Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa — Chương 8: Tập I — Vòng hoa · Phần II — Vòng hoa · Chương I

Chương 8 / 23 · Bài review Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa

Chiếc thuyền đi lễ của Aasmund Bjørgulfsøn lướt qua mũi Hovedøen vào sáng sớm một ngày Chủ nhật cuối tháng Tư, giữa lúc chuông trong nhà thờ tu viện đang ngân, và từ thành phố, tiếng chuông dội đen đặc ra khắp vịnh, khi mạnh khi yếu tùy theo chiều gió đưa.

Bầu trời cao, xanh trắng, những cụm mây nhỏ sáng màu gợn thành vân bị gió thổi dạt qua, và nắng chấp chóa không yên trên mặt nước lăn tăn. Dọc các bờ bãi đã hoàn toàn mang sắc xuân, đồng ruộng hầu như sạch tuyết, trên những bụi cây lá rộng phảng phất bóng xanh cùng ánh vàng nhạt. Nhưng trong rừng vân sam chạy lên các sườn đồi bao quanh miền Akersbygden như một vành đai vẫn thấp thoáng tuyết, và trên những ngọn núi xanh xa tít phía tây, bên kia vịnh, còn nhe ra nhiều vệt trắng.

Kristin đứng ở mũi thuyền cùng cha và Gyrid, vợ Aasmund. Nàng nhìn vào thành phố, nơi tất cả những nhà thờ sáng màu và nhà đá vươn lên trên đám chen chúc những gia trang gỗ nâu xám cùng các vòm cây trụi lá. Gió phấp phới hai vạt áo choàng và thổi tóc nàng tung ra dưới mũ trùm.

Hôm trước họ đã thả gia súc ra ngoài ở Skog, và khi ấy nỗi nhớ Jørundgaard bỗng trào lên trong nàng. Còn lâu đàn súc vật ở nhà mới được ra đồng — nàng dịu dàng thương nhớ những con bò gầy rộc qua mùa đông trong chuồng tối; chúng còn phải chờ đợi và chịu đựng lâu nữa. Mẹ, Ulvhild đã ngủ trong vòng tay nàng mỗi đêm suốt bao năm qua, Ramborg bé nhỏ — nàng nhớ họ biết bao; nàng nhớ tất cả mọi người ở nhà, cả ngựa và chó, Kortelin mà Ulvhild sẽ giữ trong lúc nàng đi vắng, và những con chim ưng của cha đậu trên cầu với mũ trùm kín đầu. Bên cạnh treo những chiếc găng bằng da ngựa để xỏ vào khi cho chúng đậu lên tay, cùng những que ngà dùng để gãi cho chúng.

Dường như mọi chuyện đau buồn trong mùa đông vừa rồi đã lùi xa đến thế, và nàng chỉ còn nhớ ngôi nhà như thuở trước. Người ta cũng bảo nàng rằng trong vùng không ai nghĩ xấu về nàng. — Cha Eirik không tin chuyện ấy; ông vừa giận vừa đau lòng vì việc Bentein đã làm. Bentein đã trốn khỏi Hamar; người ta nói hắn chạy sang Thụy Điển. Bởi vậy, quan hệ giữa nhà họ với gia trang láng giềng đã không trở nên đáng sợ như nàng từng lo.

Trên đường xuôi xuống, họ đã ghé làm khách tại nhà Simon, và nàng được biết mẹ cùng các anh chị em của chàng — hiệp sĩ Andres vẫn còn ở Thụy Điển. Nàng không thấy dễ chịu ở đó, và lòng ác cảm với người nhà Dyfrin lại càng mạnh bởi nàng không biết một lý do hợp lẽ nào cho nó. Suốt dọc đường đến đó, nàng vẫn tự nhủ họ chẳng có cớ gì để kiêu ngạo và cho mình cao quý hơn dòng họ nàng — không ai biết gì về Reidar Darre, người Birkebein, trước khi vua Sverre cưới cho ông góa phụ của một lãnh chúa ở Dyfrin. Nhưng họ hoàn toàn không kiêu ngạo, và một tối chính Simon đã nói về ông tổ của mình: “Giờ anh đã hỏi ra chắc chắn rằng ông ấy vốn là thợ làm lược — vậy thì xem ra em mới là người sắp bước vào hoàng tộc đấy, Kristin,” chàng nói. “Giữ mồm giữ miệng đi, con trai,” mẹ chàng bảo, nhưng tất cả đều cười. Mỗi khi nghĩ đến cha, lòng nàng lại đau một cách lạ lùng; ông cười rất nhiều, hễ Simon cho ông dù chỉ một cái cớ nhỏ nhất — trong nàng thấp thoáng một linh cảm rằng có lẽ suốt đời cha vẫn hằng ao ước được cười nhiều hơn —. Nhưng nàng không thích việc ông quý Simon đến thế.

Qua lễ Phục sinh, tất cả họ đều ở Skog. Nàng nhận ra bác mình là một người chủ nghiêm khắc với tá điền và gia nhân — nàng đã gặp đôi ba người hỏi thăm mẹ và trìu mến nhắc đến Lavrans; những ngày ông còn sống ở đây, họ được sung sướng hơn. Mẹ Aasmund, mẹ kế của Lavrans, sống riêng trong một ngôi nhà tại gia trang; bà chưa già lắm nhưng đau yếu và suy kiệt. Ở nhà Lavrans hiếm khi nhắc đến bà. Một lần Kristin hỏi ông có phải đã gặp một người mẹ kế cay nghiệt không, cha nàng đáp: “Bà ấy chẳng làm cho cha bao nhiêu điều tốt mà cũng chẳng gây bao nhiêu điều xấu.”

Kristin tìm nắm lấy tay cha, và ông siết tay nàng:

“Con sẽ vui thôi, con gái của cha, khi ở cùng các nữ tu đáng kính — con sẽ có những việc khác để nghĩ đến, thay vì cứ khắc khoải nhớ nhà, nhớ chúng ta —”

Họ đi thuyền sát thành phố đến nỗi mùi hắc ín và cá muối từ các bến tàu theo gió đưa ra tận chỗ họ. Gyrid lần lượt chỉ tên những nhà thờ, gia trang và các đường phố công cộng chạy từ mép nước lên cao — Kristin không nhận ra gì từ lần trước từng đến đây, ngoài những ngọn tháp nặng nề của nhà thờ Halvard. Họ đi vòng qua toàn bộ phía tây thành phố rồi cập bến các nữ tu.

Kristin đi giữa cha và bác, xuyên qua một cụm nhà kho bên bến rồi ra con đường chạy ngược lên những cánh đồng. Gyrid theo sau, tay được Simon dắt. Các gia nhân ở lại giúp mấy người của tu viện chất hành lý lên một cỗ xe.

Nonneseter cùng toàn miền Leiran đều nằm trong phạm vi các mái nhà của thành phố, nhưng dọc đường chỉ lác đác vài cụm nhà. Chim sơn ca hót ríu ran trên đầu họ trong bầu không khí xanh nhợt, vô số đóa hoa đất nhỏ màu vàng chen đầy những sườn đất sét xám úa, song dọc theo hàng rào, dưới chân cỏ đã xanh.

Khi họ qua cổng và bước vào hành lang tu viện, tất cả các nữ tu từ nhà thờ nối hàng đi xuống đón họ, tiếng hát và tiếng nhạc tuôn theo ra ngoài qua cánh cửa rộng mở.

Kristin bối rối nhìn đoàn phụ nữ mặc áo đen, mặt quấn khăn lanh trắng. Nàng nhún mình cúi chào thật thấp, còn những người đàn ông cúi đầu, mũ ép sát ngực. Theo sau các nữ tu là một đoàn thiếu nữ — vài người còn là trẻ con — mặc váy vải len thô không nhuộm, thắt quanh eo những dải đai bện đen trắng, tóc cũng được tết chặt ra sau khỏi mặt bằng những sợi dây đen trắng cùng loại. Kristin bất giác làm ra vẻ kiêu kỳ trước các thiếu nữ, bởi nàng e thẹn và sợ họ cho rằng mình trông quê mùa, ngờ nghệch.

Tu viện nguy nga đến nỗi nàng hoàn toàn choáng ngợp. Tất cả các tòa nhà quanh sân trong đều xây bằng đá xám; ở phía bắc, bức tường dài của nhà thờ vươn cao hơn những tòa nhà khác; mái nhà thờ chia thành hai tầng cao thấp, đầu phía tây có tháp. Sân lát những phiến đá, chung quanh là một hành lang có mái che, mái được đỡ bằng những hàng cột đẹp đẽ. Giữa sân dựng một pho tượng đá Mater Misericordiæ đang giăng áo choàng che chở mấy người quỳ dưới chân.

Bấy giờ một nữ tu trợ sĩ đến mời họ theo mình tới phòng tiếp khách của viện mẫu. Phu nhân Groa Guttormsdatter là một bà lão cao lớn; hẳn bà đã đẹp nếu quanh miệng không mọc nhiều lông như râu. Giọng bà trầm, giống giọng đàn ông. Nhưng cung cách bà hiền hậu dễ mến; bà nhắc Lavrans rằng mình từng quen biết cha mẹ ông, rồi hỏi thăm vợ cùng những đứa con khác của ông. Sau cùng, bà thân ái nói với Kristin:

“Ta đã nghe tiếng tốt về con, và trông con khôn ngoan, được dạy dỗ chu đáo; hẳn con sẽ không khiến chúng ta phải phiền lòng. Ta nghe nói con đã được hứa gả cho người đàn ông cao quý và tốt lành này, Simon Andressøn, mà ta thấy đang có mặt ở đây — chúng ta cho rằng cha con và chồng tương lai của con đã suy tính phải lẽ khi cho con được sống một thời gian trong nhà Đức Mẹ Đồng Trinh, để con học vâng lời và phụng sự trước khi được đặt vào địa vị sai khiến và cai quản. Giờ ta muốn dặn con hãy học tìm niềm vui trong cầu nguyện và các việc thờ phượng, để con quen nhớ đến Đấng tạo hóa, Mẹ nhân từ của Thiên Chúa cùng toàn thể các thánh trong mọi việc mình làm; các ngài đã nêu cho chúng ta tấm gương cao quý nhất về lòng can đảm, sự chính trực, đức trung thành và mọi nhân đức mà con phải tỏ ra khi cai quản của cải, người nhà và nuôi dạy con cái. Ở nhà này con cũng sẽ học cách coi trọng thời giờ, bởi mỗi giờ ở đây đều có công việc và phận sự riêng. Nhiều thiếu nữ và đàn bà quá ưa nằm trên giường đến muộn buổi sáng, nhưng tối lại ngồi lâu bên bàn mà chuyện trò vô bổ — tuy vậy, trông con không có vẻ là người như thế. Trong năm này, con có thể học được nhiều điều hữu ích cho hạnh phúc của mình cả ở đời này lẫn đời sau.”

Kristin nhún mình cúi chào và hôn tay bà. Sau đó phu nhân Groa bảo Kristin theo một nữ tu già béo khủng khiếp, được bà gọi là xơ Potentia, sang phòng ăn của các nữ tu. Bà mời những người đàn ông cùng phu nhân Gyrid dùng bữa với mình trong một gian phòng khác.

Phòng ăn là một gian phòng đẹp, sàn lát đá, cửa sổ vòm nhọn lắp kính. Một ô cửa mở sang phòng bên, nơi Kristin biết hẳn cũng có cửa sổ kính, bởi ánh nắng đang rọi vào.

Các nữ tu đã ngồi vào bàn chờ thức ăn — những nữ tu cao tuổi ngồi trên bệ đá có lót đệm dưới bức tường cửa sổ; các xơ trẻ cùng những thiếu nữ đầu trần mặc váy len thô sáng màu ngồi trên một ghế dài bằng gỗ phía ngoài bàn. Trong phòng bên cũng đã dọn bàn; đó là chỗ dành cho những người cao sang nhất trong số những người được tu viện phụng dưỡng và các gia nhân thế tục; giữa họ có vài ông già. Những người này không mặc tu phục, nhưng y phục đều sẫm màu và đoan trang.

Xơ Potentia chỉ chỗ cho Kristin trên chiếc ghế dài phía ngoài, còn bà đi vào trong, đứng gần ghế danh dự của viện mẫu ở đầu bàn — hôm nay chiếc ghế ấy để trống.

Mọi người trong gian phòng này lẫn phòng bên đều đứng dậy trong lúc các nữ tu đọc lời nguyện trước bữa ăn. Sau đó, một nữ tu trẻ đẹp bước tới, đứng trên bục đọc đặt giữa ô cửa thông hai gian phòng. Và trong khi các nữ tu trợ sĩ ở phòng này, còn hai nữ tu trẻ nhất ở phòng kia, mang thức ăn cùng đồ uống vào, nữ tu ấy cất giọng cao và đẹp, đọc câu chuyện về thánh Theodora và thánh Didymus, không hề ngừng lại hay vấp một lời nào.

Thoạt đầu, Kristin chỉ chăm chăm giữ cung cách đẹp đẽ trên bàn ăn, vì nàng thấy tất cả các nữ tu và thiếu nữ đều cử động thanh nhã, ăn uống đoan trang như thể đang dự một yến tiệc sang trọng nhất. Đồ ăn thức uống hảo hạng ê hề, nhưng ai nấy đều lấy vừa phải và chỉ dùng đầu ngón tay khẽ chạm vào đĩa; không một ai làm dây nước xốt lên khăn bàn hay quần áo, tất cả đều cắt thịt thành miếng nhỏ để khỏi lem quanh miệng, và ăn cẩn thận đến mức không nghe thấy một tiếng động.

Kristin vã mồ hôi vì sợ mình không thể cư xử nhã nhặn như những người khác; nàng cũng thấy không yên trong bộ y phục sặc sỡ giữa tất cả những người phụ nữ đen trắng này — nàng tưởng tượng ai cũng đang nhìn mình. Vì vậy, khi ăn một miếng ức cừu béo, nàng cầm đầu xương bằng hai ngón tay, tay phải xẻ thịt, chú tâm đưa dao thật nhẹ và đẹp, thì tất cả bỗng tuột khỏi tay nàng; miếng bánh cùng miếng thịt bắn xuống khăn bàn, còn con dao rơi loảng xoảng trên nền đá lát.

Tiếng động vang quá lớn trong gian phòng im phăng phắc. Kristin đỏ như máu và định cúi xuống nhặt dao, nhưng một nữ tu trợ sĩ đi dép nhẹ chân bước tới không một tiếng động, thu dọn mọi thứ cho nàng. Nhưng Kristin không sao ăn thêm được nữa. Nàng cũng cảm thấy mình đã cứa vào một ngón tay và sợ máu dây lên khăn bàn, nên ngồi đó, bàn tay quấn trong một vạt váy, nghĩ rằng giờ mình lại làm bẩn bộ y phục xanh lam nhạt đẹp đẽ được may cho chuyến đi Oslo — và nàng không dám ngẩng mắt khỏi lòng.

Tuy vậy, một lát sau nàng bắt đầu chú ý hơn đến lời nữ tu đang đọc. Khi viên thủ lĩnh không thể lay chuyển lòng kiên định của trinh nữ Theodora — nàng không chịu hiến tế cho tà thần, cũng không chịu lấy chồng — hắn ra lệnh giải nàng đến một nhà chứa. Dọc đường hắn vẫn khuyên nàng nhớ đến dòng dõi tự do cùng cha mẹ đáng kính của mình, những người giờ đây sẽ phải chịu nỗi nhục đời đời, và hắn hứa nàng sẽ được sống yên ổn, giữ mình đồng trinh, nếu chịu phụng sự một nữ thần ngoại giáo mà họ gọi là Diana.

Theodora không chút sợ hãi đáp: “Đức trinh khiết như một ngọn đèn, còn tình yêu Thiên Chúa là ngọn lửa; nếu ta phụng sự mụ quỷ cái mà các người gọi là Diana, thì đức trinh khiết của ta chẳng đáng giá hơn một ngọn đèn han gỉ, không lửa cũng không dầu. Ngươi gọi ta là người tự do, nhưng tất cả chúng ta đều sinh ra làm nô lệ từ khi tổ phụ đầu tiên của chúng ta bán mình cho ma quỷ; Đức Kitô đã chuộc ta về, và ta có bổn phận phụng sự Người, bởi vậy ta không thể kết duyên với những kẻ thù của Người. Người sẽ che chở chim bồ câu của Người; nhưng nếu Người cho phép các ngươi xâm phạm thân xác ta, vốn là đền thờ của Chúa Thánh Thần, thì điều ấy sẽ không bị kể là nỗi nhục của ta, chừng nào ta không thuận lòng phản bội, trao tài sản của Người vào tay quân thù.”

Tim Kristin bắt đầu đập dồn, bởi chuyện này theo một cách nào đó khiến nàng nhớ đến cuộc gặp Bentein — nàng chợt nghĩ có lẽ đây chính là tội của mình — nàng đã không một khoảnh khắc nào nghĩ đến Thiên Chúa hay cầu xin Người cứu giúp. Và giờ xơ Cecilia đọc tiếp chuyện thánh Didymus. Chàng là một hiệp sĩ Kitô hữu, nhưng cho đến lúc ấy vẫn giấu kín đức tin của mình với tất cả mọi người, ngoại trừ một vài người bạn. Giờ chàng đến ngôi nhà nơi trinh nữ bị giam, trao tiền cho mụ đàn bà làm chủ nơi ấy, nhờ vậy được vào gặp Theodora trước tiên. Nàng chạy nép vào một góc như con thỏ rừng khiếp hãi, nhưng Didymus chào nàng là em gái mình và hiền thê của Chúa mình, rồi nói chàng đến để cứu nàng. Chàng trò chuyện với nàng một lúc, nói rằng: người anh chẳng phải nên liều mạng vì danh dự của em gái mình sao? Cuối cùng nàng làm theo lời chàng, đổi y phục với chàng và để chàng mặc áo giáp của Didymus cho mình; chàng kéo mũ sụp xuống mắt nàng, hất áo choàng lên che cằm, rồi bảo nàng hãy đi ra, giấu kín mặt như một thanh niên hổ thẹn vì đã đến một nơi như thế.

Kristin nghĩ đến Arne và phải khó nhọc lắm mới cầm được nước mắt. Nàng nhìn trân trân bằng đôi mắt ướt trong lúc nữ tu đọc đoạn cuối — Didymus bị giải đến pháp trường ra sao, còn Theodora từ trên núi vội vã chạy xuống, quỳ sụp dưới chân đao phủ, xin được chết thay chàng. Bấy giờ hai người mộ đạo tranh nhau xem ai sẽ là người đầu tiên đoạt được triều thiên; rồi cả hai đều bị chém đầu trong cùng một ngày. Đó là ngày hai mươi tám tháng Tư năm 304 sau Chúa giáng sinh, tại Antiochia, theo lời thánh Ambrosius đã ghi lại.

Khi họ đứng dậy rời bàn, xơ Potentia bước tới, thân ái vỗ lên má Kristin: “Phải rồi, ta đoán con đang nhớ mẹ.” Nước mắt Kristin liền bắt đầu nhỏ xuống. Nhưng nữ tu làm như không trông thấy và dẫn Kristin đến phòng ngủ nơi nàng sẽ ở.

Phòng ấy nằm trong một tòa nhà đá cạnh hành lang tu viện, một gian phòng đẹp có cửa sổ kính và một lò sưởi lớn ở bức tường ngắn phía trong. Dọc một bức tường dài kê sáu giường ngủ, còn dọc bức tường kia là rương của tất cả các thiếu nữ.

Kristin ước mình được nằm cùng một trong những cô bé, nhưng xơ Potentia gọi một thiếu nữ trưởng thành, tóc vàng, người béo mập: “Đây là Ingebjørg Filippusdatter, người sẽ ngủ chung giường với con — giờ hai đứa hãy làm quen với nhau.” Nói rồi bà đi ra.

Ingebjørg lập tức nắm tay Kristin và bắt đầu nói chuyện. Cô không cao lắm và quá béo, nhất là ở khuôn mặt — đôi mắt cô nhỏ xíu vì hai má quá phúng phính. Nhưng làn da cô trong trẻo, trắng hồng, tóc vàng óng như vàng và xoăn đến nỗi hai bím tóc dày vặn vẹo, cuộn vào nhau như dây thừng, còn những lọn nhỏ cứ không ngừng xổ ra dưới dải băng trán.

Cô lập tức hỏi Kristin đủ mọi chuyện, nhưng chẳng bao giờ đợi nghe trả lời; thay vào đó cô kể về mình và lần lượt kê ra mọi ngành trong dòng họ — toàn những người danh giá và giàu có lớn. Cô cũng đã đính hôn với một người đàn ông rất giàu có và quyền thế, Einar Einarssøn ở Aganæs — nhưng ông ta quá già và đã hai lần góa vợ; đó là nỗi buồn lớn nhất của cô, cô nói. Tuy vậy, Kristin không nhận thấy cô coi chuyện ấy nặng nề. Rồi cô nói một lúc về Simon Darre — thật kỳ lạ là cô đã nhìn chàng kỹ đến mức nào trong khoảnh khắc ngắn ngủi họ đi ngang qua nhau ở hành lang tu viện. Sau đó cô muốn xem rương của Kristin — nhưng trước tiên cô mở khóa rương mình và đem tất cả quần áo ra khoe. Trong lúc hai người lục lọi các rương, xơ Potentia bước vào — bà quở trách họ và nói đó không phải việc đứng đắn để làm trong ngày Chủ nhật. Thế là Kristin lại khổ sở — nàng chưa từng bị ai ngoài chính mẹ mình quở mắng, mà bị người xa lạ rầy la thì thật khác.

Ingebjørg vẫn vui vẻ như thường. Buổi tối, sau khi đã lên giường, nàng cứ nằm nói chuyện mãi cho tới khi Kristin ngủ thiếp đi. Hai nữ tu trợ sĩ lớn tuổi ngủ trong một góc phòng; họ có nhiệm vụ trông chừng các thiếu nữ, không để họ cởi áo lót khi ngủ, bởi theo tu luật, các cô gái không được trút bỏ hết y phục, và phải thức dậy dự giờ kinh sáng trong nhà thờ. Nhưng ngoài ra, họ chẳng bận tâm giữ trật tự trong phòng ngủ, và cứ làm như không nhận thấy khi các thiếu nữ nằm trò chuyện hoặc ăn những món ngon đã giấu trong rương của mình.

Sáng hôm sau, khi Kristin được đánh thức, Ingebjørg đã nói thao thao giữa chừng một câu chuyện dài, khiến Kristin gần như tự hỏi không biết nàng có nói suốt cả đêm hay không.