Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa — Chương 9: Tập I — Vòng hoa · Phần II — Vòng hoa · Chương II

Chương 9 / 23 · Bài review Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa

Những thương nhân ngoại quốc đến Oslo buôn bán suốt mùa hè thường vào thành vào dịp lễ Tìm thấy Thánh Giá mùa xuân, tức mười ngày trước đêm vọng Thánh Hallvard. Người từ khắp các miền giữa hồ Mjøsa và vùng biên đổ về dự lễ, khiến thành phố lúc nhúc người trong những tuần đầu tháng Năm. Đó là lúc tốt nhất để mua hàng của người ngoại quốc, trước khi họ bán vơi quá nhiều hàng hóa.

Sơ Potentia phụ trách việc mua sắm ở Nonneseter, và hôm trước đêm vọng Thánh Hallvard, bà đã hứa cho Ingebjørg và Kristin cùng xuống thành. Nhưng đến giữa trưa, mấy người họ hàng của Sơ Potentia tới tu viện gặp bà; hôm ấy bà không thể ra ngoài được nữa. Ingebjørg bèn nài nỉ cho hai cô được đi một mình — dù việc ấy trái với quy củ. Người ta cử một lão nông có suất cấp dưỡng tại tu viện đi theo hộ tống; lão tên Haakon.

Bấy giờ Kristin đã ở Nonneseter được ba tuần, và suốt thời gian ấy nàng chưa hề đặt chân ra ngoài các sân và vườn của tu viện. Nàng kinh ngạc khi thấy bên ngoài mùa xuân đã tràn về đến thế. Những lùm cây nhỏ giữa đồng xanh non sáng rỡ, hoa chân ngỗng trắng mọc ken dày như tấm thảm dưới những thân cây nhợt màu. Mây trắng bóng của ngày đẹp trời lững lờ trôi lên trên các đảo ngoài vịnh, mặt nước xanh trong, tươi mát, gợn lên dưới những luồng gió xuân khe khẽ.

Ingebjørg vừa đi vừa nhún nhảy, ngắt từng chùm lá trên cây đưa lên ngửi, ngoái nhìn những người họ gặp, nhưng Haakon quở cô — một thiếu nữ con nhà danh giá, lại còn khoác áo tu viện, đi đứng như thế sao cho phải phép? Hai cô phải nắm tay nhau, đi ngay sau lão, lặng lẽ và đoan trang; nhưng Ingebjørg vẫn không ngừng liếc mắt, không ngừng nói — Haakon hơi nghễnh ngãng. Bấy giờ Kristin cũng đã được phát y phục dành cho các cô gái trong tu viện — váy dạ thô không nhuộm màu trắng xám, thắt lưng len và dải buộc tóc, bên ngoài là chiếc áo choàng xanh sẫm giản dị, mũ trùm kéo lên che kín mái tóc tết. Haakon sải bước đằng trước, tay cầm cây gậy lớn nạm núm đồng. Lão mặc áo dài màu đen, trước ngực đeo một hình Agnus Dei bằng chì, trên mũ gắn ảnh Thánh Kristoffer — tóc và râu trắng của lão được chải chuốt kỹ đến nỗi lấp lánh như bạc dưới ánh mặt trời.

Khu phía trên của thành phố, từ con suối của nữ tu viện xuôi xuống dinh giám mục, là một vùng yên tĩnh; ở đây không có quầy hàng hay quán trọ, phần lớn các khu nhà đều thuộc về những bậc quyền quý ở các miền lân cận, và những đầu hồi bằng gỗ sẫm màu, không cửa sổ, quay ra phố. Nhưng ngay từ đây, trong ngày hôm ấy từng đàn người đã nối nhau đi ngoài đường, còn đám gia nhân đứng tựa bên cổng, chuyện trò với những người qua lại.

Khi họ ra đến dinh giám mục, khoảng đất trước nhà thờ Thánh Hallvard và tu viện Thánh Olav đã đông nghịt người — các quầy hàng dựng trên bãi cỏ, những người làm trò cho chó đã luyện nhảy qua những vòng đai thùng. Nhưng Haakon không cho hai cô dừng lại xem, cũng không cho Kristin vào nhà thờ — lão bảo đến đúng ngày đại lễ nàng xem sẽ thú vị hơn.

Xuôi theo con đường rộng trước nhà thờ Klemens, Haakon phải nắm tay hai cô, vì đây là nơi đông đúc nhất, người từ các bến tàu đi lên hoặc từ những ngõ hẹp giữa các khu buôn bán bước ra. Hai cô định đến Miklegaard, nơi những người thợ giày làm việc. Ingebjørg thấy quần áo Kristin mang từ nhà đến đều rất tốt và đẹp, nhưng cô bảo những đôi giày nàng đem từ miền quê lên không thể dùng để diện được. Còn từ khi trông thấy những đôi giày ngoại quốc mà Ingebjørg có đến mấy đôi, Kristin cũng nóng lòng muốn mua cho mình những đôi như thế.

Miklegaard là một trong những khu nhà lớn nhất Oslo; nó trải từ các bến tàu lên phía ngõ Sutare, gồm hơn bốn mươi ngôi nhà quây quanh hai sân lớn. Bấy giờ trong sân còn dựng thêm những quầy lợp dạ thô; bên trên các mái lều nhô lên một pho tượng Thánh Krispinus. Bên trong người mua kẻ bán đi lại tấp nập, đàn bà chạy giữa những nhà bếp, tay xách nồi và thùng, trẻ con lăn ra dưới chân người ta, ngựa được dắt vào rồi dắt ra khỏi chuồng, gia nhân khuân những gánh hàng ra vào các kho. Từ những hành lang trên cao dẫn vào các gian gác, nơi bán những món hàng quý nhất, đám thợ giày cùng các cậu bé coi quầy gọi réo xuống hai cô, đung đưa trước mặt họ những đôi giày nhỏ sặc sỡ, thêu chỉ vàng.

Nhưng Ingebjørg đi thẳng đến gian gác nơi Didrek, người thợ giày, làm việc; ông là người Đức, song có vợ người Na Uy và sở hữu một ngôi nhà tại Miklegaard.

Ông già đang mặc cả với một vị quý nhân khoác áo choàng đi đường, bên hông đeo kiếm, nhưng Ingebjørg mạnh dạn bước tới, cúi chào và nói:

“Thưa ngài, ngài có thể vui lòng cho chúng tôi nói chuyện với Didrek trước được không; chúng tôi phải về tu viện trước giờ kinh chiều; có lẽ ngài thong thả hơn chăng?”

Vị quý nhân đáp lễ rồi bước sang một bên. Didrek thúc khuỷu tay vào sườn Ingebjørg, cười hỏi trong tu viện các cô khiêu vũ thế nào mà mới một năm đã làm rách hết những đôi giày mua năm ngoái. Ingebjørg huých lại ông, bảo chúng vẫn còn chưa sờn, tiếc thay, nhưng cô thiếu nữ này đây — rồi kéo Kristin lên trước. Didrek cùng cậu học việc khiêng một chiếc rương ra hành lang. Ông bày hết đôi này đến đôi khác, đôi sau đẹp hơn đôi trước. Kristin phải ngồi lên một chiếc hòm để ông thử giày cho nàng — có giày trắng, nâu, đỏ, xanh lá và xanh lam, giày có gót gỗ sơn màu và giày không gót, giày cài khóa và giày buộc dải lụa, giày ghép bằng da hai màu, ba màu. Kristin tưởng chừng đôi nào nàng cũng muốn có. Nhưng chúng đắt đến mức nàng kinh hoảng — không một đôi nào có giá thấp hơn một con bò ở quê nhà. Trước lúc lên đường, cha đã cho nàng một túi đựng một mark bạc bằng tiền đếm sẵn — đó là tiền tiêu vặt của nàng, và Kristin từng ngỡ đây là cả một gia tài. Nhưng nhìn Ingebjørg, nàng hiểu rằng với chừng ấy nàng chẳng mua được bao nhiêu.

Ingebjørg cũng phải thử giày cho vui, việc ấy có mất tiền đâu, Didrek cười nói. Cô còn mua một đôi xanh màu lá non, gót đỏ — phải mua chịu, nhưng Didrek vốn biết cô và gia đình cô.

Dẫu vậy, Kristin nhận ra Didrek không mấy bằng lòng về chuyện ấy, và ông còn bực vì vị quý nhân cao sang khoác áo đi đường đã rời khỏi gian gác — họ thử giày lâu quá rồi. Vì thế nàng chọn một đôi giày không gót bằng da mỏng màu xanh tía; trên giày thêu chỉ bạc và đính những viên đá hồng như hoa hồng. Nhưng nàng không thích những dải lụa xanh lá buộc trên đó. Didrek nói ông có thể thay dải khác, rồi mang đôi giày vào căn phòng tận phía sau gian gác. Trong ấy ông cất những hòm đựng dải lụa và khóa bạc nhỏ — thật ra thợ giày không được phép buôn bán những món này — mà nhiều dải lụa cũng quá rộng, nhiều chiếc khóa quá lớn để dùng cho giày.

Hai cô lại phải mua thêm món này món khác trong đám đồ nhỏ ấy; đến khi họ uống chút rượu vang ngọt với Didrek và ông gói những thứ họ mua vào một tấm dạ thô, trời đã khá muộn, còn túi tiền của Kristin thì nhẹ đi rất nhiều.

Khi họ trở lại Phố Đông, ánh nắng đã vàng rực, bụi do dòng người xe trong thành khuấy lên treo như một làn khói nhạt trên đường. Trời thật ấm, thật đẹp, và người ta từ Eikaberg đi vào thành, ôm những bó cành lá non lớn để trang hoàng nhà cửa đón ngày lễ. Bấy giờ Ingebjørg nảy ý muốn đi ra Gjeitabru — vào mùa hội, trên những bãi cỏ bên kia sông thường có biết bao trò vui, nào người diễn trò, nào nhạc công — hơn nữa Ingebjørg nghe nói có cả một con tàu chở đầy thú vật ngoại quốc mới đến, đang được đem ra cho người ta xem trong các lều dưới cánh đồng ven bờ.

Ở Miklegaard, Haakon đã được uống bia Đức nên hết sức vui vẻ, dễ tính; khi hai cô nắm lấy cánh tay lão mà ngọt ngào van nài, lão bèn nhượng bộ, và cả ba đi ra phía Eikaberg.

Bên kia sông chỉ có ít khu nhà nhỏ nằm rải rác trên những sườn đồi xanh giữa dòng nước và triền núi dốc đứng. Họ đi ngang tu viện dòng Anh Em Hèn Mọn, và lòng Kristin se lại vì hổ thẹn khi nàng chợt nhớ mình đã định dành phần lớn số bạc để cầu cho linh hồn Arne. Nhưng nàng không muốn nói chuyện ấy với vị linh mục ở Nonneseter; nàng sợ bị hỏi han — nàng từng nghĩ có lẽ mình có thể tìm đến các tu sĩ chân đất ngoài bãi cỏ, nếu lúc này tu huynh Edvin đang ở tu viện. Nàng rất muốn gặp ông — vả lại nàng cũng không biết phải làm thế nào cho phải phép để được nói chuyện với một tu sĩ và trình bày nguyện vọng của mình. Giờ đây nàng không còn đủ tiền để biết chắc mình có thể xin một thánh lễ hay không — có lẽ nàng đành chỉ dâng một cây nến sáp lớn.

Bỗng từ bãi cỏ ven bờ vang lên tiếng gào khủng khiếp của vô số cổ họng — một cơn bão dường như quét qua đám đông đang tụ tập dưới ấy — rồi cả biển người chạy ào lên phía họ, la hét, gọi nhau. Ai nấy đều kinh hoàng cuồng loạn, và mấy người chạy ngang hét với Haakon cùng hai cô rằng những con báo đã sổng ra —.

Họ quay đầu chạy về phía cầu và nghe người ta gào lên với nhau rằng một căn lều đã đổ sập, hai con báo thoát ra — có người còn nhắc đến một con rắn —. Càng đến gần cầu, dòng người càng chen lấn dữ dội. Ngay trước mặt họ, một người đàn bà đánh rơi đứa con nhỏ khỏi tay — Haakon đứng dạng chân che trên đứa bé để bảo vệ nó — ngay sau đó, hai cô thoáng thấy lão ở tít bên cạnh, đứa trẻ đã nằm trong tay lão, rồi họ mất dấu lão.

Bên chiếc cầu hẹp, đám đông xô ép dữ dội đến nỗi hai cô bị đẩy hẳn ra một cánh đồng. Họ thấy người ta chạy xuống bờ sông; những trai trẻ nhảy xuống bơi, còn những người lớn tuổi lao lên các con thuyền đậu ở đó, khiến thuyền lập tức nặng trĩu sát mặt nước.

Kristin cố làm cho Ingebjørg nghe mình — nàng hét bảo cả hai chạy lên tu viện dòng Anh Em Hèn Mọn, nơi các tu sĩ áo xám đang chạy ra, cố tập hợp những người hoảng loạn về phía mình. Kristin không sợ như cô kia — họ cũng chưa hề trông thấy bóng dáng thú dữ, nhưng Ingebjørg đã hoàn toàn mất trí vì kinh hãi. Rồi đám đông lại náo loạn, bị dồn ngược khỏi cây cầu vì cả một đoàn đàn ông vừa vào các khu nhà gần đó lấy vũ khí nay đang quay trở ra, người cưỡi ngựa, kẻ chạy bộ; Ingebjørg suýt bị cuốn xuống dưới vó một con ngựa — cô thét lên rồi cắm đầu chạy về phía rừng. Kristin chưa bao giờ ngờ cô kia có thể chạy như thế — nàng bất giác nhớ đến một con lợn bị săn đuổi — và vội chạy theo để ít nhất hai người khỏi lạc mất nhau.

Họ đã chạy sâu vào rừng Kristin mới chặn được Ingebjørg lại — trên một lối mòn nhỏ dường như dẫn xuống con đường tới Trælaborg. Hai cô đứng một lúc để lấy lại hơi; Ingebjørg vừa sụt sịt vừa khóc, bảo cô không dám một mình trở lại qua thành phố rồi đi suốt về tu viện.

Kristin cũng thấy làm thế không ổn, vì đường phố còn náo loạn đến vậy; nàng nghĩ họ phải tìm một ngôi nhà, ở đó may ra có thể thuê một cậu trai đưa họ về. Ingebjørg bảo dưới bờ biển, xa hơn một quãng, hẳn có một đường ngựa đi đến Trælaborg, và cô biết dọc đường có vài ngôi nhà. Thế là họ tiếp tục theo lối mòn đi xuống rồi đi ra phía ngoài.

Vì cả hai đều bất an, họ có cảm giác mình đã đi rất lâu trước khi trông thấy một khu nhà giữa cánh đồng. Trong sân có một nhóm đàn ông ngồi uống rượu bên chiếc bàn dưới mấy cây tần bì, một người đàn bà đi lại mang bình rượu ra cho họ. Bà ta cau có và ngạc nhiên nhìn hai thiếu nữ mặc áo tu viện; còn khi Kristin trình bày sự tình, không người đàn ông nào có vẻ muốn đi theo họ. Nhưng cuối cùng cũng có hai gã trai trẻ đứng lên, nói sẽ đưa hai cô về Nonneseter nếu Kristin trả họ mười đồng xu.

Nghe giọng nói, nàng biết họ không phải người Na Uy, nhưng thấy họ có vẻ là người tử tế. Món tiền họ đòi khiến nàng thấy thật quá đáng, song Ingebjørg đã sợ đến mất hồn, mà nàng cũng không nghĩ hai người có thể tự đi về khi ngày đã muộn thế này, nên nàng đồng ý.

Vừa vào lối mòn trong rừng, hai người đàn ông đã áp sát hai cô và bắt chuyện. Kristin không thích chút nào, nhưng không muốn để lộ mình đang sợ, bởi vậy nàng bình tĩnh trả lời, kể chuyện những con báo rồi hỏi hai gã từ đâu tới; nàng cũng luôn ngoái nhìn quanh và làm ra vẻ bất cứ lúc nào cũng chờ gặp những người đã cùng họ ra ngoài — nàng nói cứ như cả một đoàn đông đang ở gần đó. Hai gã đàn ông dần dần nói ít đi — mà nàng cũng chẳng hiểu được bao nhiêu lời của họ.

Một lúc sau, nàng nhận ra họ không đi theo con đường nàng và Ingebjørg đã tới; lối mòn chạy theo hướng khác, lệch nhiều hơn về phía bắc, và nàng nghĩ họ đã đi quá xa từ lâu rồi. Sâu trong lòng nàng âm ỉ một nỗi kinh sợ mà nàng không dám thả cho hiện thành ý nghĩ — điều kỳ lạ là việc phải đi cùng Ingebjørg, một cô gái ngốc nghếch đến thế, lại làm nàng thêm vững dạ, bởi nàng cảm thấy chính mình phải tìm cách cứu cả hai. Dưới áo choàng, nàng kín đáo lần lấy cây thánh giá đựng thánh tích cha đã cho, siết nó trong tay, tha thiết cầu nguyện trong lòng cho họ sớm gặp được ai đó, còn bên ngoài thì cố gom hết can đảm và làm như không có chuyện gì.

Ngay sau đó, nàng thấy lối mòn đổ ra một con đường, nơi đây có một khoảng quang. Thành phố và vũng cảng nằm sâu phía dưới. Hai gã đã dẫn họ lạc đường, hoặc cố ý, hoặc vì không biết các lối mòn — họ đang ở trên sườn núi cao và cách Gjeitabru rất xa về phía bắc; nàng vẫn trông thấy cây cầu, và con đường họ vừa gặp dường như dẫn đến đó.

Bấy giờ nàng dừng lại, lấy túi tiền ra và bắt đầu đếm mười đồng xu vào lòng bàn tay.

“Nào, các anh,” nàng nói, “chúng tôi không cần người đi cùng nữa, ở đây chúng tôi đã biết đường. Xin cảm ơn các anh đã chịu khó, và đây là tiền công chúng ta đã thỏa thuận. Cầu Chúa ở cùng các anh.”

Hai gã nhìn nhau, vẻ mặt ngây ngốc đến nỗi Kristin suýt bật cười. Nhưng rồi một gã nhe răng cười nham hiểm, nói rằng con đường xuống cầu rất vắng vẻ; hai cô tuyệt nhiên không thể đi một mình.

“Hẳn chẳng có kẻ nào vừa đê tiện vừa ngu xuẩn đến mức muốn chặn đường hai thiếu nữ còn khoác áo tu viện,” Kristin đáp. “Bây giờ chúng tôi muốn đi một mình hơn —” và nàng chìa tiền ra.

Gã đàn ông túm lấy cổ tay nàng, ghé sát mặt vào mặt nàng và nói gì đó có những tiếng “Kuss” và “Beutel” — Kristin hiểu rằng hắn bảo hai cô sẽ được yên thân ra đi nếu nàng chịu cho hắn một nụ hôn và cả túi tiền.

Nàng nhớ đến khuôn mặt Bentein từng ghé sát mặt mình như thế, và trong một thoáng, nỗi kinh hãi khiến nàng buồn nôn, người lả đi. Nhưng nàng mím chặt môi, trong lòng kêu cầu Chúa và Đức Trinh Nữ Maria — đúng lúc ấy, nàng ngỡ mình nghe thấy tiếng vó ngựa trên lối mòn từ phía bắc vọng tới.

Nàng liền dùng túi tiền quật vào mặt gã đàn ông khiến hắn loạng choạng — rồi nàng xô mạnh vào ngực, làm hắn ngã khỏi lối mòn, lăn xuống rừng một quãng. Gã người Đức kia chộp lấy nàng từ phía sau, giật túi tiền khỏi tay nàng và giằng sợi dây chuyền khỏi cổ khiến nó đứt tung — nàng suýt ngã, nhưng túm chặt lấy hắn, cố giành lại cây thánh giá. Hắn muốn vùng ra — lúc này bọn cướp cũng đã nghe thấy có người đang tới — Ingebjørg thét đến vang trời, còn những kỵ sĩ trên lối mòn thúc ngựa phi hết sức. Họ xông ra khỏi bụi rậm; có ba người đàn ông. Ingebjørg vừa thét vừa chạy về phía họ, và họ nhảy xuống ngựa. Kristin nhận ra vị quý nhân nàng đã gặp trên gian gác của Didrek; ông rút kiếm, túm gáy gã người Đức đang giằng co với nàng rồi quất hắn bằng mặt phẳng lưỡi kiếm. Người của ông đuổi theo gã còn lại, bắt được hắn và đánh cho thỏa sức.

Kristin tựa vào vách núi; đến lúc này, khi mọi chuyện đã qua, nàng mới run lên, nhưng cảm giác mạnh nhất trong nàng là nỗi kinh ngạc vì lời cầu nguyện của mình đã được đáp lại mau đến thế. Rồi nàng nhìn thấy Ingebjørg: cô kia đã hất mũ trùm ra sau, khoác hờ áo choàng trên vai và đang kéo hai bím tóc vàng to nặng ra trước ngực. Vừa trông thấy thế, nàng bật cười—nàng khuỵu xuống, phải vịn vào một thân cây vì không sao nín được, nhưng nàng thấy chân mình mềm nhũn như trong xương không phải tủy mà là nước; nàng vừa run, vừa cười, vừa khóc.

Người đàn ông bước đến, nhẹ nhàng đặt một bàn tay lên vai nàng:

“Hẳn cô đã sợ hơn những gì cô muốn để lộ,” ông nói, giọng ấm áp và dễ nghe. “Nhưng giờ cô phải trấn tĩnh lại—khi nguy hiểm còn đó, cô đã giữ mình thật can đảm—”

Kristin chỉ có thể ngước nhìn ông mà gật đầu. Ông có đôi mắt sáng đẹp trong một khuôn mặt gầy, rám nhợt; mái tóc đen như muội được cắt khá ngắn trên trán và sau vành tai.

Ingebjørg lúc này đã sửa sang xong mái tóc; cô bước tới, dùng nhiều lời đẹp đẽ để cảm tạ người lạ. Ông vẫn đứng đó, một tay đặt trên vai Kristin, trong khi đáp lời Ingebjørg.

“Hai con chim này,” ông nói với những người của mình đang giữ hai tên Đức—chúng khai là thủy thủ trên một chiếc tàu từ Rostock—“ta phải đem về thành, cho tống vào ngục tối. Giờ chúng ta sẽ đưa hai cô gái này về tu viện. Các anh tìm lấy vài sợi dây mà trói chúng lại—”

“Ngài nói trói hai cô gái đấy à, Erlend?” một gia nhân hỏi. Đó là hai chàng trai trẻ, khỏe mạnh, ăn mặc tử tế, và sau trận đánh họ đang hết sức phấn chấn.

Chủ nhân cau mày, định đáp lại gay gắt. Nhưng Kristin đặt tay lên tay áo ông:

“Xin ngài hãy để chúng chạy đi!” Nàng khẽ rùng mình. “Chắc cả chị tôi lẫn tôi đều không muốn chuyện này bị đem ra bàn tán.”

Người lạ cúi nhìn nàng, cắn môi dưới rồi gật đầu như đã hiểu. Đoạn ông dùng mặt kiếm giáng vào gáy mỗi tên tù một đòn khiến chúng chúi về phía trước. “Chạy đi,” ông nói và đá chúng một cú; cả hai cắm đầu chạy hết sức. Ông quay lại phía hai cô gái, hỏi họ có muốn cưỡi ngựa không.

Ingebjørg để Erlend nâng mình lên yên ngựa của ông, nhưng rồi hóa ra cô không ngồi được trên chiếc yên ấy, vừa lên đã tuột xuống ngay. Ông nhìn Kristin dò hỏi, và nàng nói mình đã quen cưỡi yên đàn ông.

Ông đỡ dưới đầu gối nàng và nâng nàng lên. Một cảm giác ngọt ngào, êm dịu lan khắp người nàng khi ông cẩn thận giữ nàng cách xa mình, như thể sợ đến quá gần—ở nhà chẳng ai từng bận tâm xem có ép nàng sát vào mình hay không khi giúp nàng lên ngựa. Nàng thấy mình được trọng vọng một cách lạ lùng—.

Vị hiệp sĩ—Ingebjørg gọi ông như thế, dù ông mang đinh thúc bạc—bèn đưa tay cho cô gái kia, còn hai gia nhân nhảy lên ngựa. Bấy giờ Ingebjørg nhất quyết đòi họ đi vòng về phía bắc thành, men dưới Ryenbergene và Martestokker, chứ không qua các phố. Trước hết cô nhắc rằng ngài Erlend và các gia nhân của ngài đều mang đủ binh khí đấy chứ? Vị hiệp sĩ nghiêm trang đáp rằng lệnh cấm mang vũ khí cũng không đến nỗi nghiêm ngặt như vậy—đối với những người sắp lên đường—vả lại lúc này mọi người trong thành đều đã ra ngoài săn thú dữ—. Rồi cô lại nói mình sợ những con báo—. Kristin hiểu rất rõ Ingebjørg muốn đi con đường dài nhất và vắng vẻ nhất để được trò chuyện thêm với Erlend.

“Đây là lần thứ hai tối nay chúng tôi làm chậm bước ngài, thưa ngài,” cô nói, và Erlend nghiêm trang đáp:

“Không hề gì, tối nay tôi chỉ đi đến Gerdarud thôi—mà suốt đêm trời vẫn sáng.”

Kristin rất thích việc ông không đùa cợt hay giễu ghẹo, mà nói với nàng như thể nàng ngang hàng với ông, hoặc còn hơn thế. Nàng nhớ đến Simon; nàng chưa từng gặp chàng trai trẻ nào khác thuộc tầng lớp cận thần. Vả lại người đàn ông này hẳn lớn tuổi hơn Simon—.

Họ xuống thung lũng dưới Ryenbergene rồi đi ngược lên dọc theo con suối. Đường mòn hẹp, những bụi cây non ướt đẫm nghiêng những cành thơm nồng chạm vào nàng—dưới này trời tối hơn đôi chút, không khí mát lạnh, lá cây ven dòng suối đẫm sương.

Họ đi chậm, vó ngựa nện thành những tiếng trầm đục trên lối mòn ẩm ướt phủ cỏ. Nàng đung đưa trên yên; phía sau, nàng nghe tiếng Ingebjørg trò chuyện và giọng trầm, điềm tĩnh của người lạ. Ông không nói nhiều, đáp lời như thể tâm trí đang để tận đâu đâu—nàng cảm thấy dường như ông cũng mang tâm trạng hệt như mình—nàng thấy buồn ngủ một cách lạ lùng, nhưng yên ổn và mãn nguyện, giờ đây khi mọi biến cố trong ngày đã trôi qua.

Khi họ ra khỏi rừng, tiến lên đồng cỏ dưới Martestokker, cảm giác ấy giống như vừa tỉnh giấc. Mặt trời đã lặn, thành phố và vũng cảng nằm dưới chân họ trong ánh sáng trong trẻo, nhợt nhạt—phía những đồi Akers, dưới bầu trời xanh trắng có một dải viền vàng nhạt. Trong tĩnh lặng chiều hôm, âm thanh từ rất xa vọng lại như dâng lên từ đáy sâu của khí trời mát lạnh—ở đâu đó trên một con đường, bánh xe rít lên; chó trong những gia trang phía bên kia miền quê sủa đáp nhau. Nhưng từ khu rừng sau lưng họ, chim chóc ríu ran, cất tiếng hót hết căng lồng ngực, giờ mặt trời đã khuất.

Khói đốt nương trôi trong không khí, và ngoài một thửa ruộng, một đống lửa bừng sắc đỏ; đóa hồng lửa lớn cho thấy ánh sáng trong trẻo kia rốt cuộc vẫn là một thứ bóng tối.

Khi họ cưỡi ngựa giữa những hàng rào quanh đất tu viện, người lạ lại lên tiếng với nàng. Ông hỏi nàng thấy cách nào tốt hơn: để ông đưa nàng đến tận cổng rồi xin gặp phu nhân Groa, hầu trình bày với bà mọi chuyện đã xảy ra. Nhưng Ingebjørg muốn họ lẻn vào qua nhà thờ; như vậy có lẽ họ có thể vào tu viện mà không ai nhận ra họ đã đi quá lâu—biết đâu sơ Potentia đã quên bẵng họ vì đang mải tiếp họ hàng.

Kristin không hề nghĩ đến chuyện lấy làm lạ vì khoảng sân trước cửa tây nhà thờ lại yên tĩnh đến thế. Thường vào buổi tối, nơi đây vẫn rất đông vui vì dân trong vùng lân cận đến nhà thờ của các nữ tu; quanh đó còn có mấy ngôi nhà dành cho những người phục dịch thế tục và những người được tu viện phụng dưỡng. Họ từ biệt Erlend tại đây. Kristin đứng vuốt ve con ngựa của ông; nó màu đen, có cái đầu đẹp và đôi mắt hiền—nàng thấy nó giống Morvin, con ngựa nàng thường cưỡi ở nhà khi còn nhỏ.

“Ngựa của ngài tên là gì?” nàng hỏi khi con vật quay đầu khỏi nàng và ghé mõm ngửi trước ngực chủ.

“Bajard,” ông đáp, nhìn nàng qua cổ ngựa. “Cô hỏi tên ngựa của tôi mà không hỏi tên tôi sao?”

“Tôi rất muốn biết tên ngài,” nàng đáp và hơi cúi mình.

“Tôi tên là Erlend Nikulaussøn,” ông nói.

“Vậy xin cảm tạ Erlend Nikulaussøn vì những việc tốt lành ngài đã làm cho chúng tôi tối nay,” Kristin nói và đưa tay cho ông.

Thình lình, mặt nàng đỏ bừng; nàng rút bàn tay ra khỏi tay ông một nửa.

“Phu nhân Aashild Gautesdatter ở Dovre có phải là họ hàng của ngài không?” nàng hỏi.

Nàng kinh ngạc thấy ông cũng đỏ bừng mặt; ông đột ngột buông tay nàng và đáp:

“Bà ấy là dì tôi. Quả vậy, tôi chính là Erlend Nikulaussøn xứ Husaby.” Ông nhìn nàng lạ lùng đến nỗi nàng càng thêm bối rối, nhưng nàng trấn tĩnh lại và nói:

“Đáng lẽ tôi phải cảm tạ ngài bằng những lời tốt đẹp hơn, Erlend Nikulaussøn, nhưng tôi không biết phải nói gì với ngài—”

Ông cúi chào nàng, và nàng thấy giờ mình phải từ biệt, dù vẫn rất muốn chuyện trò thêm với ông. Đến cửa nhà thờ, nàng ngoảnh lại; thấy Erlend vẫn đứng bên ngựa, nàng giơ tay chào ông.

Trong tu viện, mọi người vô cùng kinh hãi và náo loạn. Haakon đã sai một kỵ mã về báo tin, còn chính ông đi khắp thành tìm hai cô gái, và người ta cũng đã cử người đi giúp ông. Các nữ tu nghe nói thú dữ đã giết và ăn thịt hai đứa trẻ dưới thành. Nhưng chuyện ấy là bịa đặt, và con báo—chỉ có một con—đã bị mấy gia nhân từ hoàng trang bắt được từ trước giờ kinh chiều.

Kristin cúi đầu đứng im, không nói một lời, trong khi viện mẫu và sơ Potentia trút cơn giận xuống hai cô gái. Trong lòng nàng như đang ngủ. Ingebjørg khóc và cãi lại—họ đã được phép ra ngoài với sự chấp thuận của sơ Potentia, lại có người hộ tống đứng đắn, những chuyện xảy ra sau đó đâu phải lỗi của họ—.

Nhưng phu nhân Groa nói giờ họ phải ở lại trong nhà thờ cho đến khi chuông nửa đêm điểm, cố hướng tâm trí về những điều thiêng liêng và cảm tạ Thiên Chúa đã cứu mạng sống cùng danh tiết của họ. “Giờ đây Thiên Chúa đã cho các con thấy rõ sự thật về thế gian,” bà nói, “thú dữ và tôi tớ của ma quỷ rình rập con cái Người ở mỗi bước chân, và không có đường cứu thoát nào nếu các con không bám chặt lấy Người bằng lời cầu nguyện và tiếng kêu xin.”

Bà trao cho mỗi người một cây nến đã thắp và bảo họ đi cùng sơ Cecilia Baardsdatter, người thường ở lại một mình cầu nguyện trong nhà thờ đến tận khuya.

Kristin đặt nến lên bàn thờ Thánh Laurentius rồi quỳ trên ghế cầu nguyện. Nàng nhìn đăm đăm vào ngọn lửa, khe khẽ đọc kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng. Dần dần, ánh nến dường như khép quanh nàng, ngăn cách nàng và ngọn sáng với mọi thứ bên ngoài. Nàng cảm thấy trái tim mình mở ra, tràn ngập niềm cảm tạ, ngợi ca và tình yêu đối với Thiên Chúa cùng Đức Mẹ dịu hiền của Người—hai Đấng đến gần nàng biết bao. Nàng vẫn luôn biết hai Đấng nhìn thấy mình, nhưng đêm nay nàng cảm nhận được rằng quả thật là như thế. Nàng thấy thế gian như trong một thị kiến: một gian phòng tối có một tia mặt trời rọi vào, những hạt bụi chấp chới qua lại giữa bóng tối và ánh sáng, và nàng cảm thấy giờ đây cuối cùng mình đã trôi vào trong tia nắng ấy—.

Nàng thấy mình có thể vui lòng ở lại đây, trong ngôi nhà thờ tĩnh lặng, tối đêm này, bao lâu cũng được—với vài đốm sáng nhỏ như những ngôi sao vàng giữa đêm, mùi hương trầm cũ ngọt dịu và hơi sáp cháy ấm nồng. Còn nàng tựa nghỉ bên ngôi sao của riêng mình—.

Khi sơ Cecilia lướt đến chạm vào vai nàng, nàng cảm thấy như một niềm hạnh phúc vừa chấm dứt. Khom gối trước bàn thờ, ba người phụ nữ đi ra sân tu viện qua cánh cửa nhỏ phía nam.

Ingebjørg buồn ngủ đến nỗi nằm xuống mà không nói một lời. Kristin mừng vì nàng không muốn bị quấy rầy lúc này, khi ý nghĩ của mình đang êm đẹp đến thế. Nàng cũng mừng vì ban đêm họ được phép mặc nguyên áo lót—Ingebjørg quá béo và đổ mồ hôi rất nhiều.

Nàng nằm thao thức hồi lâu, nhưng dòng ngọt ngào sâu thẳm từng nâng đỡ nàng khi quỳ trong nhà thờ không trở lại nữa. Dẫu vậy, nàng vẫn cảm thấy hơi ấm của nó trong mình; nàng hết lòng cảm tạ Thiên Chúa, và tự thấy tâm trí mình có thêm sức mạnh khi cầu nguyện cho cha mẹ, các em và linh hồn Arne Gyrdsøn.

Cha, nàng nghĩ—nàng nhớ cha biết bao, nhớ tất cả những gì hai cha con từng có với nhau trước khi Simon Darre bước vào cuộc đời họ. Một niềm âu yếm mới mẻ dành cho cha dâng lên trong nàng—trong tình yêu nàng dành cho cha tối nay dường như có một dự cảm về tình mẹ và nỗi sầu của mẹ; nàng mơ hồ nhận ra rằng có biết bao điều trong đời cha chưa từng được nhận. Nàng nhớ ngôi nhà thờ gỗ đen cũ kỹ ở Gerdarud—dịp lễ Phục sinh vừa rồi, tại đó nàng đã trông thấy phần mộ của ba đứa em trai nhỏ và của bà nội nàng, mẹ ruột của cha, Kristin Sigurdsdatter, người đã chết khi sinh cha ra đời—.

Erlend Nikulaussøn có việc gì ở Gerdarud nhỉ—nàng không sao hiểu được.

Nàng không biết rằng tối ấy mình còn nghĩ thêm về ông, nhưng suốt thời gian đó, ký ức về khuôn mặt gầy sẫm màu và giọng nói trầm tĩnh của ông vẫn nấn ná đâu đó trong vùng chạng vạng bên ngoài quầng sáng phủ trên tâm trí nàng.

Sáng hôm sau khi nàng thức dậy, mặt trời đang chiếu vào phòng ngủ, và Ingebjørg kể rằng chính phu nhân Groa đã dặn các nữ tu phục dịch đừng đánh thức họ dậy dự giờ kinh sáng. Giờ họ được phép sang nhà bếp kiếm chút gì ăn—. Kristin thấy lòng ấm lên vì sung sướng trước sự nhân hậu của viện mẫu—dường như cả thế gian đều đối xử tốt với nàng.