Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa — Chương 17: Tập I — Vòng hoa · Phần III — Lavrans Bjørgulfsøn · Chương II
Chương 17 / 23 · Bài review Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa
Ngày lễ Thánh Bartolomæus, 24 tháng Tám, người cháu ngoại của cố vương Haakon được tôn làm vua tại Haugating. Trong số những người được cử từ miền Bắc Gudbrandsdalen tới đó có Lavrans Bjørgulfsøn. Ông đã là người của nhà vua từ thuở trẻ, nhưng suốt những năm ấy hiếm khi đến gần đoàn cận thần, và chưa bao giờ tìm cách lợi dụng thanh danh mình giành được trong cuộc chinh phạt Công tước Eirik. Ông cũng chẳng thiết tha gì việc đi dự hội nghị tôn vương, song không thể thoái thác. Những người đại diện từ các thung lũng miền Bắc còn được giao nhiệm vụ tìm mua ngũ cốc ở miền nam đất nước và gửi bằng thuyền tới Raumsdalen.
Dân chúng trong các làng đều nản lòng và sợ hãi mùa đông đang tới. Nông dân cũng thấy chẳng lành khi một đứa trẻ lại sắp làm vua Na Uy. Những người già còn nhớ thời vua Magnus qua đời, để lại các con hãy còn thơ ấu, và Sira Eirik nói:
“Væ terræ, ubi puer rex est. Nói theo tiếng Na Uy thì ấy là: chuột trong nhà chẳng được yên giấc đêm khi mèo còn non.”
Ragnfrid Ivarsdatter cai quản gia trang trong lúc chồng vắng nhà, và cả bà lẫn Kristin đều được nhờ vì đầu óc cùng đôi tay lúc nào cũng đầy những lo toan, công việc. Khắp vùng, người ta nhọc nhằn lên núi gom rêu và bóc vỏ cây, bởi cỏ khô thu được quá ít mà rơm thì hầu như không có; ngay cả lá cây được tích trữ sau lễ Thánh Gioan cũng đã vàng úa, chẳng còn tốt. Vào ngày lễ Thánh Giá, khi Sira Eirik rước thánh giá qua các cánh đồng, nhiều người trong đoàn vừa khóc vừa lớn tiếng cầu xin Thiên Chúa thương xót người và gia súc.
Khoảng một tuần sau lễ Thánh Giá, Lavrans Bjørgulfsøn từ hội nghị trở về nhà.
Đã quá xa giờ mọi người thường đi ngủ, nhưng Ragnfrid vẫn ngồi trong phòng dệt. Những ngày này bà có quá nhiều việc phải trông nom, nên thường làm bên khung cửi và đường kim mũi chỉ đến khuya. Ragnfrid cũng rất thích căn nhà ấy. Người ta bảo đó là gian nhà cổ nhất trong gia trang; họ còn gọi nó là nhà đàn bà, và nói nó đã đứng đây từ thời ngoại giáo. Kristin và cô gái tên Astrid ở cùng bà, ngồi quay sợi bên bếp lửa.
Họ đã ngồi im lặng, ngái ngủ một lúc thì nghe tiếng vó của một con ngựa — một người đàn ông đang phi rất nhanh vào khoảng sân ướt. Astrid ra tiền sảnh nhìn — lát sau cô trở lại, theo sau là Lavrans Bjørgulfsøn.
Cả vợ lẫn con gái đều nhận ra ngay ông đã khá say. Ông lảo đảo, phải níu lấy cây chống lỗ khói, trong khi Ragnfrid cởi chiếc áo choàng và mũ ướt sũng khỏi người ông rồi tháo đai kiếm cho ông.
“Halvdan và Kolbein đâu rồi?” bà hỏi, có phần hốt hoảng. “Ông bỏ họ lại dọc đường sao?”
“Không, tôi rời họ ở Loptsgaard,” ông đáp và khẽ cười. “Tôi bỗng thèm được về nhà quá — chưa về thì không sao yên nổi — họ đi ngủ dưới ấy rồi, còn tôi cưỡi Guldsveinen phóng thẳng về đây —”
“Tìm cho ta chút gì ăn đi, Astrid,” ông nói với cô gái. “Mang vào đây, để cô khỏi phải đi quá xa dưới mưa. Nhưng mau lên, từ sáng sớm tới giờ ta chưa ăn gì —”
“Ở Loptsgaard người ta không cho ông ăn sao?” người vợ ngạc nhiên hỏi.
Lavrans ngồi trên ghế dài, lắc lư người và khẽ cười:
“Mình biết là có thức ăn mà — nhưng lúc ở đó tôi không muốn ăn. Tôi uống với Sigurd một lúc — nhưng — rồi nghĩ về nhà ngay cũng được, cần gì phải chờ đến mai —”
Astrid mang bia và thức ăn tới; cô cũng đem theo giày khô cho ông chủ.
Lavrans vụng về định tháo đinh thúc ngựa, nhưng suýt chúi đầu ngã về phía trước.
“Lại đây, Kristin,” ông bảo, “giúp cha con nào. Cha biết con sẽ làm bằng một tấm lòng yêu thương — phải, một tấm lòng yêu thương — hôm nay.”
Kristin vâng lời, quỳ xuống. Ông liền dùng cả hai tay ôm lấy đầu nàng và nâng lên:
“Con biết mà, con gái của cha — cha chẳng mong gì ngoài điều tốt lành cho con. Cha sẽ không khiến con phải chịu một nỗi buồn, trừ khi cha thấy nhờ thế mà sau này con tránh được nhiều nỗi buồn khác. Con còn trẻ lắm, Kristin — năm nay con vừa mười bảy tuổi — ba ngày sau lễ Thánh Halvard — con mới mười bảy tuổi —”
Kristin đã làm xong việc cho cha. Mặt hơi tái, nàng đứng lên rồi trở về ngồi trên chiếc ghế đẩu cạnh bếp lửa.
Cơn say dường như vơi bớt khỏi Lavrans khi ông dần ăn no. Ông trả lời những câu hỏi của vợ và cô hầu về hội nghị — phải, mọi việc diễn ra rất trang trọng. Họ đã mua được ngũ cốc cùng một ít bột và mạch nha, một phần ở Oslo, một phần ở Tunsberg; đó là hàng ngoại quốc, có thể tốt hơn, nhưng cũng có thể tệ hơn. Phải, ông đã gặp nhiều bà con và người quen, và mang về những lời thăm hỏi. Nhưng mỗi câu trả lời cứ nhỏ từng giọt khỏi miệng ông.
“Tôi đã nói chuyện với ngài Andres Gudmundsøn,” ông kể sau khi Astrid đi ra. “Simon đã uống chén bia đính ước với người góa phụ trẻ ở Manvik. Hôn lễ sẽ tổ chức tại Dyfrin vào dịp lễ Thánh Andreas. Lần này thằng bé tự mình định đoạt. Ở Tunsberg tôi đã tránh mặt ngài Andres, nhưng ông ấy tìm đến tôi — muốn nói cho tôi biết rằng ông ấy biết chắc mãi đến giữa mùa hè năm nay Simon mới gặp phu nhân Halfrid lần đầu. Ông ấy sợ tôi nghĩ rằng Simon đã nhắm đến cuộc hôn nhân giàu sang ấy khi đoạn tuyệt với nhà ta.” Lavrans ngồi cười buồn bã một lúc. “Hai mẹ con hiểu đấy, con người đáng kính ấy hết sức sợ chúng ta nghĩ điều như vậy về con trai ông ta.”
Kristin thở nhẹ nhõm hơn. Nàng nghĩ đây chính là điều khiến cha kích động đến thế. Có lẽ suốt thời gian qua ông vẫn hy vọng cuộc hôn nhân giữa nàng và Simon Andressøn rốt cuộc còn có thể thành. Thoạt đầu nàng đã sợ ông nghe được chuyện gì về chuyến đi của nàng xuống phía nam, tới Oslo.
Nàng đứng dậy chúc cha mẹ ngủ ngon. Nhưng cha bảo nàng hãy nán lại một lát.
“Cha còn một tin nữa,” Lavrans nói. “Cha có thể giấu con, Kristin — nhưng tốt hơn hết con nên biết. Người đàn ông mà con đã gửi gắm lòng mình ấy, con phải cố mà quên đi.”
Kristin đứng đó, hai tay buông thõng, đầu cúi xuống. Giờ nàng ngước nhìn mặt cha. Môi nàng mấp máy, nhưng không thốt ra được tiếng nào.
Lavrans tránh ánh mắt con gái; ông vung tay ra:
“Con thừa biết, nếu cha thực lòng tin việc ấy sẽ đem lại điều tốt cho con thì cha đâu chống lại.”
“Trong chuyến đi này cha đã nghe được tin gì?” Kristin hỏi, giọng rõ ràng.
“Erlend Nikulaussøn và người bà con của anh ta, ngài Munan Baardsøn, đã đến gặp cha tại Tunsberg,” Lavrans đáp. “Ngài Munan thay mặt Erlend hỏi cưới con, và cha đã từ chối.”
Kristin đứng một lúc, hơi thở nặng nề.
“Tại sao cha không chịu gả con cho Erlend Nikulaussøn?” nàng hỏi.
“Cha không biết con hiểu được bao nhiêu về người đàn ông mà con muốn lấy làm chồng,” Lavrans nói. “Nếu con không tự hiểu được nguyên do, thì nghe chính miệng cha nói ra cũng chẳng dễ chịu gì cho con.”
“Có phải vì anh ấy từng bị vạ tuyệt thông và bị đặt ngoài vòng pháp luật không?” Kristin vẫn hỏi bằng giọng như trước.
“Con có biết điều gì đã khiến vua Haakon đuổi người bà con gần ấy khỏi triều đình — và sau cùng anh ta bị tuyệt thông vì chống lại lệnh của tổng giám mục — cũng như khi rời khỏi đất nước, anh ta đã không đi một mình không?”
“Có,” Kristin đáp. Giọng nàng trở nên thiếu vững vàng: “Con cũng biết anh ấy mới mười tám tuổi khi quen người đàn bà ấy — nhân tình của anh ấy.”
“Cha cũng từng ấy tuổi khi lấy vợ,” Lavrans đáp. “Hồi cha còn trẻ, người ta vẫn cho rằng đến tuổi mười tám, một người đàn ông phải tự chịu trách nhiệm về mình và định đoạt phúc họa của bản thân cùng những người khác.”
Kristin đứng im lặng.
“Con gọi người đàn bà mà anh ta đã chung sống mười năm và có con với là nhân tình của anh ta,” một lát sau Lavrans nói. “Cha sẽ chẳng vui vẻ gì vào ngày tiễn con gái mình ra khỏi nhà với một người chồng đã công khai sống cùng nhân tình hết năm này sang năm khác trước khi cưới vợ. Nhưng con biết chuyện ấy còn chẳng phải chỉ là ăn ở với nhân tình.”
“Cha đâu từng phán xét phu nhân Aashild và ngài Bjørn nghiệt ngã đến thế,” Kristin khẽ nói.
“Dẫu vậy, cha cũng không thể nói mình vui lòng nếu nhà ta kết thông gia với họ,” Lavrans đáp.
“Cha,” Kristin nói, “suốt đời cha chưa từng phạm tội hay sao mà dám phán xét Erlend nghiệt ngã đến thế —”
“Thiên Chúa biết,” Lavrans cộc cằn đáp, “cha không phán xét bất cứ ai là kẻ tội lỗi trước mặt Người hơn chính cha. Nhưng không thể vì tất cả chúng ta đều cần lòng thương xót của Thiên Chúa mà tính rằng cha phải đem con gái mình gả cho bất cứ người đàn ông nào thích đến hỏi.”
“Cha biết con không có ý ấy,” Kristin nóng nảy nói. “Cha — mẹ — cha mẹ cũng từng trẻ — chẳng lẽ không còn nhớ đủ để biết rằng người ta đâu dễ gì giữ mình khỏi tội lỗi do tình yêu gây nên —”
Mặt Lavrans đỏ bừng.
“Không,” ông đáp gọn.
“Vậy cha không biết mình đang làm gì đâu,” Kristin tuyệt vọng kêu lên, “nếu cha chia lìa Erlend Nikulaussøn và con!”
Lavrans lại ngồi xuống ghế dài.
“Con mới mười bảy tuổi thôi, Kristin,” ông lại nói. “Có thể anh ta và con — hai người đã yêu nhau sâu đậm hơn cha tưởng. Nhưng anh ta đâu còn trẻ đến mức không hiểu — nếu là một người tử tế, anh ta đã không tìm đến một đứa trẻ non nớt, chưa có quyền tự định đoạt như con mà nói lời yêu đương. — Việc con đã được hứa gả cho người khác, hẳn anh ta cũng chỉ coi là chuyện nhỏ —.
Nhưng cha sẽ không gả con gái mình cho một người đàn ông đã có hai đứa con với vợ hợp pháp của người khác. Con có biết anh ta có con không?
Con còn quá trẻ để hiểu một điều trái đạo như thế sẽ sinh ra tranh chấp — và mối bất hòa không bao giờ dứt trong một dòng họ. Người đàn ông ấy không thể ruồng bỏ chính con mình, mà cũng không thể sửa lại chuyện đã xảy ra — khó lòng tìm được cách đưa con trai mình nên người giữa thiên hạ, hay gả con gái cho ai khá hơn một tên đầy tớ hoặc một tiểu nông. Hai đứa trẻ ấy phải chẳng có máu thịt trong người thì mới không căm ghét con và các con của con —.
Con không hiểu sao, Kristin — những tội lỗi như vậy — có lẽ Thiên Chúa tha thứ chúng dễ hơn nhiều tội khác, nhưng chúng hủy hoại cả dòng giống đến mức không gì cứu vãn được. Cha cũng đã nghĩ tới Bjørn và Aashild — Munan, con trai bà ấy, đứng đó đeo vàng đầy người, ngồi trong hội đồng cố vấn của nhà vua; ông ta và các anh em đều nắm phần gia tài bên ngoại, vậy mà suốt bao năm nay ông ta chưa từng đến thăm mẹ mình trong cảnh nghèo túng. Phải, chính người ấy được bạn con chọn làm người đứng ra nói thay.
Không, cha nói là không. Khi đầu cha còn ở trên mặt đất, con sẽ không bước chân vào dòng họ ấy.”
Kristin lấy hai tay che mặt và òa khóc:
“Vậy con sẽ cầu xin Thiên Chúa ngày đêm, ngày đêm, rằng nếu cha không đổi lòng, Người hãy đưa con rời khỏi cõi đời này!”
“Tối nay nói thêm về chuyện này cũng vô ích,” người cha đau đớn nói. “Có lẽ con không tin, nhưng cha phải định đoạt cho con theo cách mà cha thấy mình có thể chịu trách nhiệm. Giờ đi nghỉ đi, con.”
Ông chìa tay về phía nàng, nhưng nàng không chịu nhìn bàn tay ấy, cứ nức nở bước ra khỏi phòng.
Hai vợ chồng ngồi lại một lúc. Rồi Lavrans nói với vợ:
“Mình chịu khó lấy cho tôi một chén bia — không, lấy ít rượu vang vào đây,” ông bảo. “Tôi mệt rồi —.”
Ragnfrid làm theo lời ông. Khi bà trở lại với chiếc cốc cao, chồng bà đang vùi mặt trong hai bàn tay. Ông ngẩng lên, sờ lên khăn trùm đầu của bà rồi vuốt xuống hai cánh tay:
“Tội nghiệp, mình ướt cả rồi. — Nào, uống chúc tôi đi, Ragnfrid.”
Bà chỉ vừa chạm môi vào miệng cốc.
“Không, uống với tôi đi,” Lavrans nóng nảy nói và kéo vợ xuống lòng mình. Người vợ miễn cưỡng chiều theo. Lavrans nói:
“Mình sẽ đứng về phía tôi trong chuyện này chứ? Tốt nhất cho chính Kristin là ngay từ đầu nó phải hiểu rằng nó cần gạt người đàn ông ấy ra khỏi lòng.”
“Việc ấy sẽ khổ cho con bé lắm,” người mẹ nói.
“Phải, tôi hiểu,” Lavrans đáp.
Họ ngồi một lúc, rồi Ragnfrid hỏi:
“Erlend của Husaby ấy trông thế nào?”
“Ồ,” Lavrans ngập ngừng nói. “Cũng là một chàng trai đẹp — theo một cách nào đó. Nhưng trông anh ta chẳng có vẻ làm nên trò trống gì ngoài chuyện mê hoặc đàn bà.”
Họ lại im lặng một lúc, rồi Lavrans nói tiếp:
“Gia tài lớn anh ta thừa hưởng từ ngài Nikulaus, hẳn anh ta đã quản lý đến mức hao hụt đi nhiều rồi. Tôi vất vả và tìm mọi cách bảo đảm tương lai cho các con mình đâu phải để có một người con rể như thế.”
Người mẹ bồn chồn đi đi lại lại trên sàn. Lavrans nói tiếp:
“Điều tôi ít ưa nhất là anh ta đã tìm cách dùng bạc mua chuộc Kolbein — bảo nó mang một lá thư kín của anh ta tới cho Kristin.”
“Ông có xem lá thư ấy không?” Ragnfrid hỏi.
“Không, tôi chẳng buồn xem,” Lavrans nói cụt lủn. “Tôi trao trả nguyên vẹn cho ngài Munan và nói thẳng với ông ấy tôi nghĩ gì về lối hành xử ấy. Hắn lại còn đóng cả ấn của mình vào thư — thật chẳng biết phải gọi những trò trẻ con như thế là gì. Ngài Munan cho tôi xem dấu ấn: đó là ấn riêng của vua Skule, Erlend được thừa hưởng từ cha mình. Hẳn ông ấy tưởng tôi sẽ nhớ ra rằng việc họ cầu hôn con gái tôi là một vinh dự lớn. Nhưng tôi cho rằng ngài Munan đã chẳng sốt sắng lo liệu việc này cho Erlend đến thế, nếu ông ấy không hiểu rằng quyền thế và danh giá mà dòng họ Husaby từng có dưới thời ngài Nikulaus và ngài Baard đang suy tàn trong tay người đàn ông ấy — giờ đây Erlend không còn mong cưới được một người vợ xứng với dòng dõi của mình nữa.”
Ragnfrid dừng lại trước mặt chồng:
“Việc này thì tôi không biết ông có nói đúng không, chồng ạ. Trước hết phải kể rằng thời thế bây giờ như vậy, nhiều người đàn ông ở các điền trang lớn khắp nơi đã phải bằng lòng với ít quyền thế và danh vọng hơn cha họ thuở trước. Chính ông hiểu rõ nhất rằng ngày nay một người đàn ông muốn gây dựng của cải, dù bằng đất đai hay buôn bán, đều khó hơn thời trước —”
“Tôi biết, tôi biết,” người chồng sốt ruột ngắt lời, “bởi thế càng phải thận trọng cai quản những gì mình được thừa kế —”
Nhưng người vợ vẫn nói tiếp:
“Lại còn điều này nữa: tôi thấy Kristin đâu phải một đám không cân xứng với Erlend. Ở Thụy Điển, dòng họ ông thuộc hàng cao quý nhất; ông nội và cha ông đều mang tước hiệp sĩ tại đất nước này. Tổ tiên tôi nối đời làm lãnh chúa suốt mấy trăm năm cho đến Ivar Già; cha và ông nội tôi đều là quan trấn hạt. Quả là ông và Trond không được phong thêm tước vị hay ban lãnh địa của vương quyền. Nhưng theo tôi, người ta cũng có thể nói hoàn cảnh của Erlend Nikulaussøn chẳng hơn gì hai ông.”
“Không giống nhau,” Lavrans nóng nảy nói. “Quyền thế và tước hiệp sĩ vốn nằm ngay trong tầm tay Erlend, vậy mà hắn quay lưng lại với tất cả chỉ vì tội gian dâm. Nhưng giờ tôi hiểu rồi, cả bà cũng chống lại tôi. Có lẽ bà cũng như Aasmund và Trond, cho rằng việc những bậc quyền quý ấy muốn cưới con gái tôi về cho một người họ hàng của họ là vinh dự của tôi —”
“Tôi đã nói với ông rồi,” Ragnfrid đáp, giọng có phần gay gắt, “rằng theo tôi ông không cần tự ái đến mức lo họ hàng Erlend sẽ nghĩ họ phải hạ mình trong chuyện này. Nhưng chẳng lẽ ông không hiểu hay sao — đứa con vốn hiền lành, dễ bảo ấy lại có can đảm chống lại chúng ta và khước từ Simon Darre — chẳng lẽ ông không thấy Kristin đã hoàn toàn khác trước kể từ khi trở về từ Oslo, không thấy nó đi lại như một người vừa thoát ra khỏi lòng núi sao? Ông không hiểu rằng nó yêu người đàn ông ấy đến mức, nếu ông không nhượng bộ, một tai họa lớn có thể xảy ra ở đây sao?”
“Bà muốn nói gì?” người cha hỏi, ngẩng lên nhìn sắc lạnh.
“Lắm người đã chào hỏi con rể mình mà chẳng hay biết,” Ragnfrid nói.
Người đàn ông dường như cứng đờ; mặt ông từ từ trắng bệch:
“Bà là mẹ nó kia mà!” ông nói khàn khàn. “Bà đã — bà đã thấy những dấu hiệu chắc chắn đến thế — mà dám buộc chính con gái mình vào chuyện này sao —”
“Không, không,” Ragnfrid vội nói. “Tôi không có ý như ông đang nghĩ. Nhưng cũng vì thế mà chẳng ai biết chuyện gì đã xảy ra, hoặc chuyện gì có thể xảy ra. Ngoài tình yêu dành cho người đàn ông ấy, nó không còn lấy một ý nghĩ nào khác — tôi đã nhìn thấy điều đó — một ngày kia nó có thể cho chúng ta thấy nó quý hắn hơn cả danh dự — hoặc mạng sống!”
Lavrans bật dậy:
“Ôi, bà điên rồi! Sao bà có thể nghĩ như thế về đứa con xinh đẹp, ngoan ngoãn của chúng ta! Ở chỗ nó từng sống — giữa các nữ tu — chắc nó nào có mấy cơ hội gặp hắn. Nó đâu phải một con hầu chuồng bò, cứ ra nằm với đàn ông sau hàng rào. Bà cũng phải hiểu rằng nó không thể gặp hay trò chuyện với người đàn ông ấy được bao nhiêu lần — rồi chuyện này sẽ qua thôi; chẳng qua là một cơn thất thường của thiếu nữ. Chúa biết, nhìn nó đau buồn như vậy tôi cũng thấy nặng lòng lắm, nhưng bà phải biết rằng theo thời gian chuyện này nhất định sẽ qua!”
“Bà nói đến mạng sống và danh dự —. Ngay tại nhà mình, tôi hẳn có thể trông nom con gái tôi. Tôi cũng không tin một thiếu nữ con nhà tử tế, được nuôi dạy trong đức tin Kitô và nết hạnh, lại dễ dàng vứt bỏ danh dự hay mạng sống đến thế. Hừ, đó là những chuyện người ta đem đặt thành khúc hát — nhưng tôi nghĩ khi một người đàn ông hay thiếu nữ bị cám dỗ làm một việc như vậy, họ đặt một khúc hát về nó, nhờ thế mà khuây khỏa, rồi thôi không làm nữa — — Chính bà,” ông nói và dừng lại trước mặt vợ. “Thuở hai ta được gả cho nhau, có một người khác bà muốn lấy hơn. Bà nghĩ đời mình sẽ ra sao nếu cha bà để bà tự quyết trong việc ấy —?”
Bấy giờ đến lượt Ragnfrid tái nhợt như người chết:
“Lạy Chúa Jesus, Đức Mẹ Maria! Ai đã nói với ông —”
“Sigurd ở Loptsgaard có nhắc đôi lời về chuyện ấy — ngay sau khi chúng ta dọn đến thung lũng này,” Lavrans nói. “Nhưng hãy trả lời điều tôi vừa hỏi — bà có nghĩ mình sẽ sung sướng hơn nếu Ivar gả bà cho người đàn ông ấy không?”
Người vợ đứng đó, đầu cúi thật thấp.
“Người đàn ông ấy,” bà đáp, gần như không nghe thấy, “ông ta không muốn lấy tôi.” Một cơn giật dường như chạy khắp thân thể bà — bà vung nắm tay vào khoảng không.
Bấy giờ người chồng thận trọng đặt hai tay lên vai bà.
“Là vì thế sao?” ông hỏi, choáng váng, một nỗi kinh ngạc sâu xa và đau buồn bật ra trong giọng nói; “— là vì thế sao — suốt bao nhiêu năm qua — bà vẫn ôm nỗi đau vì ông ta — Ragnfrid?”
Bà run dữ dội nhưng không nói gì.
“Ragnfrid?” ông lại hỏi như trước. “Nhưng rồi — sau khi Bjørgulf chết — và sau đó — khi bà — khi bà muốn — tôi đối với bà — theo cách tôi không thể. Khi ấy bà có nghĩ đến người kia không?” ông thì thầm, sợ hãi, bối rối và đau đớn.
“Sao ông lại có thể nghĩ ra những chuyện như thế,” bà nghẹn ngào thì thầm.
Lavrans áp trán mình vào trán vợ, khẽ lắc đầu.
“Tôi không biết. Bà lạ lắm — tất cả những điều bà nói tối nay. Tôi đâm sợ, Ragnfrid. Có lẽ tôi chẳng hiểu lòng dạ đàn bà —”
Ragnfrid mỉm cười nhợt nhạt và vòng tay ôm cổ ông:
“Chúa biết, Lavrans — tôi đã van xin ông vì tôi yêu ông nhiều hơn mức có lợi cho linh hồn một con người. Và tôi căm ghét kẻ kia đến mức cảm thấy quỷ dữ hả hê vì điều ấy.”
“Tôi vẫn yêu thương bà, vợ tôi,” Lavrans khẽ nói và hôn bà, “bằng cả trái tim mình. Bà biết điều đó chứ? Tôi vẫn tưởng chúng ta đã sống tốt đẹp bên nhau — Ragnfrid?”
“Ông là người chồng tốt nhất,” bà nói, khẽ nấc lên rồi vùi mình vào ngực ông.
Ông ghì chặt lấy bà:
“Đêm nay tôi muốn ngủ cùng bà, Ragnfrid. Và nếu bà đối với tôi như những ngày xưa, tôi sẽ không — làm một kẻ ngốc như thế nữa —”
Người vợ cứng lại trong vòng tay ông, khẽ lùi ra:
“Bây giờ đang mùa chay,” bà khẽ nói — giọng cứng rắn lạ thường.
“Phải rồi.” Người đàn ông khẽ cười. “Bà và tôi, Ragnfrid, chúng ta đã giữ mọi kỳ chay và cố sống theo các điều răn của Chúa trong mọi việc. Vậy mà giờ đây tôi gần như cảm thấy — có lẽ chúng ta đã sung sướng hơn nếu có nhiều điều để ăn năn hơn —”
“Ông đừng nói như thế,” người vợ tuyệt vọng van xin, hai bàn tay gầy guộc siết lấy thái dương ông. “Ông biết rõ tôi không muốn ông làm điều gì khác ngoài điều chính ông cho là phải.”
Ông lại ôm bà vào lòng, thêm một lần nữa — và rên lên thành tiếng:
“Xin Chúa cứu giúp con bé. Xin Chúa cứu giúp tất cả chúng ta, Ragnfrid của tôi.
— Tôi mệt rồi,” ông nói và buông bà ra. “Giờ bà cũng đi nghỉ chứ?”
Ông đứng bên cửa chờ trong lúc bà dập lửa trên bếp, thổi tắt ngọn đèn sắt nhỏ cạnh khung cửi và bóp tắt đốm than trên bấc. Họ cùng đi qua màn mưa sang nhà chính.
Lavrans đã đặt chân lên cầu thang gác, rồi lại quay về chỗ người vợ vẫn đứng nơi cửa tiền sảnh. Ông ôm siết bà lần cuối và hôn bà trong bóng tối. Sau đó ông làm dấu thánh giá trên mặt vợ rồi đi lên.
Ragnfrid trút bỏ quần áo và chui vào giường. Một lúc lâu bà nằm nghe tiếng chân chồng trên căn phòng gác phía trên — rồi chiếc giường trên ấy kêu cót két, và tất cả im lặng. Ragnfrid ghì đôi cánh tay mảnh khảnh lên bộ ngực héo tàn.
Vâng, xin Chúa cứu giúp con. Bà là hạng đàn bà nào, là hạng người mẹ nào đây. Chẳng bao lâu nữa bà sẽ già. Vậy mà bà vẫn y nguyên như trước. Bà không còn van xin như thuở họ còn trẻ, khi bà từng cuồng nhiệt nài nỉ người đàn ông này, còn ông thì khép mình lại, e dè và ngượng ngập mỗi khi bà trở nên mãnh liệt — trở nên lạnh nhạt mỗi khi bà muốn trao cho ông nhiều hơn điều thuộc quyền của một người chồng. Mọi chuyện đã từng như vậy — và cứ như thế bà mang thai hết lần này đến lần khác — nhục nhã, điên cuồng vì hổ thẹn rằng mình không thể thỏa lòng với tình yêu hờ hững của chồng. Thế rồi, những khi bà sống trong cảnh ấy và khao khát lòng nhân hậu cùng sự dịu dàng, ông lại có biết bao nhiêu để trao — sự chăm nom hiền hòa, không hề mệt mỏi của người chồng khi bà đau ốm và khổ sở rơi xuống tâm hồn nóng bỏng của bà như sương mát. Ông sẵn lòng nhận lấy và gánh vác mọi nỗi niềm của bà — nhưng có một phần thuộc về chính ông mà ông không chịu trao đi. Bà đã yêu các con đến mức mỗi lần mất một đứa, bà cảm thấy như trái tim bị xé khỏi lồng ngực — Chúa ơi, Chúa ơi, bà là người thế nào mà ngay giữa những cơn quằn quại vẫn có thể nếm được giọt ngọt ngào này: rằng ông đón lấy nỗi đau của bà và áp nó thật sát vào nỗi đau của chính mình.
Kristin — bà sẵn lòng bước qua lửa vì con gái — họ không tin điều ấy, cả Lavrans lẫn đứa con, nhưng quả thật là vậy. Thế mà giờ đây bà vẫn cảm thấy một cơn giận gần như căm ghét đối với nó — chính để quên đi nỗi đau của mình trước nỗi đau của đứa con mà tối nay ông đã ao ước có thể trao thân cho vợ.
— Ragnfrid không dám đứng dậy, vì bà không biết Kristin có lẽ vẫn đang thức trên chiếc giường bên kia. Nhưng bà lặng lẽ quỳ lên, cúi trán tựa vào thành giường phía chân và cố cầu nguyện. Cho con gái, cho chồng và cho chính mình. Trong khi cái lạnh từng chút một làm thân thể bà cứng lại, bà lại lên đường trong một chuyến lang thang đêm khuya đã quá quen thuộc, cố phá lối mà đi đến một chốn bình an cho trái tim mình.