Kim — Chương 5
Chương 5 / 15 · Bài review Kim
Ta lại trở về với người nhà, Được cho ăn, được thứ tha, lại được nhận ra; Xương bởi xương ta lại nhận ta, Thịt bởi thịt ta lại gọi là thân thích! Bê béo đã dọn dành cho ta, Nhưng vỏ đậu lại đậm đà hơn thế... Ta nghĩ lũ lợn hợp với ta hơn hết, Vậy ta lại về chuồng lợn thôi.
_Đứa con hoang đàng_.
Đoàn người uể oải, dây dợ chằng chịt, chân bước lê lại lên đường, và bà ngủ cho tới khi họ đến chặng nghỉ kế tiếp. Quãng đường rất ngắn, mà còn một giờ nữa mặt trời mới lặn, nên Kim nhìn quanh tìm thú tiêu khiển.
“Nhưng sao không ngồi xuống nghỉ?” một người trong toán hộ tống nói. “Chỉ có ma quỷ và người Anh mới đi tới đi lui vô cớ.”
“Đừng bao giờ kết bạn với Quỷ, Khỉ hay Con Trai. Không ai biết rồi chúng sẽ làm gì,” người bạn đồng hành của anh ta nói.
Kim khinh khỉnh quay lưng—cậu không muốn nghe câu chuyện cũ kể rằng Quỷ chơi với lũ trẻ, rồi hối hận và đi lang thang khắp xứ.
Lạt-ma sải bước theo cậu. Suốt ngày hôm ấy, mỗi khi đi qua một dòng nước, ông đều rẽ sang nhìn, nhưng không lần nào nhận được điềm báo rằng mình đã tìm thấy Sông Mũi Tên. Hơn nữa, niềm dễ chịu khi được trò chuyện với ai đó bằng một thứ tiếng thông hiểu, và được một phụ nữ dòng dõi đoan chính nhìn nhận, kính trọng đúng mực như người chỉ dẫn tinh thần của bà, đã vô tình kéo tâm trí ông rời cuộc Tìm kiếm đôi chút. Vả lại, ông sẵn lòng dành những năm tháng thanh thản cho cuộc truy cầu; ông không có chút nôn nóng nào của người da trắng, nhưng có một đức tin lớn lao.
“Con đi đâu vậy?” ông gọi với theo Kim.
“Chẳng đi đâu cả—quãng đường vừa rồi ngắn quá, mà mọi thứ này”—Kim phẩy tay ra bốn phía—“đều mới lạ với con.”
“Bà ấy quả thực là một phụ nữ khôn ngoan và sáng suốt. Nhưng thật khó tĩnh tâm khi—”
“Đàn bà ai cũng thế.” Kim phán như thể vua Solomon.
“Trước tu viện lạt-ma có một sân rộng,” lạt-ma lẩm bẩm, cuốn gọn tràng hạt đã mòn nhẵn, “lát đá. Trên ấy ta đã để lại dấu chân mình—đi đi lại lại cùng tràng hạt này.”
Ông lần các hạt kêu lách cách và bắt đầu tụng câu “_Om mane pudme hum_” thường nhật; lòng biết ơn khí trời mát mẻ, cảnh yên tĩnh và sự vắng bóng của bụi đường.
Hết thứ này đến thứ khác lôi kéo ánh mắt nhàn rỗi của Kim qua cánh đồng. Cậu lang thang không có mục đích gì, ngoài việc những túp lều gần đó có lối dựng xem ra mới lạ, khiến cậu muốn tìm hiểu.
Họ bước ra một bãi chăn thả rộng lớn, nhuộm nâu và tím trong ánh chiều, giữa bãi là một lùm xoài rậm rạp. Kim lấy làm lạ vì không có điện thờ nào dựng ở một nơi đắc địa đến thế: với những chuyện như vậy, cậu bé quan sát chẳng kém bất cứ thầy tu nào. Tít bên kia bãi, bốn người đàn ông nhỏ xíu vì khoảng cách đang đi bên nhau. Cậu chăm chú nhìn dưới hai bàn tay khum cong và bắt gặp ánh đồng thau lóe lên.
“Lính. Lính da trắng!” cậu nói. “Ta đi xem nào.”
“Hễ con và ta ra ngoài riêng với nhau thì lúc nào cũng gặp lính. Nhưng ta chưa từng thấy lính da trắng.”
“Họ không hại ai, trừ khi say rượu. Thầy nấp sau cây này.”
Họ bước ra sau những thân cây dày trong bóng mát tối của lùm xoài. Hai bóng người nhỏ xíu dừng lại; hai người còn lại ngập ngừng tiến tới. Họ là toán tiền trạm của một trung đoàn đang hành quân, được phái đi như lệ thường để cắm mốc doanh trại. Họ mang những cây sào dài năm foot có cờ bay phần phật, vừa tản ra trên mặt đất bằng phẳng vừa gọi nhau.
Cuối cùng họ nặng nề bước vào lùm xoài.
“Ở đây hoặc quanh quẩn chỗ này thôi—lều sĩ quan đặt dưới cây, tôi đoán thế, còn anh em ta ở ngoài. Phía sau đã cắm mốc chỗ để xe hành lý chưa?”
Họ lại gọi lớn với đồng đội ở đằng xa, và câu trả lời thô ráp vọng về, yếu ớt, êm đi vì khoảng cách.
“Vậy cắm cờ vào đây đi,” một người nói.
“Họ đang chuẩn bị điều gì?” lạt-ma kinh ngạc hỏi. “Thế giới này thật lớn lao và đáng sợ. Trên lá cờ là hình hiệu gì vậy?”
Một người lính cắm cây sào xuống cách họ chỉ vài bước, càu nhàu bất mãn, lại nhổ nó lên, bàn bạc với bạn đồng hành—người ấy nhìn dọc nhìn ngang vòm hang xanh rợp bóng—rồi cắm trả nó xuống.
Kim mở to mắt nhìn, hơi thở ngắn và gấp rít qua kẽ răng. Hai người lính giậm bước ra ngoài nắng.
“Bạch Thánh Nhân!” cậu hổn hển. “Lá số của con! Hình vẽ trên bụi đất của vị tư tế ở Umballa! Thầy nhớ lời ông ấy chứ. Trước tiên hai người—_ferashes_—đến sửa soạn mọi thứ—trong một nơi tối tăm, vì khởi đầu một linh ảnh bao giờ cũng như vậy.”
“Nhưng đây không phải linh ảnh,” lạt-ma nói. “Chỉ là Ảo ảnh của thế gian, không hơn.”
“Và theo sau họ là Bò Mộng—Bò Mộng Đỏ trên nền xanh. Nhìn kìa! Chính là nó!”
Cậu chỉ vào lá cờ đang phần phật trong gió chiều, cách đó chưa đầy ba mét. Nó chẳng qua chỉ là một lá cờ cắm mốc doanh trại bình thường; nhưng trung đoàn này vốn luôn khắt khe trong mọi chuyện phục sức, nên đã cho mang lên cờ hình hiệu của trung đoàn: Bò Mộng Đỏ, huy hiệu của Mavericks—con Bò Mộng Đỏ lớn trên nền xanh Ireland.
“Ta thấy rồi, và giờ ta nhớ ra,” lạt-ma nói. “Quả đúng là Bò Mộng của con. Cũng quả đúng là hai người kia đã đến sửa soạn mọi thứ.”
“Họ là lính—lính da trắng. Vị tư tế đã nói gì? ‘Dấu hiệu đối diện Bò Mộng là dấu hiệu của Chiến tranh và những người mang vũ khí.’ Bạch Thánh Nhân, chuyện này có can hệ đến cuộc Tìm kiếm của con.”
“Đúng. Quả đúng vậy.” Lạt-ma nhìn đăm đăm hình hiệu rực lên như một viên hồng ngọc trong chạng vạng. “Vị tư tế ở Umballa đã nói dấu hiệu của con là dấu hiệu Chiến tranh.”
“Giờ phải làm gì?”
“Đợi. Chúng ta hãy đợi.”
“Ngay lúc này bóng tối đang tan,” Kim nói. Thật ra, việc mặt trời đang hạ cuối cùng chiếu xuyên qua những thân cây, rọi ngang lùm xoài và trong vài phút rót đầy nơi ấy thứ ánh vàng mịn như bột, chỉ là lẽ tự nhiên; nhưng với Kim, đó là đỉnh điểm lời tiên tri của người Bà-la-môn ở Umballa.
“Nghe kìa!” lạt-ma nói. “Có người đánh trống—ở xa lắm!”
Thoạt đầu, âm thanh loãng đi khi truyền qua không khí lặng yên, giống nhịp động mạch đập trong đầu. Chẳng bao lâu, tiếng trống trở nên sắc hơn.
“À! Nhạc đấy,” Kim giải thích. Cậu biết âm thanh của quân nhạc trung đoàn, nhưng nó khiến lạt-ma sửng sốt.
Ở đầu xa của cánh đồng, một đoàn quân nặng nề, bụi bặm bò vào tầm mắt. Rồi gió đưa điệu hát tới:
Xin các ngài hạ cố Nghe những điều chúng tôi tường Về bước quân cùng Mulligan Guards Xuống cảng Sligo!
Đến đây, tiếng sáo lanh lảnh chen vào:
Súng vác lên vai, Ta hành quân—hành quân xa. Từ công viên Phœnix Ta tiến đến vịnh Dublin. Trống cùng sáo, Ôi, réo rắt làm sao, Khi ta hành quân—quân—quân—cùng Mulligan Guards!
Đó là ban quân nhạc của Mavericks đang tấu khúc đưa trung đoàn vào trại; bởi binh lính đang hành quân đường dài cùng hành lý. Đội hình dập dềnh tràn ra đồng bằng—những cỗ xe phía sau tách sang trái, sang phải, chạy rối rít như một tổ kiến, và...
“Nhưng đây là phép phù thủy!” lạt-ma nói.
Trên cánh đồng lấm tấm những chiếc lều tưởng chừng từ xe mọc lên, đã căng rộng sẵn. Một toán người khác ào vào lùm cây, lặng lẽ dựng một chiếc lều khổng lồ, dựng thêm tám hay chín chiếc bên cạnh, rồi lôi ra nồi nấu, chảo và các bọc hành lý; một đám đông gia nhân bản xứ lập tức nhận lấy tất cả. Và kìa, ngay trước mắt họ, lùm xoài đã biến thành một thị trấn ngăn nắp!
“Ta đi thôi,” lạt-ma nói, sợ hãi lùi lại khi những đống lửa bắt đầu lấp lánh và các sĩ quan da trắng, gươm khua leng keng, sải bước vào lều ăn sĩ quan.
“Lùi vào trong bóng tối. Không ai nhìn được ra ngoài quầng sáng của ngọn lửa,” Kim nói, mắt vẫn dán vào lá cờ. Trước đây cậu chưa từng chứng kiến công việc thường lệ của một trung đoàn dày dạn dựng trại trong ba mươi phút.
“Nhìn kìa! Nhìn kìa! Nhìn kìa!” lạt-ma tặc lưỡi. “Đằng kia có một tu sĩ đang đến.” Đó là Bennett, tuyên úy Anh giáo của trung đoàn, khập khiễng bước tới trong bộ đồ đen phủ bụi. Một con chiên của ông đã buông mấy lời thô lỗ về khí phách của vị giáo sĩ; để khiến anh ta hổ thẹn, ngày hôm ấy Bennett đã hành quân từng bước cùng binh lính. Bộ đồ đen, cây thánh giá vàng trên dây đồng hồ, khuôn mặt nhẵn nhụi và chiếc mũ nỉ mềm màu đen vành rộng đủ khiến ông được nhận ra là một người tu hành ở bất cứ đâu trên khắp Ấn Độ. Ông thả mình xuống chiếc ghế xếp cạnh cửa lều ăn sĩ quan và tuột ủng ra. Ba bốn sĩ quan vây quanh, cười đùa về chiến tích của ông.
“Lời lẽ của người da trắng hoàn toàn thiếu phẩm giá,” lạt-ma nói; ông chỉ phán xét qua giọng điệu. “Nhưng ta đã ngắm dung mạo vị tu sĩ ấy và nghĩ ông ta là người có học vấn. Liệu ông ta có hiểu lời chúng ta nói chăng? Ta muốn nói với ông ta về cuộc Tìm kiếm của mình.”
“Đừng bao giờ nói với người da trắng trước khi họ ăn no,” Kim nói, dẫn một câu tục ngữ ai cũng biết. “Bây giờ họ sẽ ăn, và—và con nghĩ họ không phải những người dễ xin xỏ. Ta hãy trở về chỗ nghỉ. Ăn xong chúng ta sẽ quay lại. Đó chắc chắn là Bò Mộng Đỏ—Bò Mộng Đỏ _của con_.”
Khi đoàn tùy tùng của bà lão dọn bữa trước mặt họ, cả hai đều đãng trí thấy rõ; bởi vậy không ai quấy rầy vẻ trầm lặng ấy, vì làm phiền khách là điều không may.
“Giờ,” Kim vừa xỉa răng vừa nói, “chúng ta sẽ trở lại nơi ấy; nhưng thầy, bạch Thánh Nhân, phải đợi ở cách xa một chút, vì bước chân thầy nặng hơn chân con, mà con nóng lòng muốn xem thêm về Bò Mộng Đỏ kia.”
“Nhưng làm sao con hiểu được lời họ nói? Đi chậm thôi. Đường tối lắm,” lạt-ma bất an đáp.
Kim gạt câu hỏi sang bên. “Con đã chọn một chỗ gần lùm cây,” cậu nói, “thầy có thể ngồi đó cho tới khi con gọi. Không,” cậu nói khi lạt-ma cất lời phản đối, “xin thầy nhớ đây là cuộc Tìm kiếm _của con_—cuộc tìm kiếm Bò Mộng Đỏ của con. Dấu hiệu trên các Vì Sao không dành cho thầy. Con biết đôi chút về tập tục của lính da trắng, và lúc nào cũng muốn thấy những điều mới lạ.”
“Trên đời này còn điều gì con không biết?” Lạt-ma ngoan ngoãn ngồi xổm trong một hõm đất nhỏ cách khối lùm xoài in đen trên nền trời rắc bụi sao chưa đầy một trăm yard.
“Hãy ở đây tới khi con gọi.” Kim lướt vào chạng vạng. Cậu biết rất có thể lính gác đã được bố trí quanh trại, và mỉm cười một mình khi nghe tiếng ủng nặng nề của một người. Một cậu bé có thể luồn lách trên mái nhà thành Lahore vào đêm trăng, tận dụng mọi mảnh tối, mọi góc khuất nhỏ nhất để làm kẻ đuổi theo lúng túng, hẳn không dễ bị một hàng lính thiện chiến chặn lại. Để tỏ lòng nể trọng họ, cậu bò qua khoảng giữa hai người; cứ chạy rồi dừng, lom khom rồi nằm rạp, cậu lần đường về phía lều ăn sĩ quan sáng đèn. Tại đó, ép sát sau một thân xoài, cậu chờ một lời tình cờ nào đó trao cho mình một đầu mối có thể lần theo.
Giờ trong đầu cậu chỉ có một điều: tìm hiểu thêm về Bò Mộng Đỏ. Biết đâu—mà những giới hạn trong hiểu biết của Kim cũng kỳ lạ và đột ngột chẳng kém những lúc nó mở rộng—đám người kia, chín trăm con quỷ sứ chính hiệu trong lời tiên tri của cha cậu, lại cầu nguyện con vật ấy sau khi trời tối, như người Hindu cầu nguyện Bò Thánh. Ít nhất như thế cũng hoàn toàn đúng đắn và hợp lẽ, và bởi vậy vị padre đeo thánh giá vàng sẽ là người cần hỏi về chuyện này. Mặt khác, nhớ đến những padre mặt mày nghiêm nghị mà cậu từng tránh né trong thành Lahore, vị tu sĩ có thể là một kẻ phiền nhiễu hay dò hỏi và sẽ bắt cậu học hành. Nhưng chẳng phải ở Umballa đã chứng minh rằng dấu hiệu của cậu trên trời cao báo trước Chiến tranh và những người mang vũ khí đó sao? Chẳng phải cậu là Bạn của các Vì Sao cũng như của Cả Thế Gian, chất đầy đến tận răng những bí mật ghê gớm đó sao? Sau hết—mà cũng là trước hết, như dòng ngầm bên dưới mọi ý nghĩ mau lẹ của cậu—cuộc phiêu lưu này, tuy cậu không biết từ tiếng Anh để gọi nó, là một cuộc vui kinh thiên động địa—vừa nối tiếp thú vị những chuyến băng mái nhà thuở trước, vừa hoàn thành lời tiên tri cao cả. Cậu nằm ép bụng xuống đất, ngọ nguậy tiến về phía cửa lều ăn sĩ quan, một tay đặt trên lá bùa hộ mệnh đeo quanh cổ.
Đúng như cậu ngờ. Các Sahib cầu nguyện Thượng đế của họ; bởi giữa bàn ăn sĩ quan—vật trang trí duy nhất trên bàn khi họ đang hành quân—đặt một con bò bằng vàng, được chế tác từ chiến lợi phẩm thuở trước lấy ở Cung điện Mùa hè tại Pekin: một con bò vàng đỏ, đầu cúi thấp, chồm trên nền xanh Ireland. Các Sahib chìa cốc về phía nó và lớn tiếng hô vang, lời nọ lẫn lời kia.
Mục sư Arthur Bennett luôn rời lều ăn sĩ quan sau lần nâng cốc ấy; mà vì chuyến hành quân đã khiến ông khá mệt, cử động của ông đột ngột hơn thường lệ. Kim vẫn hơi ngẩng đầu, dán mắt vào vật tổ của mình trên bàn, thì vị giáo sĩ giẫm lên xương bả vai phải của cậu. Kim giật nảy dưới đế ủng da và lăn sang bên, quật ngã vị giáo sĩ; ông vốn luôn là người ưa hành động, liền chộp cổ cậu và suýt bóp cậu tắt thở. Kim bèn tuyệt vọng đá vào bụng ông. Ông Bennett thở hắt, gập đôi người, nhưng không hề nới tay; ông lại lăn một vòng rồi lặng lẽ lôi Kim về lều mình. Lính Mavericks là những tay chơi khăm hết thuốc chữa; người Anh chợt nghĩ tốt nhất cứ im lặng cho tới khi ông điều tra ngọn ngành.
“Ồ, thì ra là một thằng bé!” ông nói khi kéo chiến lợi phẩm của mình vào vùng sáng từ chiếc đèn treo trên cột lều; rồi vừa lắc cậu thật mạnh vừa quát: “Mày đang làm gì? Mày là đồ ăn trộm. _Choor? Mallum?_” Vốn tiếng Hindustanee của ông rất hạn chế, còn Kim, đang phẫn uất và khó chịu, định giữ đúng vai mà ông đã gán cho cậu. Trong lúc lấy lại hơi thở, cậu bịa ra một câu chuyện hết sức khéo léo và khả tín về mối quan hệ giữa mình với một tên phụ bếp nào đó, đồng thời vẫn dán mắt tinh quái vào khoảng ngay dưới nách trái của vị giáo sĩ. Cơ hội đến; cậu cúi rạp người lao ra cửa, nhưng một cánh tay dài vươn tới chộp cổ cậu, giật đứt sợi dây đeo bùa và nắm chặt lá bùa.
“Đưa nó cho tôi. Ôi, đưa nó cho tôi. Mất rồi sao? Đưa giấy tờ cho tôi.”
Những lời ấy bằng tiếng Anh—thứ tiếng Anh lanh lảnh, sượng như đường cưa của người sinh trưởng nơi bản xứ—khiến vị tuyên úy giật nảy mình.
“Một tấm ảnh đeo,” ông nói, xòe bàn tay ra. “Không, một thứ bùa ngoại giáo nào đó. Sao—sao, mày nói được tiếng Anh à? Trẻ con ăn cắp thì bị đánh đòn. Mày biết chứ?”
“Tôi không—tôi không ăn cắp.” Kim quằn quại khổ sở như con chó sục thấy gậy giơ lên. “Ôi, trả nó cho tôi. Đó là bùa của tôi. Đừng lấy trộm nó của tôi.”
Vị tuyên úy chẳng để ý, chỉ bước tới cửa lều và gọi lớn. Một người đàn ông hơi béo, cạo nhẵn mặt, xuất hiện.
“Tôi cần lời khuyên của ông, Father Victor,” Bennett nói. “Tôi bắt gặp thằng bé này trong bóng tối bên ngoài lều sĩ quan. Bình thường tôi đã phạt nó rồi thả đi, vì tôi tin nó là kẻ trộm. Nhưng xem ra nó nói được tiếng Anh, lại coi một thứ bùa đeo quanh cổ là vật quan trọng. Tôi nghĩ có lẽ ông giúp được tôi.”
Giữa ông và vị tuyên úy Công giáo La Mã của toán quân Ireland, theo Bennett tin, là một vực sâu không thể bắc cầu; nhưng điều đáng chú ý là hễ Giáo hội Anh giáo phải xử trí một vấn đề của con người, rất có thể Giáo hội ấy sẽ gọi Giáo hội La Mã đến giúp. Sự ghê tởm chính thức của Bennett đối với Đại Dâm Phụ cùng mọi đường lối của bà ta chỉ ngang bằng với lòng kính trọng riêng ông dành cho Father Victor.
“Một tên trộm nói tiếng Anh, phải không? Để xem bùa của nó nào. Không, đây không phải ảnh đeo, Bennett.” Ông chìa tay ra.
“Nhưng chúng ta có quyền mở nó ra không? Một trận roi đích đáng—”
“Tôi _không_ ăn trộm,” Kim phản đối. “Ông đã đá tôi khắp cả người. Bây giờ trả bùa cho tôi rồi tôi sẽ đi.”
“Không nhanh thế đâu. Ta xem trước đã,” Father Victor nói, thong thả trải tờ giấy da _ne varietur_ của Kimball O’Hara tội nghiệp, giấy giải ngũ của ông và giấy chứng nhận rửa tội của Kim. Trên tờ cuối cùng này, O’Hara—với một ý niệm mơ hồ rằng mình đang làm được điều kỳ diệu cho con trai—đã viết nguệch ngoạc hàng chục lần: “_Xin chăm nom thằng bé. Làm ơn chăm nom thằng bé_”—rồi ký đầy đủ tên và số hiệu trung đoàn.
“Hỡi các Quyền lực Hắc ám dưới kia!” Father Victor thốt lên, trao hết giấy tờ cho ông Bennett. “Ông biết những thứ này là gì không?”
“Biết,” Kim nói. “Chúng là của tôi, và tôi muốn đi.”
“Tôi không hiểu hẳn,” ông Bennett nói. “Có lẽ nó cố ý mang chúng đến. Có thể đây là một trò ăn xin nào đó.”
“Thế thì tôi chưa từng thấy kẻ ăn xin nào ít thiết tha ở lại với bạn đồng hành của mình hơn. Ở đây có mầm mống của một điều bí ẩn thú vị đấy. Ông tin vào Thiên ý chứ, Bennett?”
“Tôi hy vọng là có.”
“À, tôi tin vào phép màu, thành thử cũng như nhau thôi. Hỡi các Quyền lực Hắc ám! Kimball O’Hara! Và con trai anh ta! Nhưng nó là người bản xứ mà, chính mắt tôi đã thấy Kimball cưới Annie Shott. Mày có những thứ này được bao lâu rồi, thằng bé?”
“Từ khi tôi còn là một đứa bé tí.”
Father Victor bước nhanh tới, mở vạt trước áo ngoài của Kim. “Ông thấy đấy, Bennett, da nó không đen lắm. Mày tên gì?”
“Kim.”
“Hay Kimball?”
“Có lẽ. Các ông để tôi đi được không?”
“Còn gì nữa?”
“Người ta gọi tôi là Kim Rishti ke. Nghĩa là Kim của Rishti.”
“‘Rishti’ là gì?”
“_Ai_-rishti—đó là Trung đoàn—của cha tôi.”
“Irish—ồ, tôi hiểu rồi.”
“Vâng. Cha tôi bảo tôi như thế. Cha tôi, ông đã sống.”
“Đã sống ở đâu?”
“Đã sống. _Dĩ nhiên_ ông chết rồi—đi-mất rồi.”
“Ồ! Đó là lối nói đột ngột của mày, phải không?”
Bennett chen vào. “Có thể tôi đã xử oan thằng bé. Nó chắc chắn là người da trắng, tuy rõ ràng bị bỏ bê. Tôi chắc mình đã làm nó bầm tím. Tôi không nghĩ rượu mạnh—”
“Vậy thì lấy cho nó một ly sherry, để nó ngồi xổm trên giường. Nào, Kim,” Father Victor nói tiếp, “không ai định làm mày đau đâu. Uống cạn đi rồi kể cho chúng ta nghe về mày. Nói thật, nếu mày không phản đối.”
Kim ho khẽ khi đặt chiếc ly rỗng xuống, rồi cân nhắc. Đây có vẻ là lúc cần cả thận trọng lẫn óc tưởng tượng. Những thằng bé lảng vảng quanh doanh trại thường bị quất roi rồi đuổi đi. Nhưng cậu chưa hề ăn roi; lá bùa hiển nhiên đang phù trợ cậu, và xem ra lá số tử vi ở Umballa cùng mấy lời cậu nhớ được trong những câu lảm nhảm của cha mình ăn khớp với nhau một cách kỳ diệu nhất. Nếu không, tại sao vị padre béo lại có vẻ xúc động đến thế, và tại sao có ly nước vàng nóng từ tay người gầy kia?
“Cha tôi, ông chết ở thành Lahore từ khi tôi còn rất nhỏ. Người đàn bà ấy, bà giữ cửa hàng _kabarri_ gần chỗ xe thuê đỗ.” Kim đâm thẳng vào câu chuyện, không hoàn toàn chắc sự thật sẽ giúp mình được đến đâu.
“Mẹ mày à?”
“_Không!_”—cậu làm một cử chỉ ghê tởm. “Bà ấy đi-mất khi tôi ra đời. Cha tôi, ông lấy những giấy tờ này từ Nhà Pháp Thuật—các ông gọi là gì?” (Bennett gật đầu.) “Bởi vì ông có địa vị tốt. Các ông gọi là gì?” (Bennett lại gật đầu.) “Cha tôi đã bảo tôi thế. Ông còn nói, và cả người Bà-la-môn đã vẽ hình trên bụi đất ở Umballa hai ngày trước, _ông ấy_ cũng nói, rằng tôi sẽ tìm thấy một con Bò Mộng Đỏ trên nền xanh, và con Bò sẽ giúp tôi.”
“Một thằng bé nói dối phi thường,” Bennett lẩm bẩm.
“Hỡi các Quyền lực Hắc ám dưới kia, đất nước gì thế này!” Father Victor thì thầm. “Kể tiếp đi, Kim.”
“Tôi _không_ ăn trộm. Vả lại, lúc này tôi là đệ tử của một người rất thánh thiện. Thầy đang ngồi bên ngoài. Chúng tôi thấy hai người cầm cờ đến sửa soạn nơi này. Trong giấc mơ, hay vì một—một—lời tiên tri, thì chuyện _luôn luôn_ như vậy. Thế là tôi biết nó đã ứng nghiệm. Tôi thấy Bò Mộng Đỏ trên nền xanh, và cha tôi, ông nói: ‘Chín trăm con quỷ _pukka_ chính hiệu cùng viên Đại tá cưỡi ngựa sẽ chăm nom mày khi mày tìm thấy Bò Mộng Đỏ!’ Tôi không biết phải làm gì khi thấy con Bò, nhưng tôi đi khỏi rồi trở lại lúc trời tối. Tôi muốn nhìn con Bò lần nữa, và tôi lại thấy con Bò cùng các—các Sahib đang cầu nguyện nó. Tôi nghĩ con Bò sẽ giúp tôi. Người thánh thiện cũng nói vậy. Thầy đang ngồi ngoài kia. Các ông có làm hại thầy không, nếu bây giờ tôi gọi lớn thầy vào? Thầy rất thánh thiện. Thầy có thể làm chứng cho mọi điều tôi nói và biết tôi không phải kẻ trộm.”
“‘Các Sahib cầu nguyện một con bò!’ Ông hiểu chuyện đó thế nào?” Bennett nói. “‘Đệ tử của một người thánh thiện!’ Thằng bé điên à?”
“Đúng là con trai O’Hara, không sai được. Con trai O’Hara liên minh với mọi Quyền lực Hắc ám. Nếu say rượu, cha nó hẳn cũng sẽ làm gần như thế. Tốt hơn ta nên mời người thánh thiện kia vào. Có thể ông ta biết điều gì đó.”
“Thầy không biết gì đâu,” Kim nói. “Nếu các ông đi theo, tôi sẽ chỉ thầy cho các ông. Thầy là sư phụ tôi. Rồi sau đó chúng tôi có thể đi.”
“Hỡi các Quyền lực Hắc ám!” là tất cả những gì Father Victor có thể thốt ra khi Bennett bước đi, một bàn tay nắm chắc vai Kim.
Họ tìm thấy lạt-ma tại nơi ông đã ngồi phịch xuống.
“Cuộc Tìm kiếm của con đã kết thúc,” Kim gọi lớn bằng tiếng bản xứ. “Con đã tìm thấy con Bò, nhưng có Trời biết chuyện gì sẽ đến tiếp. Họ sẽ không làm hại thầy. Thầy hãy cùng người gầy này tới lều của vị tu sĩ béo mà xem hồi kết. Mọi chuyện đều mới lạ, và họ không nói được tiếng Hindi. Họ chỉ là lũ lừa chưa chải lông thôi.”
“Vậy thì không nên đem sự dốt nát của họ ra làm trò cười,” lạt-ma đáp. “Nếu con vui mừng, ta cũng mừng, _đệ tử_.”
Đường bệ và không chút nghi ngờ, ông sải bước vào căn lều nhỏ, chào hai giáo sĩ theo lễ của một người tu hành, rồi ngồi xuống bên lò than mở. Lớp lót lều màu vàng phản chiếu dưới ánh đèn khiến khuôn mặt ông đỏ ánh vàng.
Bennett nhìn ông bằng vẻ dửng dưng ba tầng bọc kín của một tín điều gom chín phần mười thế gian vào chung danh hiệu “ngoại giáo”.
“Và Cuộc Tìm kiếm kết thúc ra sao? Bò Mộng Đỏ đã mang tới món quà gì?” Lạt-ma hỏi Kim.
“Ông ấy hỏi: ‘Các ông định làm gì?’” Bennett đang nhìn Father Victor đầy bất an, còn Kim, vì mục đích riêng, tự nhận lấy vai trò thông ngôn.
“Tôi không thấy tên _faquir_ này có can hệ gì đến thằng bé, rất có thể nó là kẻ bị ông ta lừa hoặc là đồng lõa của ông ta,” Bennett mở lời. “Chúng ta không thể cho phép một đứa bé người Anh—Cứ cho rằng nó là con trai một hội viên Tam Điểm, nó vào Cô nhi viện Hội Tam Điểm càng sớm càng tốt.”
“À! Đó là ý kiến của ông trên cương vị Thư ký Chi hội Trung đoàn,” Father Victor nói; “nhưng ta cũng nên cho ông già biết ta định làm gì. Trông ông ta đâu giống kẻ bất lương.”
“Kinh nghiệm cho tôi biết không ai có thể dò thấu tâm trí người phương Đông. Nào, Kimball, tôi muốn mày nói lại với người này từng lời tôi nói.”
Kim nắm được ý nghĩa của mấy câu tiếp theo và bắt đầu như sau:
“Thưa Thánh nhân, tên ngốc gầy trông như lạc đà nói con là con trai của một Sahib.”
“Nhưng sao lại thế?”
“Ồ, đó là sự thật. Con biết từ khi mới lọt lòng, nhưng _hắn_ chỉ khám phá ra sau khi giật lá bùa khỏi cổ con và đọc hết giấy tờ. Hắn nghĩ một khi đã là Sahib thì mãi mãi là Sahib, và hai người họ định giữ con trong Trung đoàn này hoặc gửi con đến một _madrissah_ (trường học). Chuyện này trước đây đã xảy ra. Con vẫn luôn tránh được. Tên ngốc béo nghĩ một đằng, tên giống lạc đà nghĩ một nẻo. Nhưng chẳng hề gì. Có thể con sẽ ở đây một đêm, và có lẽ cả đêm sau. Chuyện này trước đây đã xảy ra. Rồi con sẽ bỏ trốn và trở về với thầy.”
“Nhưng hãy nói với họ con là _đệ tử_ của ta. Hãy kể con đã đến với ta thế nào khi ta kiệt sức và hoang mang. Hãy kể họ nghe về Cuộc Tìm kiếm của chúng ta, rồi chắc chắn họ sẽ thả con đi ngay.”
“Con đã nói rồi. Họ cười nhạo và nhắc đến cảnh sát.”
“Mày đang nói gì thế?” ông Bennett hỏi.
“Ồ. Thầy chỉ nói nếu các ông không để tôi đi thì sẽ cản trở công việc của thầy—những việc riêng khẩn-cấp.” Câu cuối này là dư âm từ một cuộc nói chuyện nào đó với một viên thư ký Âu-Á ở Sở Kênh đào, nhưng nó chỉ gợi lên một nụ cười, khiến cậu phát cáu. “Và nếu các ông _biết_ công việc của thầy là gì, các ông đã không nôn nóng can thiệp một cách đáng ghét như thế.”
“Vậy đó là việc gì?” Father Victor hỏi, không phải không có cảm xúc, trong khi quan sát gương mặt lạt-ma.
“Có một Dòng sông trong xứ này mà thầy vô cùng muốn tìm thấy. Nó tuôn ra bởi một Mũi Tên mà—” Kim sốt ruột gõ chân khi dịch thầm trong đầu từ tiếng bản xứ sang thứ tiếng Anh vụng về của mình. “Ồ, dòng sông ấy do Đức Chúa Trời Phật Tổ của chúng tôi tạo ra, các ông biết đấy, và nếu tắm ở đó thì mọi tội lỗi của các ông sẽ bị rửa trôi, các ông sẽ trở nên trắng như bông.” (Thuở ấy Kim đã nghe không ít lời truyền giáo.) “Tôi là đệ tử của thầy, và chúng tôi _phải_ tìm thấy Dòng sông ấy. Nó vô cùng quý báu đối với chúng tôi.”
“Nói lại lần nữa,” Bennett bảo. Kim vâng lời, có thêm thắt.
“Nhưng đây là lời báng bổ trắng trợn!” Giáo hội Anh giáo kêu lên.
“Chậc! Chậc!” Father Victor nói với vẻ cảm thông. “Tôi sẵn lòng đánh đổi nhiều thứ để nói được tiếng bản xứ. Một dòng sông rửa sạch tội lỗi! Hai người đã tìm nó bao lâu rồi?”
“Ồ, nhiều ngày rồi. Bây giờ chúng tôi muốn đi và tìm nó tiếp. Các ông thấy đấy, nó không ở đây.”
“Tôi hiểu,” Father Victor nghiêm nghị nói. “Nhưng nó không thể tiếp tục đi theo ông già ấy. Kim, nếu mày không phải con trai một người lính thì đã khác. Hãy nói với ông ấy Trung đoàn sẽ chăm sóc mày và biến mày thành một người tốt như—một người tốt nhất có thể. Hãy nói nếu ông ấy tin vào phép màu, ông ấy phải tin rằng—”
“Không cần lợi dụng sự cả tin của ông ta,” Bennett ngắt lời.
“Tôi đâu có làm thế. Ông ấy phải tin rằng việc thằng bé đến đây—đến chính Trung đoàn của nó—để tìm Bò Mộng Đỏ mang bản chất của một phép màu. Hãy nghĩ xem cơ hội xảy ra chuyện ấy nhỏ đến đâu, Bennett. Giữa toàn cõi Ấn Độ là đúng thằng bé này, và giữa tất cả các trung đoàn là đúng Trung đoàn chúng ta đang trên đường hành quân để nó gặp được! Nhìn qua đã thấy đó là tiền định. Phải, hãy bảo ông ấy đó là _Kismet. Kismet, mallum?_ (Ông hiểu chứ?)”
Ông quay về phía lạt-ma; nói với ông về Mesopotamia có lẽ cũng chẳng khác gì.
“Họ nói,”—mắt ông lão sáng lên khi nghe Kim nói—“họ nói rằng ý nghĩa lá số tử vi của con nay đã ứng nghiệm, và vì được dẫn trở lại—dù như thầy biết, con đi ra chỉ vì tò mò—với những người này cùng con Bò Mộng Đỏ của họ, con buộc phải đến một _madrissah_ và bị biến thành một Sahib. Giờ con sẽ giả vờ đồng ý, vì tệ nhất cũng chỉ là vài bữa ăn xa thầy. Rồi con sẽ lẻn đi, men theo đường xuống Saharunpore. Vì vậy, thưa Thánh nhân, hãy ở cùng người đàn bà Kulu ấy—tuyệt đối đừng đi xa cỗ xe của bà ta cho tới khi con trở lại. Chẳng còn nghi ngờ gì, cung mệnh của con thuộc về Chiến tranh và những người mang binh khí. Hãy xem họ đã cho con uống rượu và đặt con lên giường danh dự thế nào! Cha con hẳn phải là một nhân vật lớn. Vậy nếu họ đưa con lên địa vị danh giá giữa họ, tốt. Nếu không, cũng tốt. Dù chuyện diễn ra thế nào, khi mệt con sẽ chạy về với thầy. Nhưng hãy ở lại với bà Rajputni, bằng không con sẽ lỡ dấu chân thầy... Ồ vâng,” cậu bé nói, “tôi đã kể với thầy mọi điều các ông bảo tôi nói.”
“Và tôi không thấy có lý do gì để ông ta phải chờ,” Bennett nói, thọc tay vào túi quần. “Ta có thể điều tra chi tiết sau—và tôi sẽ cho ông ta một ru—”
“Cứ cho ông ấy thời gian. Có lẽ ông ấy quyến luyến thằng bé,” Father Victor nói, đưa tay ngăn vị giáo sĩ lại nửa chừng.
Lạt-ma lôi tràng hạt ra, kéo vành chiếc mũ khổng lồ sụp xuống che mắt.
“Bây giờ ông ấy còn muốn gì nữa?”
“Ông ấy bảo”—Kim giơ một tay lên. “Ông ấy bảo: ‘Im lặng.’ Ông ấy muốn nói riêng với tôi. Các ông thấy đấy, các ông chẳng hiểu lấy một từ nhỏ nào ông ấy nói, mà tôi nghĩ nếu các ông cứ nói thì có lẽ ông ấy sẽ giáng cho các ông những lời nguyền rủa ghê gớm. Các ông thấy không, hễ cầm tràng hạt như thế là ông ấy luôn muốn được yên tĩnh.”
Hai người Anh ngồi lặng người, nhưng ánh mắt Bennett hứa hẹn điều chẳng lành cho Kim một khi cậu được trao vào tay nhà đạo.
“Một Sahib, lại là con trai của một Sahib—” Giọng lạt-ma gay gắt vì đau đớn. “Nhưng không người da trắng nào hiểu xứ này cùng phong tục xứ này như con. Vì sao điều ấy lại là thật?”
“Có hề gì, thưa Thánh nhân?—nhưng thầy hãy nhớ, chỉ một hai đêm thôi. Hãy nhớ, con có thể biến đổi rất nhanh. Mọi sự rồi sẽ lại như khi con lần đầu thưa chuyện với thầy dưới khẩu đại pháo Zam-Zammah—”
“Trong hình dạng một đứa trẻ mặc y phục người da trắng—khi ta lần đầu đến Nhà Kỳ Quan. Lần thứ hai, con là một người Hindu. Hóa thân thứ ba sẽ là gì đây?” Ông bật cười buồn bã. “Ôi, _đệ tử_, con đã làm một ông già khổ sở, bởi lòng ta đã hướng về con.”
“Và lòng con cũng hướng về thầy. Nhưng làm sao con biết được Bò Mộng Đỏ sẽ đưa con tới chuyện này?”
Lạt-ma lại lấy tay che mặt và bồn chồn làm tràng hạt kêu lách cách. Kim ngồi xổm bên ông, nắm lấy một nếp áo.
“Giờ đã rõ đứa trẻ này là một Sahib rồi chứ?” ông nói tiếp, giọng nghèn nghẹt. “Một Sahib giống như người trông coi các pho tượng trong Nhà Kỳ Quan.” Kinh nghiệm của lạt-ma về người da trắng rất ít ỏi. Ông có vẻ như đang nhắc lại một bài học. “Vậy thì nó làm khác với lề lối các Sahib là không phải phép. Nó phải trở về với người của nó.”
“Chỉ một ngày, một đêm, rồi một ngày nữa thôi,” Kim nài nỉ.
“Không được đâu!” Father Victor thấy Kim đang nhích dần về phía cửa, bèn đưa một chân rắn chắc ra chắn lối.
“Ta không hiểu phong tục của người da trắng. Vị Tu sĩ của các Pho tượng trong Nhà Kỳ Quan ở Lahore còn nhã nhặn hơn người gầy gò ở đây. Đứa trẻ này sẽ bị đem khỏi ta. Họ sẽ biến đệ tử của ta thành một Sahib ư? Khốn khổ cho ta! Ta sẽ tìm Sông của mình bằng cách nào? _Họ_ không có đệ tử hay sao? Hỏi đi.”
“Ông ấy bảo ông ấy rất tiếc lắm vì bây giờ không thể tìm Sông được nữa. Ông ấy hỏi: Sao các ông không có đệ tử? Và đừng quấy rầy ông ấy nữa. Ông ấy muốn được gột rửa tội lỗi.”
Cả Bennett lẫn Father Victor đều không tìm được lời nào để đáp ngay.
Đau lòng trước nỗi thống khổ của lạt-ma, Kim nói bằng tiếng Anh: “Tôi nghĩ nếu các ông để tôi đi ngay, chúng tôi sẽ lặng lẽ bước đi và không lấy trộm gì cả. Chúng tôi sẽ tìm Sông ấy như trước khi tôi bị bắt. Giá mà tôi không đến đây tìm Bò Mộng Đỏ và tất cả những chuyện kiểu ấy. Tôi không muốn những thứ đó.”
“Đó là việc tốt nhất cậu từng làm cho chính mình trong đời, chàng trai ạ,” Bennett nói.
“Lạy Chúa, tôi chẳng biết an ủi ông ấy thế nào,” Father Victor nói, chăm chú nhìn lạt-ma. “Ông ấy không thể đem thằng bé theo, thế mà ông ấy là người tốt—tôi chắc chắn ông ấy là người tốt. Bennett, nếu anh cho ông ấy đồng rupee đó, ông ấy sẽ nguyền rủa anh cả gốc lẫn cành!”
Họ lắng nghe hơi thở của nhau—ba—năm phút trọn vẹn. Rồi lạt-ma ngẩng đầu, nhìn xuyên qua họ vào khoảng không và hư vô.
“Thế mà ta là một Kẻ đi theo Đạo,” ông cay đắng nói. “Tội là của ta và hình phạt cũng là của ta. Ta đã tự dối mình—bởi giờ ta thấy đó chỉ là điều giả tưởng—rằng con được phái đến để giúp ta trong Cuộc Tìm kiếm. Vì thế lòng ta hướng về con, bởi lòng nhân từ, sự lễ độ và trí khôn vượt tuổi nhỏ của con. Nhưng người đi theo Đạo không được dung cho ngọn lửa của bất cứ ham muốn hay quyến luyến nào, bởi tất cả đều là Ảo tưởng. Như có lời rằng...” Ông trích một cổ thư Trung Hoa từ xa xưa, lấy một đoạn khác làm chứng, rồi viện thêm đoạn thứ ba để củng cố. “Ta đã bước chệch khỏi Đạo, _đệ tử_ của ta. Đó không phải lỗi của con. Ta đã vui thích khi ngắm nhìn sự sống, những con người mới trên đường, và niềm vui của con lúc thấy những điều ấy. Ta đã vui vì con, trong khi lẽ ra chỉ nên nghĩ đến Cuộc Tìm kiếm của ta, duy nhất Cuộc Tìm kiếm của ta. Giờ ta đau buồn vì con bị đem đi và Sông của ta còn xa cách. Chính Luật mà ta đã phạm!”
“Hỡi những Quyền lực Hắc ám dưới sâu!” Father Victor nói; từng trải trong tòa giải tội, ông nghe thấy nỗi đau trong mỗi câu.
“Giờ ta thấy dấu hiệu Bò Mộng Đỏ là dấu hiệu dành cho ta cũng như cho con. Mọi Ham muốn đều đỏ—và xấu xa. Ta sẽ sám hối và một mình tìm Sông của ta.”
“Ít nhất thầy hãy trở về với người đàn bà Kulu,” Kim nói, “nếu không thầy sẽ lạc trên đường. Bà ấy sẽ nuôi thầy cho tới khi con chạy về với thầy.”
Lạt-ma phẩy tay, tỏ ý trong tâm ông chuyện ấy đã được quyết định dứt khoát.
“Bây giờ,”—giọng ông đổi khác khi quay sang Kim,—“họ sẽ làm gì con? Ít nhất ta còn có thể tạo công đức để xóa điều ác đã qua.”
“Biến con thành một Sahib—họ nghĩ thế. Ngày kia con sẽ trở về. Thầy đừng buồn.”
“Thành hạng người nào? Như người này hay người kia?” Ông chỉ Father Victor. “Như những người ta thấy tối nay, những kẻ đeo gươm và giậm bước nặng nề ư?”
“Có lẽ.”
“Thế là không tốt. Những người ấy chạy theo ham muốn và đi đến hư vô. Con không được trở thành hạng người như họ.”
“Vị tu sĩ ở Umballa nói Ngôi Sao của con là Chiến Tranh,” Kim xen vào. “Con sẽ hỏi những kẻ ngu ngốc này—nhưng thật ra chẳng cần. Đêm nay con sẽ trốn đi, dẫu con vẫn muốn thấy những điều mới lạ.”
Kim hỏi Father Victor hai ba câu bằng tiếng Anh, rồi dịch những câu trả lời cho lạt-ma.
Rồi cậu nói: “Ông ấy bảo: ‘Các ông đem nó khỏi ta mà không thể nói mình sẽ biến nó thành người thế nào.’ Ông ấy bảo: ‘Hãy nói cho ta biết trước khi ta đi, bởi làm nên một đứa trẻ không phải chuyện nhỏ.’”
“Cậu sẽ được gửi đến một trường học. Sau này chúng ta sẽ tính. Kimball, ta đoán cậu muốn làm lính chứ?”
“_Gorah-log_ (người da trắng). Không-ơ! Không-ơ!” Kim lắc đầu dữ dội. Trong bản tính cậu chẳng có điều gì hợp với thao diễn và khuôn phép thường lệ. “Tôi sẽ không làm lính.”
“Cậu được bảo làm gì thì sẽ làm nấy,” Bennett nói; “và cậu nên biết ơn vì chúng tôi sẽ giúp cậu.”
Kim mỉm cười thương hại. Nếu những người này mê muội tưởng rằng cậu sẽ làm bất cứ điều gì mình không thích, thế thì càng hay.
Lại một hồi im lặng kéo dài. Bennett bồn chồn vì sốt ruột, rồi đề nghị gọi lính gác đến tống vị _faquir_ ra ngoài.
“Trong giới Sahib, họ cho hay bán sự học? Hỏi họ đi,” lạt-ma nói, và Kim thông dịch.
“Họ nói phải trả tiền cho thầy dạy—nhưng Trung đoàn sẽ trả số tiền ấy... Cần gì chứ? Chỉ một đêm thôi mà.”
“Và—càng trả nhiều tiền thì sự học được truyền trao càng tốt ư?” Lạt-ma không màng đến kế hoạch sớm trốn đi của Kim. “Trả tiền để học không phải điều sai trái. Giúp kẻ vô tri đạt tới trí tuệ luôn là một công đức.” Tràng hạt lách cách dữ dội như một chiếc bàn tính. Rồi ông quay mặt về phía những kẻ áp chế mình.
“Hỏi họ xem phải trả bao nhiêu tiền mới nhận được sự dạy dỗ khôn ngoan và thích đáng? Và sự dạy dỗ ấy được ban cho ở thành phố nào?”
“À,” Father Victor nói bằng tiếng Anh sau khi Kim đã dịch, “còn tùy. Trung đoàn sẽ trả tiền cho cậu trong suốt thời gian cậu ở Cô nhi viện Quân đội; hoặc tên cậu có thể được đưa vào danh sách của Cô nhi viện Tam điểm Punjab (dẫu ông ấy hay cậu cũng chẳng hiểu điều đó nghĩa là gì); nhưng dĩ nhiên, nền học vấn tốt nhất một cậu bé có thể nhận được ở Ấn Độ là tại St Xavier’s in Partibus ở Lucknow.” Việc thông dịch lời này mất khá lâu, vì Bennett muốn cắt ngắn câu chuyện.
“Ông ấy muốn biết bao nhiêu tiền?” Kim bình thản hỏi.
“Hai hoặc ba trăm rupee một năm.” Father Victor từ lâu đã vượt quá mọi cảm giác kinh ngạc. Bennett sốt ruột mà chẳng hiểu gì.
“Ông ấy bảo: ‘Viết cái tên ấy và số tiền lên một tờ giấy rồi đưa cho ông ấy.’ Ông ấy còn bảo ông phải viết tên mình ở dưới, vì vài ngày nữa ông ấy sẽ viết thư cho ông. Ông ấy nói ông là người tốt. Ông ấy nói người kia là kẻ ngu. Ông ấy sắp đi rồi.”
Lạt-ma đột ngột đứng dậy. “Ta đi theo Cuộc Tìm kiếm của mình,” ông kêu lên, rồi đi mất.
“Ông ấy sẽ đâm sầm ngay vào lính gác mất,” Father Victor kêu lên, bật dậy khi lạt-ma sải bước ra ngoài; “nhưng tôi không thể bỏ thằng bé.” Kim thoắt định chạy theo, nhưng tự ghìm lại. Bên ngoài không vang lên tiếng hô hỏi nào. Lạt-ma đã biến mất.
Kim điềm nhiên ngồi yên vị trên giường xếp của vị giáo sĩ. Ít nhất lạt-ma đã hứa sẽ ở cùng người đàn bà Raiput đến từ Kulu, còn mọi chuyện khác đều chẳng mấy quan trọng. Cậu thích thú thấy hai vị cha đạo rõ ràng kích động đến thế. Họ thì thầm bàn bạc rất lâu; Father Victor cố thuyết phục Mr Bennett theo một kế hoạch nào đó, còn ông này có vẻ không tin. Tất cả đều rất mới mẻ và hấp dẫn, nhưng Kim thấy buồn ngủ. Họ gọi nhiều người vào lều—một người chắc chắn là viên đại tá, đúng như cha cậu đã tiên báo—rồi hỏi cậu vô số câu, chủ yếu về người đàn bà đã chăm nom cậu; Kim thành thật trả lời tất cả. Họ có vẻ không cho rằng người đàn bà ấy là một người giám hộ tốt.
Xét cho cùng, đây là trải nghiệm mới lạ nhất của cậu. Sớm hay muộn, nếu muốn, cậu cũng có thể trốn vào xứ Ấn Độ mênh mông, xám xịt, không hình thể, vượt khỏi lều trại, các cha đạo và các đại tá. Trong lúc này, nếu cần làm các Sahib nể phục, cậu sẽ hết sức khiến họ nể phục. Chính cậu cũng là một người da trắng.
Sau một hồi bàn luận dài mà cậu không hiểu nổi, họ giao cậu cho một trung sĩ với mệnh lệnh nghiêm ngặt là không được để cậu trốn thoát. Trung đoàn sẽ tiến đến Umballa, còn Kim sẽ được gửi lên một nơi gọi là Sanawar, một phần bằng phí tổn của Chi hội, một phần bằng tiền quyên góp.
“Đúng là phép lạ, có reo đến đâu cũng không xiết, thưa Đại tá,” Father Victor nói sau khi đã thao thao bất tuyệt suốt mười phút. “Người bạn theo đạo Phật của nó đã chuồn mất sau khi lấy tên và địa chỉ của tôi. Tôi không sao hiểu rõ ông ấy sẽ trả tiền học cho thằng bé hay đang tự mình sửa soạn một thứ tà thuật nào đó.” Rồi ông quay sang Kim: “Sẽ có ngày cậu biết ơn người bạn Bò Mộng Đỏ của mình. Chúng tôi sẽ rèn cậu thành người ở Sanawar—dẫu cái giá phải trả là biến cậu thành một tín đồ Kháng Cách.”
“Chắc chắn—hết sức chắc chắn,” Bennett nói.
“Nhưng các ông sẽ không đi Sanawar,” Kim nói.
“Nhưng chúng ta sẽ đi Sanawar, cậu bé ạ. Đó là lệnh của Tổng tư lệnh, người quan trọng hơn con trai O’Hara một chút đấy.”
“Các ông sẽ không đi Sanawar. Các ông sẽ đi đến Chiến Tranh.”
Cả chiếc lều đông nghịt bật lên một tràng cười.
“Khi biết Trung đoàn của mình rõ hơn một chút, cậu sẽ không nhầm đội hình hành quân với đội hình chiến đấu đâu, Kim. Chúng tôi hy vọng một ngày nào đó sẽ đi ‘đến Chiến Tranh’.”
“Ồ-ồ, tôi biết hết cả chuyện đó.” Kim lại giương cung bắn liều một phát. Nếu họ không sắp đi đánh trận thì ít nhất họ cũng không biết điều cậu đã nghe trong cuộc trò chuyện ngoài hiên ở Umballa.
“Tôi biết bây giờ các ông chưa ở tại Chiến Tranh; nhưng tôi bảo _các ông_ rằng ngay khi tới Umballa, các ông sẽ được phái đi đánh trận—trận mới. Đó là một cuộc chiến có tám nghìn quân, chưa kể đại bác.”
“Thế thì rõ rành rồi. Ngoài những tài khác, cậu còn biết tiên tri nữa sao? Đưa nó đi đi, trung sĩ. Lấy cho nó một bộ quân phục bên Đội Trống, và liệu đừng để nó tuột khỏi tay anh. Ai bảo thời đại của phép lạ đã qua rồi? Tôi nghĩ mình đi ngủ đây. Trí óc tội nghiệp của tôi đang suy yếu mất.”
Một giờ sau, ở tận cuối trại, Kim ngồi im lìm như thú hoang, toàn thân vừa được tắm rửa sạch sẽ, khoác một bộ quần áo cứng đờ ghê tởm cứ cọ rát tay chân.
“Một con chim non lạ lùng hết sức,” viên trung sĩ nói. “Nó xuất hiện dưới sự trông nom của một thằng thầy tu Bà-la-môn đầu vàng, cổ đeo giấy chứng nhận Chi hội của cha nó, nói trời biết những gì về một con bò đỏ. Thằng Bà-la-môn ấy bốc hơi không một lời giải thích, còn thằng bé ngồi xếp bằng trên giường của vị giáo sĩ, tiên tri chiến tranh đẫm máu cho cả đám người. Xứ Ấn là miền hoang dại đối với một người kính sợ Chúa. Ta cứ buộc chân nó vào cọc lều, phòng khi nó chui qua nóc mà đi. Mày vừa nói gì về chiến tranh?”
“Tám nghìn quân, chưa kể đại bác,” Kim nói. “Chẳng bao lâu nữa các ông sẽ thấy.”
“Mày đúng là một tiểu quỷ làm người ta yên lòng. Nằm xuống giữa hai cậu lính trống rồi ngủ khò đi. Hai thằng bé ấy sẽ canh giấc cho mày.”