết. ‘Hãy giao việc cho tôi,’ ta nói, ‘vì tôi là kẻ bị chính giống nòi mình ruồng bỏ, và máu anh em họ của tôi vẫn còn ướt trên gươm.’ ‘Hãy yên lòng,’ ông ấy nói. ‘Phía trước có việc lớn. Khi cơn điên này qua đi, sẽ có phần đền đáp.’”
“Phải, khi cơn điên qua đi, ắt có phần đền đáp chứ?” lạt-ma lẩm bẩm, nửa như nói với chính mình.
“Thời ấy, người ta không treo huy chương lên tất cả những kẻ tình cờ nghe thấy một phát đại bác. Không! Ta đã dự mười chín trận đánh dàn quân; bốn mươi sáu cuộc đụng độ kỵ binh; và vô số trận nhỏ. Ta mang chín vết thương; một huy chương với bốn thanh cài, cùng phù hiệu của một Huân chương, bởi các đại úy của ta—nay đã là tướng—vẫn nhớ tới ta khi Kaisar-i-Hind tròn năm mươi năm trị vì và cả xứ vui mừng. Họ nói: ‘Hãy trao cho ông ấy Huân chương Order of British India.’ Giờ ta đeo nó trên cổ. Ta còn có _jaghir_ (lộc điền) do Nhà nước ban—món quà vô điều kiện cho ta và con cháu. Những người của thời xưa—nay họ đã là Commissioner—cưỡi ngựa xuyên qua ruộng mà đến thăm ta, ngồi cao trên lưng ngựa để cả làng đều thấy; rồi chúng ta ôn lại những cuộc giao tranh cũ, tên một người đã chết dẫn sang tên một người khác.”
“Rồi sau đó?” lạt-ma hỏi.
“Ồ, sau đó họ ra đi, nhưng chỉ sau khi làng ta đã nhìn thấy.”
“Và đến cuối cùng, ông sẽ làm gì?”
“Cuối cùng ta sẽ chết.”
“Rồi sau đó?”
“Cứ để các vị Thần an bài. Ta chưa bao giờ quấy rầy các Ngài bằng lời cầu khấn. Ta không nghĩ các Ngài sẽ quấy rầy ta. Này nhé, suốt đời dài của ta, ta đã nhận thấy những kẻ cứ luôn mồm chen ngang các Đấng Bề Trên bằng những lời than vãn, trình báo, gào thét và khóc lóc chẳng bao lâu sẽ bị gọi đi gấp, cũng như Đại tá của chúng ta thuở trước thường cho gọi những gã miền xuôi miệng trễ xuống mà nói quá nhiều. Không, ta chưa bao giờ làm các vị Thần mệt lòng. Các Ngài sẽ nhớ điều ấy và ban cho ta một nơi yên tĩnh, để ta cắm ngọn giáo dưới bóng râm mà chờ đón các con trai: ta có những ba Rissaldar-major—cả ba đều thế—trong các trung đoàn.”
“Và họ cũng vậy, bị trói buộc vào Bánh xe Luân hồi, cứ đi từ kiếp này sang kiếp khác—từ tuyệt vọng này đến tuyệt vọng khác,” lạt-ma nói khe khẽ, “nóng nảy, bất an, chụp giật.”
“Phải,” người lính già cười khùng khục. “Ba Rissaldar-major trong ba trung đoàn. Có ham cờ bạc đôi chút, nhưng ta cũng thế. Chúng phải có ngựa tốt để cưỡi; mà ngựa thì không thể bắt lấy như ngày xưa người ta từng bắt đàn bà. Thôi, thôi, phần đất của ta trả nổi hết. Ông nghĩ sao? Đó là một dải đất đầy đủ nước non, nhưng bọn người của ta lừa ta. Ta chẳng biết đòi hỏi bằng cách nào ngoài chĩa mũi giáo vào họ. Hừ! Ta nổi giận, ta nguyền rủa họ, họ giả vờ ăn năn, nhưng ta biết sau lưng họ gọi ta là con vượn già rụng răng.”
“Ông chưa từng mong muốn điều gì khác sao?”
“Có—có—cả ngàn lần! Lại được lưng thẳng, đầu gối ghì sát; cổ tay nhanh, mắt tinh; và có lại cốt tủy làm nên một người đàn ông. Ôi, những ngày xưa—những ngày tươi đẹp khi ta còn sức lực!”
“Sức lực ấy chính là yếu đuối.”
“Nay nó đã thành ra thế; nhưng năm mươi năm trước ta có thể chứng minh điều ngược lại,” người lính già vặn lại, thúc cạnh bàn đạp vào sườn gầy của con ngựa nhỏ.
“Nhưng ta biết một Dòng Sông có phép chữa lành lớn lao.”
“Ta đã uống nước Gunga đến suýt phù thũng. Tất cả những gì bà ấy cho ta chỉ là chứng tháo dạ, chẳng được chút sức lực nào.”
“Không phải Gunga. Dòng Sông ta biết gột sạch mọi vết nhơ tội lỗi. Lên tới bờ bên kia, người ta chắc chắn được Giải thoát. Ta không biết cuộc đời ông, nhưng gương mặt ông là gương mặt của người trọng danh dự và biết lễ nghĩa. Ông đã bền lòng theo Con Đường của mình, giữ trọn trung thành khi lòng trung thành thật khó giữ, trong Năm Đen ấy, mà giờ ta nhớ đã nghe những câu chuyện khác. Nay hãy bước vào Trung đạo, con đường dẫn đến Giải thoát. Hãy nghe Giáo pháp Tối thượng và đừng chạy theo mộng tưởng.”
“Vậy thì nói đi, ông bạn già,” người lính mỉm cười, đưa tay chào nửa lễ. “Ở tuổi chúng ta, ai cũng lắm lời cả.”
Lạt-ma ngồi xổm dưới bóng một cây xoài, những ô nắng râm chập chờn trên mặt thầy; người lính ngồi cứng đờ trên lưng ngựa nhỏ; còn Kim, sau khi chắc chắn không có rắn, nằm xuống chỗ chạc của những chiếc rễ xoắn vặn.
Trong nắng nóng vang tiếng vo ve ngái ngủ của những sinh vật bé li ti, tiếng bồ câu gù và tiếng guồng giếng uể oải rền qua đồng ruộng. Lạt-ma chậm rãi, trang nghiêm bắt đầu. Mười phút sau, người lính già tuột khỏi lưng ngựa, bảo là để nghe cho rõ hơn, rồi ngồi xuống với dây cương quấn quanh cổ tay. Giọng lạt-ma chập chờn, câu nói mỗi lúc một dài. Kim còn mải ngắm một con sóc xám. Khi cục lông bé nhỏ hay chí chóe, mình ép sát cành cây, biến mất, cả người giảng lẫn người nghe đều đã ngủ say; cái đầu rắn rỏi của viên sĩ quan già gối trên cánh tay, đầu lạt-ma ngửa vào thân cây, nom như một khối ngà vàng. Một đứa bé trần truồng lẫm chẫm bước tới, trố mắt nhìn, rồi do một thôi thúc kính ngưỡng bất chợt, trịnh trọng cúi lạy lạt-ma—chỉ vì nó quá lùn và béo nên ngã lăn sang bên, khiến Kim bật cười trước đôi chân bụ bẫm chổng chơ. Đứa bé vừa sợ vừa tức, ré lên.
“Hai! Hai!” người lính vừa nói vừa bật dậy. “Chuyện gì? Có lệnh gì?… Là… một đứa trẻ! Ta mơ có báo động. Bé con—bé con—đừng khóc. Ta đã ngủ ư? Thật là thất lễ quá!”
“Con sợ! Con sợ lắm!” đứa bé gào lên.
“Có gì mà sợ? Hai ông già và một cậu bé ư? Thế thì bao giờ con mới thành lính được, hở Tiểu vương?”
Lạt-ma cũng đã thức giấc, nhưng không trực tiếp để ý đến đứa trẻ, thầy lần chuỗi tràng hạt lách cách.
“Cái gì thế?” đứa trẻ hỏi, ngừng tiếng ré giữa chừng. “Con chưa bao giờ thấy thứ như thế. Cho con đi.”
“A ha.” Lạt-ma mỉm cười nói, thả một vòng tràng hạt là là trên cỏ:
Đây một nắm quả bạch đậu khấu, Đây một tảng _ghi:_ Đây kê, ớt với gạo đầy, Bữa chiều cho bé cùng thầy ăn chung!
Đứa bé ré lên sung sướng và chộp lấy những hạt sẫm màu lấp loáng.
“Ồ hô!” người lính già nói. “Kẻ khinh bỏ cõi trần kia, ông học bài hát ấy ở đâu thế?”
“Ta học ở Pathânkot—khi ngồi trên một bậc cửa,” lạt-ma bẽn lẽn đáp. “Tử tế với trẻ thơ là điều tốt.”
“Theo ta nhớ thì trước khi cơn ngủ ập xuống, ông vừa bảo ta rằng hôn nhân và sinh nở làm u tối ánh sáng chân thật, là những vật chướng ngại trên Đường. Ở xứ ông, trẻ con từ Trời rơi xuống hay sao? Hát cho chúng nghe có phải là Đường chăng?”
“Không ai hoàn toàn hoàn hảo,” lạt-ma nghiêm trang nói, cuộn lại tràng hạt. “Giờ chạy về với mẹ đi, bé con.”
“Nghe ông ấy kìa!” người lính nói với Kim. “Ông ấy xấu hổ vì đã làm một đứa trẻ vui. Trong ông đã mai một mất một người chủ gia đình thật tốt, người anh em ạ. Hai, bé con!” Ông ném cho nó một đồng pice. “Kẹo ngọt bao giờ cũng ngọt.” Rồi khi bóng dáng nhỏ bé kia nhảy chân sáo vào trong nắng, ông nói: “Chúng lớn lên và thành người. Bậc Thánh nhân, tôi rất ân hận vì đã ngủ giữa lúc ông thuyết giảng. Xin tha lỗi cho tôi.”
“Chúng ta là hai ông già,” lạt-ma nói. “Lỗi ở ta. Ta đã nghe ông kể chuyện thế gian và sự điên rồ của nó, rồi lỗi này dẫn đến lỗi kia.”
“Nghe ông ấy kìa! Chơi với một đứa bé thì làm hại gì đến các vị Thần của ông? Mà bài hát ấy cũng được hát hay lắm. Ta đi tiếp thôi, rồi ta sẽ hát cho ông nghe bài ca xưa về Nikal Seyn trước thành Delhi.”
Và họ ra khỏi vùng tối của rừng xoài, giọng ông già cao và the thé vang ngang cánh đồng; bằng từng tiếng than dài nối tiếp, ông kể câu chuyện Nikal Seyn [Nicholson]—bài ca mà người Punjab đến nay vẫn hát. Kim thích mê, còn lạt-ma lắng nghe hết sức chăm chú.
“_Ahi! Nikal Seyn đã chết—ngài chết trước thành Delhi! Những ngọn giáo phương Bắc, hãy báo thù cho Nikal Seyn_.” Ông run giọng hát cho đến hết, lấy bản kiếm vỗ lên mông ngựa nhỏ để điểm những tiếng luyến láy.
“Giờ chúng ta tới Đường Lớn,” ông nói sau khi nhận lời khen của Kim; bởi lạt-ma im lặng thấy rõ. “Đã lâu lắm ta không cưỡi ngựa qua lối này, nhưng lời cậu bé của ông làm lòng ta xao động. Bậc Thánh nhân, hãy nhìn xem—con Đường Lớn là xương sống của toàn cõi Hind. Phần lớn con đường có bóng mát, như ở đây, với bốn hàng cây; lối giữa—đều rắn chắc—dành cho khách đi nhanh. Vào thời chưa có xe lửa, các Sahib đi ngược xuôi nơi đây hàng trăm người. Bây giờ chỉ còn xe bò thôn quê và những thứ tương tự. Hai bên trái phải là lối gồ ghề hơn dành cho xe nặng—chở ngũ cốc, bông, gỗ, cỏ khô, vôi và da thuộc. Người ta đi đây được an toàn vì cứ vài _kos_ lại có một đồn cảnh sát. Cảnh sát là một lũ trộm cắp và tống tiền (nếu là ta, ta sẽ cho kỵ binh tuần tra con đường—lính mới trẻ tuổi đặt dưới quyền một viên đội trưởng cứng rắn), nhưng ít nhất chúng không dung tha đối thủ nào. Mọi đẳng cấp và mọi hạng người đều qua lại nơi đây.
“Nhìn kìa! Người Bà-la-môn và chumar, chủ ngân hàng và thợ thiếc, thợ cạo và bunnia, khách hành hương và thợ gốm—cả thế gian đi đi lại lại. Với ta, nó như một dòng sông mà ta đã bị rút khỏi, như khúc gỗ nằm lại sau cơn lũ.”
Quả thật, Đường Grand Trunk là một cảnh tượng kỳ diệu. Nó chạy thẳng, ung dung chuyên chở dòng xe người của Ấn Độ suốt một ngàn năm trăm dặm—một dòng sông sự sống không nơi nào khác trên thế giới có được. Họ nhìn con đường dài dưới vòm xanh, loang lổ bóng râm; nhìn bề rộng trắng màu đường điểm những người thong thả bước; và nhìn đồn cảnh sát hai gian ở phía đối diện.
“Kẻ nào mang vũ khí chống lại luật pháp đấy?” một viên cảnh sát bật cười gọi sang khi trông thấy thanh kiếm của người lính. “Cảnh sát chẳng đủ sức tiêu diệt phường gian ác hay sao?”
“Chính vì cảnh sát mà ta mua nó,” ông đáp. “Mọi sự ở cõi Hind đều tốt đẹp chứ?”
“Rissaldar Sahib, mọi sự đều tốt đẹp.”
“Này nhé, ta giống một con rùa già thò đầu ra khỏi bờ rồi lại rụt vào. Phải, đây là Con Đường của Hindustan. Mọi người đều đi qua lối này…”
“Đồ con lợn, phần đường mềm là để ngươi cọ lưng đấy hẳn? Cha của mọi đứa con gái ô nhục, chồng của một vạn mụ đàn bà thất đức, mẹ ngươi đã hiến mình cho một con quỷ vì bị mẹ bà ta xui khiến. Bảy đời các dì ngươi đều không có mũi! Còn chị em gái ngươi—Con cú ngu xuẩn nào bảo ngươi kéo xe chắn ngang đường? Gãy bánh ư? Vậy nhận thêm một cái đầu vỡ rồi thong thả ghép hai thứ lại với nhau!”
Giọng chửi cùng những tiếng roi vun vút đầy độc địa phát ra từ một cột bụi cách đó năm mươi yard, nơi có một chiếc xe bị hỏng. Một con ngựa cái Kathiawar cao chân, mình mảnh, mắt và lỗ mũi rực lửa, lao vọt ra khỏi chỗ tắc nghẽn, vừa khịt mũi vừa chùn mình khi người cưỡi ghìm nó ngoặt ngang đường để đuổi theo một kẻ đang la hét. Người ấy cao lớn, râu hoa râm, ngồi trên con vật gần như phát điên tựa một phần thân thể nó, và giữa những cú ngựa chồm vẫn quất nạn nhân hết sức bài bản.
Gương mặt ông già sáng lên vì kiêu hãnh. “Con ta!” ông nói gọn, rồi cố kéo cương cho cổ con ngựa nhỏ uốn thành một đường cong xứng đáng.
“Ta lại bị đánh ngay trước mặt cảnh sát sao?” người đánh xe kêu lên. “Công lý! Ta phải đòi Công lý—”
“Ta lại phải để một con vượn gào thét làm nghẽn đường, đổ nghiêng một vạn bao tải ngay dưới mũi con ngựa non sao? Làm thế chỉ tổ hỏng một con ngựa cái.”
“Nó nói đúng. Nó nói đúng. Nhưng con ngựa theo tay chủ khít lắm,” ông già nói. Người đánh xe chui xuống dưới bánh xe của mình rồi từ đó đe dọa đủ mọi cách báo thù.
“Các con trai của ông quả là những tay cường tráng,” viên cảnh sát bình thản nói, tay vẫn xỉa răng.
Người kỵ mã quất thêm một roi hiểm độc cuối cùng rồi cho ngựa chạy nước kiệu tới.
“Cha!” Anh ghìm cương cách đó mười yard rồi xuống ngựa.
Ông già thoắt một cái đã xuống khỏi lưng ngựa nhỏ, và hai người ôm lấy nhau như cha con ở phương Đông vẫn làm.