Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa — Chương 10: Tập I — Vòng hoa · Phần II — Vòng hoa · Chương III

Chương 10 / 23 · Bài review Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa

Hội nông dân ở Aker được dâng kính Thánh Margareta, và hằng năm mở hội vào ngày hai mươi tháng Bảy, tức lễ Thánh Margareta. Khi ấy, các anh em và chị em trong hội cùng con cái, khách khứa và gia nhân tụ họp tại nhà thờ Aker, dự thánh lễ trước bàn thờ Thánh Margareta; sau đó họ kéo đến hội quán nằm cạnh nhà dưỡng tế Hofvin; theo lệ, họ uống mừng ở đó suốt năm ngày.

Nhưng vì cả nhà thờ Aker lẫn nhà dưỡng tế Hofvin đều thuộc Nonneseter, hơn nữa nhiều nông dân ở Aker là tá điền của tu viện, nên dần thành lệ rằng viện mẫu cùng vài nữ tu cao niên phải ban vinh dự cho hội bằng cách đến dự cuộc uống mừng ngày đầu tiên. Những thiếu nữ chỉ vào tu viện để học hành chứ không định gia nhập hàng nữ tu cũng được phép đi theo và khiêu vũ vào buổi tối; vì thế, trong dịp lễ này họ phải mặc y phục riêng, không mặc áo tu viện.

Bởi vậy, tối trước lễ Thánh Margareta, khu nhà ngủ của các nữ tu trẻ hết sức bận rộn; những thiếu nữ sẽ đi dự hội lục lọi rương hòm, sửa soạn đồ trang sức, còn những cô khốn khổ phải ở lại thì quanh quẩn buồn rầu nhìn họ. Có người đặt những chiếc nồi nhỏ trên bệ lò, nấu thứ nước làm da trắng và mềm; người khác pha chế một thứ để trát lên tóc — sau đó, khi chia tóc thành từng lọn rồi quấn thật chặt quanh những dải da, họ sẽ có những lọn tóc gợn sóng và quăn tít.

Ingebjørg đem hết mọi áo quần trang sức mình có ra, nhưng không sao quyết được nên mặc thứ gì — ít nhất cũng không thể mặc chiếc váy nhung xanh màu lá đẹp nhất, nó quá đắt và quá quý để đem đến một cuộc hội hè của nông dân như thế. Nhưng một nữ tu gầy gò bé nhỏ không được đi — cô tên Helga, đã được cha mẹ dâng vào tu viện từ thuở còn thơ — kéo Kristin ra riêng và thì thầm rằng chắc chắn Ingebjørg sẽ mặc chiếc váy xanh, cả chiếc áo lót lụa hồng nhạt nữa.

“Chị vẫn luôn tử tế với em, Kristin,” Helga nói. “Em can dự vào những chuyện thế này thì thật chẳng hợp chút nào — nhưng dù sao em cũng muốn nói cho chị biết. Vị hiệp sĩ đã đưa hai chị về tối hôm nọ, hồi mùa xuân — từ đó đến nay em vừa trông thấy vừa nghe thấy Ingebjørg trò chuyện với ngài ấy — họ đã nói chuyện trong nhà thờ, và ngài ấy còn chờ cô ta trên khe núi mỗi khi cô ta đến thăm Ingunn trong nhà dưỡng. Nhưng người ngài ấy hỏi đến là chị, và Ingebjørg đã hứa sẽ đưa chị ra đó. Em dám cược rằng trước giờ chị chưa nghe gì về chuyện này, phải không?”

“Quả thật Ingebjørg chưa hề nhắc đến chuyện ấy,” Kristin nói. Nàng mím môi để cô kia khỏi nhìn thấy nụ cười đang chực hiện ra. Thì ra Ingebjørg là thế đấy —. “Chắc cô ấy cũng hiểu ta không phải hạng người chạy đi hò hẹn với đàn ông xa lạ sau góc nhà, bờ giậu,” nàng nói, giọng kiêu hãnh.

“Vậy thì lẽ ra em nên giữ lấy những tin tức này cho mình, vì nói ra vốn đã chẳng được đoan trang,” Helga cứng cỏi đáp, rồi hai người rời nhau.

Nhưng suốt buổi tối, Kristin cứ phải gắng sức để khỏi mỉm cười mỗi khi có ai nhìn nàng.

Sáng hôm sau, Ingebjørg cứ lần lữa, chỉ mặc độc chiếc áo lót, cho đến khi Kristin hiểu rằng cô ta không muốn sửa soạn trước khi nàng mặc xong.

Kristin không nói gì, nhưng nàng bật cười khi đến bên rương, lấy chiếc áo lót bằng lụa vàng óng ra mặc. Nàng chưa bao giờ mặc nó, và tấm lụa thật mềm mại, mát rượi khi buông trôi xuống thân mình. Quanh cổ và dọc xuống ngực, đúng phần sẽ lộ ra trên đường khoét của váy ngoài, áo được thêu rất đẹp bằng chỉ bạc cùng lụa xanh và nâu. Nó còn có đôi tay áo cùng một kiểu. Nàng mang tất lanh rồi buộc đôi giày nhỏ màu tím tía mà Haakon đã may mắn cứu được đem về trong ngày náo loạn nọ. Ingebjørg nhìn nàng; Kristin liền cười nói:

“Cha tôi vẫn dạy rằng ta không nên tỏ vẻ khinh miệt những người thấp kém hơn mình — nhưng hẳn cô cao sang đến mức không muốn trang điểm vì đám nông dân và tá điền —”

Mặt đỏ như một trái mọng, Ingebjørg thả chiếc áo lót len xuống phủ đôi hông trắng rồi vội chui vào chiếc áo lụa hồng nhạt. — Kristin tròng qua đầu chiếc váy nhung đẹp nhất của mình — váy màu tím hoa vi-ô-lét, khoét sâu trước ngực, tay áo xẻ có vạt dài gần chạm đất. Nàng quấn chiếc đai mạ vàng quanh eo, khoác áo choàng lông sóc xám lên vai. Rồi nàng xõa mái tóc vàng dày xuống lưng và hai vai, đặt vòng vàng có những đóa hồng nhỏ chạm nổi lên trán.

Nàng chợt thấy Helga đang đứng nhìn họ. Bấy giờ nàng lấy trong rương ra một chiếc móc bạc lớn. Đó là chiếc móc nàng từng cài trên áo choàng vào buổi tối Bentein gặp nàng ngoài đường, và từ hôm ấy nàng không còn thích dùng nó nữa. Nàng đến bên Helga, khẽ nói:

“Ta biết hôm qua em chỉ có ý tốt với ta, đừng tưởng ta không hiểu điều ấy —” rồi nàng trao chiếc móc cho Helga.

Ingebjørg cũng rất đẹp khi sửa soạn xong trong bộ đồ xanh, khoác áo choàng lụa đỏ trên vai và xõa mái tóc quăn xinh xắn. Hai người đã thi nhau làm đẹp, Kristin nghĩ, rồi bật cười vì ý nghĩ ấy.

Buổi sáng mát lạnh và tươi rói hơi sương khi đoàn người rời Nonneseter, đi về phía tây tới Frysja. Mùa gặt cỏ trong vùng đã gần xong, nhưng dọc những hàng rào gỗ, hoa chuông xanh và cỏ thơm vàng mọc thành từng bụi; những ruộng đại mạch đã trổ bông, dập dờn một màu bạc nhợt pha ánh hồng phơn phớt. Ở nhiều chỗ, nơi lối đi hẹp luồn giữa các thửa ruộng, lúa gần như khép lại quanh đầu gối người qua.

Haakon đi đầu, mang cờ hiệu của tu viện, trên tấm lụa xanh có hình Đức Trinh Nữ Maria. Theo sau chàng là gia nhân và những người sống nhờ dưỡng cấp; kế đó là bà Groa cùng bốn nữ tu già cưỡi ngựa, rồi đến các thiếu nữ đi bộ; y phục thế tục sặc sỡ dành cho ngày hội của họ rực lên, lấp loáng dưới mặt trời. Một số phụ nữ sống nhờ dưỡng cấp và đôi ba người hầu có vũ trang đi cuối đoàn.

Họ vừa đi qua những cánh đồng sáng rỡ vừa hát; những người từ các đường nhánh đi tới đều đứng nép sang bên và kính cẩn chào. Khắp nơi ngoài đồng, từng nhóm người nhỏ đi bộ hoặc cưỡi ngựa, bởi từ mọi nhà, mọi điền trang, người ta đều đang đổ về phía nhà thờ. Một lát sau, họ nghe phía sau vang lên tiếng tụng ca của những giọng nam trầm, rồi thấy cờ hiệu tu viện Hovedø nhô lên trên một ngọn đồi — tấm lụa đỏ lóe sáng dưới mặt trời, đung đưa, nghiêng theo từng bước chân người mang cờ.

Tiếng đồng ngân hùng hậu của chuông dội trên tiếng ngựa hí và ré khi họ đi lên ngọn đồi cuối cùng dẫn tới nhà thờ. Kristin chưa bao giờ thấy nhiều ngựa đến thế cùng một lúc — bên ngoài thảm cỏ trước cổng nhà thờ là cả một biển lưng ngựa bóng loáng, dập dềnh và xao động. Trên bãi cỏ, những người mặc đồ ngày lễ đứng, ngồi hoặc nằm — nhưng tất cả đều đứng dậy chào khi cờ Đức Mẹ của Nonneseter được rước qua giữa họ, và ai nấy đều cúi mình thật thấp trước bà Groa.

Dường như số người đến đông hơn sức chứa của nhà thờ, nhưng một khoảng trống đã được dành cho đoàn tu viện ở phía trên, gần bàn thờ. Ngay sau đó, các đan sĩ dòng Xitô từ Hovedø tiến vào, đi lên cung thánh — rồi tiếng hát từ cổ họng đàn ông và thiếu niên trào dâng, phủ khắp nhà thờ.

Khi thánh lễ đã diễn ra được một lúc, vào lúc mọi người cùng đứng dậy, Kristin trông thấy Erlend Nikulaussøn. Chàng cao, đầu nhô hẳn lên giữa những người xung quanh — nàng nhìn rõ gương mặt chàng từ một bên. Chàng có vầng trán cao, dốc và hẹp, chiếc mũi lớn, thẳng — nhô khỏi gương mặt như một hình tam giác, thon lạ lùng ở chỗ hai cánh mũi thanh mảnh đang rung nhẹ — có nét gì đó khiến Kristin liên tưởng đến một con ngựa đực bất an, nhút nhát. Chàng không đẹp như nàng tưởng mình vẫn nhớ — những đường gân trên mặt dường như kéo dài buồn bã xuống phía cái miệng nhỏ, yếu mềm mà thanh tú — nhưng không, chàng vẫn đẹp.

Chàng quay đầu và nhìn thấy nàng. Nàng không biết hai người đã nhìn vào mắt nhau bao lâu. Từ đó nàng chỉ mong thánh lễ chóng kết thúc; nàng căng thẳng chờ đợi xem rồi sẽ xảy ra chuyện gì.

Khi mọi người ra khỏi nhà thờ chật ních, đám đông chen lấn đôi chút. Ingebjørg kéo Kristin lùi vào giữa dòng người; thế là họ yên ổn tách khỏi các nữ tu đi ra trước, và trở thành những người cuối cùng lên dâng lễ vật rồi ra khỏi nhà thờ.

Erlend đứng ngoài cửa, ngay bên lối ra, giữa linh mục xứ Gerdarud và một người đàn ông béo tốt, da đỏ hồng, mặc bộ đồ nhung xanh lộng lẫy. Bản thân Erlend cũng mặc lụa, nhưng toàn màu tối — chiếc áo dài hoa văn nâu đen và áo choàng đen dệt những con chim ưng nhỏ màu vàng.

Họ chào nhau rồi đi qua bãi cỏ về phía những con ngựa của đàn ông đang buộc. Trong khi họ trao đổi vài lời về thời tiết đẹp, thánh lễ long trọng và đám người đông đảo đã tới dự, vị quý ông béo, mặt đỏ gay — ông mang cựa vàng và tên là hiệp sĩ Munan Baardsøn — đã nắm được tay Ingebjørg; xem ra ông ta hết sức ưa thích cô gái. Erlend và Kristin tụt lại phía sau — họ lặng lẽ bước đi, không nói một lời.

Trên đồi nhà thờ vô cùng náo loạn khi người ta bắt đầu cưỡi ngựa ra về — ngựa chen nhau đi qua, người gọi nhau í ới, kẻ nổi giận, người bật cười. Nhiều người cưỡi hai người một ngựa; đàn ông để vợ ngồi sau lưng hoặc đặt con trẻ trước yên, những chàng trai trẻ nhảy lên ngồi cùng bạn. Từ đó họ đã thấy cờ nhà thờ, các nữ tu và linh mục ở tít dưới chân đồi.

Hiệp sĩ Munan cưỡi ngang qua; Ingebjørg ngồi phía trước, trong vòng tay ông ta. Cả hai cùng gọi lớn và vẫy tay. Bấy giờ Erlend nói:

“Cả hai người hầu của tôi đều đi cùng — họ có thể cưỡi chung một ngựa, còn cô dùng ngựa của Haftor — nếu cô thích thế hơn?”

Kristin đỏ mặt khi đáp: “Chúng ta đã tụt lại sau mọi người xa đến thế rồi — mà tôi cũng chẳng thấy những người hầu của ngài đâu —” rồi nàng bật cười, và Erlend mỉm cười.

Chàng nhảy lên yên rồi đỡ nàng ngồi sau lưng mình. Ở nhà, Kristin thường ngồi sau cha như thế, ngay cả khi nàng đã quá lớn để ngồi dạng chân trên lưng ngựa. Tuy vậy, nàng vẫn thấy hơi ngượng ngập và bất an khi choàng một tay qua vai Erlend; tay kia nàng chống xuống lưng ngựa. Họ chậm rãi đi xuống phía cây cầu.

Một lát sau, Kristin thấy mình phải nói gì đó, vì chàng vẫn không lên tiếng, nên nàng bảo:

“Thật không ngờ lại gặp ngài ở đây hôm nay.”

“Không ngờ sao?” Erlend hỏi, ngoảnh đầu lại phía nàng. “Ingebjørg Filippusdatter không chuyển lời chào của tôi ư?”

“Không,” Kristin nói. “Tôi chẳng nghe nói có lời chào nào cả — cô ấy chưa nhắc đến ngài từ lần ngài đến giúp chúng tôi hồi tháng Năm” — nàng nói đầy ẩn ý — nàng muốn sự dối trá của Ingebjørg bị phơi ra.

Erlend không ngoảnh lại, nhưng qua giọng chàng, nàng nghe được rằng chàng đang mỉm cười khi hỏi tiếp:

“Còn cô bé tóc đen ấy — người sẽ làm nữ tu — tôi không nhớ tên cô ta — tôi còn cho cô ta tiền công để chuyển lời chào đến cô.”

Kristin đỏ mặt, nhưng rồi phải bật cười: “Vậy thì tôi đành phải nói cho công bằng với Helga rằng cô ấy đã làm xứng đáng với món tiền công,” nàng nói.

Erlend hơi động đầu — cổ chàng đến gần bàn tay nàng. Kristin lập tức chuyển tay ra xa hơn trên vai chàng. Hơi bất an, nàng nghĩ có lẽ mình đã tỏ ra táo bạo hơn mức đoan trang cho phép, bởi nàng đến dự hội này sau khi một người đàn ông, theo một cách nào đó, đã hẹn gặp nàng ở đây.

Một lát sau Erlend hỏi:

“Tối nay cô có chịu khiêu vũ với tôi không, Kristin?”

“Tôi không biết, thưa ngài,” thiếu nữ đáp.

“Cô nghĩ có lẽ như thế không được đoan trang?” chàng hỏi, và khi nàng không trả lời, chàng lại nói: “Có thể quả thật là không. Nhưng tôi đã nghĩ, có lẽ cô sẽ không vì tối nay bước đi bên tay tôi mà trở nên kém cao quý hơn. — Vả lại, đã tám năm rồi tôi chưa bước vào một điệu múa.”

“Vì sao vậy, thưa ngài?” Kristin hỏi. “Có lẽ ngài đã thành hôn?” Nhưng rồi nàng chợt nghĩ, nếu chàng là người đã có vợ thì việc chàng hẹn gặp nàng như thế hẳn là không phải. Nàng muốn sửa lời, bèn nói: “Có lẽ ngài đã mất vị hôn thê hoặc vợ mình?”

Erlend đột ngột quay lại, nhìn nàng một cách kỳ lạ:

“Tôi ư? Chẳng lẽ bà Aashild chưa —. Vì sao tối hôm ấy cô lại đỏ mặt khi nghe biết tôi là ai?” một lát sau chàng hỏi.

Kristin lại đỏ mặt nhưng không đáp; Erlend bèn hỏi tiếp:

“Tôi rất muốn biết dì tôi đã nói gì với cô về tôi.”

“Không có gì khác,” Kristin vội nói, “ngoài việc bà ấy khen ngài. Bà nói ngài đẹp đẽ và thuộc một dòng dõi cao quý đến mức — bà nói so với những người như ngài và gia tộc của bà thì chúng tôi chẳng đáng kể là bao — dòng họ tôi và bản thân tôi —”

“Ngồi ở nơi ấy mà bà vẫn còn nói những chuyện như vậy sao,” Erlend nói và cười cay đắng. “Thôi được, nếu điều đó an ủi được bà —. Bà không nói gì khác về tôi ư?”

“Còn có thể là chuyện gì?” Kristin hỏi — nàng không hiểu vì sao mình bỗng thấy khác thường và tim như bị bóp nghẹt.

“Ồ, bà có thể nói —” Erlend khẽ đáp, mắt nhìn xuống phía trước, “bà có thể nói rằng tôi từng là kẻ bị đặt ngoài vòng pháp luật và đã phải trả giá rất đắt để chuộc lại sự yên ổn và hòa giải —”

Kristin im lặng hồi lâu. Rồi nàng khẽ nói:

“Có biết bao người không tự định đoạt được vận số của mình — tôi từng nghe người ta nói thế. Tôi hiểu biết về đời còn quá ít — nhưng tôi sẽ không bao giờ tin rằng ngài, Erlend, lại vì một việc gì — bất danh dự — mà lâm vào cảnh ấy.”

“Cầu Chúa trả ơn em vì những lời ấy, Kristin,” Erlend nói; chàng cúi đầu, hôn cổ tay nàng mãnh liệt đến nỗi con ngựa giật nảy mình bên dưới họ. Khi nó lại bước đều, chàng tha thiết nói: “Vậy tối nay hãy khiêu vũ với tôi nhé, Kristin? Sau đó tôi sẽ kể cho cô nghe tất cả hoàn cảnh của mình — nhưng tối nay, chúng ta hãy cùng vui được không?”

Kristin đáp thuận, rồi họ cưỡi đi một lúc không nói chuyện.

Nhưng sau đó một lát, Erlend bắt đầu hỏi về bà Aashild, và Kristin kể cho chàng mọi điều nàng biết về bà; nàng hết lời ca ngợi bà.

“Vậy là không phải mọi cánh cửa đều đóng lại trước Bjørn và Aashild?” Erlend hỏi.

Kristin đáp rằng họ là những người được quý mến, và cha nàng cùng nhiều người khác cho rằng phần lớn những điều người ta nói về hai người ấy đều không đúng.

“Cô thấy người bà con của tôi, Munan Baardsøn, thế nào?” Erlend hỏi, khẽ cười.

“Tôi không nhìn ông ta nhiều,” Kristin nói, “mà tôi cũng thấy ông ta chẳng có gì đáng nhìn cho lắm.”

“Cô không biết,” Erlend hỏi, “ông ta là con trai của bà ấy sao?”

“Con trai của phu nhân Aashild!” Kristin hết sức kinh ngạc thốt lên.

“Phải, con cái bà không thừa hưởng được sắc đẹp của mẹ, dù đã lấy hết mọi thứ khác,” Erlend nói.

“Tôi thậm chí còn không biết tên người chồng đầu của bà,” Kristin nói.

“Hai anh em trai lấy hai chị em gái,” Erlend nói. “Baard và Nikulaus Munansøn. Cha tôi là anh, mẹ tôi là vợ thứ hai của ông, nhưng ông không có con với người vợ đầu. Baard, người Aashild lấy, cũng chẳng còn trẻ, và chắc họ chưa bao giờ sống thuận hòa với nhau — phải, lúc chuyện ấy xảy ra tôi còn nhỏ, họ giấu tôi được chừng nào hay chừng ấy —. Nhưng bà bỏ nước ra đi cùng ngài Bjørn rồi cưới ông ấy mà không hỏi ý thân tộc — sau khi Baard đã chết. Bấy giờ người ta muốn hủy cuộc hôn nhân này — họ quả quyết rằng Bjørn đã vào giường với bà khi người chồng đầu còn sống, và hai người đã cùng mưu tính trừ khử bác tôi. Chắc họ không thể chứng minh được điều ấy, vì cuối cùng vẫn phải để hai người sống với nhau như vợ chồng —. Nhưng họ phải nộp phạt toàn bộ gia sản — Bjørn còn giết một người anh em họ của họ nữa — ý tôi là của mẹ tôi và Aashild —.”

Tim Kristin đập dồn. Ở nhà, cha mẹ nàng vẫn nghiêm ngặt giữ cho trẻ con và người trẻ tuổi khỏi nghe những lời ô uế — nhưng trong vùng cũng từng xảy ra những chuyện mà Kristin có nghe nói tới — một người đàn ông sống tư thông với một người đàn bà có chồng. Đó là tội ngoại tình, một trong những tội nặng nhất; nếu họ còn mưu tính lấy mạng chồng người đàn bà, thì ấy là việc phải chịu lưu đày và vạ tuyệt thông. Lavrans từng nói, không người vợ nào buộc phải ở lại với chồng nếu ông ta đã ăn nằm với vợ người khác; thân phận của đứa con ngoại tình không bao giờ cứu vãn được, cho dù về sau cha mẹ nó có được tự do để cưới nhau. Một người đàn ông có thể đưa vào hàng thừa kế và dòng tộc đứa con mình sinh với một gái điếm ngoài cổng thành hay một người đàn bà hành khất lang thang, nhưng không thể làm thế với đứa con ngoại tình — cho dù mẹ nó là phu nhân của một hiệp sĩ —. Nàng nghĩ đến nỗi ác cảm mình vẫn luôn cảm thấy đối với ngài Bjørn, với gương mặt bạc phếch và thân hình béo bệu, rệu rã. Nàng không sao hiểu nổi vì sao phu nhân Aashild lúc nào cũng có thể hiền hậu và thuận theo người đàn ông đã dụ bà sa vào một nỗi nhục như thế; cũng không hiểu một người đàn bà duyên dáng đến vậy sao lại có thể để ông ta mê hoặc. Ông ta thậm chí chẳng tử tế với bà; ông để bà quần quật lo hết mọi việc trong gia trang; Bjørn chẳng làm gì ngoài uống bia. Thế mà Aashild vẫn luôn dịu dàng, hòa nhã mỗi khi nói với chồng. Nàng tự hỏi cha mình có biết chuyện này không, vì ông từng mời ngài Bjørn về nhà. Nhưng giờ nghĩ lại, nàng cũng thấy lạ khi Erlend kể những chuyện như thế về họ hàng gần của mình. Có lẽ chàng tưởng nàng đã biết từ trước —.

“Ta rất muốn,” một lát sau Erlend nói, “đến thăm dì Aashild một lần — khi ta đi về phương bắc. Bjørn, người họ hàng của ta, giờ còn đẹp không?”

“Không,” Kristin nói. “Ông ấy nom như cỏ khô nằm ngoài đồng suốt mùa đông.”

“À phải, đời người hẳn cũng hao mòn,” Erlend nói với chính nụ cười cay đắng ấy. “Ta chưa từng thấy người đàn ông nào đẹp đến thế — chuyện đã hai mươi năm rồi, khi ấy ta còn là một thằng bé — nhưng chưa bao giờ ta thấy ai sánh được với ông ấy —.”

Chẳng bao lâu sau họ tới bệnh xá. Đó là một cơ sở hết sức lớn lao và bề thế, gồm nhiều tòa nhà bằng đá lẫn gỗ — nhà chữa bệnh, nhà tế bần, quán trọ cho khách bộ hành, nhà nguyện và nhà ở của linh mục. Trong sân người ta tất bật vô cùng, vì thức ăn cho tiệc hội đang được nấu trong nhà bếp của bệnh xá, còn những người nghèo khó, đau ốm được nuôi dưỡng tại đây cũng sẽ được khoản đãi thật hậu hĩnh trong ngày hôm ấy.

Sảnh tiệc nằm bên kia những khu vườn của bệnh xá, và người ta đi xuyên qua vườn dược thảo để tới đó, vì khu vườn này nổi tiếng khắp nơi. Phu nhân Groa đã cho đưa về những giống cây chưa từng có ai nghe nói tới ở Na Uy; ngoài ra, mọi loài cây thường mọc trong các khu vườn khác đều sinh trưởng tốt hơn trên những khoảnh vườn của bà, từ hoa, rau ăn cho đến dược thảo. Bà là người đàn bà uyên bác nhất về mọi việc như thế, và chính bà đã chuyển soạn sang tiếng Na Uy những sách dược thảo của trường Salerno. — Phu nhân Groa đặc biệt có cảm tình với Kristin, từ khi nhận ra cô gái có đôi chút hiểu biết về dược thảo và rất muốn học hỏi thêm.

Kristin bèn chỉ cho Erlend những thứ mọc trên các luống hai bên lối cỏ xanh họ đang đi. Dưới nắng trưa, mùi thì là và cần tây, hành và hoa hồng, hương thảo và tử la lan tỏa nóng nồng, cay ngát. Bên kia khu vườn dược thảo không bóng râm, cháy nắng, những hàng cây ăn quả trông mát mẻ đầy quyến rũ — anh đào đỏ ánh lên giữa những vòm lá sẫm màu, còn cành táo trĩu xuống dưới sức nặng của những quả xanh.

Bao quanh khu vườn là một hàng rào tầm xuân. Trên đó vẫn còn vài đóa hồng — trông chúng không khác gì những hoa tầm xuân khác, nhưng dưới nắng nóng, lá lại tỏa hương rượu vang và táo. Người đi qua đều ngắt cành giắt lên mình. Kristin cũng hái mấy đóa hồng, cài bên thái dương, dưới chiếc mũ miện vàng. Một đóa nàng giữ trong tay — lát sau Erlend lấy đóa hoa ấy nhưng không nói gì. Chàng cầm nó đi một quãng, rồi cài vào chiếc trâm trước ngực — lúc làm thế, chàng có vẻ bối rối, lúng túng, vụng về đến nỗi gai cào các ngón tay bật máu.

Trong sảnh tiệc, nhiều chiếc bàn rộng đã được dọn; một bàn dành cho đàn ông và một bàn dành cho đàn bà, kê dọc hai bức tường dài. Giữa sàn có hai bàn, nơi trẻ con và thanh niên ngồi lẫn với nhau.

Ở bàn đàn bà, phu nhân Groa ngồi trên ghế danh dự; các nữ tu và những bà vợ được trọng vọng nhất ngồi tiếp theo dọc bức tường, còn những người đàn bà chưa chồng ngồi trên băng ghế phía ngoài, các cô gái từ Nonneseter ngồi đầu tiên. Kristin biết Erlend đang nhìn mình, nhưng nàng không dám quay đầu lấy một lần, dù khi họ đứng lên hay ngồi xuống. Mãi đến lúc mọi người đứng dậy và linh mục sắp đọc tên những hội viên nam nữ đã qua đời, nàng mới liếc nhanh sang bàn đàn ông một lần — nàng thoáng thấy chàng đứng bên tường, phía sau những ngọn nến sáp đang cháy trên bàn. Chàng nhìn nàng.

Bữa tiệc kéo dài rất lâu với tất cả những chén rượu tưởng niệm dâng kính Thiên Chúa, Đức Trinh Nữ Maria, thánh Margareta, thánh Olav và thánh Halvard, xen giữa là những lời cầu nguyện và ca hát.

Qua cánh cửa mở, Kristin thấy mặt trời đã lặn; tiếng đàn và tiếng hát vọng từ ngoài bãi cỏ vào, và những người trẻ tuổi đã rời bàn rượu khi phu nhân Groa bảo các cô gái rằng giờ họ có thể xuống vui chơi một lúc nếu muốn.

Ba đống lửa đỏ rực cháy trên bãi cỏ; những vòng người áo quần sẫm màu xen lẫn sặc sỡ múa quanh lửa. Các nhạc công ngồi trên những chiếc rương chồng lên nhau, kéo đàn — mỗi vòng họ chơi và hát một điệu khác; người đông quá, không thể hợp thành một cuộc múa duy nhất. Trời đã tối lắm rồi — về phía bắc, đường viền của dải đồi rừng đen như than trên nền trời vàng xanh.

Dưới hành lang của sảnh, người ta ngồi uống rượu. Vừa khi sáu cô gái từ Nonneseter xuống khỏi cầu thang, mấy người đàn ông đã lao tới. Munan Baardsøn bổ nhào về phía Ingebjørg rồi kéo cô chạy mất, còn cổ tay Kristin bị ai đó nắm lấy — Erlend, nàng đã nhận ra bàn tay chàng. Chàng siết tay nàng trong tay mình, khiến những chiếc nhẫn của họ nghiến vào nhau và cứa sâu vào thịt.

Chàng kéo nàng tới đống lửa ngoài cùng. Trong vòng múa có nhiều trẻ con; bàn tay kia của Kristin nắm tay một cậu bé mười hai tuổi, còn phía bên kia Erlend dắt một cô gái nhỏ nhắn mới chớm lớn.

Lúc ấy trong vòng này không có ai hát — họ chỉ bước đu đưa tới lui theo tiếng đàn. Rồi có người gọi Sivord người Đan Mạch hát cho họ một khúc múa mới. Một người đàn ông cao, tóc sáng màu, có hai bàn tay to khác thường bước ra trước vòng người và cất giọng hát:

Một cuộc múa trên đảo Munkholm

nơi bãi cát trắng ngần.

Ngài Ivar Jonsøn đang múa

nắm tay vị nữ vương.

Người có biết ngài Ivar Jonsøn?

Các nhạc công không biết làn điệu ấy, họ gảy thử mấy tiếng trên dây, còn người Đan Mạch hát một mình — ông có giọng hát đẹp và mạnh mẽ.

Nữ vương Đan Mạch, người còn nhớ

mùa hè năm nào

người được đưa rời Thụy Điển

tới Đan Mạch hay sao?

Người được đưa rời Thụy Điển

vào đất Đan Mạch này,

đội vương miện vàng đỏ

lệ đọng trên gò má.

Đội vương miện vàng đỏ

lệ đọng trên gò má

— Nữ vương Đan Mạch, người còn nhớ,

người trước vốn của ta!

Những cây đàn lại hòa tiếng, đoàn người múa khe khẽ ngân nga làn điệu vừa học rồi cùng cất tiếng hát điệp khúc.

Nếu ngươi là ngài Ivar Jonsøn,

người tình xưa của ta,

thì ngày mai ngươi sẽ

bị treo cổ trên giá!

Nhưng ngài Ivar Jonsøn

không hề sợ chút nào,

chàng nhảy lên thuyền vàng,

mình mặc giáp sắt cao.

Chúc nữ vương Đan Mạch

bao đêm lành thảnh thơi,

nhiều như trên vòm thẳm

muôn sao sáng đầy trời.

Chúc vua người Đan Mạch

bao năm dữ ê chề,

nhiều như cây đoan lá —

như lông phủ mình hoẵng kia.

Người có biết ngài Ivar Jonsøn!

Đêm đã rất khuya, những đống lửa chỉ còn là mấy ụ than hồng mỗi lúc một sẫm đen. Kristin và Erlend đứng tay trong tay dưới những hàng cây bên hàng rào khu vườn. Sau lưng họ, tiếng ồn ào của cuộc rượu đã lắng xuống — mấy chàng trai trẻ vừa nghêu ngao vừa nhảy nhót quanh những ụ than, nhưng các nhạc công đã đi ngủ, và phần đông mọi người đều đã biến mất. Thi thoảng lại có một người vợ đi tìm chồng mình, kẻ đã bị bia vật ngã đâu đó ngoài kia.

“Không biết em đã để áo choàng ở đâu,” Kristin thì thầm. Erlend vòng tay ôm eo nàng rồi trùm áo choàng của mình quanh cả hai. Ép sát vào nhau, họ đi vào vườn dược thảo.

Trong vườn, dư âm mùi hương cay nồng dưới sức nóng ban ngày phả vào họ, nhưng giờ đã dịu đi và ẩm đẫm hơi sương mát lạnh. Đêm rất tối, bầu trời trên những ngọn cây lổn nhổn một màu xám mây. Nhưng họ cảm thấy còn có những người khác trong vườn. Erlend siết cô gái vào mình một lần rồi khẽ hỏi:

“Em không sợ sao, Kristin?”

Trong một thoáng nhợt nhòa, nàng nhớ tới thế giới bên ngoài đêm nay — nhớ rằng chuyện này là điên rồ. Nhưng nàng đã bị tước hết sức kháng cự trong một niềm phúc lạc. Nàng chỉ nép sát hơn vào người đàn ông và thì thầm điều gì không rõ — chính nàng cũng không biết mình đã nói gì.

Họ đi đến cuối lối; ở đó có một bức tường đá ngăn với khu rừng. Erlend đỡ nàng trèo lên. Khi nàng sắp nhảy xuống phía bên kia, chàng đón lấy nàng và nâng nàng trong hai cánh tay một lúc rồi mới đặt xuống cỏ.

Nàng ngửa mặt đón nhận nụ hôn của chàng. Chàng ôm hai bàn tay quanh thái dương nàng — nàng thấy thật dễ chịu khi cảm nhận những ngón tay chàng luồn sâu vào tóc mình — nàng cảm thấy mình phải đáp lại cho chàng, bèn ôm lấy đầu chàng và cố hôn chàng như cách chàng hôn nàng.

Khi chàng đặt hai tay lên ngực nàng và vuốt ra trên đôi vú, nàng cảm thấy như chàng mở lồng ngực mình ra và lấy mất trái tim; chàng khẽ vạch đôi nếp áo lót bằng lụa rồi hôn vào giữa — hơi nóng xuyên tới tận rễ tim.

“Ta không bao giờ có thể làm nhục em,” Erlend thì thầm. “Em sẽ không bao giờ phải rơi một giọt lệ vì ta. Ta chưa từng nghĩ một trinh nữ có thể tốt lành như em, Kristin của ta —”

Chàng kéo nàng ngồi xuống cỏ dưới những bụi cây; họ tựa lưng vào bức tường đá. Kristin không nói gì, nhưng mỗi khi chàng thôi vuốt ve nàng, nàng lại đưa tay lên chạm vào mặt chàng.

Một lát sau Erlend hỏi: “Em có mệt không, người yêu dấu?” Và khi Kristin ngả vào ngực chàng, chàng vòng hai tay ôm lấy nàng rồi thì thầm: “Ngủ đi, ngủ đi, Kristin, ở đây bên ta —”

Nàng chìm mỗi lúc một sâu hơn vào bóng tối, hơi ấm và niềm hạnh phúc bên ngực chàng.

Khi tỉnh lại, nàng đang nằm duỗi dài trên cỏ, má áp vào vạt áo lụa nâu trên đùi chàng. Erlend vẫn ngồi như trước, lưng tựa vào bức tường đá; gương mặt chàng xám nhợt trong ánh bình minh, nhưng đôi mắt mở lớn lại trong trẻo và đẹp lạ lùng. Nàng thấy chàng đã quấn cả chiếc áo choàng quanh mình — đôi chân nàng ấm áp dễ chịu biết bao trong lớp lót bằng da thú.

“Giờ em đã ngủ trong lòng ta,” chàng nói và khẽ mỉm cười. “Cầu Chúa ban thưởng cho em, Kristin — em ngủ bình yên như đứa trẻ trong vòng tay mẹ —.”

“Ngài không ngủ sao, ngài Erlend?” Kristin hỏi, và chàng mỉm cười nhìn xuống đôi mắt vừa tỉnh giấc của nàng:

“Có lẽ sẽ đến một đêm em và ta được phép cùng nhau thiếp ngủ — ta không biết em sẽ nghĩ sao khi đã có thời gian ngẫm lại chuyện này. — Đêm nay ta đã thức canh ở đây — thế mà giữa chúng ta vẫn còn nhiều ngăn cách đến nỗi còn hơn cả một thanh gươm trần đặt giữa em và ta. — Hãy nói cho ta biết, em có còn yêu ta khi đêm nay đã qua không?”

“Em sẽ yêu ngài, ngài Erlend,” Kristin nói, “em sẽ yêu ngài chừng nào ngài còn muốn thế — và sau đó em cũng sẽ không yêu ai khác —”

“Vậy thì,” Erlend chậm rãi nói, “nguyện Chúa ruồng bỏ ta nếu có bất cứ người đàn bà hay trinh nữ nào được vào trong vòng tay ta trước khi ta có thể có được em theo luật pháp và danh dự. — Em cũng hãy nói lời ấy đi,” chàng khẩn cầu. Kristin nói:

“Nguyện Chúa ruồng bỏ em nếu em ôm một người đàn ông nào khác trong vòng tay mình, suốt thời gian em còn sống trên mặt đất.”

“Giờ chúng ta phải đi,” một lát sau Erlend nói, “— trước khi mọi người thức dậy —.”

Họ đi trong bụi rậm, men theo phía ngoài bức tường đá.

“Em đã nghĩ,” Erlend hỏi, “chuyện này rồi sẽ đi đến đâu chưa?”

“Việc ấy phải tùy anh định liệu, Erlend,” Kristin đáp.

Một lúc sau, chàng hỏi: “Cha em — người ta ở Gerdarud nói ông là người hiền hậu và công chính. Em có nghĩ ông sẽ rất không bằng lòng nếu phải thay đổi giao ước đã lập với Andres Darre không?”

“Cha vẫn thường nói ông sẽ không bao giờ ép buộc chị em chúng em,” Kristin nói. “Chủ yếu là vì đất đai hai nhà nằm liền với nhau rất thuận tiện. Nhưng chắc cha cũng không muốn chỉ vì chuyện ấy mà em mất hết niềm vui trên đời.” Trong lòng nàng thoáng dấy lên một linh cảm rằng có lẽ sự việc sẽ không dễ dàng đến thế — nhưng nàng đè nó xuống.

“Vậy có lẽ chuyện này sẽ dễ hơn điều anh nghĩ đêm qua,” Erlend nói. “Xin Chúa giúp anh, Kristin — anh thấy mình không thể mất em — giờ đây, nếu không có được em, anh sẽ chẳng bao giờ còn vui sướng nữa.”

Họ chia tay nhau giữa những hàng cây, và trong ánh rạng đông, Kristin tìm được đường về quán trọ dành cho đoàn người từ Nonneseter. Mọi giường đều đã có người nằm, nhưng nàng trải một chiếc áo choàng lên ít rơm trên sàn rồi nằm xuống, vẫn nguyên cả áo quần.

Khi nàng thức giấc, ngày đã lên cao. Ingebjørg Filippusdatter ngồi trên ghế dài gần đó, khâu lại dải viền lông đã bị sút khỏi áo choàng của nàng. Cô ta vẫn lắm lời như mọi khi.

“Cô ở cùng Erlend Nikulaussøn suốt đêm đấy à?” cô ta hỏi. “Cô cũng nên giữ mình đôi chút trước con người ấy, Kristin — cô nghĩ Simon Andressøn sẽ vui lòng khi cô kết thân với anh ta sao?”

Kristin tìm một chậu rửa mặt và bắt đầu rửa ráy:

“Còn vị hôn phu của cô — cô nghĩ anh ấy sẽ vui lòng khi đêm qua cô khiêu vũ với Munan Stumpe sao? Trong một đêm như thế, người ta hẳn được phép khiêu vũ với người đã chọn mình — phu nhân Groa đã cho phép chúng ta rồi mà —”

Ingebjørg khịt mũi:

“Einar Einarssøn và ngài Munan là bạn bè — ngài ấy đã có vợ, lại già rồi. Xấu xí nữa — nhưng dễ mến và nhã nhặn — xem ngài ấy tặng tôi gì để làm kỷ niệm đêm nay này,” cô ta nói và chìa ra một chiếc trâm vàng mà hôm trước Kristin đã thấy cài trên mũ ngài Munan. “Nhưng Erlend này — phải, anh ta đã được giải vạ tuyệt thông vào lễ Phục sinh năm ngoái, nhưng người ta nói từ đó Eline Ormsdatter vẫn đến với anh ta ở Husaby — ngài Munan bảo anh ta trốn tới chỗ cha Jon ở Gerdarud, bởi hẳn anh ta biết mình sẽ lại sa vào tội lỗi nếu gặp lại bà ấy —”

Kristin bước tới gần cô gái kia — mặt trắng bệch.

“Cô không biết chuyện ấy sao,” Ingebjørg nói. “Rằng anh ta đã dụ một người đàn bà bỏ chồng, ở đâu đó ngoài Haalogaland về phía bắc — rồi bất chấp lệnh vua và vạ tuyệt thông của tổng giám mục, anh ta vẫn giữ bà ấy trong điền trang của mình — họ còn có với nhau hai đứa con — anh ta đã phải trốn sang Thụy Điển, và đã phải đem biết bao tài sản ra nộp phạt, đến nỗi ngài Munan bảo cuối cùng anh ta sẽ thành kẻ nghèo túng nếu chẳng sớm biết sửa mình —”

“Cô thừa biết là tôi biết chuyện ấy,” Kristin nói, nét mặt cứng đờ. “Nhưng chuyện đó giờ đã chấm dứt rồi —”

“Phải, ngài Munan cũng nói rằng chuyện giữa họ đã chấm dứt biết bao nhiêu lần rồi,” Ingebjørg trầm ngâm nói. “Nhưng việc ấy nào có can hệ gì đến cô — cô sẽ lấy Simon Darre kia mà. Song Erlend Nikulaussøn quả thật đẹp trai —”

Đoàn người từ Nonneseter sẽ lên đường ngay trong ngày, sau giờ kinh Chín. Kristin đã hứa với Erlend sẽ gặp chàng bên bức tường đá, nơi họ đã ngồi trong đêm, miễn là nàng tìm được cách đến đó.

Chàng nằm sấp trên cỏ, đầu tựa trong hai bàn tay. Vừa trông thấy nàng, chàng liền bật dậy và đưa cả hai tay ra đón khi nàng nhảy xuống.

Nàng nắm lấy tay chàng, và họ đứng một lúc, tay trong tay. Rồi Kristin nói:

“Tại sao hôm qua anh lại kể cho em chuyện về ngài Bjørn và phu nhân Aashild?”

“Nhìn em là anh biết em đã hay chuyện rồi,” Erlend đáp và đột ngột buông tay nàng. “Bây giờ em nghĩ thế nào về anh, Kristin —

Hồi ấy anh mới mười tám tuổi,” chàng nói dữ dội, “đã mười năm rồi, khi vua Håkon, người bà con của anh, phái anh theo đoàn đi tới Vargøy-hus — rồi chúng anh trú đông tại Steigen — nàng là vợ luật quan Sigurd Saksulvsøn; anh thương hại nàng vì ông ta vừa già vừa xấu xí đến không thể tin nổi — anh không biết chuyện đã xảy ra thế nào — phải, anh cũng yêu nàng. Anh đã đề nghị Sigurd cứ đòi bất cứ khoản bồi thường nào ông ta muốn, anh sẵn lòng bù đắp cho phải lẽ — về nhiều phương diện, ông ta là một người khẳng khái — nhưng ông ta nhất quyết để luật pháp phân xử, đưa vụ việc ra trước hội đồng xét xử — anh sẽ bị đóng dấu nung vì đã phạm tội ngoại tình với vợ của người trong nhà mà anh từng làm khách, em hiểu không —.

Rồi chuyện đến tai cha anh, sau đó đến tai vua Håkon — người — người đã đuổi anh khỏi phủ của mình. Và nếu em cần biết hết mọi chuyện — giữa Eline và anh chẳng còn gì ngoài hai đứa trẻ, mà nàng cũng chẳng mấy thiết tha với chúng. Chúng ở miền Østerdalene, tại một điền trang anh từng sở hữu ở đó; anh đã trao nó cho Orm, đứa con trai — nhưng nàng không chịu ở cùng chúng —. Hẳn nàng trông đợi Sigurd không thể sống mãi — anh không biết nàng muốn gì.

Sigurd đã nhận nàng về lại — nhưng nàng nói ở nhà ông ta, nàng sống như một con chó, một nữ nô — rồi nàng hẹn anh đến Nidaros. Ở Husaby với cha, cảnh ngộ của anh cũng chẳng khá hơn là bao —. Anh bán mọi thứ có thể đặt tay tới rồi cùng nàng trốn sang Halland — bá tước Jacob đã đối đãi tử tế với anh —. Anh còn có thể làm gì khác, khi nàng đang mang trong bụng đứa con của anh. Anh nghĩ biết bao người đàn ông từng chung sống như thế với vợ người khác mà vẫn thoát khỏi mọi chuyện khá nhẹ nhàng — nếu họ giàu có —. Nhưng vua Håkon là người như vậy, nghiêm khắc nhất với chính thân thích của mình. Chúng anh xa nhau chừng một năm, nhưng rồi cha anh mất và nàng quay trở lại. Sau đó lại nảy sinh những chuyện khác. Nông dân của anh không chịu nộp địa tô hay giao thiệp với những người quản lý của anh vì anh đang chịu vạ tuyệt thông — anh lại hành xử quá tay, rồi bị kiện về tội cướp đoạt, nhưng anh không có tiền trả công cho gia nhân; em cũng hiểu khi ấy anh còn quá trẻ, không đủ khôn ngoan để xoay xở giữa những rối ren ấy, mà họ hàng không ai chịu giúp anh — ngoài Munan, trong phạm vi ông ấy dám làm mà không trái ý vợ —.

Phải, giờ em đã biết rồi, Kristin, rằng anh đã mất đi rất nhiều, cả tài sản lẫn danh dự. Có lẽ em sẽ tốt hơn nếu vẫn giữ lời với Simon Andressøn.”

Kristin vòng tay quanh cổ chàng:

“Chúng ta sẽ giữ lời đã thề với nhau đêm qua, Erlend — nếu anh cũng một lòng như em.”

Erlend kéo nàng sát vào mình, hôn nàng rồi nói:

“Em cũng phải tin điều này, cảnh ngộ của anh rồi sẽ đổi khác — giờ đây trên đời không ai còn quyền lực đối với anh ngoài em. Ôi, đêm qua khi em ngủ trong lòng anh, anh đã nghĩ biết bao điều, em xinh đẹp của anh. Ma quỷ cũng không thể có quyền lực lớn đến thế trên một người đàn ông, khiến anh có thể đem lại buồn đau hay tổn thương cho em, người quý nhất đời anh —”