Kim — Chương 9
Chương 9 / 15 · Bài review Kim
S’doaks là con Yelth thông thái— Tộc trưởng của họ nhà Quạ. Itswoot Gấu trông nom cậu Để rèn thành một pháp sư.
Cậu học đã nhanh, càng thêm nhanh— Đã gan, càng dám bạo gan: Cậu múa điệu Kloo-Kwallie kinh hồn Để cù Itswoot Gấu!
_Truyền thuyết Oregon._
Kim lao cả lòng cả dạ vào vòng quay kế tiếp của bánh xe. Cậu sẽ lại làm một Sahib trong ít lâu. Với ý định ấy, vừa đến con đường rộng dưới Tòa Thị chính Simla, cậu liền nhìn quanh tìm một người để ra oai. Một đứa trẻ Hindu chừng mười tuổi đang ngồi xổm dưới cột đèn.
“Nhà ông Lurgan ở đâu?” Kim hạch hỏi.
“Tôi không hiểu tiếng Anh,” câu trả lời vang lên, và Kim bèn đổi sang tiếng bản xứ.
“Tôi dẫn đường.”
Hai đứa cùng lên đường qua buổi chạng vạng huyền bí, đầy âm thanh từ thành phố dưới sườn đồi vọng lên và hơi gió mát trên đỉnh Jakko phủ tuyết tùng, nơi vai núi đội lấy các vì sao. Đèn nhà rải rác ở mọi cao độ làm nên, tựa hồ, một bầu trời kép. Một số đứng yên, số khác thuộc về những chiếc xe kéo của đám người Anh vô tư, bộc trực đang đi dự tiệc tối.
“Đây rồi,” người dẫn đường của Kim nói và dừng lại trên một hàng hiên ngang mặt đường chính. Không cánh cửa nào ngăn họ, chỉ có một tấm rèm kết bằng hạt sậy chia vụn ánh đèn phía trong.
“Cậu ấy đến rồi,” thằng bé nói bằng giọng chỉ lớn hơn tiếng thở dài đôi chút, rồi biến mất. Kim tin chắc ngay từ đầu thằng bé đã được bố trí để dẫn đường cho mình, nhưng cậu vẫn làm ra vẻ dạn dĩ và vén rèm bước vào. Một người đàn ông râu đen, mắt che tấm chắn màu lục, ngồi bên bàn; bằng đôi bàn tay trắng, ngắn, ông nhặt từng viên sáng tròn từ chiếc khay trước mặt, xâu chúng lên một sợi tơ óng ánh, miệng khe khẽ ngâm nga. Kim cảm thấy ngoài vòng sáng, căn phòng chất đầy những vật tỏa mùi như tất cả các đền miếu của cả phương Đông. Một thoáng xạ hương, một làn đàn hương và một hơi dầu hoa nhài ngọt lợm ập vào đôi cánh mũi đang nở rộng của cậu.
“Tôi đến rồi,” cuối cùng Kim nói bằng tiếng bản xứ: những mùi hương khiến cậu quên mất mình phải làm một Sahib.
“Bảy mươi chín, tám mươi, tám mươi mốt,” người đàn ông tự đếm, xâu hết viên ngọc trai này đến viên khác nhanh đến nỗi Kim gần như không theo kịp những ngón tay ông. Ông tháo tấm chắn màu lục xuống và nhìn Kim chằm chằm suốt nửa phút. Con ngươi giãn ra rồi khép lại nhỏ như đầu kim, dường như hoàn toàn theo ý muốn. Gần Cổng Taksali có một _faquir_ cũng mang năng khiếu này và dùng nó kiếm tiền, nhất là khi nguyền rủa những người đàn bà nhẹ dạ. Kim chăm chú nhìn. Gã bạn chẳng ra gì của cậu còn có thể giật giật cả hai tai như một con dê, nên Kim thất vọng vì người mới này không bắt chước được gã.
“Đừng sợ,” Lurgan Sahib đột ngột nói.
“Sao tôi phải sợ?”
“Đêm nay ngươi sẽ ngủ ở đây, và ở với ta cho tới lúc phải trở lại Nucklao. Đó là lệnh.”
“Đó là lệnh,” Kim nhắc lại. “Nhưng tôi sẽ ngủ ở đâu?”
“Đây, trong phòng này.” Lurgan Sahib phẩy tay về phía bóng tối sau lưng.
“Thế cũng được,” Kim điềm nhiên nói. “Ngay bây giờ ư?”
Ông gật đầu và nâng đèn lên quá đầu. Khi ánh sáng quét qua, từ các bức tường vụt hiện ra một bộ sưu tập mặt nạ múa quỷ Tây Tạng, treo bên trên những tấm màn thêu yêu ma dùng trong các nghi lễ ghê rợn ấy—mặt nạ có sừng, mặt nạ cau có, mặt nạ mang vẻ kinh hoàng ngu độn. Trong một góc, một võ sĩ Nhật Bản mặc giáp, cắm lông, giương kích đe dọa cậu; hai chục ngọn giáo cùng những thanh _khanda_ và _kuttar_ hắt lại ánh sáng chập chờn. Nhưng điều khiến Kim chú ý hơn tất thảy—cậu đã thấy những mặt nạ múa quỷ ở Bảo tàng Lahore—là thoáng nhìn thấy đứa trẻ Hindu mắt dịu dàng đã bỏ cậu lại nơi cửa, đang ngồi xếp bằng dưới chiếc bàn đầy ngọc trai, đôi môi đỏ tươi nở một nụ cười nhỏ.
“Ta nghĩ Lurgan Sahib muốn làm ta sợ. Và ta chắc thằng nhãi con của quỷ dưới gầm bàn kia muốn thấy ta sợ.”
“Nơi này,” cậu nói lớn, “giống như một Nhà Kỳ Quan. Giường tôi ở đâu?”
Lurgan Sahib chỉ tấm chăn bản xứ trong góc cạnh những chiếc mặt nạ gớm ghiếc, cầm đèn lên rồi bỏ đi, để căn phòng tối đen.
“Đó có phải Lurgan Sahib không?” Kim hỏi khi cuộn mình nằm xuống. Không ai trả lời. Tuy vậy, cậu nghe được tiếng thở của thằng bé Hindu, bèn lần theo âm thanh bò ngang sàn, vung tay tát vào bóng tối và quát: “Trả lời đi, đồ quỷ! Đó là cách ngươi nói dối một Sahib sao?”
Từ trong bóng tối, cậu ngỡ mình nghe thấy tiếng cười khúc khích vọng lại. Không thể là thằng bạn mềm nhẽo kia, bởi nó đang khóc. Thế là Kim cất cao giọng gọi lớn:
“Lurgan Sahib! Hỡi Lurgan Sahib! Có phải lệnh của ngài là tên hầu kia không được nói với tôi?”
“Đó là lệnh.” Giọng nói phát ra từ sau lưng khiến cậu giật nảy mình.
“Tốt lắm. Nhưng nhớ đấy,” cậu lẩm bẩm khi lần về tấm chăn, “sáng mai ta sẽ đánh ngươi. Ta không ưa người Hindu.”
Đó chẳng phải một đêm yên lành; căn phòng quá đầy tiếng nói và nhạc. Hai lần Kim bị đánh thức vì có kẻ gọi tên mình. Lần thứ hai, cậu lên đường tìm kiếm, rốt cuộc đập bầm mũi vào một cái hộp chắc chắn nói bằng lưỡi người nhưng tuyệt nhiên không mang giọng người. Dường như nó kết thúc bằng một cái loa thiếc và nối bằng dây với một chiếc hộp nhỏ hơn trên sàn—ít nhất, theo những gì cậu sờ thấy mà đoán. Còn giọng nói, cứng đanh và rè rè, phát ra từ chiếc loa. Kim xoa mũi, nổi giận điên người, và như thường lệ, suy nghĩ bằng tiếng Hindi.
“Đem trò này dọa một tên ăn mày ngoài bazar thì được, nhưng—ta là một Sahib, con trai của một Sahib, lại còn hơn gấp đôi thế nữa, là học sinh ở Nucklao. Phảải” (đến đây cậu chuyển sang tiếng Anh), “một học sinh trường St Xavier’s. Quỷ tha ma bắt mắt ông Lurgan!—Đây là một thứ máy móc như máy khâu. Ồ, ông ta thật _quá_ xấc xược—ở Lucknow bọn ta không sợ kiểu ấy—Không!” Rồi bằng tiếng Hindi: “Nhưng _ông ta_ được lợi gì? Ông ta chỉ là lái buôn—ta đang ở trong cửa hàng ông ta. Nhưng Creighton Sahib là Đại tá—và ta nghĩ Creighton Sahib đã ra lệnh làm việc này. Sáng mai ta sẽ đánh thằng Hindu kia _một trận ra trò_! Cái gì thế?”
Cái hộp có loa đang tuôn ra một tràng chửi rủa cầu kỳ nhất mà ngay cả Kim từng nghe, bằng giọng cao vút, dửng dưng, khiến lông gáy cậu dựng lên trong giây lát. Khi vật khốn kiếp ấy lấy hơi, tiếng rè êm như máy khâu khiến Kim vững dạ trở lại.
“_Chûp!_ (Im đi),” cậu quát, rồi lại nghe tiếng cười khúc khích khiến mình quyết chí. “_Chûp_—không thì ta đập vỡ đầu ngươi.”
Cái hộp không thèm để ý. Kim giằng chiếc loa thiếc, và một vật gì bật lên đánh tách. Hiển nhiên cậu đã mở một cái nắp. Nếu bên trong có quỷ thì giờ là lúc nó hiện ra, bởi—cậu hít hít—máy khâu ngoài bazar cũng có mùi thế này. Cậu sẽ trị tên _shaitan_ ấy. Cậu cởi áo khoác, nhét nó vào miệng hộp. Một vật dài và tròn oằn xuống dưới sức ép, có tiếng rè, rồi giọng nói tắt ngấm—mà giọng nào chẳng phải tắt nếu người ta ấn chiếc áo gấp ba lên ống sáp và vào tận bộ máy của một chiếc máy hát đắt tiền. Kim ngủ nốt giấc với tâm trí thanh thản.
Buổi sáng, cậu nhận ra Lurgan Sahib đang cúi nhìn mình.
“Ồ!” Kim nói, kiên quyết bám lấy tư cách Sahib của mình. “Ban đêm có cái hộp nói những lời xấu xa với tôi. Vì thế tôi làm nó im. Có phải hộp của ông không?”
Người đàn ông chìa tay ra.
“Bắt tay đi, O’Hara,” ông nói. “Phải, đó là hộp của ta. Ta giữ những thứ như vậy vì các Rajah bạn ta thích chúng. Cái ấy hỏng rồi, nhưng cái giá phải trả vẫn rẻ. Phải, các bạn ta, những ông Vua, rất mê đồ chơi—mà đôi khi ta cũng thế.”
Kim liếc nhìn ông từ khóe mắt. Ông là Sahib ở chỗ mặc quần áo Sahib; nhưng giọng Urdu và âm điệu tiếng Anh cho thấy ông chẳng phải Sahib chút nào. Dường như ông hiểu điều đang diễn ra trong đầu Kim trước cả khi cậu mở miệng, và không mất công giải thích về mình như Cha Victor hay các thầy ở Lucknow. Tuyệt nhất là—ông đối xử với Kim như một người ngang hàng về phía Á châu.
“Ta rất tiếc sáng nay cậu không thể đánh thằng bé của ta. Nó bảo sẽ giết cậu bằng dao hoặc thuốc độc. Nó ghen, nên ta đã bắt nó đứng trong góc và hôm nay ta sẽ không nói với nó. Nó vừa mới tìm cách giết ta. Cậu phải giúp ta lo bữa sáng. Hiện giờ lòng ghen khiến nó gần như không thể tin cậy được.”
Một Sahib chính hiệu mới từ Anh sang hẳn sẽ làm ầm ĩ ghê gớm trước câu chuyện này. Lurgan Sahib kể nó giản dị như Mahbub Ali vẫn thường thuật lại những công chuyện nho nhỏ của ông ở miền Bắc.
Hàng hiên sau cửa hàng nhô ra trên sườn đồi dựng đứng, và theo lệ Simla, từ đó họ nhìn xuống những ống khói nhà hàng xóm. Nhưng còn hơn cả bữa ăn thuần Ba Tư do chính tay Lurgan Sahib nấu, cửa hàng mê hoặc Kim. Bảo tàng Lahore lớn hơn, nhưng nơi đây nhiều kỳ vật hơn—những dao găm trừ tà và bánh xe cầu nguyện từ Tây Tạng; vòng cổ ngọc lam và hổ phách thô; vòng tay ngọc bích xanh; những nén hương bó theo kiểu lạ lùng trong các bình nạm đầy ngọc hồng lựu thô; những mặt nạ quỷ đêm qua và cả một bức tường phủ màn màu lam lông công; tượng Phật mạ vàng và những bàn thờ sơn mài nhỏ, có thể mang theo; ấm samovar Nga gắn ngọc lam trên nắp; bộ đồ sứ mỏng như vỏ trứng trong những hộp mây tám cạnh kỳ lạ; thánh giá ngà vàng—đến từ Nhật Bản, trong tất cả mọi nơi trên đời, theo lời Lurgan Sahib; thảm cuộn thành những kiện bụi bặm, bốc mùi khủng khiếp, bị đẩy ra sau những tấm bình phong hoa văn hình học rách nát, mục ruỗng; bình nước Ba Tư dùng rửa tay sau bữa ăn; lư đồng xỉn màu, chẳng phải của Trung Hoa cũng chẳng phải của Ba Tư, với những dải phù điêu quỷ quái kỳ dị chạy vòng quanh; thắt lưng bạc hoen màu thắt nút như da sống; trâm cài tóc bằng ngọc bích, ngà và ngọc plasma; vũ khí đủ mọi loại, cùng một nghìn món linh tinh khác được cất trong hộp, chất thành đống hoặc đơn giản ném khắp phòng, chỉ chừa một khoảng trống quanh chiếc bàn gỗ tạp ọp ẹp nơi Lurgan Sahib làm việc.
“Những thứ ấy chẳng là gì,” chủ nhà nói, dõi theo ánh mắt Kim. “Ta mua vì chúng đẹp, và đôi khi ta bán—nếu ta ưng mặt người mua. Công việc của ta ở trên bàn—một phần thôi.”
Nó rực cháy trong nắng sớm—toàn những tia đỏ, lam và lục, điểm đây đó bằng ánh lóe xanh trắng sắc độc của kim cương. Kim mở to mắt.
“Ồ, những viên đá ấy khá khỏe. Phơi nắng không hại gì. Vả lại, chúng rẻ tiền. Nhưng với đá ốm thì lại hoàn toàn khác.” Ông chất thêm thức ăn vào đĩa Kim. “Ngoài _ta_ ra không ai chữa được ngọc trai ốm hay trả lại màu lam cho ngọc lam. Ta chịu là opal thì—thằng ngốc nào cũng chữa được opal—nhưng ngọc trai ốm thì chỉ có ta. Giả sử ta chết! Khi ấy sẽ chẳng còn ai... Ồ không! _Cậu_ chẳng làm gì được với châu báu đâu. Một ngày kia, cậu hiểu đôi chút về Ngọc Lam là đủ lắm rồi.”
Ông đi tới cuối hàng hiên để rót đầy chiếc vò đất sét xốp, nặng trĩu từ bình lọc.
“Cậu muốn uống không?”
Kim gật đầu. Cách đó mười lăm bộ, Lurgan Sahib đặt một tay lên chiếc vò. Ngay khoảnh khắc sau, nó đã đứng bên khuỷu tay Kim, nước đầy chỉ cách miệng nửa inch—tấm vải trắng chỉ lộ ra một nếp nhăn nhỏ ở chỗ chiếc vò trượt tới.
“Wah!” Kim thốt lên, kinh ngạc tột độ. “Đúng là pháp thuật.” Nụ cười của Lurgan Sahib cho thấy lời khen đã trúng đích.
“Ném nó trở lại đây.”
“Nó sẽ vỡ mất.”
“Ta bảo, ném nó trở lại.”
Kim ném đại. Chiếc vò rơi hụt và vỡ tan thành năm mươi mảnh, nước nhỏ qua những tấm ván thô của hàng hiên.
“Tôi đã bảo nó sẽ vỡ mà.”
“Không sao. Nhìn nó đi. Nhìn mảnh lớn nhất ấy.”
Mảnh ấy nằm đó, nước lấp lánh trong lòng cong, tựa một ngôi sao trên sàn. Kim chăm chú nhìn. Lurgan Sahib nhẹ nhàng đặt một tay lên gáy cậu, vuốt hai ba lượt và thì thầm: “Nhìn đi! Nó sẽ sống lại, từng mảnh một. Trước hết mảnh lớn sẽ tự nối với hai mảnh khác bên phải và bên trái—bên phải và bên trái. Nhìn đi!”
Dù để cứu mạng mình, Kim cũng không thể quay đầu. Cái chạm nhẹ giữ cậu như trong gọng kìm, còn máu chạy khắp người gây cảm giác ran ran dễ chịu. Nơi trước kia có ba mảnh vò giờ chỉ còn một mảnh lớn, và phía trên chúng là đường nét lờ mờ của toàn bộ chiếc vò. Cậu có thể nhìn xuyên qua nó thấy hàng hiên, nhưng theo mỗi nhịp mạch đập, nó lại dày và tối thêm. Thế nhưng cái vò—ý nghĩ đến chậm biết bao!—cái vò đã vỡ tan ngay trước mắt cậu. Một làn lửa châm chích khác chạy dọc gáy khi Lurgan Sahib dịch bàn tay.
“Nhìn đi! Nó đang thành hình,” Lurgan Sahib nói.
Tới lúc ấy Kim vẫn suy nghĩ bằng tiếng Hindi, nhưng một cơn run ập đến; với nỗ lực của người bơi trước đàn cá mập tung nửa người khỏi mặt nước, tâm trí cậu bật lên từ bóng tối đang nuốt chửng nó và nương náu vào—bảng cửu chương bằng tiếng Anh!
“Nhìn đi! Nó đang thành hình,” Lurgan Sahib thì thầm.
Cái vò đã bị smashed—phải, smashed—cậu nhất định không nghĩ đến từ bản xứ kia—mà là smashed—thành năm mươi mảnh; hai lần ba là sáu, ba lần ba là chín, bốn lần ba là mười hai. Cậu tuyệt vọng bám lấy lời đọc lặp đi lặp lại. Đường nét mờ ảo của chiếc vò tan đi như sương sau khi dụi mắt. Các mảnh vỡ vẫn ở đó; nước đổ vẫn ở đó, đang khô dần dưới nắng; qua những khe ván hàng hiên hiện ra bức tường nhà màu trắng phía dưới, kẻ thành từng sọc—và ba lần mười hai là ba mươi sáu!
“Nhìn đi! Nó có đang thành hình không?” Lurgan Sahib hỏi.
“Nhưng nó đã bị smashed—smashed rồi,” cậu hổn hển—suốt nửa phút qua Lurgan Sahib vẫn khe khẽ lẩm nhẩm. Kim giật đầu sang bên. “Nhìn đi! _Dekho!_ Nó vẫn ở đó như trước kia.”
“Nó vẫn ở đó như trước kia,” Lurgan nói, chăm chú quan sát Kim trong lúc cậu xoa gáy. “Nhưng trong bao nhiêu người, cậu là người đầu tiên từng nhìn thấy nó đúng như thế.” Ông lau vầng trán rộng.
“Đó cũng là pháp thuật sao?” Kim nghi ngờ hỏi. Cảm giác ran ran đã rời khỏi huyết quản; cậu thấy mình tỉnh táo khác thường.
“Không, đó không phải pháp thuật. Chỉ là để xem một viên ngọc có—tì vết hay không. Đôi khi những viên ngọc rất quý sẽ vỡ tung thành từng mảnh nếu một người cầm chúng trong tay và biết đúng cách. Vì thế phải cẩn thận trước khi gắn chúng. Nói ta nghe, cậu có thấy hình chiếc vò không?”
“Trong chốc lát. Nó bắt đầu mọc lên từ mặt đất như một bông hoa.”
“Rồi cậu làm gì? Ý ta là, cậu đã nghĩ thế nào?”
“Ồ! Tôi biết nó đã vỡ, cho nên, tôi nghĩ, tôi đã nghĩ như thế—và nó vẫn vỡ.”
“Hừm! Trước đây có ai từng làm thứ pháp thuật giống vậy với cậu chưa?”
“Nếu từng có,” Kim nói, “ông nghĩ tôi sẽ để nó xảy ra lần nữa sao? Tôi sẽ chạy trốn.”
“Và giờ cậu không sợ—hử?”
“Bây giờ thì không.”
Lurgan Sahib nhìn cậu kỹ hơn bao giờ hết. “Ta sẽ hỏi Mahbub Ali—không phải bây giờ, mà một ngày nào đó,” ông lẩm bẩm. “Ta hài lòng về cậu—phải; mà cũng không hài lòng về cậu. Cậu là người đầu tiên từng tự cứu được mình. Giá ta biết điều gì đã... Nhưng cậu nói đúng. Cậu không nên kể chuyện đó—ngay cả với ta.”
Ông quay vào vùng tranh tối tranh sáng của cửa hàng và ngồi xuống bên bàn, khe khẽ xoa hai tay. Một tiếng nức nở khàn nhỏ vang lên sau chồng thảm. Đó là đứa trẻ Hindu vẫn ngoan ngoãn quay mặt vào tường. Đôi vai gầy rung lên vì đau khổ.
“Chà! Nó ghen, ghen lắm. Ta tự hỏi liệu nó có lại tìm cách bỏ độc vào bữa sáng của ta, khiến ta phải nấu hai lần không.”
“_Kubbee_—_kubbee nahin,_” câu trả lời đứt quãng vọng ra.
“Và liệu nó có giết cậu bé kia không?”
“_Kubbee—kubbee nahin._” (Không bao giờ—không bao giờ. Không!)
“_Cậu_ nghĩ nó sẽ làm gì?” Ông đột ngột quay sang Kim.
“Ồ! Tôi không biết. Có lẽ hãy thả nó ra. Tại sao nó muốn đầu độc ông?”
“Vì nó quá yêu quý ta. Giả sử cậu yêu quý một người, rồi cậu thấy một kẻ khác đến, và người cậu yêu quý lại thích kẻ ấy hơn thích cậu, cậu sẽ làm gì?”
Kim suy nghĩ. Lurgan chậm rãi nhắc lại câu ấy bằng tiếng bản xứ.
“Tôi sẽ không đầu độc người kia,” Kim trầm ngâm nói, “nhưng tôi sẽ đánh thằng bé ấy—_nếu_ nó cũng yêu quý người của tôi. Song trước hết, tôi sẽ hỏi xem điều đó có thật không.”
“À! Nó tưởng ai cũng phải yêu quý ta.”
“Vậy tôi nghĩ nó là đồ ngốc.”
“Ngươi nghe chưa?” Lurgan Sahib nói với đôi vai đang run rẩy. “Con trai Sahib bảo ngươi là thằng ngốc con. Ra đây, và lần sau lòng dạ bất an thì đừng dùng thạch tín trắng một cách lộ liễu đến thế. Hôm ấy hẳn Quỷ Dasim là chúa tể khăn trải bàn nhà ta! Nó có thể làm ta phát bệnh đấy, con ạ, rồi một kẻ xa lạ sẽ trông coi châu báu. Lại đây!”
Đứa trẻ, mắt nặng trĩu vì khóc quá nhiều, bò ra từ sau kiện hàng rồi cuồng nhiệt phủ phục dưới chân Lurgan Sahib, bộc lộ nỗi hối hận quá đỗi mãnh liệt đến ngay cả Kim cũng phải xúc động.
“Con sẽ nhìn vào những vũng mực—con sẽ trung thành canh giữ châu báu! Ôi, Cha con, Mẹ con, hãy đuổi _nó_ đi!” Nó hất gót chân trần về phía sau để chỉ Kim.
“Chưa đâu—chưa đâu. Ít lâu nữa nó sẽ lại đi. Nhưng giờ nó đang học—ở một _madrissah_ mới—và ngươi sẽ làm thầy nó. Hãy đấu Trò Chơi Châu Báu với nó. Ta sẽ ghi điểm.”
Đứa trẻ lập tức lau khô nước mắt rồi chạy vụt ra sau cửa hàng, từ đó trở lại với một chiếc khay đồng.
“Đưa con!” nó nói với Lurgan Sahib. “Hãy để chính tay ngài lấy chúng ra, kẻo nó bảo con đã biết chúng từ trước.”
“Từ từ—từ từ,” người đàn ông đáp, rồi từ ngăn kéo dưới bàn, ông trút nửa nắm những món lặt vặt kêu lanh canh vào khay.
“Nào,” đứa trẻ nói, phe phẩy một tờ báo cũ. “Cứ nhìn bao lâu tùy ý, người lạ. Hãy đếm và, nếu cần, cầm lên xem. Với _ta_, nhìn một lần là đủ.” Nó kiêu hãnh quay lưng lại.
“Nhưng trò chơi thế nào?”
“Khi ngươi đã đếm, đã cầm xem và chắc mình nhớ được tất cả, ta sẽ lấy tờ giấy này che chúng lại, rồi ngươi phải đọc bản kê cho Lurgan Sahib. _Ta_ sẽ viết bản của ta.”
“Ồ!” Bản năng ganh đua thức dậy trong lồng ngực Kim. Cậu cúi xuống chiếc khay. Trên đó chỉ có mười lăm viên đá. “Dễ thôi,” cậu nói sau một phút. Đứa trẻ phủ tờ báo lên những viên ngọc lấp lánh rồi viết nguệch ngoạc vào một cuốn sổ kế toán bản xứ.
“Dưới tờ giấy ấy có năm viên đá xanh lam—một viên lớn, một viên nhỏ hơn và ba viên nhỏ,” Kim nói dồn dập. “Có bốn viên xanh lục, một viên có lỗ; có một viên vàng nhìn xuyên qua được, và một viên giống cán tẩu. Có hai viên đỏ, và—và—tôi đếm được mười lăm, nhưng đã quên mất hai viên. Không! Cho tôi thêm thời gian. Một viên bằng ngà, nhỏ và hơi nâu; còn—còn—cho tôi thêm thời gian...”
“Một—hai”—Lurgan Sahib đếm cho cậu đến mười. Kim lắc đầu.
“Nghe bản kê của ta đây!” đứa trẻ bật nói, giọng rung lên vì cười. “Trước hết là hai viên saphia có tì vết—một viên nặng hai ruttee và một viên bốn, theo ta đoán. Viên saphia bốn ruttee bị mẻ ở cạnh. Có một viên ngọc lam Turkestan, trơn với những đường vân đen, và hai viên có khắc chữ—một viên mang Danh của Thượng đế thếp vàng; viên kia nứt ngang, vì lấy ra từ một chiếc nhẫn cổ, ta không đọc được. Vậy là đủ năm viên xanh lam. Có bốn viên ngọc lục bảo tì vết, nhưng một viên được khoan ở hai chỗ, còn một viên có chạm khắc đôi chút—”
“Trọng lượng?” Lurgan Sahib thản nhiên hỏi.
“Ba—năm—năm—và bốn ruttee, theo con đoán. Có một mẩu hổ phách ống cũ màu phơn phớt lục và một viên hoàng ngọc mài từ châu Âu. Có một viên hồng ngọc Miến Điện nặng hai ruttee, không tì vết, và một viên hồng ngọc balas có tì vết, nặng hai ruttee. Có một miếng ngà Trung Hoa chạm hình con chuột đang mút trứng; và cuối cùng—à ha!—một viên pha lê to bằng hạt đậu đặt trên một lá vàng.”
Kể xong, nó vỗ tay.
“Nó là thầy cậu,” Lurgan Sahib mỉm cười nói.
“Hừ! Nó biết tên các loại đá,” Kim đỏ mặt nói. “Thử lại đi! Bằng những vật thông thường mà cả nó lẫn tôi đều biết.”
Họ lại chất lên khay những thứ linh tinh nhặt trong cửa hàng, thậm chí cả nhà bếp; lần nào đứa trẻ cũng thắng, khiến Kim kinh ngạc.
“Bịt mắt ta đi—hãy cho ta sờ một lần bằng ngón tay, và ngay _cả khi ấy_, dù ngươi mở mắt, ta vẫn sẽ bỏ ngươi lại phía sau,” nó thách thức.
Kim giậm chân bực tức khi thằng bé thực hiện được lời khoe khoang.
“Nếu là người—hoặc ngựa,” cậu nói, “tôi sẽ làm khá hơn. Chơi với nhíp, dao và kéo thế này vụn vặt quá.”
“Học trước—dạy sau,” Lurgan Sahib nói. “Nó có phải thầy cậu không?”
“Quả thật. Nhưng làm cách nào vậy?”
“Làm đi làm lại thật nhiều lần cho đến khi hoàn hảo—vì việc ấy đáng làm.”
Thằng bé Hindu, đang phấn khởi tột độ, thực sự vỗ vỗ lưng Kim.
“Đừng tuyệt vọng,” nó nói. “Chính ta sẽ dạy ngươi.”
“Còn ta sẽ bảo đảm ngươi được dạy dỗ tử tế,” Lurgan Sahib nói, vẫn bằng tiếng bản xứ, “vì ngoài thằng bé của ta đây—thật ngốc khi nó đi mua nhiều thạch tín trắng đến thế, trong khi nếu nó hỏi thì ta đã có thể cho nó—ngoài thằng bé của ta đây, lâu lắm rồi ta chưa gặp người nào đáng để dạy hơn ngươi. Mà còn mười ngày nữa ngươi mới có thể trở lại Lucknao, nơi người ta chẳng dạy gì—với cái giá đắt đỏ. Ta nghĩ chúng ta sẽ là bạn.”
Đó là mười ngày điên rồ nhất, nhưng Kim thích thú đến mức không buồn ngẫm nghĩ về sự điên rồ ấy. Buổi sáng họ chơi Trò Chơi Châu Báu—khi thì với đá quý thật, khi với những đống gươm và dao găm, khi với ảnh chụp người bản xứ. Suốt các buổi chiều, cậu và thằng bé Hindu đứng gác trong cửa hàng, lặng câm ngồi sau một kiện thảm hay tấm bình phong, quan sát vô số vị khách hết sức kỳ lạ của ông Lurgan. Có những Rajah nhỏ, đoàn tùy tùng ho khục khặc ngoài hàng hiên, đến mua các món kỳ thú—như máy hát và đồ chơi máy. Có các quý bà tìm mua vòng cổ, và những người đàn ông—Kim thấy vậy, nhưng có lẽ trí óc cậu đã hư hỏng vì được rèn luyện từ nhỏ—đi tìm các quý bà; những người bản xứ từ các triều đình độc lập và phiên thuộc, bề ngoài đến để sửa vòng cổ đứt—những dòng sông ánh sáng tuôn tràn trên mặt bàn—nhưng mục đích thật dường như là vay tiền cho các Maharanee đang nổi giận hoặc những Rajah trẻ tuổi. Có các Babu mà Lurgan Sahib nói chuyện bằng giọng nghiêm khắc, đầy quyền uy, nhưng cuối mỗi cuộc gặp ông lại trao cho họ tiền đồng bạc và giấy bạc. Thỉnh thoảng có những nhóm người bản xứ mặc áo dài, dáng vẻ như phường tuồng, tụ họp để bàn siêu hình học bằng tiếng Anh và tiếng Bengali, khiến ông Lurgan hết sức thích thú. Ông luôn quan tâm đến các tôn giáo. Cuối ngày, Kim và đứa trẻ Hindu—tên nó thay đổi tùy hứng Lurgan—phải tường thuật chi tiết mọi điều đã thấy và nghe: nhận xét của chúng về tính cách từng người, thể hiện trên nét mặt, lời nói và cung cách, cùng suy đoán về mục đích thực sự của khách. Sau bữa tối, sở thích của Lurgan Sahib chuyển nhiều hơn sang trò có thể gọi là hóa trang, một trò ông quan tâm theo cách hết sức bổ ích. Ông vẽ mặt tài tình phi thường; chỉ một chấm cọ chỗ này và một đường nét chỗ kia là biến đổi đến không thể nhận ra. Cửa hàng đầy đủ mọi kiểu y phục và khăn xếp; Kim lần lượt được mặc thành một thiếu niên Mohammedan con nhà gia thế, một người bán dầu, và có lần—đó là một buổi tối vui sướng—thành con trai một địa chủ Oudh trong bộ đại lễ phục hoàn chỉnh nhất. Lurgan Sahib có cặp mắt diều hâu, phát hiện được lỗi nhỏ nhất trong màn hóa trang; nằm trên chiếc trường kỷ gỗ tếch đã mòn, ông có thể giảng liền nửa giờ về cách đẳng cấp này hay đẳng cấp kia nói năng, bước đi, ho, nhổ, hắt hơi như thế nào, và bởi những cái “thế nào” chẳng quan trọng mấy trên đời này, cả lý do “tại sao” của mọi sự. Đứa trẻ Hindu chơi trò này vụng về. Tâm trí nhỏ bé ấy, sắc bén như mũi băng khi phải kê đếm châu báu, không sao uốn mình để nhập vào tâm hồn kẻ khác; nhưng một con quỷ trong Kim thức dậy và reo hát vui sướng khi cậu khoác lên những bộ y phục đổi thay, đồng thời thay đổi cả lời ăn tiếng nói và điệu bộ.
Một buổi tối, vì quá phấn khích, cậu xung phong biểu diễn cho Lurgan Sahib xem các môn đồ của một giáo phái _faquir_ nọ—những người quen cũ ở Lahore—xin của bố thí bên đường ra sao; và cậu sẽ dùng thứ lời lẽ nào với một người Anh, với một nông dân Punjabi đang đi hội, và với một phụ nữ không che mặt. Lurgan Sahib cười dữ dội, rồi bảo Kim cứ giữ nguyên như vậy, bất động suốt nửa giờ—ngồi xếp bằng, mình bôi tro, mắt dại điên—trong phòng sau. Hết khoảng thời gian ấy, một Babu đồ sộ, béo phì bước vào, đôi chân mang tất rung lên vì mỡ; Kim liền trút lên ông ta một trận trêu chọc kiểu đầu đường. Lurgan Sahib—điều này khiến Kim bực mình—chăm chú nhìn Babu chứ không nhìn màn diễn.
“Tôi nghĩ,” Babu nặng nề nói, châm một điếu thuốc, “theo ý kiến tôi thì đây là một màn biểu diễn hết sức phi thường và hữu hiệu. Nếu ngài không báo trước, tôi hẳn đã cho rằng—rằng—rằng ngài đang giễu cợt tôi. Bao lâu nữa cậu ta có thể trở thành người đo xích hữu hiệu một cách xấp xỉ? Bởi vì _khi ấy_ tôi sẽ làm phiếu trưng dụng cậu ta.”
“Đó là điều nó phải học ở Lucknow.”
“Vậy hãy ra lệnh cho cậu ta phải mau-mẹ-kiếp-lên. Chúc ngủ ngon, Lurgan.” Babu đu đưa đi ra với dáng một con bò mắc lầy.
Khi họ kiểm lại danh sách khách trong ngày, Lurgan Sahib hỏi Kim xem cậu nghĩ người đàn ông ấy có thể là ai.
“Thượng đế biết!” Kim vui vẻ nói. Giọng ấy suýt nữa có thể đánh lừa Mahbub Ali, nhưng hoàn toàn thất bại trước vị thầy thuốc chữa ngọc trai ốm.
“Đúng. Thượng đế, Người biết; nhưng ta muốn biết cậu nghĩ gì.”
Kim liếc xéo người bên cạnh, đôi mắt ông có một cách buộc kẻ khác phải nói thật.
“Tôi—tôi nghĩ ông ta sẽ cần tôi khi tôi ra trường, nhưng”—cậu hạ giọng tâm tình khi Lurgan Sahib gật đầu tán thưởng—“tôi không hiểu làm sao _ông ta_ có thể mặc nhiều kiểu y phục và nói nhiều thứ tiếng.”
“Sau này ngươi sẽ hiểu nhiều điều. Ông ta là người viết chuyện cho một vị Đại tá. Danh giá của ông ta chỉ lớn ở Simla, và điều đáng chú ý là ông ta không có tên, chỉ có một con số và một chữ cái—đó là tục lệ trong bọn ta.”
“Vậy đầu ông ta cũng được treo giá—như Mah—như tất cả những người khác sao?”
“Chưa; nhưng nếu một cậu bé đang ngồi đây đứng lên và đi—nhìn kìa, cửa đang mở!—tới một căn nhà có hàng hiên sơn đỏ, phía sau nơi từng là nhà hát cũ ở Lower Bazar, rồi thì thầm qua cửa chớp: ‘Hurree Chunder Mookerjee đã mang tin xấu tháng trước’, thì cậu bé ấy có thể mang về cả một thắt lưng đầy rupee.”
“Bao nhiêu?” Kim hỏi ngay.
“Năm trăm—một nghìn—bao nhiêu tùy nó đòi.”
“Tốt. Và một cậu bé như thế có thể sống được bao lâu sau khi báo tin?” Cậu tươi cười nhìn thẳng vào tận bộ râu của Lurgan Sahib.
“À! Điều ấy phải nghĩ thật kỹ. Có lẽ nếu cực kỳ khôn khéo, nó có thể sống hết ngày—nhưng không qua đêm. Tuyệt nhiên không qua được đêm.”
“Vậy lương của Babu là bao nhiêu, nếu đầu ông ta được treo giá cao đến thế?”
“Tám mươi—có lẽ một trăm—có lẽ một trăm năm mươi rupee; nhưng lương là phần nhỏ nhất của công việc. Thỉnh thoảng, Thượng đế cho những con người ra đời—và ngươi là một trong số đó—mang lòng khao khát đi đây đi đó, bất chấp hiểm nguy tính mạng để dò tìm tin tức—hôm nay có thể là chuyện ở nơi xa xôi, ngày mai là một ngọn núi bí ẩn, ngày kế tiếp lại là mấy kẻ gần bên đã làm chuyện ngu xuẩn chống lại Nhà nước. Những tâm hồn ấy rất hiếm; và trong số ít ỏi ấy, hạng ưu tú nhất không quá mười người. Ta xếp Babu vào mười người này, đó mới là điều kỳ lạ. Vậy công việc khiến trái tim một người Bengali hóa gan đồng phải vĩ đại và đáng khao khát đến mức nào!”
“Đúng. Nhưng ngày tháng trôi quá chậm đối với tôi. Tôi vẫn còn là một cậu bé, và mới chỉ hai tháng trước tôi học viết Angrezi. Ngay bây giờ tôi vẫn chưa đọc thạo. Còn bao năm, bao năm, bao năm dài nữa tôi mới có thể làm nổi một người đo xích.”
“Hãy kiên nhẫn, Bạn của Cả Thế Gian”—Kim giật mình khi nghe danh xưng ấy. “Ước gì ta có được vài năm trong số những năm khiến ngươi bực bội đến thế. Ta đã thử thách ngươi theo vài cách nhỏ. Điều này sẽ không bị quên khi ta làm báo cáo với Đại tá Sahib.” Rồi đột nhiên chuyển sang tiếng Anh với một tràng cười trầm:
“Có trời! O’Hara, tôi nghĩ trong cậu có rất nhiều tố chất; nhưng cậu không được kiêu ngạo và không được nói lung tung. Cậu phải trở lại Lucknow, làm một cậu bé ngoan, chăm lo đèn sách như người Anh vẫn nói; và có lẽ, kỳ nghỉ tới, nếu cậu thích, cậu có thể quay lại với tôi!” Mặt Kim xị xuống. “Ồ, ý tôi là _nếu_ cậu thích. Tôi biết cậu muốn đi đâu.”
Bốn ngày sau, người ta đặt một chỗ cho Kim cùng chiếc rương nhỏ của cậu ở phía sau một cỗ tonga đi Kalka. Bạn đồng hành của cậu là Babu to như cá voi; ông quấn quanh đầu một tấm khăn choàng có tua, co chân trái béo núc mang tất mắt lưới xuống dưới người, run rẩy và càu nhàu trong cái lạnh buổi sớm.
“Làm sao người này lại là một trong số _chúng ta_?” Kim nghĩ, ngắm tấm lưng nhão như thạch khi họ xóc nảy trên đường; ý nghĩ ấy đưa cậu vào những giấc mơ ban ngày hết sức thú vị. Lurgan Sahib đã cho cậu năm rupee—một món tiền huy hoàng—cùng lời bảo đảm sẽ che chở nếu cậu chịu làm việc. Không như Mahbub, Lurgan Sahib nói cực kỳ rõ về phần thưởng dành cho sự phục tùng, và Kim lấy làm mãn nguyện. Giá như cậu cũng có thể hưởng cái oai của một chữ cái và một con số—cùng một cái giá treo trên đầu—như Babu! Một ngày kia cậu sẽ có tất cả những thứ ấy, thậm chí hơn thế nữa. Một ngày kia cậu có thể gần vĩ đại bằng Mahbub Ali! Cuộc truy tìm của cậu sẽ trải trên những mái nhà của nửa cõi Ấn Độ; cậu sẽ bám theo các ông Vua và quan Thượng thư, như ngày trước đã từng vì Mahbub Ali mà bám theo các _vakil_ và bọn cò luật sư khắp thành Lahore. Trong lúc chờ đợi, trước mắt cậu là thực tế hiện tại, chẳng hề khó chịu chút nào: trường St Xavier’s. Sẽ có những đứa mới để cậu hạ cố chuyện trò, và những chuyện phiêu lưu ngày nghỉ để nghe. Martin con, con trai chủ đồn điền trà ở Manipur, từng khoe sẽ mang súng trường đi đánh bọn săn đầu người.
Chuyện ấy có thể xảy ra, nhưng chắc chắn Martin con chưa từng bị một vụ pháo hoa nổ thổi bay qua nửa sân trước cung điện Patiala; cũng chưa từng... Kim bắt đầu tự kể lại câu chuyện về những cuộc phiêu lưu của mình trong ba tháng qua. Nếu được phép thuật lại, cậu có thể làm cả trường St Xavier’s tê liệt—ngay đến những học sinh lớn nhất đã biết cạo râu. Nhưng dĩ nhiên chuyện ấy tuyệt nhiên không thể. Đúng lúc, đầu cậu sẽ được treo giá như Lurgan Sahib đã bảo; còn nếu bây giờ cậu ba hoa ngu xuẩn, không những cái giá ấy sẽ chẳng bao giờ được đặt, mà Đại tá Creighton còn ruồng bỏ cậu—để cậu lại cho cơn thịnh nộ của Lurgan Sahib và Mahbub Ali xử trí—trong quãng đời ngắn ngủi còn sót lại.
“Vậy là ta sẽ mất Delhi chỉ vì một con cá,” ấy là triết lý tục ngữ của cậu. Cậu cần quên kỳ nghỉ của mình đi (niềm vui bịa ra những cuộc phiêu lưu tưởng tượng thì vẫn luôn còn đó) và, như Lurgan Sahib đã nói, phải làm việc. Trong tất cả những đứa trẻ đang vội vã trở về St Xavier’s, từ Sukkur giữa miền cát đến Galle dưới bóng cọ, không đứa nào đầy đức hạnh bằng Kimball O’Hara, đang xóc nảy xuống Umballa phía sau Hurree Chunder Mookerjee, người mang tên R.17 trong sổ sách của một ban thuộc Sở Khảo sát Dân tộc học.
Và nếu cần thêm một ngọn roi thúc giục, Babu đã cung cấp nó. Sau bữa ăn khổng lồ tại Kalka, ông nói không ngừng. Kim sắp đi học ư? Vậy ông, một Thạc sĩ Đại học Calcutta, sẽ giải thích những lợi ích của giáo dục. Chăm chỉ học tiếng Latin và _Excursion_ của Wordsworth thì sẽ kiếm được điểm (đối với Kim, hết thảy chẳng khác gì tiếng Hy Lạp). Tiếng Pháp cũng thiết yếu, mà muốn học thứ tiếng Pháp hay nhất thì nên đến Chandernagore, cách Calcutta vài dặm. Hơn nữa, một người có thể tiến xa, như chính ông đã tiến xa, nhờ chuyên tâm nghiêm ngặt vào những vở kịch tên là _Lear_ và _Julius Cæsar_, cả hai đều rất được giám khảo ưa chuộng. _Lear_ không đầy những điển tích lịch sử như _Julius Cæsar_; sách giá bốn anna, nhưng có thể mua cũ ở Bow Bazar với hai anna. Quan trọng hơn cả Wordsworth, hay những tác giả lỗi lạc Burke và Hare, là nghệ thuật và khoa học trắc lượng. Một cậu bé thi đỗ những môn này—nhân tiện nói thêm, các môn ấy không có sách luyện thi cấp tốc—chỉ cần đi bộ khắp một vùng với la bàn, ống thủy chuẩn và con mắt chuẩn xác, là có thể mang về một bức tranh của vùng đất ấy, bán được những món tiền đồng bạc lớn. Nhưng vì đôi khi mang theo xích đo là việc bất tiện, một cậu bé nên biết chính xác độ dài bước chân của mình, để khi bị tước mất những thứ Hurree Chunder gọi là trợ cụ ngoại lai, cậu vẫn có thể bước ra đúng khoảng cách. Theo kinh nghiệm của Hurree Chunder, để đếm hàng nghìn bước chân, không gì quý hơn một tràng hạt tám mươi mốt hoặc một trăm lẻ tám hạt, bởi “nó có thể chia và chia nhỏ thành nhiều bội số và ước số”. Qua những tràng tiếng Anh dồn dập như đạn, Kim nắm được chiều hướng chung của câu chuyện và thấy vô cùng thích thú. Đây là một nghề mới mà người ta có thể cất trong đầu; và nhìn vào thế giới rộng lớn đang mở ra trước mắt, dường như một người càng biết nhiều thì càng có lợi.
Sau khi nói suốt một giờ rưỡi, Babu bảo: “Tôi hy vọng một ngày nào đó được hưởng quan hệ công vụ với cậu. _Ad interim_, nếu có thể được tha thứ cho cách diễn đạt ấy, tôi xin tặng cậu chiếc hộp trầu này, một vật phẩm có giá trị cao, mới bốn năm trước chỉ khiến tôi tốn hai rupee.” Đó là một vật rẻ tiền bằng đồng thau, hình trái tim, có ba ngăn để đựng cau, vôi và lá _pan_ muôn thuở; nhưng lúc này nó chứa đầy những lọ thuốc viên nhỏ.
“Đây là phần thưởng công trạng cho màn biểu diễn trong nhân vật vị thánh nhân ấy. Cậu thấy đấy, cậu còn quá trẻ nên tưởng mình sẽ sống mãi và không chăm sóc thân thể. Đổ bệnh giữa công vụ là một phiền toái lớn. Bản thân tôi rất mê dược phẩm, chúng cũng tiện dùng để chữa cho người nghèo. Đây là thuốc tốt của Sở—quinine và các thứ. Tôi tặng cậu làm kỷ niệm. Giờ thì tạm biệt. Tôi có công việc riêng cấp bách ngay bên đường này.”
Ông tuột xuống không một tiếng động như mèo trên đường Umballa, gọi một chiếc xe bò đi ngang rồi lọc cọc đi mất, để Kim nghẹn lời, ngồi xoay xoay hộp trầu bằng đồng trong tay.
Hồ sơ học hành của một cậu bé chẳng khiến mấy ai quan tâm ngoài cha mẹ cậu, mà như bạn đã biết, Kim là trẻ mồ côi. Trong sổ sách trường St Xavier’s in Partibus có ghi rằng cuối mỗi học kỳ, báo cáo tiến bộ của Kim được gửi đến Đại tá Creighton và Cha Victor, rồi tiền học của cậu được gửi tới đầy đủ từ tay hai người. Cũng trong những cuốn sổ ấy còn ghi cậu tỏ ra có năng khiếu lớn về toán học cũng như vẽ bản đồ, và nhờ thành tích ấy đã giành một phần thưởng (_Cuộc đời Huân tước Lawrence_, bìa da bê vân cây, hai tập, chín rupee tám anna); cùng học kỳ đó, cậu chơi trong đội mười một người của St Xavier’s đấu với Alighur Mohammedan College, khi tuổi được mười bốn năm mười tháng. Cũng vào khoảng ấy cậu được chủng đậu lại (từ đó ta có thể suy ra Lucknow đã xảy ra một trận dịch đậu mùa khác). Những dòng ghi bằng bút chì bên mép một sổ điểm danh cũ cho biết cậu bị phạt nhiều lần vì “trò chuyện với những kẻ không đứng đắn”, và dường như có lần bị trừng phạt nặng vì “vắng mặt một ngày để đi cùng một tên ăn mày đường phố”. Ấy là khi cậu trèo qua cổng, nài nỉ lạt-ma suốt một ngày dọc bờ sông Gumti hãy cùng mình lên Đường vào kỳ nghỉ tới—trong một tháng—dù chỉ một tuần ngắn ngủi; nhưng lạt-ma nghiêm mặt cứng như đá lửa, quả quyết thời cơ chưa đến. Ông già nói khi hai thầy trò cùng ăn bánh rằng việc của Kim là thu nhận mọi sự thông thái của các Sahib, rồi sẽ tính sau. Hẳn Bàn tay Hữu nghị bằng cách nào đó đã đẩy lùi Roi Tai ương, bởi sáu tuần sau, Kim dường như đã thi đỗ môn trắc địa sơ cấp “với thành tích xuất sắc”, khi tuổi được mười lăm năm tám tháng. Từ ngày ấy, hồ sơ im bặt. Tên cậu không xuất hiện trong danh sách những người năm đó dự tuyển vào ngạch cấp dưới của Sở Trắc địa Ấn Độ, nhưng bên cạnh có ghi mấy chữ “rời trường vì được bổ nhiệm”.
Trong ba năm ấy, lạt-ma nhiều lần dạt về Đền các Tirthankara ở Benares, gầy hơn đôi chút và vàng thêm một sắc, nếu điều ấy còn có thể, nhưng vẫn hiền từ và không vương ô nhiễm như xưa. Khi thì ông từ miền Nam trở về—từ phía nam Tuticorin, nơi những con thuyền lửa kỳ diệu đi đến Ceylon, ở đó có các tu sĩ biết tiếng Pali; khi thì từ miền Tây xanh ướt và một nghìn ống khói nhà máy bông vây quanh Bombay; và có lần từ miền Bắc, nơi ông đã quay ngược tám trăm dặm chỉ để trò chuyện một ngày với Người Giữ Hình Tượng trong Nhà Kỳ Quan. Ông sẽ sải bước về tịnh thất bằng đá cẩm thạch chạm khắc, mát lạnh—các tu sĩ trong Đền đối đãi tử tế với ông già—rửa sạch bụi đường, cầu nguyện, rồi lên đường đi Lucknow trong toa hạng ba, giờ đã quen thuộc với đường sắt. Khi ông trở về, như người bạn Tầm Đạo của ông chỉ cho vị chủ tế thấy, điều đáng chú ý là trong một thời gian ông không còn than tiếc dòng Sông của mình hay vẽ nên những bức tranh kỳ diệu về Bánh xe Luân hồi, mà thích nói về vẻ đẹp và sự thông thái của một _đệ tử_ bí ẩn nào đó, người chưa từng được bất cứ ai trong Đền nhìn thấy. Phải, ông đã lần theo dấu chân Đức Thế Tôn khắp cõi Ấn Độ. (Vị Quản thủ hiện vẫn giữ một bản tường thuật hết sức kỳ diệu về những cuộc phiêu bạt và suy tưởng của ông.) Trong đời chẳng còn việc gì ngoài tìm cho được Sông Mũi Tên. Nhưng trong mộng ông được báo rằng không thể tiến hành việc ấy với bất cứ hy vọng thành công nào, trừ phi người tìm kiếm có bên mình vị _đệ tử_ duy nhất đã được chỉ định để đưa sự việc tới kết cục tốt đẹp, lại tinh thông trí tuệ lớn lao—thứ trí tuệ mà những Người Giữ Hình Tượng tóc bạc sở hữu. Chẳng hạn (đến đây bầu thuốc hít được lấy ra, và các tu sĩ Jain hiền hậu vội im lặng):
“Thuở xưa, rất xưa, khi Devadatta làm Vua Benares—tất cả hãy lắng nghe _truyện Tiền thân (Jātaka)!_—một con voi từng bị thợ săn của nhà vua bắt giữ, và trước khi thoát ra, chân nó bị khóa trong một chiếc cùm sắt khủng khiếp. Lòng đầy căm hận và cuồng nộ, nó gắng tháo cùm, chạy ngược xuôi khắp rừng, cầu xin những voi anh em giật đứt nó. Từng con một dùng chiếc vòi khỏe mạnh thử sức rồi thất bại. Cuối cùng, chúng kết luận rằng không một sức mạnh thú vật nào có thể phá được vòng sắt. Trong một bụi rậm có một con voi con thuộc đàn vừa mới sinh, mình còn ướt đẫm hơi ẩm lúc lọt lòng, mới một ngày tuổi; mẹ nó đã chết. Quên đi nỗi đau của chính mình, con voi mang cùm nói: ‘Nếu ta không giúp con non bú sữa này, nó sẽ chết dưới chân chúng ta.’ Thế là nó đứng che trên con vật bé nhỏ, dùng chân làm trụ chống lại đàn voi đang xao động không yên; nó xin sữa của một con bò đức hạnh, và voi con lớn mạnh, còn con voi mang vòng sắt làm người dẫn đường và che chở cho nó. Mà đời một con voi—tất cả hãy lắng nghe _truyện Tiền thân (Jātaka)!_—phải qua ba mươi lăm năm mới đạt sức mạnh viên mãn; suốt ba mươi lăm mùa Mưa, con voi mang vòng sắt chăm nom con voi nhỏ, trong khi chiếc cùm không ngừng nghiến sâu vào thịt.”
“Rồi một ngày kia, con voi trẻ nhìn thấy mảnh sắt bị vùi một nửa, bèn quay sang con voi già hỏi: ‘Đây là gì?’ ‘Chính là nỗi khổ của ta,’ con voi đã nuôi nấng nó đáp. Con voi kia liền vươn vòi, trong một cái chớp mắt xóa bỏ chiếc vòng và nói: ‘Thời điểm đã định đã đến.’ Vậy là con voi đức hạnh, nhờ biết kiên nhẫn chờ đợi và làm những việc thiện lành, đã được giải thoát vào đúng thời điểm đã định bởi chính con voi non mà nó từng ghé lại chăm nom—tất cả hãy lắng nghe _truyện Tiền thân (Jātaka)!_ bởi con Voi là Ananda, còn con Voi Non phá vòng chẳng phải ai khác mà chính là Đức Thế Tôn...”
Rồi ông hiền từ lắc đầu, qua tràng hạt vẫn không ngừng lách cách mà chỉ ra con voi non ấy không vướng tội kiêu ngạo đến mức nào. Nó khiêm nhường như một _đệ tử_ trông thấy thầy mình ngồi trong bụi đất ngoài Cổng Học Vấn, bèn nhảy qua cổng (dù cổng đã khóa) và ôm thầy vào lòng trước thành phố bụng phưỡn kiêu căng. Phần thưởng của một người thầy như thế và một _đệ tử_ như thế sẽ phong phú biết bao khi tới lúc họ cùng nhau tìm kiếm giải thoát!
Lạt-ma đã nói như thế, đến rồi đi khắp Ấn Độ êm như cánh dơi. Một bà già lưỡi sắc trong ngôi nhà giữa những cây ăn quả phía sau Saharunpore tôn kính ông như người đàn bà tôn kính đấng tiên tri, nhưng phòng ông tuyệt nhiên không nằm trên tường thành. Ông thường ngồi trong một gian phòng thuộc sân trước, bên trên vọng tiếng bồ câu gù; còn bà gạt tấm mạng che mặt vô dụng sang bên, huyên thuyên về thần linh và yêu quái xứ Kulu, về những đứa cháu chưa ra đời, và về thằng nhãi miệng lưỡi tự do từng nói chuyện với bà ở trạm nghỉ. Có lần ông cũng một mình rời Đường Grand Trunk phía dưới Umballa, lạc tới đúng ngôi làng nơi vị tư tế từng tìm cách đánh thuốc mê ông; nhưng Trời lành che chở các lạt-ma đã dẫn ông lúc chạng vạng qua những cánh đồng, mải suy tưởng và chẳng mảy may nghi ngờ, tới trước cửa nhà Rissaldar. Ở đây suýt xảy ra một hiểu lầm nghiêm trọng, bởi người lính già hỏi ông tại sao Bạn của các Vì Sao mới đi qua lối ấy chỉ sáu ngày trước.
“Không thể nào,” lạt-ma nói. “Nó đã trở về với dân tộc của mình.”
“Năm đêm trước, nó ngồi trong góc kia kể cả trăm chuyện vui,” chủ nhà khăng khăng. “Đúng là nó biến mất hơi đột ngột lúc bình minh, sau khi nói chuyện ngu ngốc với cháu gái ta. Nó lớn nhanh lắm, nhưng vẫn chính là Bạn của các Vì Sao đã mang tin chiến tranh chính xác đến cho ta. Hai người chia tay rồi sao?”
“Phải—mà không,” lạt-ma đáp. “Chúng ta—chúng ta chưa hoàn toàn chia tay, nhưng thời cơ để cùng lên Đường chưa chín. Nó đang thu nhận trí tuệ ở một nơi khác. Chúng ta phải đợi.”
“Không sao—nhưng nếu không phải thằng bé ấy thì làm sao nó lại luôn miệng nói về ngài?”
“Nó nói những gì?” lạt-ma nôn nóng hỏi.
“Những lời ngọt ngào—hàng trăm nghìn lời—rằng ngài là cha, là mẹ nó, cùng đủ mọi chuyện như thế. Tiếc là nó không chịu phụng sự Nữ hoàng. Nó chẳng biết sợ.”
Tin này khiến lạt-ma kinh ngạc, bởi lúc ấy ông chưa biết Kim đã thành tâm tuân thủ đến mức nào bản giao ước lập với Mahbub Ali và buộc phải được Đại tá Creighton phê chuẩn...
“Không thể giữ con ngựa non khỏi Ván Cờ,” người buôn ngựa nói khi vị Đại tá chỉ ra rằng đi lang bạt khắp Ấn Độ vào kỳ nghỉ là chuyện vô lý. “Nếu không cho phép nó đi về tùy ý, nó sẽ coi lệnh cấm chẳng ra gì. Khi ấy ai bắt nổi nó? Đại tá Sahib, nghìn năm mới có một con ngựa sinh ra hợp với Ván Cờ như chú ngựa non của chúng ta. Mà chúng ta đang cần người.”