Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa — Chương 7: Tập I — Vòng hoa · Phần I — Jørundgaard · Chương VII
Chương 7 / 23 · Bài review Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa
Một ngày trong kỳ lễ Giáng sinh, Simon Andressøn bất ngờ cưỡi ngựa đến Jørundgaard. Anh xin lỗi vì đã đến đường đột như thế, không được mời mà lại đi một mình, không có họ hàng tháp tùng, nhưng ngài Andres đang ở Thụy Điển làm việc cho nhà vua. Chính anh đã về nhà ở Dyfrin được một thời gian, song nơi ấy chỉ có mấy cô em gái còn trẻ và mẹ anh đang nằm liệt giường, nên anh thấy buồn chán, rồi bỗng hết sức mong được lên đây thăm mọi người.
Ragnfrid và Lavrans hết lời cảm ơn anh đã vượt một chặng đường dài giữa lúc mùa đông khắc nghiệt nhất. Càng gặp gỡ Simon, họ càng mến anh. Anh đã biết rõ mọi điều Andres và Lavrans thỏa thuận với nhau, và nay họ định rằng lễ đính hôn của anh với Kristin sẽ được cử hành trước khi vào mùa Chay, nếu ngài Andres kịp về vào lúc ấy; bằng không thì ngay sau lễ Phục sinh.
Kristin lặng lẽ và rụt rè mỗi khi ở bên người chồng chưa cưới; nàng thấy chẳng có mấy chuyện để nói với anh. Một tối, sau khi mọi người đã ngồi uống rượu, Simon rủ nàng ra ngoài hóng mát một lát. Khi hai người đứng trên hành lang trước căn phòng trên lầu, anh ôm ngang lưng nàng và hôn nàng. Từ đó, anh thường làm thế mỗi khi chỉ có hai người với nhau. Nàng không vui, nhưng vẫn để mặc, vì biết cuộc hôn ước này không thể tránh được. Giờ đây nàng chỉ nghĩ đến việc lấy chồng như một điều mình buộc phải làm, chứ không phải điều mình mong muốn. Tuy vậy nàng cũng khá mến Simon, nhất là khi anh nói chuyện với người khác, không chạm vào nàng hay ngỏ lời với nàng.
Suốt từ đầu mùa thu, nàng đã khổ sở biết bao. Dẫu tự nhủ bao nhiêu lần rằng Bentein thực ra chưa làm gì được mình, cũng vô ích; nàng vẫn cảm thấy mình đã bị ô nhục.
Không gì còn có thể trở lại như xưa, từ khi một người đàn ông đã dám mưu toan làm một chuyện như thế với nàng. Đêm đêm nàng nằm thao thức, cháy bừng vì hổ thẹn, không sao thôi nghĩ đến chuyện ấy. Nàng nhớ thân thể Bentein áp vào mình khi nàng vật lộn với hắn, nhớ hơi thở nóng hực mùi bia của hắn — nàng buộc phải nghĩ đến điều có thể đã xảy ra — và toàn thân nàng rùng lên khi nhớ lời hắn nói rằng chuyện ấy rồi sẽ không thể che giấu, và Arne sẽ phải chịu tội. Trước mắt nàng vụt hiện những cảnh tượng về mọi điều hẳn đã xảy đến nếu nàng sa vào tai họa ấy, rồi người ta lại biết chuyện nàng gặp Arne — nếu cha mẹ nàng tin một điều như thế về Arne, và chính Arne nữa —. Nàng thấy chàng như trong buổi tối cuối cùng đã gặp, và nàng cảm thấy mình quỵ xuống trước chàng chỉ vì nàng đã _có thể_ kéo chàng cùng chìm vào đau khổ và nhục nhã. Rồi nàng lại gặp những giấc mơ ghê tởm. Nàng từng nghe trong nhà thờ và các truyện thánh những lời như dục vọng xác thịt và cám dỗ xác thịt, nhưng chúng chưa từng có nghĩa gì với nàng. Nay nàng mới thấy rõ rằng chính mình cũng như hết thảy mọi người đều mang một thân xác tội lỗi, đầy nhục dục, quấn bẫy quanh linh hồn và dùng những dây trói cứng rắn cứa vào nó.
Rồi nàng tưởng tượng ra những cách mình có thể giết Bentein hoặc chọc mù mắt hắn. Niềm khuây khỏa duy nhất nàng tìm được là thỏa thuê trong những giấc mộng trả thù kẻ đàn ông đen đúa, ghê tởm luôn chắn ngang dòng suy nghĩ của nàng. Nhưng điều ấy chẳng bao giờ giúp được lâu; đêm đêm nàng nằm bên Ulvhild, nghiến lòng mà khóc vì tất cả những gì đã dùng bạo lực giáng xuống đời nàng. Dẫu sao Bentein cũng đã phá được sự trinh trắng trong tâm hồn nàng.
Ngày làm việc đầu tiên sau kỳ lễ Giáng sinh, tất cả đàn bà ở Jørundgaard đều bận rộn trong nhà bếp; Ragnfrid và Kristin cũng ở đó gần suốt ngày. Tối muộn, khi vài người đàn bà đang dọn dẹp sau buổi làm bánh, còn những người khác sửa soạn bữa tối, cô gái coi chuồng bò hớt hải chạy vào, vừa kêu thét vừa đập hai tay vào nhau:
“Lạy Chúa Jesus, lạy Chúa Jesus — có ai từng nghe chuyện khốn khổ hơn thế này không — người ta đang chở xác Arne Gyrdsøn về nhà trên một cỗ xe trượt — xin Chúa cứu giúp Gyrd và Inga trong cảnh tai ương này —”
Một người đàn ông sống trong căn nhà nhỏ dưới đường cùng Halvdan bước vào. Chính hai người này đã gặp đoàn đưa xác.
Đám đàn bà xúm lại quanh họ. Kristin đứng ngoài cùng, mặt trắng bệch, toàn thân run rẩy. Halvdan, người hầu riêng của Lavrans, vốn biết Arne từ thuở chàng còn bé, vừa khóc nức nở vừa kể:
Chính Bentein, con trai linh mục, đã giết Arne. Tối giao thừa, đám tùy tùng của giám mục ngồi uống rượu trong gian nhà của đàn ông thì Bentein đến; lúc này hắn đã làm thư lại cho vị linh mục thuộc giáo bổng Mình Thánh. Thoạt đầu đám tùy tùng không muốn cho hắn vào, nhưng hắn nhắc Arne rằng hai người cùng quê; bấy giờ Arne cho hắn ngồi bên mình, rồi họ cùng uống. Nhưng sau đó họ đánh nhau; Arne xông vào dữ quá, khiến Bentein chộp lấy một con dao trên bàn, đâm vào cổ họng chàng rồi đâm thêm mấy nhát vào ngực. Arne chết gần như ngay tức khắc.
Vị giám mục hết sức đau lòng trước tai họa này; chính ngài đã lo liệu cho thi thể được sửa sang và sai người của mình chở xác chàng suốt chặng đường dài về nhà. Ngài cho xiềng Bentein lại, trục xuất hắn khỏi Giáo hội, và nếu hắn chưa bị treo cổ thì rồi hắn cũng sẽ bị treo cổ.
Halvdan phải kể lại chuyện ấy nhiều lần vì người mới cứ ùn ùn kéo vào. Lavrans và Simon cũng sang nhà bếp khi nhận thấy cảnh náo loạn và kinh động trong gia trang. Lavrans xúc động sâu sắc; ông sai thắng yên ngựa, vì muốn sang Brekken ngay lập tức. Khi sắp đi, mắt ông chợt dừng trên khuôn mặt trắng bệch của Kristin.
“Có lẽ con muốn đi cùng cha?” ông hỏi. Kristin ngần ngừ một lát; nàng rùng mình, nhưng rồi gật đầu, vì không đủ sức thốt ra một lời.
“Trời không quá lạnh đối với con bé sao?” Ragnfrid nói.
“Ngày mai đã là đêm canh xác, lúc ấy hẳn tất cả chúng ta đều sẽ sang đó —”
Lavrans nhìn vợ; ông cũng để ý thấy vẻ mặt Simon, rồi bước đến ôm lấy vai Kristin:
“Bà phải nhớ rằng con bé là em kết nghĩa của cậu ấy,” ông nói. “Có lẽ nó muốn giúp Inga sửa soạn thi thể.”
Và mặc dù trái tim Kristin như bị tuyệt vọng và sợ hãi thắt chặt, lời ấy của cha vẫn khiến nàng ấm lên vì biết ơn.
Bấy giờ Ragnfrid muốn họ ăn cháo tối trước khi lên đường, nếu Kristin cũng đi. Bà còn muốn gửi quà cho Inga — một tấm khăn trải giường bằng vải lanh mới, nến sáp và bánh mì vừa nướng; bà nhờ họ nói rằng chính bà sẽ sang giúp sửa soạn tang lễ.
Trong lúc thức ăn bày trên bàn, mọi người trong nhà ăn chẳng được bao nhiêu nhưng nói rất nhiều. Người này nhắc người kia nhớ đến những thử thách Chúa đã giáng xuống Gyrd và Inga. Điền trang của họ từng bị đá lở và lũ lụt tàn phá; mấy đứa con lớn đều đã chết, nên tất cả anh chị em còn lại của Arne vẫn chỉ là trẻ nhỏ. Mấy năm nay vận may mới đến với họ, từ khi giám mục đặt Gyrd làm người quản lý của ngài tại Finsbrekken, và những đứa con họ giữ được đều xinh đẹp, đầy triển vọng. Nhưng người mẹ yêu Arne hơn tất cả những đứa khác rất nhiều —.
Nhưng mọi người cũng thương xót cha Eirik. Vị linh mục được kính trọng và quý mến, dân trong vùng lấy làm tự hào về ông; ông học rộng, tài giỏi, và suốt bao năm phụng sự tại nhà thờ, chưa từng bỏ bê một ngày lễ thánh, một thánh lễ hay một nghi thức nào mình có bổn phận cử hành. Thuở trẻ ông từng là chiến binh dưới trướng bá tước Alv xứ Tornberg, nhưng chẳng may giết phải một người thuộc dòng dõi vô cùng cao quý, nên phải chạy đến nương nhờ giám mục Oslo; thấy ông có năng khiếu kinh sách, vị giám mục bèn cho ông học làm linh mục. Nếu không phải vì đến nay ông vẫn còn kẻ thù do vụ giết người năm xưa, thì cha Eirik hẳn chẳng bao giờ phải ngồi mãi bên ngôi nhà thờ nhỏ này. Quả thật ông rất tham tiền, cả cho túi riêng lẫn cho nhà thờ, nhưng nhờ vậy nhà thờ cũng được trang hoàng thật đẹp bằng chén thánh, phẩm phục và sách vở; còn bản thân ông lại có những đứa con ấy — và huyết thống của mình chưa từng đem đến cho ông điều gì ngoài sầu khổ và nhọc nhằn. Khắp các miền quê, người ta cho rằng bắt các linh mục sống như tu sĩ là chuyện vô lý, bởi đằng nào họ cũng cần đàn bà giúp việc trong gia trang và hẳn rất cần một người vợ chăm nom mình, khi phải thực hiện những chuyến đi dài và nhọc nhằn khắp giáo xứ trong đủ mọi thứ thời tiết; người ta cũng nhớ rằng chưa lâu lắm kể từ thời các linh mục ở Na Uy vẫn còn là những người có vợ. Vì vậy chẳng ai trách cha Eirik nặng nề hơn vì ông đã có ba người con với người quản gia từng ở cùng ông thuở trẻ. Song tối ấy họ vẫn nói xem ra Chúa muốn trừng phạt Eirik vì đời sống nhân tình của ông, bởi con cháu ông đã gây cho ông quá nhiều tai họa. Và có người cho rằng việc linh mục không được có vợ con cũng có lẽ mang ý nghĩa tốt lành — bởi giữa vị linh mục và người nhà Finsbrekken ắt sẽ nảy sinh thù oán và tai tiếng; trước kia họ từng là những người bạn thân thiết nhất.
Simon Andressøn biết rõ hạnh kiểm của Bentein ở Oslo và kể cho mọi người nghe. Hắn từng làm thư lại cho vị trưởng giáo tại nhà thờ Đức Mẹ và được coi là một gã có tài. Cũng có nhiều đàn bà rất ưa hắn — hắn có đôi mắt ấy, lại luôn mồm luôn miệng. Có người còn cho hắn là một người đàn ông đẹp trai — phần lớn là những phu nhân cảm thấy mình bị thiệt thòi về đường chồng con, cùng những thiếu nữ trẻ thích đàn ông suồng sã với mình. Simon bật cười — phải, mọi người hiểu chứ? Nhưng Bentein khôn ngoan lắm, hắn không đi quá giới hạn với hạng đàn bà ấy; với họ hắn chỉ dùng lời lẽ; nhờ vậy còn được tiếng là sống thanh sạch. Song vua Haakon vốn là một vị quân vương mộ đạo và đức hạnh, ngài muốn giữ cho người của mình sống trong kỷ luật và đứng đắn — ít ra là những người trẻ tuổi; với những người khác thì có lẽ ngài cũng không quản nổi. Thành thử bất cứ trò gì đám tùy tùng trẻ lén lút ra ngoài tham dự — tiệc rượu chè, đánh bạc, uống bia và những chuyện tương tự — vị linh mục trong triều đều biết cả, rồi những gã ngông cuồng ấy phải đến xưng tội, chịu phạt và nhận những lời quở trách nghiêm khắc; hai ba tên hoang đàng nhất còn bị đuổi đi. Nhưng cuối cùng người ta phát hiện ra rằng chính con cáo Bentein secretarius này — hắn vẫn bí mật lui tới mọi quán rượu và những nơi còn tệ hại hơn; hắn nghe đám hầu gái xưng tội rồi ban giải tội cho họ —
Kristin ngồi bên mẹ; nàng cố ăn để không ai nhận ra mình đang ra sao, nhưng tay nàng run đến nỗi mỗi thìa lại làm đổ cháo, còn lưỡi dường như dày lên và khô khốc trong miệng, khiến nàng không sao nuốt nổi những miếng bánh mì. Nhưng khi Simon bắt đầu nói về Bentein, nàng buộc phải thôi giả vờ ăn; hai tay nàng bấu vào chiếc ghế dài dưới người — nỗi khiếp sợ và ghê tởm siết lấy nàng đến mức nàng thấy choáng váng, buồn nôn. Chính hắn là kẻ đã muốn —. Bentein và Arne, Bentein và Arne —. Nàng sốt ruột đến phát bệnh, chỉ mong họ mau xong. Nàng khao khát được nhìn thấy Arne, nhìn khuôn mặt đẹp đẽ của Arne, được gục xuống đau buồn và quên hết mọi chuyện khác.
Khi mẹ giúp nàng mặc áo khoác ngoài, bà hôn lên má con gái. Giờ đây Kristin đã quá xa lạ với những cử chỉ âu yếm của mẹ, nên cái hôn ấy khiến nàng thấy dễ chịu biết bao — nàng tựa đầu lên vai Ragnfrid một thoáng, nhưng vẫn không thể khóc.
Khi ra sân, nàng thấy còn mấy người khác muốn đi cùng — Halvdan, Jon ở Laugarbru, Simon và người hầu của anh. Việc hai người ngoài ấy đi theo khiến nàng đau đớn một cách vô lý.
Đó là một buổi tối lạnh cắt da, tuyết rít lên dưới chân; sao lấp lánh dày đặc như sương muối trên nền trời đen. Khi họ đã cưỡi được một quãng, từ những bãi đất phía nam vọng đến tiếng gào rú cùng tiếng vó ngựa giận dữ — ở đoạn đường cao hơn một chút, cả đoàn kỵ mã cuồng loạn lao tới sau lưng rồi phóng vụt qua, kim loại va nhau lanh canh, hơi nóng từ những thân ngựa bốc khói, phủ đầy sương giá quất vào họ, khiến họ phải thúc ngựa dạt xuống tuyết. Halvdan gọi với theo đám đông hoang dại — đó là đám trai trẻ từ những gia trang phía nam trong vùng; họ vẫn còn vui chơi mùa Giáng sinh và đang ra ngoài thử sức ngựa. Vài kẻ say đến mất cả tri giác cứ rầm rập phi tiếp, vừa gào thét vừa nện lên khiên. Nhưng đôi ba người hiểu được tin Halvdan gọi với theo; họ tách khỏi đám đông, im lặng nhập vào đoàn của Lavrans, vừa đi vừa thì thầm với những người đàn ông cuối hàng.
Họ đi tới nơi có thể trông thấy Finsbrekken trên sườn đồi bên kia sông Silsaa. Ánh sáng hắt lên giữa các ngôi nhà — giữa sân, người ta cắm những ngọn đuốc gỗ thông vào một ụ tuyết, ánh lửa đỏ trải trên sườn dốc trắng, còn những căn nhà tối sẫm nom như bị quét một lớp máu đông. Một cô em gái nhỏ của Arne đứng ngoài trời giậm chân, hai tay khoanh trước ngực dưới áo choàng. Kristin hôn đứa trẻ đã khóc sưng mắt, rét cóng. Trái tim nàng nặng như đá, tứ chi tưởng chừng đổ đầy chì khi nàng bước lên cầu thang dẫn đến căn gác nơi họ đặt chàng.
Tiếng hát và ánh rực rỡ của vô số ngọn nến đang cháy đón họ ngay ngoài cửa. Giữa căn gác đặt cỗ áo quan đã dùng để đưa chàng về, bên trên phủ một tấm khăn; người ta kê ván ngang trên những giá gỗ rồi đặt áo quan lên đó. Nơi đầu áo quan, một linh mục trẻ đứng cầm sách và hát; chung quanh, mọi người quỳ gối, mặt vùi trong những tấm áo choàng dày.
Lavrans châm nến của mình từ một ngọn đang cháy, gắn nó lên tấm ván kê quan tài rồi quỳ xuống. Kristin định làm theo, nhưng không sao giữ được ngọn nến đứng vững; Simon bèn cầm lấy và giúp nàng. Suốt lúc vị linh mục đọc kinh, mọi người đều quỳ, thì thầm nhắc lại lời ông, hơi thở bốc khói quanh miệng — trong căn gác lạnh buốt như băng.
Khi vị linh mục khép sách và mọi người đứng lên — lúc ấy đã có rất đông người tụ tập trong phòng quàn xác — Lavrans bước tới chỗ Inga. Bà nhìn chằm chằm vào Kristin, dường như chẳng nghe thấy lời người đàn ông nói; những món quà ông trao, bà cứ cầm trong tay như không biết mình đang giữ thứ gì.
“Con cũng đến đấy à, Kristin,” bà nói bằng một giọng lạ lùng, gượng gạo. “Có lẽ con muốn nhìn thấy con trai ta, xem nó đã trở về với ta như thế nào chăng?”
Bà dịch mấy ngọn nến sang bên, bàn tay run rẩy nắm lấy cánh tay Kristin, còn tay kia giật tấm khăn che mặt khỏi dung nhan người chết.
Khuôn mặt chàng xám vàng như đất sét, đôi môi màu chì hơi hé ra, để lộ hai hàng răng đều đặn, thanh mảnh và trắng như xương, nom như một nụ cười chế nhạo. Dưới hàng mi dài thấp thoáng ánh lên đôi mắt đã vỡ, còn phía trên hai gò má có mấy vết xanh đen, không biết là dấu những cú đánh hay những đốm tử thi.
“Có lẽ con muốn hôn nó chăng?” Inga vẫn hỏi bằng giọng như trước, và Kristin ngoan ngoãn cúi xuống, áp miệng mình lên má người chết. Da chàng ẩm lạnh như đẫm sương, và nàng tưởng mình vừa thoáng ngửi thấy mùi tử thi; hẳn chàng đã bắt đầu tan giá trong hơi nóng của tất cả những ngọn nến.
Kristin cứ gục bên quan tài, hai tay đặt trên tấm ván kê, vì nàng không đủ sức đứng dậy. Inga kéo tấm vải liệm sang một bên nữa, để lộ vết dao lớn phía trên xương đòn. Rồi bà quay ra phía mọi người và cất tiếng run rẩy:
“Ta thấy lời người ta nói rằng vết thương của người chết sẽ chảy máu khi kẻ gây nên cái chết của họ chạm vào, hóa ra chỉ là dối trá. Giờ con trai ta lạnh hơn rồi, và cũng kém đẹp hơn lần cuối con gặp nó dưới đường kia. Ta thấy bây giờ con không thích hôn nó nữa — nhưng ta nghe nói khi ấy con đâu có chê miệng nó.”
“Inga,” Lavrans vừa nói vừa bước tới, “bà mất trí rồi sao — bà mê sảng đấy à —”
“Phải, người bên Jørundgaard các người cao quý lắm — ông giàu sang quá, Lavrans Bjørgulfsøn ạ, đến nỗi con trai tôi đâu dám nghĩ tới chuyện đường hoàng cầu hôn con gái ông — chắc chính nó cũng cho mình cao quý hơn thế, con Kristin ấy. Nhưng nó lại không cao quý đến mức không chạy theo con trai tôi trên đường cái ban đêm và đùa bỡn với nó trong bụi cây vào tối trước khi nó ra đi — cứ hỏi chính nó đi, để xem nó có dám chối khi Arne đang nằm chết tại đây không — chính thói lẳng lơ của nó đã gây nên cái chết này —”
Lavrans không hỏi; ông quay sang Gyrd:
“Anh phải giữ lấy vợ mình — cô ta mất hết thần trí rồi —”
Nhưng Kristin ngẩng khuôn mặt trắng bệch lên, tuyệt vọng nhìn quanh:
“Tối cuối cùng trước khi Arne đi, tôi đã ra gặp anh ấy vì anh ấy nhờ tôi. Nhưng giữa chúng tôi không xảy ra điều gì trái đạo.” Rồi như thể đã trấn tĩnh lại và hiểu hết mọi sự, nàng lớn tiếng kêu: “Tôi không biết bà nói gì, Inga — bà vu oan cho Arne ngay khi anh ấy nằm đây — anh ấy chưa bao giờ dụ dỗ hay quyến rũ tôi —”
Nhưng Inga cười lớn:
“Không phải Arne à? Thế còn thầy tu Bentein — hắn đâu có để cô đùa giỡn với hắn như thế. — Lavrans, cứ hỏi Gunhild, người đã rửa sạch thứ nhơ nhớp trên lưng con gái ông, rồi hỏi bất cứ người đàn ông nào có mặt trong nhà dành cho thuộc hạ của giám mục vào đêm Giao thừa, khi Bentein chế nhạo Arne vì đã để cô ta bỏ đi, còn mình thì đứng đó làm thằng ngốc si tình. Rồi cô ta cho Bentein chui vào dưới tấm áo da của mình cùng đi về, muốn chơi với hắn cũng trò ấy —”
Lavrans túm lấy vai bà ta và lấy tay bịt miệng bà:
“Đưa cô ta ra ngoài, Gyrd. Nói những lời như thế bên thi hài chàng trai tốt bụng này thật đáng hổ thẹn — nhưng dẫu tất cả các con anh có nằm chết ở đây, tôi cũng không đứng nghe cô ta vu oan cho con tôi — Gyrd, anh phải chịu trách nhiệm về những lời người đàn bà điên dại này nói —”
Gyrd nắm lấy vợ, định dẫn bà đi, nhưng ông nói với Lavrans:
“Sự tình quả là thế này: Arne và Bentein đang nói về Kristin khi con trai tôi mất mạng. Có lẽ anh chưa nghe, nhưng mùa thu vừa rồi trong làng đã có lời đồn —”
Simon nện thanh kiếm vào chiếc rương đựng quần áo gần nhất:
“Thôi, các người tử tế, trong căn phòng quàn xác này hãy tìm chuyện khác mà nói, đừng nói về người đã đính hôn với tôi nữa. — Thưa linh mục, chẳng lẽ cha không thể giữ những người này cho mọi sự được đoan trang hay sao —”
Vị linh mục — bấy giờ Kristin nhận ra đó là người con trai út nhà Ulvsvolden, về nhà dịp Giáng sinh — mở sách ra và đứng cạnh cáng quàn. Nhưng Lavrans lớn tiếng nói rằng bất kể kẻ nào đã bàn tán về con gái ông đều sẽ phải nuốt lại lời mình; còn Inga gào lên:
“Phải, cứ giết tôi đi, Lavrans, vì nó đã cướp hết nguồn an ủi và niềm vui của tôi — rồi cứ làm đám cưới cho nó với cậu con hiệp sĩ kia, nhưng người ta vẫn biết nó đã làm vợ Bentein ngay trên đường cái — đây —” bà ném tấm vải liệm Lavrans đã cho mình ngang qua cáng quàn về phía Kristin, “tôi không cần vải gai của Ragnfrid để chôn Arne — cô lấy mà làm khăn trùm đầu, hoặc để dành quấn đứa con hoang của cô — rồi xuống giúp Gunhild khóc thương người đàn ông bị treo cổ đi —”
Lavrans, Gyrd và vị linh mục cùng giữ lấy Inga. Simon định đỡ Kristin đang gục trên cáng quàn dậy. Nàng hất mạnh tay chàng ra, thẳng người lên, quỳ ngay ngắn và lớn tiếng kêu:
“Lạy Chúa, Đấng cứu chuộc con, xin cứu giúp con, chuyện này không có thật!”
Nàng duỗi một bàn tay ra, giữ nó trên ngọn nến gần nhất đặt bên cáng quàn.
Ngọn lửa dường như cúi xuống rồi né sang bên — Kristin cảm thấy mọi ánh mắt đều dồn vào mình — nàng tưởng việc ấy kéo dài rất lâu. Bỗng nàng cảm thấy lòng bàn tay đau bỏng rát, rồi rú lên một tiếng chói tai và ngã ngửa xuống sàn.
Chính nàng tưởng mình đã ngất đi — nhưng nàng vẫn biết Simon và vị linh mục đang nâng mình dậy. Inga gào lên điều gì đó; nàng thấy gương mặt kinh hoàng của cha và nghe vị linh mục quát rằng không ai được coi cuộc thử này là bằng chứng, không thể đòi Chúa làm chứng theo cách ấy — rồi Simon bế nàng ra khỏi gian gác, xuống cầu thang. Người hầu của Simon chạy ra chuồng ngựa, và ngay sau đó Kristin, vẫn còn nửa tỉnh nửa mê, đã ngồi phía trước trên yên ngựa của Simon, quấn trong áo choàng của chàng, còn chàng thúc ngựa lao xuống phía làng nhanh hết sức nó.
Họ đã gần tới Jørundgaard thì Lavrans đuổi kịp. Những người còn lại trong đoàn vẫn đang rầm rập chạy theo ở mãi phía sau trên đường.
“Đừng nói gì với mẹ cô,” Simon bảo khi đặt nàng xuống trước cửa nhà. “Tối nay chúng ta đã nghe quá nhiều lời điên rồ; chẳng trách cuối cùng chính cô cũng mất hết thần trí.”
Ragnfrid vẫn thức khi họ vào nhà và hỏi buổi canh xác ra sao. Simon lên tiếng trả lời thay cho tất cả. Phải, có rất nhiều nến và rất đông người. Phải, có một linh mục — Tormod nhà Ulvsvolden — còn Sira Eirik thì chàng nghe nói ngay tối ấy đã cưỡi ngựa xuống Hamar; như vậy họ đã vượt qua được khó khăn về việc mai táng.
“Ta phải cho làm một thánh lễ cầu hồn cho cậu ấy,” Ragnfrid nói. “Xin Chúa ban sức mạnh cho Inga; người đàn bà tốt bụng, đảm đang ấy đang chịu thử thách nặng nề.”
Lavrans thuận theo giọng điệu Simon đã dẫn dắt, và một lát sau Simon nói giờ tất cả nên đi nghỉ, “vì Kristin vừa mệt nhọc vừa đau buồn.”
Một lúc sau, khi Ragnfrid đã ngủ, Lavrans khoác vội ít quần áo, đi đến ngồi bên mép giường các con gái. Trong bóng tối, ông tìm thấy tay Kristin và nói rất dịu dàng:
“Bây giờ con hãy nói cho cha biết, con ạ, trong những lời Inga rêu rao, điều gì là thật, điều gì là dối?”
Nức nở, Kristin kể lại hết mọi chuyện đã xảy ra vào tối Arne cưỡi ngựa đi Hamar. Lavrans không nói nhiều. Bấy giờ Kristin bò tới trên giường, quàng tay ôm cổ cha và rên rỉ khe khẽ:
“Chính con đã gây nên cái chết của Arne — lời Inga nói quả là thật —”
“Chính Arne đã nhờ con ra gặp nó,” Lavrans nói và kéo tấm chăn phủ lên đôi vai trần của con gái. “Có lẽ cha đã thiếu suy xét khi để hai đứa tự do đi lại với nhau như thế, nhưng cha tưởng thằng bé khôn ngoan hơn —. Cha sẽ không trách hai đứa — cha hiểu những chuyện này thật nặng nề đối với con. Dẫu vậy, cha chưa từng nghĩ có đứa con gái nào của mình lại mang tiếng xấu trong làng ta — và mẹ con sẽ khổ sở lắm khi nghe được chuyện này —. Nhưng việc con đem chuyện ấy đến Gunhild thay vì đến với cha thật quá dại dột, cha không thể hiểu nổi sao con lại xử sự ngốc nghếch đến thế —”
“Con không chịu nổi việc ở lại làng này nữa,” Kristin khóc, “— con không dám nhìn vào mắt bất cứ ai — rồi tất cả những gì con đã gây ra cho họ ở Romundgaarden và Finsbrekken —”
“Giờ thì cả Gyrd lẫn Sira Eirik phải lo liệu,” Lavrans nói, “để những lời dối trá về con được chôn xuống cùng Arne. Nếu không thì Simon Andressøn là người có thể bảo vệ con hữu hiệu nhất trong chuyện này,” ông nói và vỗ về nàng trong bóng tối. “Con không thấy cậu ấy xử trí mọi việc vừa đẹp đẽ vừa khôn ngoan sao —.”
“Cha” — Kristin nép sát vào ông, khẩn khoản cầu xin, vừa sợ hãi vừa thiết tha, “hãy gửi con vào tu viện, cha. Xin cha hãy nghe con — con đã nghĩ đến việc này từ lâu rồi; có lẽ Ulvhild sẽ khỏi bệnh nếu con vào đó thay cho em. Cha có nhớ đôi giày con đính ngọc cho em hồi mùa thu vừa rồi không; con bị kim đâm vào ngón tay đau lắm, đến chảy máu vì sợi chỉ vàng sắc nhọn — con ngồi may đôi giày ấy vì thấy mình thật tệ bạc, không thương em gái đủ để chịu làm nữ tu mà cứu giúp em — có lần Arne đã hỏi con chuyện ấy. Nếu khi đó con nhận lời thì chuyện này đã không xảy ra —.”
Lavrans lắc đầu:
“Bây giờ nằm xuống đi,” ông bảo. “Chính con cũng không biết mình đang nói gì đâu, đứa con đáng thương của cha. Giờ con hãy thử xem có ngủ được không —”
Nhưng Kristin nằm đó, cảm thấy bàn tay bị bỏng đau nhức, còn nỗi tuyệt vọng và cay đắng trước số phận cuộn bão trong lòng nàng. Dẫu nàng có là người đàn bà tội lỗi nhất thì sự việc cũng không thể tệ hại hơn; hẳn ai ai cũng sẽ tin nàng là như thế — không, nàng không thể, không thể chịu nổi việc ở lại làng này. Hết nỗi kinh hoàng này đến nỗi kinh hoàng khác hiện ra trước mắt nàng — khi mẹ biết chuyện — và giờ đây đã có máu đổ giữa gia đình nàng với linh mục giáo xứ, có thù địch giữa tất cả những người từng sống quanh nàng như bè bạn suốt đời. Nhưng nỗi sợ hãi tột cùng, nghiền nát lòng nàng, ập xuống khi nàng nghĩ đến Simon, nghĩ đến cách chàng đã đón lấy nàng, đưa nàng đi, rồi đứng ra bênh vực nàng ngay trong nhà và quyết định mọi việc như thể nàng là vật sở hữu của chàng — cha mẹ nàng đã nhường bước trước chàng, như thể nàng đã thuộc về chàng nhiều hơn thuộc về họ —.
Rồi nàng nhớ đến gương mặt Arne trong nhà thờ, lạnh lẽo và dữ dằn. Nàng nhớ lần cuối rời nhà thờ đã nhìn thấy một huyệt mộ mở sẵn, chờ người chết. Những tảng đất bị cuốc vỡ nằm trên tuyết, cứng, lạnh và xám như sắt — chính nàng đã đưa Arne đến đó —.
Bỗng nàng nhớ đến một buổi tối mùa hè cách đây nhiều năm. Nàng đã đứng trên hành lang gác kho ở Finsbrekken, chính gian gác nơi tối nay nàng bị đánh ngã. Arne đang chơi bóng với mấy cậu bé dưới sân, và quả bóng bị đánh bay lên hành lang chỗ nàng. Nàng giấu nó sau lưng, không chịu trả khi Arne lên lấy; thế là cậu định giành bằng sức mạnh — họ vật lộn vì quả bóng, từ hành lang vào trong gian gác giữa những chiếc rương; các túi da đựng quần áo treo ở đó va vào đầu họ mỗi khi họ đâm sầm vào trong lúc đuổi bắt; họ vừa cười vừa lăn lộn giành nhau quả bóng ấy —.
Cuối cùng, dường như nàng mới thực sự hiểu rằng Arne đã chết, đã mất rồi, nàng sẽ không còn được nhìn thấy gương mặt đẹp đẽ, táo bạo của anh hay cảm nhận đôi bàn tay ấm áp ấy nữa. Và nàng đã trẻ con, đã vô tâm đến mức chưa bao giờ nghĩ rằng mất nàng sẽ là điều thế nào đối với anh —. Nàng khóc trong tuyệt vọng và cảm thấy mình đáng phải chịu tai họa này. Nhưng rồi nàng lại phải nghĩ đến tất cả những gì vẫn đang chờ đợi mình, và nàng khóc vì cảm thấy hình phạt sắp giáng xuống đầu mình dù sao cũng quá nghiệt ngã —.
Chính Simon là người kể cho Ragnfrid nghe chuyện đã xảy ra trong buổi canh xác ở Brekken tối hôm trước. Chàng không làm cho sự việc nặng nề hơn mức buộc phải nói. Nhưng Kristin quá rối loạn vì đau buồn và thức trắng đêm đến nỗi nàng cảm thấy một niềm cay giận hoàn toàn vô lý đối với chàng, bởi chàng có thể nói về chuyện ấy như thể rốt cuộc nó cũng chẳng quá khủng khiếp. Hơn nữa, cách cha mẹ để Simon xử sự như thể chàng là chủ nhà khiến nàng ghê sợ mãnh liệt.
“Con không tin điều nào trong những chuyện này chứ, Simon?” Ragnfrid lo lắng hỏi.
“Không,” Simon đáp. “Con cũng không nghĩ có ai tin đâu — họ biết gia đình ta, biết nàng và biết tên Bentein ấy; nhưng ở xó núi hẻo lánh này chẳng có mấy chuyện để bàn tán, nên người ta vồ lấy miếng mồi béo bở ấy cũng là lẽ thường. Giờ chúng ta phải dạy cho họ biết thanh danh của Kristin là món quá cao quý đối với đám dân quê hèn mọn ở đây. Nhưng thật không hay khi nàng để sự thô bạo của hắn làm cho sợ hãi đến mức không lập tức đến nói với cha mẹ hoặc với chính Sira Eirik — con nghĩ vị linh mục nhà cổng ấy hẳn sẽ vui lòng làm chứng rằng ông ta không có ý gì tệ hơn một lời đùa vô hại, nếu cha, Lavrans, đã tìm được ông ta để hỏi chuyện.”
Cả cha lẫn mẹ đều nói Simon có lý. Nhưng Kristin thét lên và giậm chân:
“Hắn đã đánh con ngã xuống đất — chính con cũng không biết hắn đã làm gì với con — con hoàn toàn mất trí, con chẳng còn nhớ gì nữa — biết đâu mọi chuyện đúng như Inga nói — từ hôm đó đến nay con chưa có lấy một ngày khỏe mạnh hay vui vẻ —”
Ragnfrid kêu lên, hai tay đập vào nhau; Lavrans bật dậy — vẻ mặt Simon cũng đổi khác; chàng nhìn nàng sắc lạnh, bước tới và nâng cằm nàng lên. Rồi chàng cười:
“Chúa phù hộ cô, Kristin — nếu hắn đã làm gì cô thì hẳn cô phải nhớ. Nàng buồn bã và yếu mệt từ buổi tối tai họa ấy cũng chẳng có gì lạ, khi nàng bị dọa một phen khủng khiếp như thế — nàng vốn trước đó chưa từng gặp điều gì ngoài lòng tử tế và thiện ý,” chàng nói với những người kia. “Bất cứ ai không mang ác tâm, không thích tin điều xấu hơn điều tốt, chỉ cần nhìn vào mắt nàng cũng thấy nàng vẫn là một trinh nữ, chưa phải đàn bà.”
Kristin nhìn lên đôi mắt nhỏ, cương nghị của người đã đính hôn với mình. Nàng hơi nâng hai tay — định quàng chúng quanh cổ chàng. Bấy giờ chàng lại nói:
“Giờ cô đừng nghĩ rằng rồi mình sẽ không quên được chuyện này, Kristin. Tôi đâu định rằng chúng ta sẽ lập tức về Formo an cư để cô không bao giờ ra khỏi thung lũng nữa. Chẳng ai giữ nguyên một sắc màu, dù là trên tóc hay trong tâm tính, giữa lúc mưa và khi nắng, vua Sverre xưa từng nói thế khi người ta trách các chiến binh Birkebeiner của ngài trở nên kiêu căng trong vận may —”
Lavrans và Ragnfrid mỉm cười — họ thấy thú vị khi nghe chàng trai trẻ làm ra vẻ như mình là một vị giám mục già thông thái. Simon nói tiếp:
“Thật chẳng phải phép nếu con lại dạy bảo người sắp làm cha vợ mình, nhưng có lẽ con dám nói chừng này: anh chị em con và con được nuôi dạy nghiêm khắc hơn; chúng con không được tự do chạy chơi với người trong nhà như con thấy Kristin vẫn quen. Mẹ con thường nói rằng chơi với con cái bọn dân ngụ cư nghèo khó thì cuối cùng thế nào cũng rước chấy lên đầu — và lời ấy cũng có phần đúng.”
Lavrans và Ragnfrid im lặng trước lời ấy. Nhưng Kristin quay mặt đi, và niềm thôi thúc nàng vừa cảm thấy trong thoáng chốc, muốn quàng tay ôm lấy cổ Simon Darre, đã hoàn toàn tan biến.
Khoảng giữa trưa, Lavrans và Simon mang ván trượt tuyết ra ngoài để xem mấy chiếc bẫy trên sườn núi. Ngoài trời lúc ấy quang đẹp, có nắng và không rét lắm. Cả hai người đàn ông đều thấy dễ chịu khi thoát khỏi mọi nỗi buồn và tiếng khóc trong nhà, nên họ đi rất xa, lên tận vùng núi trơ trụi.
Họ nằm dưới nắng bên chân một vách đá, uống và ăn; rồi Lavrans nói đôi chút về Arne — ông rất quý mến chàng trai. Simon phụ họa, khen ngợi người đã chết và nói chàng thấy Kristin thương tiếc người anh em cùng lớn lên với mình cũng chẳng có gì lạ. Bấy giờ Lavrans nhắc rằng có lẽ họ không nên thúc ép nàng như thế, mà nên cho nàng đôi chút thời gian để bình tâm lại trước khi uống tiệc bia đính hôn. Nàng đã nói rằng mình muốn vào tu viện một thời gian.
Simon ngồi bật dậy và huýt một tiếng dài.
“Con không thích việc ấy sao?” Lavrans hỏi.
“Có chứ, có chứ,” người kia đáp nhanh. “Con thấy đây là cách hay nhất, thưa cha vợ quý mến. Hãy gửi nàng đến với các nữ tu ở Oslo một năm — như thế nàng sẽ học được người đời bên ngoài nói về nhau ra sao. Con có quen biết đôi chút với vài thiếu nữ ở đó,” chàng vừa nói vừa cười. “Họ sẽ không nằm vật xuống mà chết vì đau buồn nếu hai thằng trai điên dại xé xác nhau vì họ. Không phải con muốn lấy một người như thế làm vợ — nhưng con nghĩ gặp gỡ những người mới sẽ không có hại cho Kristin.”
Lavrans bỏ phần thức ăn còn lại vào túi, không nhìn chàng trai trẻ, rồi nói:
“Ta vẫn tưởng con yêu Kristin —”
Simon khẽ cười và không nhìn Lavrans:
«Bác hẳn cũng biết, cháu nhìn nàng là hiểu — mà nhìn bác cháu cũng hiểu,» anh nói nhanh, vẻ lúng túng, rồi đứng dậy cầm lấy đôi ván trượt. «Cháu chưa từng gặp ai mà cháu muốn nên duyên vợ chồng hơn nàng —»
Ngay trước lễ Phục sinh, khi trong thung lũng và trên hồ Mjøs vẫn còn đi xe trượt tuyết được, Kristin lại lên đường về phương nam lần thứ hai. Simon lên đón để đưa nàng tới tu viện — bởi vậy lần này nàng đi cùng cha và vị hôn phu, ngồi trên xe trượt, mình quấn trong da thú; theo sau là các gia nhân cùng những xe chở rương áo quần của nàng, và quà biếu gồm thực phẩm cùng da lông dành cho bà viện trưởng và các nữ tu ở Nonneseter.