Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa — Chương 18: Tập I — Vòng hoa · Phần III — Lavrans Bjørgulfsøn · Chương III

Chương 18 / 23 · Bài review Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa

Haugen nằm tít trên cao, trên sườn dốc phía tây thung lũng. Đêm trăng này, cả thế gian đều trắng. Hết lớp núi trắng này đến lớp núi trắng khác uốn mình dưới bầu trời xanh nhợt, thưa sao. Ngay cả những bóng tối do các mỏm và sống núi đổ dài trên mặt tuyết cũng có vẻ nhẹ và sáng lạ thường, bởi vầng trăng đang trôi rất cao.

Xuôi xuống phía thung lũng, rừng cây đứng trắng xốp vì tuyết và sương muối quanh những cánh đồng trắng, lấm tấm những nét nhỏ của hàng rào và nhà cửa. Nhưng tận dưới đáy thung lũng, bóng tối tụ dày thành một vùng u ám.

Bà Aashild bước ra khỏi chuồng bò, đóng cửa lại sau lưng rồi đứng một lúc trên tuyết. Trắng cả thế gian, vậy mà còn hơn ba tuần nữa mới đến Mùa Vọng. Rét lễ Thánh Klemens — thế là mùa đông đã thực sự tới rồi. Phải, những năm mất mùa thường vẫn kéo theo chuyện ấy —.

Người đàn bà già buông một tiếng thở dài nặng nề vào cõi hoang vắng. Lại mùa đông, lại giá rét và cô quạnh. — Rồi bà nhấc thùng sữa cùng ngọn đèn lên, đi về phía nhà ở. Bà còn ngoái nhìn ra ngoài một lần nữa.

Bốn chấm đen từ trong rừng hiện ra ở lưng chừng sườn dốc. Bốn người đàn ông cưỡi ngựa — một mũi giáo lóe lên dưới ánh trăng. Họ lên dốc rất nhọc nhằn — chưa ai đi qua đây kể từ trận tuyết. Hay là họ đang đến chỗ bà —.

Bốn người đàn ông có vũ khí —. Không một ai có công chuyện chính đáng với bà lại có vẻ sẽ đi cùng một đoàn như thế. Bà nghĩ đến chiếc rương đựng tài sản của mình và Bjørn. Hay bà nên trốn trong nhà kho?

Bà nhìn ra mùa đông và vùng hoang vắng chung quanh. Rồi bà vào nhà. Hai con chó già nằm trước lò sưởi đập đuôi xuống những tấm ván sàn. Bjørn đã dẫn lũ chó trẻ theo vào núi.

Bà thổi vào than hồng trong lò, chất thêm củi, xúc tuyết đầy nồi sắt rồi đặt lên lửa. Bà lọc sữa vào một chiếc thau gỗ và đem vào buồng nhỏ phía sau tiền sảnh.

Aashild cởi chiếc váy dạ thô không nhuộm, bẩn thỉu và nồng mùi chuồng bò cùng mồ hôi, thay một bộ áo màu lam sẫm; bà cũng đổi chiếc khăn trùm bằng vải lanh xanh lấy một tấm vải lanh trắng, sửa cho ngay ngắn quanh đầu và cổ. Bà cởi đôi ủng da lông rồi xỏ đôi giày có khóa bạc.

Sau đó bà bắt tay thu xếp gian nhà — vuốt phẳng những chiếc gối và tấm da trên giường sau khi Bjørn nằm đó ban ngày, lau chiếc bàn dài và chỉnh lại những tấm nệm trên ghế.

Bà Aashild đang đứng trước lò, đánh nồi cháo tối thì đàn chó cất tiếng báo động. Bà nghe tiếng ngựa ngoài sân, tiếng đàn ông bước vào hành lang, rồi một mũi giáo thúc lên cửa. Aashild nhấc nồi khỏi lửa, sửa lại xiêm áo, và cùng hai con chó đi ra mở cửa.

Ngoài sân ngập ánh trăng, ba người đàn ông trẻ đang giữ bốn con ngựa phủ sương trắng. Người đứng trong hành lang vui vẻ gọi:

“Dì Aashild, chính dì ra mở cửa cho cháu! Vậy thì cháu phải nói: Ben trouvè!”

“Cháu của dì, chẳng lẽ là cháu đấy sao! Vậy dì cũng nói với cháu y như thế! Vào nhà đi, trong khi dì chỉ chuồng ngựa cho người của cháu.”

“Dì ở đây một mình sao?” Erlend hỏi. Chàng đi theo trong lúc bà thu xếp chỗ cho những người kia.

“Phải, ông Bjørn và người làm của chúng ta đã đánh xe trượt tuyết vào trong núi — họ định tìm cách chở về ít thức ăn gia súc chúng ta cất trên ấy,” bà Aashild nói. “Dì cũng chẳng có nữ tì,” bà vừa cười vừa nói.

Một lát sau, bốn người đàn ông trẻ ngồi trên chiếc ghế dài phía ngoài, quay lưng về phía bàn, nhìn bà chủ già lặng lẽ mà thoăn thoắt dọn thức ăn cho họ. Bà trải khăn bàn, đặt lên một ngọn nến đang cháy, rồi mang ra bơ, pho mát, một chiếc đùi gấu muối và một chồng cao những tấm bánh mỏng, ngon lành. Bà xuống hầm bên dưới gian nhà lấy bia và rượu mật ong, sau đó múc cháo vào một chiếc thau gỗ đẹp, mời họ vào bàn và bắt đầu ăn.

“Chừng này chẳng thấm vào đâu với mấy chàng trai trẻ các cậu,” bà cười nói. “Dì phải nấu thêm một nồi cháo nữa mới được. Ngày mai các cậu sẽ được thết đãi tử tế hơn — nhưng mùa đông dì đóng bếp lửa, trừ những khi làm bánh hoặc nấu bia. Ở đây chúng ta ít người, mà dì thì đã bắt đầu già rồi, cháu ạ.”

Erlend cười, lắc đầu. Chàng để ý thấy những tùy tùng của mình đối với bà lão lễ độ và cung kính đến mức chàng chưa từng thấy họ cư xử như vậy bao giờ.

“Dì là một người đàn bà lạ lùng, dì ạ. Mẹ cháu kém dì mười tuổi, vậy mà lần trước chúng cháu tới thăm dì, mẹ trông còn già hơn dì tối nay.”

“Phải, tuổi xuân của Magnhild qua nhanh lắm,” bà Aashild khẽ nói. Một lúc sau bà hỏi: “Lần này cháu từ đâu đến?”

“Cháu đã ở một thời gian tại một gia trang phía bắc Lesja,” Erlend nói. “Cháu thuê chỗ trú tại đó. Không biết dì có đoán được việc gì đưa cháu đến miền này không?”

“Ý cháu muốn hỏi dì có biết cháu đã sai người đến cầu hôn con gái của Lavrans Bjørgulfsøn, dưới Jørundgaard về phía nam hay không chứ gì?” bà Aashild nói.

“Vâng,” Erlend nói. “Cháu đã cho người hỏi cưới nàng một cách đàng hoàng, danh giá, nhưng Lavrans Bjørgulfsøn thẳng thừng từ chối. Giờ cháu không biết còn cách nào khác, bởi Kristin và cháu không chịu để người ta ép phải lìa nhau, ngoài việc dùng sức mạnh đưa nàng đi. Cháu đã — cháu đã cho người dò xét trong vùng, và biết rằng mẹ nàng sẽ đến Sundbu từ lễ Thánh Klemens rồi ở lại đó một thời gian, còn Lavrans đang ở ngoài mũi đất cùng những người đàn ông khác đi lấy hàng dùng cho mùa đông về Sil.”

Bà Aashild ngồi lặng một lúc:

“Erlend, cháu nên từ bỏ kế ấy thì hơn,” bà nói. “Dì cũng không tin cô gái sẽ tự nguyện theo cháu, mà hẳn cháu không định dùng vũ lực.”

“Có, nàng sẽ theo. Chúng cháu đã nói chuyện này nhiều lần — chính nàng nhiều lần xin cháu đưa nàng đi.”

“Kristin đã —!” bà Aashild thốt lên. Rồi bà cười: “Dẫu vậy, cháu cũng đừng chắc rằng cô gái sẽ đi theo khi cháu tới buộc nàng giữ lời.”

“Nàng sẽ đi,” Erlend nói. “Và cháu đã nghĩ thế này, dì ạ: dì hãy cho người đến Jørundgaard, xin cho Kristin tới thăm dì — chừng một tuần, trong khi cha mẹ nàng đi vắng. Khi ấy chúng cháu có thể đến Hamar trước khi có ai nhận ra nàng đã bỏ đi,” chàng giải thích.

Bà Aashild đáp, miệng vẫn mỉm cười nhè nhẹ:

“Cháu cũng đã nghĩ xem ông Bjørn và dì phải trả lời thế nào khi Lavrans tới bắt chúng ta giải trình về con gái ông ấy chưa?”

“Rồi,” Erlend nói. “Bốn người đàn ông có vũ khí đã tới, còn cô gái thì tự nguyện.”

“Dì sẽ không giúp cháu việc này,” bà chủ nhà nóng nảy nói. “Lavrans đã là người bạn trung thành của chúng ta suốt nhiều năm — ông ấy và vợ đều là người đáng kính, dì sẽ không tiếp tay phản bội họ hay làm nhục nàng. Hãy để cô gái ấy được yên, Erlend. Cũng đã đến lúc họ hàng cháu đòi hỏi ở cháu những việc khác, thay vì cứ lang bạt ra vào đất nước với những người đàn bà bắt trộm —”

“Chúng ta phải nói riêng với nhau, dì ạ,” Erlend nói gọn.

Bà Aashild cầm một ngọn nến, bước vào buồng nhỏ và đóng cửa sau lưng. Bà ngồi xuống một thùng bột; Erlend đứng, hai tay luồn vào thắt lưng, nhìn xuống bà.

“Dì cũng có thể nói với Lavrans Bjørgulfsøn rằng cha Jon ở Gerdarud đã làm lễ cưới cho chúng cháu, trước khi chúng cháu đi tiếp sang chỗ phu nhân Ingebjørg Haakonsdatter ở Thụy Điển.”

“Thế à,” bà Aashild nói. “Cháu có biết phu nhân Ingebjørg sẽ đón tiếp hai người tử tế khi hai người đến đó không?”

“Cháu đã nói chuyện với bà ấy ở Tunsberg,” Erlend nói. “Bà chào đón cháu như một người thân yêu quý, và cảm ơn vì cháu đã ngỏ lời phụng sự bà, tại đây hoặc ở Thụy Điển. Munan cũng đã hứa trao cho cháu thư mang đến cho bà.”

“Vậy hẳn cháu cũng biết,” bà Aashild nói, “rằng cho dù tìm được một linh mục chịu làm lễ cưới, Kristin vẫn mất mọi quyền đối với tài sản và phần thừa kế từ cha mình. Con cái nàng sẽ không phải những người thừa kế hợp pháp của cháu. Ngay cả việc nàng có được công nhận là vợ cháu hay không cũng chưa chắc chắn.”

“Ở đất nước này thì có lẽ không. Đó cũng là lý do cháu tìm sang Thụy Điển. Tổ tiên nàng, Laurentius Lagmand, cũng chưa từng kết hôn với trinh nữ Bengta theo cách nào khác — họ không bao giờ được anh trai bà ấy chấp thuận. Vậy mà bà vẫn được công nhận là phu nhân —”

“Họ không có con,” bà Aashild nói. “Cháu tưởng các con trai dì sẽ không nhúng tay vào phần thừa kế của cháu sao, nếu Kristin góa chồng, phải nuôi con, mà người ta lại có thể tranh cãi rằng chúng có phải con chính thức hay không!”

“Dì xử oan cho Munan,” Erlend nói. “Những người con khác của dì thì cháu biết không nhiều — cháu có lý do để chẳng dịu dàng gì với họ, điều đó cháu biết. Nhưng Munan luôn là người bà con hết lòng trung thành với cháu — ông ấy rất muốn cháu lấy vợ; chính ông đã thay cháu cầu hôn với Lavrans. — Vả lại, cháu có thể đưa những đứa con chúng cháu sinh ra vào hàng thừa kế và gia tộc —”

“Như thế là cháu khiến người mẹ mang tiếng nhân tình,” bà Aashild nói. “Nhưng dì không hiểu sao một người hiền lành như Jon Helgesøn lại dám chuốc lấy chuyện với giám mục của mình để làm lễ cưới cho cháu trái luật.”

“Mùa hè này cháu đã xưng tội với cha ấy,” Erlend nói nhỏ. “Khi ấy cha đã hứa sẽ làm lễ cưới cho chúng cháu, nếu mọi cách khác đều hỏng.”

“Ra là thế,” bà Aashild nói. “Vậy thì cháu đã chất một tội nặng lên mình, Erlend. Kristin đang sống yên lành trong nhà cha mẹ — một cuộc hôn nhân tốt đẹp với một người đàn ông tuấn tú, đáng kính và thuộc dòng dõi cao quý đã được định liệu cho nàng.”

“Chính Kristin đã kể,” Erlend đáp, “rằng dì từng nói nàng và cháu có thể rất xứng đôi. Và Simon Andressøn không phải người chồng thích hợp với nàng.”

“Ôi, dì đã nói, dì đã nói,” bà dì gắt lời. “Trong đời dì đã nói biết bao nhiêu chuyện. — Dì cũng không hiểu sao cháu lại đạt được ý nguyện với Kristin dễ dàng đến thế. Hai người hẳn chẳng gặp nhau được bao lần. Và dì không ngờ cô gái ấy lại dễ chinh phục —.”

“Chúng cháu gặp nhau ở Oslo,” Erlend nói. “Sau đó nàng tới chỗ chú mình ở Gerdarud. Nàng ra ngoài gặp cháu trong rừng.” Chàng cúi nhìn xuống và nói rất khẽ: “Ngoài ấy cháu đã có nàng một mình —.”

Bà Aashild bật đứng dậy. Erlend càng cúi đầu thấp hơn.

“Và sau chuyện ấy — sau chuyện ấy nàng vẫn một lòng với cháu sao?” bà chủ nhà hỏi, không sao tin nổi.

“Vâng.” Erlend mỉm cười yếu ớt, run run. “Sau chuyện ấy chúng cháu vẫn yêu thương nhau. Chuyện ấy cũng không trái ý nàng đến thế — nhưng nàng không có lỗi. Chính khi ấy nàng muốn cháu đưa nàng đi — nàng không muốn trở về với họ hàng mình —”

“Nhưng cháu lại không chịu?”

“Không, cháu muốn thử xin cha nàng chấp thuận cho cháu cưới nàng làm vợ.”

“Chuyện này lâu chưa?” bà Aashild hỏi.

“Đã một năm rồi, vào dịp lễ Thánh Lavrans,” Erlend đáp.

“Cháu chẳng vội vàng gì trong việc cầu hôn,” bà kia nói.

“Nàng chưa được giải khỏi hôn ước trước,” Erlend đáp.

“Và từ đó cháu không còn xâm phạm nàng nữa chứ?” Aashild hỏi.

“Chúng cháu đã thu xếp để gặp nhau vài lần” — nụ cười run run lại lướt qua gương mặt người đàn ông. “Trong một ngôi nhà ở trong thành.”

“Nhân danh Chúa,” bà Aashild nói. “Dì sẽ giúp cháu và nàng hết sức mình. Dì hiểu Kristin sẽ quá khổ nếu cứ phải sống bên cha mẹ với một chuyện như thế đè nặng trong lòng. Hẳn không còn gì nữa chứ?” bà hỏi.

“Theo như cháu được biết thì không,” Erlend đáp gọn.

Một lát sau bà chủ nhà hỏi: “Cháu có nghĩ đến chuyện Kristin có bạn bè và họ hàng suốt dọc thung lũng này không?”

“Chúng cháu sẽ đi kín đáo hết sức có thể,” Erlend nói. “Bởi thế phải lên đường thật nhanh, để đã đi xa được một quãng trước khi cha nàng trở về. Dì phải cho chúng cháu mượn xe trượt tuyết, dì ạ.”

Aashild nhún vai:

“Còn chú nàng ở Skog nữa — nếu ông ấy nghe tin cháu làm lễ cưới với con gái của em trai mình tại Gerdarud thì sao?”

“Aasmund đã nói giúp cháu với Lavrans,” Erlend nói. “Đúng là ông ấy không thể biết trước chuyện này, nhưng hẳn ông sẽ nhắm một mắt làm ngơ — chúng cháu sẽ đến chỗ linh mục ban đêm rồi cũng lên đường ban đêm. Sau đó, cháu nghĩ Aasmund sẽ nói với Lavrans rằng một người kính Chúa như ông ấy mà chia lìa chúng cháu sau khi đã được linh mục làm lễ cưới thì không hợp lẽ — tốt hơn ông ấy nên chấp thuận để chúng cháu trở thành vợ chồng hợp pháp. Dì cũng hãy nói với ông ấy như vậy. Ông ấy có thể đặt bất cứ điều kiện nào mình muốn để chúng cháu hòa giải, và đòi khoản bồi thường nào ông thấy phải lẽ.”

“Dì không tin Lavrans Bjørgulfsøn sẽ dễ nghe lời khuyên trong chuyện này,” bà Aashild nói. “Chúa và Thánh Olav chứng giám, dì rất không ưa việc này, cháu ạ. Nhưng dì hiểu đây là kế cuối cùng cháu còn có thể nắm lấy, nếu muốn cứu vãn tổn hại cháu đã gây ra cho Kristin. Ngày mai dì sẽ tự mình cưỡi ngựa đến Jørundgaard, nếu cháu cho dì mượn một người tùy tùng, và nếu dì nhờ được Ingrid ở phía bắc sườn dốc tới chăm nom gia súc.”

Bà Aashild đến Jørundgaard vào tối hôm sau, đúng lúc ánh trăng hòa lẫn với tia sáng cuối cùng của ban ngày. Khi Kristin trẻ tuổi bước ra sân đón khách, bà thấy nàng đã trở nên xanh xao và hốc hác biết bao.

Bà chủ ngồi bên lò sưởi, chơi với hai đứa nhỏ. Bà kín đáo dò xét Kristin trong lúc nàng đi lại dọn bàn. Nàng trông gầy gò và lặng lẽ. Nàng vẫn luôn ít lời, nhưng giờ đây có một thứ im lặng khác phủ lên cô gái. Bà Aashild đoán được tất cả nỗi căng thẳng và sự chống đối bướng bỉnh ẩn phía sau.

“Hẳn bà đã nghe,” Kristin nói, bước lại gần bà, “chuyện xảy ra ở đây mùa thu này rồi chứ?”

“Ừ, chuyện cháu trai ta đã cầu hôn cô phải không?”

“Bà có nhớ,” Kristin hỏi, “có lần bà nói anh ấy và tôi có thể rất hợp nhau không? Chỉ có điều anh ấy quá giàu sang, dòng dõi quá cao so với tôi?”

“Ta nghe nói Lavrans lại nghĩ khác,” bà khô khan đáp.

Mắt Kristin lóe sáng, nàng khẽ mỉm cười. Con bé quả không vừa, bà Aashild nghĩ. Dẫu chẳng ưa việc này chút nào, bà vẫn phải chiều Erlend và chìa cho chàng bàn tay trợ giúp chàng đã cầu xin.

Kristin dọn chỗ cho khách trên giường của cha mẹ, và bà Aashild bảo nàng ngủ cùng mình. Sau khi họ đã nằm xuống và trong nhà đã yên tĩnh, bà Aashild mới nói rõ mục đích chuyến đi.

Lòng bà nặng trĩu một cách lạ lùng khi thấy đứa trẻ này dường như chẳng nghĩ gì đến nỗi đau nó sắp gây cho cha mẹ. Dẫu sao ta cũng đã sống trong sầu khổ và giày vò bên Baard hơn hai mươi năm, bà nghĩ. Nhưng có lẽ tất cả chúng ta đều như vậy. Kristin dường như còn không nhận thấy Ulvhild đã suy kiệt đến mức nào trong mùa thu này — Aashild nghĩ khó lòng nàng còn được thấy cô em nhỏ sống sót. Nhưng bà không nói gì về chuyện ấy — Kristin giữ được niềm vui cuồng dại và lòng ngạo nghễ này càng lâu, có lẽ càng tốt.

Kristin ngồi dậy, và trong bóng tối nàng gom đồ trang sức vào một chiếc tráp nhỏ rồi mang lên giường. Bấy giờ bà Aashild vẫn nói:

“Dẫu vậy ta vẫn thấy, Kristin, tốt hơn hết là Erlend nên cưỡi ngựa xuống đây khi cha cô trở về — công khai thú nhận rằng chàng đã gây cho cô một điều bất công lớn — rồi phó việc của mình vào tay Lavrans.”

“Thế thì tôi tin cha sẽ giết Erlend,” Kristin nói.

“Lavrans sẽ không làm thế, nếu Erlend không chịu rút gươm chống lại cha vợ mình,” bà đáp.

“Tôi không muốn Erlend bị hạ nhục như vậy,” Kristin nói. “Và tôi không muốn cha biết Erlend đã chạm đến tôi trước khi anh ấy đường hoàng, danh chính ngôn thuận đến hỏi cưới.”

“Cô tưởng Lavrans sẽ bớt giận hơn,” Aashild hỏi, “khi ông ấy hay tin cô đã cùng chàng trốn khỏi gia trang, và cô tưởng chuyện ấy sẽ dễ chịu đựng hơn cho ông ấy sao? Theo luật, cô chẳng thể là gì khác ngoài tình nhân của Erlend, chừng nào cô còn sống với chàng mà cha cô chưa trao cô cho chàng.”

“Nếu tôi trở thành tình nhân của Erlend vì anh ấy không thể lấy tôi làm vợ, thì đó lại là chuyện khác,” Kristin nói.

Bà Aashild im lặng. Bà nghĩ đến lúc mình phải đối mặt với Lavrans Bjørgulfsøn khi ông trở về và hay tin con gái đã bị đem đi mất.

Bấy giờ Kristin nói:

“Tôi hiểu, bà Aashild, bà cho rằng tôi là một đứa con độc ác. Nhưng từ khi cha trở về sau kỳ nghị hội, mọi sự trong gia trang đã thành ra thế này: mỗi ngày đều là một nỗi giày vò đối với cha cũng như đối với tôi. Tốt nhất cho tất cả mọi người là chuyện này giờ đây phải đi đến hồi kết.”

Hôm sau họ rời Jørundgaard từ sớm và đến Haugen ngay quá giờ kinh Chín. Erlend ra đón họ ngoài sân, và Kristin lao vào vòng tay chàng, chẳng màng đến người hầu đã đi cùng bà Aashild và nàng.

Vào trong nhà, nàng chào Bjørn Gunnarsøn, rồi chào hai người hầu của Erlend như thể đã quen biết họ từ lâu. Bà Aashild không nhận thấy dấu hiệu nào cho thấy nàng e lệ hay sợ hãi. Sau đó, khi họ ngồi bên bàn và Erlend trình bày kế hoạch, Kristin cũng góp lời, bàn định đường đi: họ sẽ rời Haugen vào tối hôm sau, muộn đến mức tới Rosten khi trăng lặn, rồi đi trong bóng tối xuyên qua Sil, vượt khỏi Loptsgaard, từ đó ngược theo sông Ottaa đến cây cầu, rồi men bờ tây sông Otta và Laagen, theo những con đường vắng xa hết mức ngựa còn đủ sức. Ban ngày họ có thể nghỉ tại một trong những trại chăn thả mùa xuân nằm trên sườn núi ấy, “vì trong khắp địa hạt pháp đình Holledis, chúng ta đều có thể gặp người quen mặt tôi.”

“Cô đã nghĩ đến thức ăn cho ngựa chưa?” bà Aashild nói. “Các người không thể lấy trộm thức ăn ở trại chăn thả của người ta trong một năm như thế này — nếu ở đó còn có gì — mà cô biết năm nay chẳng ai trong thung lũng có thức ăn để bán.”

“Tôi đã nghĩ đến rồi,” Kristin đáp. “Bà cho chúng tôi mượn thức ăn cho ngựa và lương thực dùng trong ba ngày. Đó cũng là một lý do khiến chúng tôi không nên đi quá đông — Erlend phải sai Jon trở về Husaby. Năm nay ở Trøndelagen khá hơn, chắc vẫn có thể chở vài xe hàng vượt núi trước lễ Giáng sinh. Phía nam làng có mấy nhà nghèo, tôi mong bà giúp họ chút của bố thí thay mặt Erlend và tôi, bà Aashild.”

Bjørn bật lên một tràng cười ha hả nghe kỳ lạ mà chẳng chút vui vẻ. Bà Aashild lắc đầu. Nhưng người hầu Ulv ngẩng khuôn mặt sạm màu, sắc lạnh lên, nhìn Kristin với một nụ cười xấc xược khác thường:

“Ở Husaby chẳng bao giờ có của cải dư dật đâu, Kristin Lavransdatter, dù năm được mùa hay năm đói kém. Nhưng có lẽ khi cô sang đó cai quản, mọi chuyện sẽ khác. Nghe lời cô nói, hẳn cô chính là nữ chủ nhân mà Erlend đang cần.”

Kristin bình thản gật đầu với người đàn ông ấy rồi nói tiếp. Họ phải tránh đường cái càng nhiều càng tốt. Và nàng thấy đi qua Hamar là chuyện không thể được. Erlend phản đối rằng Munan đang ở đó — còn bức thư gửi nữ công tước thì sao.

“Vậy Ulv sẽ tách khỏi chúng ta ở Fagaberg và cưỡi đến gặp ngài Munan, còn chúng ta đi về phía tây Mjøs, qua Land rồi theo những đường nhỏ vượt Hadeland xuống Hakedal. Từ đó có một con đường vắng chạy về phía nam tới Margretadal, tôi từng nghe bác trai nói thế. Thời gian này chúng ta không thể đi qua Raumarike, khi đám cưới lớn sắp được tổ chức ở Dyfrin,” nàng vừa nói vừa cười.

Erlend bước tới ôm lấy vai nàng, và nàng ngả người vào chàng, chẳng màng đến tất cả những người đang ngồi nhìn. Bà Aashild bực tức nói:

“Ai nhìn vào cũng tưởng cô từng bỏ nhà trốn đi rồi.”

Và ông Bjørn lại cười ha hả như trước.

Một lát sau bà Aashild đứng lên, sang nhà bếp lo liệu thức ăn. Bà đã nhóm lửa ở đó, vì đêm ấy những người hầu của Erlend sẽ ngủ trong ấy. Bà bảo Kristin đi cùng, “để ta còn có thể thề với Lavrans Bjørgulfsøn rằng hai người chưa từng ở riêng với nhau lấy một khắc trong nhà ta,” bà giận dữ nói.

Kristin cười rồi đi theo bà. Ngay sau đó Erlend cũng lững thững vào, kéo một chiếc kiềng ba chân đến bên bếp lửa rồi ngồi đó, vướng víu chân tay hai người đàn bà. Mỗi khi Kristin chạy qua chạy lại làm việc và đến gần, chàng lại túm lấy nàng. Cuối cùng chàng kéo nàng ngồi xuống đầu gối mình.

“Xem ra Ulv nói đúng, em chính là nữ chủ nhân ta đang cần.”

“Phải rồi,” Aashild vừa cười vừa cáu, “cháu có nàng thì còn gì bằng. Chính nàng mới là người đem tất cả ra đánh cược trong cuộc phiêu lưu này — còn cháu chẳng liều mất bao nhiêu.”

“Đúng vậy,” Erlend nói. “Nhưng ít ra cháu cũng đã tỏ rõ ý muốn đến với nàng theo con đường chính đáng. Dì Aashild, dì đừng giận thế nữa.”

“Ta không giận sao được,” bà nói. “Cháu vừa mới thu xếp xong mọi việc của mình thì đã lại gây ra chuyện, để rồi phải bỏ tất cả mà chạy trốn cùng một người đàn bà.”

“Dì phải nhớ chứ,” Erlend nói. “Xưa nay vẫn vậy, những người đàn ông vì một người đàn bà mà làm rối tung đời mình đâu phải đều là hạng kém cỏi nhất — mọi thiên truyện saga đều nói thế.”

“Ôi, xin Chúa cứu giúp chúng ta,” Aashild nói. Gương mặt bà bỗng trở nên trẻ trung và dịu lại. “Những lời ấy ta đã nghe rồi, Erlend” — bà ôm lấy đầu chàng và vò tóc chàng.

Đúng lúc ấy Ulv Haldorsøn giật tung cửa rồi vội đóng lại sau lưng:

“Có một vị khách vừa tới gia trang, Erlend — tôi nghĩ đó là người anh không muốn gặp nhất.”

“Có phải Lavrans Bjørgulfsøn không?” Erlend nói và bật dậy.

“Không được may mắn đến thế đâu,” người hầu đáp. “Là Eline Ormsdatter.”

Cửa bị mở từ bên ngoài; người đàn bà bước vào đẩy Ulv sang bên rồi tiến ra chỗ sáng. Kristin nhìn Erlend. Thoạt tiên chàng như héo rũ và sụm xuống; rồi chàng đứng thẳng lên, mặt đỏ sẫm.

“Quỷ tha ma bắt, cô từ đâu đến — cô muốn gì ở đây!”

Bà Aashild bước tới, nói:

“Mời bà theo tôi lên nhà trên, Eline Ormsdatter — ở gia trang này chúng tôi vẫn còn đủ phép tắc để không tiếp khách trong nhà bếp.”

“Tôi không mong,” người kia nói, “họ hàng Erlend sẽ chào đón tôi như khách, bà Aashild. — Anh hỏi tôi từ đâu đến ư — tôi từ Husaby đến, hẳn anh cũng đoán được. Tôi gửi lời thăm của Orm và Margret; chúng vẫn khỏe.”

Erlend không đáp.

“Khi nghe tin anh đã để Gissur Arnfinsøn huy động tiền cho mình và sắp lại đi về phương nam,” bà ta nói tiếp, “tôi nghĩ lần này chắc anh sẽ dừng chân ở chỗ họ hàng trong Gudbrandsdalen. Tôi biết anh đã cho người dò hỏi về con gái nhà láng giềng của họ.”

Lần đầu tiên bà ta nhìn sang Kristin và bắt gặp ánh mắt nàng. Kristin rất tái, nhưng vẫn bình thản nhìn người đàn bà kia dò xét.

Kristin lặng như đá. Nàng đã biết ngay từ khoảnh khắc nghe thấy tên người vừa đến — đây chính là ý nghĩ nàng vẫn luôn chạy trốn; nàng đã muốn dùng sự thách thức, nỗi bất an và lòng nôn nóng để át nó đi; suốt bấy lâu nàng vẫn cố không nghĩ xem Erlend đã thật sự dứt bỏ hoàn toàn người tình trước hay chưa. Giờ nó đã đuổi kịp nàng, chống cự thêm cũng vô ích. Nhưng nàng không cầu xin cho mình.

Nàng thấy Eline Ormsdatter đẹp. Bà ta không còn trẻ, nhưng vẫn đẹp, và thuở trước hẳn đã từng đẹp rực rỡ. Bà ta đã hất mũ trùm ra sau; đầu tròn như quả cầu và rắn rỏi, đôi gò má hơi nhô — nhưng vẫn dễ dàng nhận ra rằng thuở trước bà ta đã từng xinh đẹp. Khăn trùm chỉ che phần sau đầu; trong khi nói, Eline dùng hai tay vuốt phần tóc trước óng vàng, gợn sóng vào dưới lớp khăn vải lanh. Kristin chưa từng thấy người đàn bà nào có đôi mắt lớn đến thế; mắt bà ta nâu sẫm, tròn và cứng, nhưng dưới đôi mày mảnh đen như than cùng hàng mi dài, chúng đẹp lạ lùng bên mái tóc vàng. Da mặt và môi bà ta nứt xước vì cưỡi ngựa trong giá lạnh, nhưng như thế cũng không thể làm bà ta kém sắc đi bao nhiêu; bà ta quá đẹp để bị những vết ấy làm xấu. Bộ y phục đi đường nặng nề phủ kín thân hình bà ta, nhưng cách bà ta vận nó, cách bà ta giữ mình, chỉ có ở một người đàn bà sống trong niềm kiêu hãnh vững chắc nhất về vẻ đẹp thân thể mình. Bà ta chỉ cao xấp xỉ Kristin, nhưng dáng đứng khiến bà ta trông cao hơn cô gái trẻ mảnh mai, chân tay thanh nhỏ.

“Suốt thời gian qua bà ta vẫn ở với anh tại Husaby sao?” Kristin khẽ hỏi.

“Ta không ở Husaby,” Erlend cộc lốc đáp, rồi lại đỏ mặt. “Phần lớn mùa hè này ta ở Hestnæs.”

“Đây là tin tôi muốn đem đến cho anh, Erlend,” Eline nói. “Anh không cần nương nhờ họ hàng mình và thử thách lòng hiếu khách của họ chỉ vì tôi đang cai quản nhà anh nữa. Mùa thu này tôi đã góa chồng.”

Erlend vẫn đứng nguyên như trước.

“Không phải ta bảo cô đến Husaby cai quản vào năm ngoái,” chàng nhọc nhằn nói.

“Tôi nghe nói mọi thứ ở đó đều sa sút,” Eline nói. “Từ xưa tôi đã dành cho anh nhiều tình nghĩa đến mức thấy mình nên trông nom cơ nghiệp của anh — dẫu Chúa biết anh đã đối xử chẳng tử tế gì với các con chúng ta và với tôi.”

“Với các con, ta đã làm những gì có thể,” Erlend nói. “Và cô biết rất rõ chính vì chúng mà ta chịu để cô ở Husaby. Cô hẳn cũng không thể tự cho rằng việc ấy đã đem lại lợi ích gì cho chúng hay cho ta,” chàng nói và cười khinh miệt. “Gissur vẫn đủ sức cai quản nơi đó mà không cần cô giúp.”

“Phải, anh vẫn luôn tin tưởng Gissur như thế,” Eline nói và khẽ cười. “Nhưng chuyện bây giờ là thế này, Erlend — giờ tôi đã tự do. Nếu anh muốn, giờ anh có thể giữ lời hứa từng trao cho tôi.”

Erlend im lặng.

“Anh có nhớ,” Eline hỏi, “đêm tôi sinh con trai cho anh không? Khi ấy anh đã hứa sẽ cưới tôi một khi Sigurd chết.”

Erlend luồn tay dưới mái tóc đẫm mồ hôi.

“Có, ta nhớ,” chàng nói.

“Bây giờ anh có giữ lời ấy không?” Eline hỏi.

“Không,” Erlend đáp.

Eline Ormsdatter nhìn sang Kristin — khẽ mỉm cười và gật đầu. Rồi lại nhìn Erlend.

“Đã mười năm rồi, Eline,” chàng nói. “Từ đó đến nay, năm này qua năm khác, chúng ta đã sống với nhau như hai kẻ bị đày đọa dưới địa ngục.”

“Đâu phải chỉ có thế!” bà ta vẫn giữ nguyên nụ cười ấy mà nói.

“Đã bao nhiêu năm rồi mọi chuyện chẳng còn gì khác,” Erlend kiệt quệ nói. “Chuyện này cũng không giúp gì được cho các con. Và cô biết — cô biết ta gần như không thể ở chung một gian nhà với cô nữa,” chàng gần như hét lên.

“Tôi chẳng nhận thấy điều ấy khi anh về nhà mùa hè này,” Eline nói với một nụ cười đầy ngụ ý. “Khi ấy chúng ta đâu phải lúc nào cũng bất hòa.”

“Nếu cô muốn xem thế là chúng ta hòa thuận thì tùy cô,” Erlend mệt mỏi nói.

“Các người định cứ đứng mãi ở đây sao?” bà Aashild lên tiếng. Bà múc thức ăn trong nồi vào hai chiếc mâm gỗ lớn rồi trao một chiếc cho Kristin. Nàng đón lấy. “Mang sang nhà trên đi — Ulv, anh cầm chiếc kia — dọn lên bàn; dù chuyện có thế nào thì chúng ta vẫn phải ăn tối.”

Kristin và người hầu mang những mâm thức ăn đi. Bà Aashild nói với hai người còn lại:

«Hai người cũng vào đi; đứng đây sủa vào mặt nhau chẳng ích gì.»

«Tốt hơn hết là Eline và tôi nói cho ra lẽ với nhau ngay bây giờ,» Erlend nói.

Bấy giờ phu nhân Aashild không đáp nữa, chỉ quay đi.

Trong nhà, Kristin đã dọn bàn và xuống hầm lấy bia. Nàng ngồi trên chiếc ghế dài phía ngoài, thẳng như ngọn nến, gương mặt bình thản, nhưng không ăn. Bjørn và các tùy tùng của Erlend cũng chẳng ai thiết ăn. Chỉ có người đàn ông đi cùng Eline và người làm công của Bjørn là ăn. Phu nhân Aashild ngồi xuống, ăn một ít cháo. Không ai nói một lời.

Mãi một lúc lâu sau, Eline Ormsdatter mới vào một mình. Phu nhân Aashild mời nàng ta ngồi giữa Kristin và bà; Eline ngồi xuống ăn chút ít. Thỉnh thoảng, một tia phản chiếu như của nụ cười giấu kín lại lướt qua mặt nàng ta, và nàng ta liếc nhìn Kristin.

Một lát sau, phu nhân Aashild đi ra nhà bếp.

Lửa trên bếp giữa gần như đã tàn. Erlend ngồi trên chiếc ghế ba chân cạnh đó, co quắp, vùi đầu trong hai cánh tay.

Phu nhân Aashild bước đến đặt tay lên vai chàng:

«Xin Chúa tha cho cậu, Erlend, cậu đã gây nên cơ sự gì thế này—!»

Erlend ngẩng lên, mặt mày nhọ nhem vì khốn khổ.

«Cô ấy có thai,» chàng nói rồi nhắm mắt lại.

Mặt phu nhân Aashild bừng lên; bà siết mạnh vai chàng:

«Ai trong hai người?» bà hỏi, giọng thô bạo và nhạo báng.

«Dù sao nó cũng không phải con tôi,» Erlend nói, vẫn rũ rượi như trước. «Nhưng dì sẽ chẳng tin tôi đâu—sẽ chẳng ai tin—» Chàng lại co người lại.

Phu nhân Aashild ngồi xuống trước mặt chàng, trên mép bếp.

«Giờ cậu phải cố mà trấn tĩnh lại, Erlend. Chuyện này không dễ khiến người ta tin cậu. Cậu có thề rằng đứa trẻ không phải của cậu không?»

Erlend ngẩng gương mặt tiều tụy lên:

«Thật như tôi cần lòng thương xót của Chúa—. Thật như tôi mong rằng—rằng Chúa đã đưa mẹ về bên Người và an ủi mẹ sau mọi điều mẹ phải chịu đựng dưới trần này—tôi không hề chạm vào Eline từ ngày đầu tiên trông thấy Kristin!» Chàng gào lên, khiến phu nhân Aashild phải ra hiệu bảo im.

«Vậy thì ta không hiểu sao chuyện này lại là một tai họa lớn đến thế. Cậu phải tìm cho ra cha đứa trẻ là ai, rồi dùng tiền thu xếp cho hắn cưới cô ta.»

«Tôi nghĩ đó là Gissur Arnfinsøn—người quản sự của tôi ở Husaby,» Erlend mệt mỏi nói. «Chúng tôi đã bàn chuyện ấy vào mùa thu năm ngoái—và cả sau đó nữa—. Ai cũng biết cái chết của Sigurd đã được chờ đợi một thời gian rồi. Hắn sẵn lòng cưới cô ấy khi cô ấy thành góa phụ, nếu tôi cho cô ấy một món hồi môn xứng đáng—»

«Phải,» phu nhân Aashild nói. Erlend tiếp:

«Cô ấy thề độc rằng không chịu lấy hắn. Cô ấy sẽ nêu tên tôi là cha đứa trẻ. Dù tôi có thề mình vô can—dì nghĩ có ai tin điều gì khác ngoài việc tôi đã thề gian không—»

«Cậu phải khiến cô ta từ bỏ ý định ấy,» phu nhân Aashild nói. «Giờ không còn cách nào khác: ngay ngày mai cậu đưa cô ta về Husaby. Rồi cậu phải cứng rắn, kiên quyết thu xếp cuộc hôn nhân này giữa người quản sự của cậu và Eline.»

«Phải,» Erlend nói. Rồi chàng gập người về phía trước, bật khóc nức nở.

«Dì không hiểu sao—dì nghĩ Kristin sẽ tin thế nào—»

Đêm ấy, Erlend ngủ trong nhà bếp cùng các tùy tùng. Trong nhà, Kristin ngủ với phu nhân Aashild trên giường của bà, còn Eline Ormsdatter nằm trên chiếc giường kia. Bjørn đi ra ngủ trong chuồng ngựa.

Sáng hôm sau, Kristin theo phu nhân Aashild vào chuồng bò. Trong lúc bà sang nhà bếp chuẩn bị bữa sớm, Kristin mang sữa lên nhà.

Một ngọn nến cháy trên bàn. Eline đã mặc quần áo, đang ngồi trên mép giường. Kristin khẽ chào nàng ta, lấy rá lọc rồi lọc sữa.

«Cô cho tôi một ngụm sữa được không?» Eline hỏi. Kristin lấy một chiếc muôi gỗ đưa cho nàng ta; Eline uống ngấu nghiến và nhìn Kristin qua vành muôi.

«Vậy cô là Kristin Lavransdatter, người đã cắt đứt tình thân giữa tôi và Erlend,» nàng ta nói rồi trả chiếc muôi lại.

«Tự bà phải biết giữa hai người có tình thân gì để mà cắt đứt hay không,» cô gái trẻ đáp.

Eline cắn môi.

«Còn cô sẽ làm gì,» nàng ta nói, «nếu Erlend chán cô rồi một ngày kia muốn gả cô cho tên đầy tớ của hắn? Cô cũng sẽ chiều theo Erlend trong chuyện ấy chứ?»

Kristin không đáp; người kia bật cười rồi nói:

«Giờ cô chiều hắn trong mọi chuyện, tôi đoán thế. Cô nghĩ sao, Kristin—hai ta, hai ả nhân tình của Erlend Nikulaussøn, có nên gieo xúc xắc giành người đàn ông của mình không?» Không được đáp, nàng ta lại cười và nói: «Cô ngây thơ đến nỗi không dám phủ nhận mình là nhân tình của hắn sao?»

«Với bà, tôi chẳng buồn nói dối,» Kristin nói.

«Mà cô có nói dối cũng chẳng ích gì,» Eline vẫn giữ nguyên giọng ấy đáp. «Tôi biết anh chàng của tôi. Đến lần thứ hai hai người ở bên nhau, chắc hắn đã xòe lông ve vãn cô như con gà gô trống rồi. Cũng đáng thương cho cô, đứa trẻ xinh đẹp đang đứng đó.»

Hai má Kristin trắng bệch. Buồn nôn vì ghê tởm, nàng khẽ nói:

«Tôi không muốn nói chuyện với bà—»

«Cô tưởng hắn sẽ đối xử với cô tử tế hơn đã đối xử với tôi sao?» Eline nói tiếp. Bấy giờ Kristin sắc giọng đáp:

«Dù Erlend làm gì, tôi cũng sẽ không oán trách anh ấy. Chính tôi đã bước vào đường lạc—và nếu con đường ấy dẫn tuột xuống triền đá lở, tôi cũng không than van khóc lóc.»

Eline im lặng một lúc. Rồi nàng ta nói, mặt đỏ lên, giọng thiếu tự tin:

«Tôi cũng còn là gái trinh khi hắn có được tôi, Kristin—dù khi ấy tôi đã mang danh vợ của ông già kia suốt bảy năm. Nhưng hẳn cô không thể hiểu nổi đó là một cuộc đời khốn khổ đến thế nào.»

Kristin bỗng run dữ dội. Eline nhìn nàng. Rồi từ chiếc rương hành lý đặt bên cạnh trên bệ giường, nàng ta lấy ra một chiếc sừng nhỏ. Nàng ta bẻ dấu niêm rồi khẽ nói:

«Cô còn trẻ, còn tôi đã già, Kristin. Tôi biết chống lại cô cũng vô ích—giờ là thời của cô. Cô có chịu uống cùng tôi không, Kristin?»

Kristin không nhúc nhích. Người kia đưa chiếc sừng lên miệng. Kristin nhận ra nàng ta không uống. Eline nói:

«Ít ra cô cũng có thể tỏ cho tôi chút danh dự ấy: uống chúc tôi—và hứa rằng cô sẽ không làm một người mẹ kế hà khắc với các con tôi chứ?»

Kristin cầm lấy chiếc sừng. Đúng lúc ấy Erlend mở cửa. Chàng đứng yên một lát, nhìn hết người phụ nữ này sang người kia.

«Chuyện gì thế này?» chàng hỏi.

Kristin đáp, giọng nàng chói gắt và cuồng loạn:

«Hai ả nhân tình của anh đang uống chúc nhau—»

Chàng túm cổ tay nàng và giật lấy chiếc sừng. «Im đi,» chàng nói cộc cằn. «Em không được uống với cô ta.»

«Tại sao không?» Kristin vẫn nói bằng giọng ấy. «Bà ấy cũng trong trắng như tôi khi anh dụ dỗ bà ấy—»

«Cô ta đã nói điều ấy nhiều đến nỗi ta tưởng chính cô ta cũng tin là thật,» Erlend nói. «Cô còn nhớ khi cô khiến ta phải đem câu chuyện ấy đến nói với Sigurd, rồi ông ta đưa người làm chứng rằng trước đó đã từng bắt gặp cô với một người đàn ông khác không?»

Trắng bệch vì ghê tởm, Kristin quay đi. Eline đỏ sẫm mặt, rồi ngang ngạnh nói:

«Dù sao cô ta có uống chung với tôi cũng đâu đến nỗi mắc bệnh phong.»

Erlend giận dữ quay sang Eline—bỗng mặt chàng như dài ra và cứng đờ; chàng hớp hơi vì kinh hãi:

«Lạy Chúa Giêsu!» chàng nói gần như không thành tiếng. Chàng túm lấy cánh tay Eline.

«Vậy thì uống chúc cô ấy đi,» chàng nói, giọng nghiệt ngã và run rẩy. «Cô uống trước, rồi cô ấy sẽ uống với cô.»

Eline rên lên, giằng mình thoát ra. Nàng ta lùi sâu vào trong nhà; Erlend bước theo. «Uống đi,» chàng nói. Chàng rút dao găm khỏi thắt lưng, cầm nó trong tay mà tiến tới. «Uống thứ nước cô đã rót cho Kristin.» Chàng túm cánh tay Eline, kéo nàng ta đến bàn, ép nàng ta cúi xuống trước chiếc sừng.

Eline thét lên một tiếng rồi vùi mặt vào cánh tay.

Erlend buông nàng ta ra, đứng đó run rẩy.

«Ở với Sigurd, tôi đã sống trong địa ngục,» Eline gào lên, «anh, chính anh đã hứa—nhưng anh còn đối xử với tôi tệ hơn, Erlend!»

Bấy giờ Kristin bước tới, chộp lấy chiếc sừng:

«Một người trong hai chúng tôi phải uống—anh không thể giữ được cả hai—»

Erlend giật chiếc sừng khỏi tay nàng, hất nàng văng qua sàn khiến nàng ngã dúi bên giường phu nhân Aashild. Chàng dí chiếc sừng vào miệng Eline Ormsdatter—một đầu gối chống lên ghế dài cạnh nàng ta, một tay giữ đầu nàng ta, chàng cố ép nàng ta uống.

Nàng ta luồn tay dưới cánh tay chàng, giật con dao găm trên bàn rồi đâm chàng. Nhát đâm hầu như chỉ sượt qua áo quần. Nàng ta liền xoay mũi dao về phía mình, và ngay sau đó đổ nghiêng vào lòng chàng.

Kristin đứng dậy, bước đến. Erlend ôm Eline; đầu nàng ta ngửa ra sau trên cánh tay chàng. Gần như tức khắc, cổ họng nàng ta bắt đầu khò khè—máu ứ trong họng và chảy ra khỏi miệng. Nàng ta nhổ ra một búng lớn rồi nói:

«Thứ nước ấy—tôi định dành cho anh—vì tất cả những lần—anh đã phản bội tôi—»

«Đi gọi dì Aashild đến đây,» Erlend nói khẽ. Kristin đứng bất động.

«Cô ấy sắp chết,» Erlend vẫn nói bằng giọng ấy.

«Vậy thì chị ta sẽ đến một nơi tốt đẹp hơn chúng ta,» Kristin đáp. Erlend nhìn nàng—nỗi tuyệt vọng trong mắt chàng khiến lòng nàng mềm lại. Nàng đi ra khỏi nhà.

«Có chuyện gì?» phu nhân Aashild hỏi khi Kristin gọi bà ra khỏi nhà bếp.

«Chúng con đã giết Eline Ormsdatter,» Kristin nói. «Chị ta sắp chết—»

Phu nhân Aashild chạy bổ đi. Nhưng Eline trút hơi thở cuối cùng đúng lúc bà bước qua cửa.

Phu nhân Aashild đã đặt thi thể ngay ngắn trên ghế dài, rửa máu trên mặt người chết rồi phủ khăn trùm đầu lên. Erlend đứng tựa vào vách phía sau thi thể.

«Cậu có hiểu,» phu nhân Aashild nói, «rằng đây là chuyện tồi tệ nhất có thể xảy ra không?»

Bà đã nhét củi và cành khô vào lò; giờ bà đặt chiếc sừng vào chính giữa rồi thổi cho lửa bùng lên.

«Cậu có tin được các tùy tùng của mình không?» bà lại hỏi.

«Ulv và Haftor thì tôi nghĩ là được—. Còn Jon và người đi cùng Eline, tôi chẳng biết họ mấy.»

«Cậu phải hiểu,» bà nói, «nếu chuyện Kristin và cậu ở đây cùng nhau bị lộ, và rằng hai người ở riêng với cô ta khi cô ta chết, thì cậu thà cứ để cô ấy uống thứ Eline đã pha còn hơn.—Mà một khi có lời đồn về thuốc độc, người ta sẽ nhớ trước đây ta từng bị buộc tội điều gì.—Cô ta có họ hàng hay bạn bè nào không?»

«Không,» Erlend trầm giọng nói. «Cô ấy chẳng có ai ngoài tôi.»

«Dù vậy,» phu nhân Aashild nói tiếp, «vẫn sẽ rất khó che giấu chuyện này và đưa thi thể đi nơi khác mà không khiến cậu phải chịu mối nghi ngờ ghê gớm nhất.»

«Cô ấy phải được chôn trong đất đã làm phép,» Erlend nói, «dẫu tôi có phải mất Husaby. Em nói sao, Kristin?»

Kristin gật đầu.

Phu nhân Aashild ngồi im lặng. Càng nghĩ, bà càng thấy không thể tìm ra một lối thoát. Trong nhà bếp có bốn tùy tùng—liệu Erlend có thể mua được sự im lặng của tất cả bọn họ không, liệu một người nào trong số ấy, tên hầu của Eline chẳng hạn, có thể bị mua chuộc để rời khỏi xứ không: dù thế mọi chuyện vẫn cứ bất trắc. Mà ở Jørundgaard, người ta biết Kristin đã đến đây—nếu Lavrans hỏi đến chuyện này, bà không thể hình dung ông sẽ làm gì. Rồi còn phải đưa người chết đi. Lúc này không thể nghĩ đến con đường núi về phía tây—chỉ còn đường đến Raumsdal, hoặc vượt núi đến Trondheim, hoặc đi về phía nam xuyên qua thung lũng. Và nếu sự thật lộ ra, sẽ chẳng bao giờ có ai tin—ngay cả nếu người ta chịu nhận nó là thật.

«Ta phải bàn chuyện này với Bjørn,» bà nói, đứng dậy rồi đi ra.

Bjørn Gunnarsøn nghe vợ kể lại mọi chuyện mà nét mặt không hề động đậy, mắt cũng không rời khỏi Erlend.

«Bjørn,» Aashild nói trong tuyệt vọng. «Phải có một người thề rằng chính mắt mình đã thấy cô ta tự kết liễu đời mình.»

Ánh sống trong mắt Bjørn chậm rãi tắt đi; ông nhìn vợ, miệng nhếch thành một nụ cười méo xệch:

“Ý bà là người ấy phải là tôi sao?”

Phu nhân Aashild siết hai tay vào nhau, giơ lên về phía ông: “Bjørn, ông hiểu chuyện này hệ trọng thế nào đối với hai đứa chúng nó mà—”

“Vậy là bà cho rằng đằng nào tôi cũng hết rồi,” ông chậm rãi hỏi. “Hay bà cho rằng trong tôi vẫn còn lại đủ nhiều con người thuở trước, để tôi dám thề gian mà cứu thằng trai kia khỏi bị kéo xuống? Tôi, kẻ chính mình đã bị kéo xuống—từ bao nhiêu năm về trước. Tôi nói là bị kéo xuống,” ông nhấn mạnh.

“Ông nói thế vì giờ tôi đã già rồi,” Aashild thì thầm.

Kristin bật khóc, tiếng khóc xé ngang căn phòng. Nàng vẫn ngồi trong góc bên giường Aashild, cứng đờ và im lặng. Giờ nàng òa lên khóc thành tiếng. Dường như giọng phu nhân Aashild đã xé toang trái tim nàng. Giọng ấy trĩu nặng những hồi ức về vị ngọt của tình yêu; dường như chỉ đến lúc nghe giọng nói ấy, Kristin mới hiểu trọn vẹn tình yêu giữa nàng và Erlend đã từng là gì. Ký ức về niềm hạnh phúc nóng bỏng, mãnh liệt tràn lấp mọi điều khác—cuốn sạch nỗi căm hận khắc nghiệt của tuyệt vọng trong đêm vừa qua. Nàng chỉ còn biết đến tình yêu của mình và ý chí chịu đựng đến cùng.

Cả ba người đều nhìn nàng. Rồi ngài Bjørn bước tới, nâng cằm nàng lên và cúi nhìn:

“Kristin, cô nói chính nàng ta đã tự làm việc ấy sao?”

“Mọi lời ngài vừa nghe đều là sự thật,” Kristin nói vững vàng. “Chúng tôi đã dồn ép nàng cho đến khi nàng làm việc này.”

“Nàng ta đã định dành cho Kristin một số phận còn tệ hơn,” Aashild nói.

Ngài Bjørn buông cô gái ra. Ông đi tới bên thi thể, nhấc nó lên đặt vào chiếc giường nơi Eline đã nằm đêm trước, đẩy sát vào vách rồi kéo chăn phủ kín.

“Anh hãy cho Jon và người tùy tùng mà anh không quen trở về Husaby, nhắn rằng Eline sẽ cùng anh đi về phương nam. Bảo họ lên đường vào giữa trưa. Cứ nói các bà đang ngủ trong này; họ sẽ ăn ở nhà bếp. Sau đó anh phải nói chuyện với Ulv và Haftor. Trước đây nàng ta đã từng dọa làm việc này chưa? Để nếu có ai tra hỏi, anh còn đưa ra được người làm chứng?”

“Bất cứ ai từng ở điền trang trong những năm cuối chúng tôi sống cùng nhau tại đó,” Erlend mệt mỏi nói, “đều có thể làm chứng rằng nàng từng dọa tự sát—và đôi khi giết cả tôi—mỗi khi tôi nói mình muốn rời bỏ nàng.”

Bjørn bật cười khô khốc:

“Đúng như tôi nghĩ. Tối nay ta sẽ mặc y phục đi đường cho nàng rồi đặt nàng vào xe trượt tuyết. Anh sẽ ngồi bên cạnh nàng—”

Erlend đứng đó, thân mình chao đảo:

“Tôi không thể.”

“Chúa mới biết sau khi anh còn tự mình định đoạt mọi sự thêm hai mươi năm nữa, trong anh sẽ sót lại được bao nhiêu khí phách đàn ông,” Bjørn nói. “Anh có nghĩ mình còn cầm cương nổi không? Vậy tôi sẽ ngồi bên nàng. Chúng ta phải đi ban đêm và theo những con đường vắng, cho tới khi xuống được Fron. Trong cái rét này, không ai có thể biết nàng đã chết bao lâu. Ta sẽ tới quán trọ của các tu sĩ ở Roaldstad. Tại đó anh và tôi sẽ làm chứng rằng hai người đã cãi nhau ở phía sau xe. Ai cũng biết rõ rằng từ khi được giải vạ tuyệt thông, anh không còn muốn chung sống với nàng, và anh đã cầu hôn một thiếu nữ môn đăng hộ đối. Ulv và Haftor phải tránh xa suốt dọc đường, để nếu cần họ có thể thề rằng lần cuối trông thấy, nàng vẫn còn sống. Anh có thể khiến họ làm thế chứ? Ở chỗ các tu sĩ, anh có thể cho đặt nàng vào quan tài—rồi anh phải thương lượng với các linh mục để nàng được yên nơi mộ phần và chính anh được yên hồn.

— Phải, việc này chẳng đẹp đẽ gì. Nhưng anh đã không thu xếp đời mình theo cách để nó có thể đẹp đẽ hơn. Đừng đứng đó như đàn bà sắp sinh đang chực ngất đi. Chúa cứu anh, chàng trai, hẳn trước đây anh chưa từng biết lưỡi dao kề vào yết hầu là thế nào.”

Một luồng gió buốt cắt từ trên núi thổi xuống—tuyết từ những đụn cao tung lên như làn khói mảnh, ánh bạc, bay vào khoảng không xanh màu trăng khi những người đàn ông chuẩn bị lên đường.

Hai con ngựa được thắng nối đuôi nhau. Erlend ngồi phía trước xe trượt tuyết. Kristin bước đến bên chàng:

“Lần này, Erlend, anh hãy cố gửi tin cho em biết chuyến đi ra sao và anh sẽ đi đâu.”

Chàng siết tay nàng mạnh đến nỗi nàng tưởng máu phải bật ra từ chân móng.

“Em vẫn còn dám bám lấy anh sao, Kristin?”

“Vẫn còn,” nàng nói, rồi một lát sau lại tiếp: “Trong việc này cả hai ta đều có tội—em đã khích anh, vì em muốn nàng chết.”

Phu nhân Aashild và Kristin đứng nhìn đoàn người khuất dần. Chiếc xe trượt tuyết nhấp nhô trên những đụn tuyết. Nó mất hút trong một chỗ trũng—rồi hiện ra thấp hơn, trên một khoảnh đất trắng. Nhưng sau đó những người đàn ông đi vào bóng một tảng đá lớn và biến mất hẳn.

Hai người đàn bà ngồi trước lò sưởi, quay lưng về phía chiếc giường trống mà phu nhân Aashild đã mang hết quần áo và rơm ra khỏi đó. Cả hai đều cảm thấy nó vẫn ở sau lưng mình, trống hoác như một cái miệng há rộng.

“Cô có muốn đêm nay chúng ta ngủ trong nhà bếp không?” một lúc sau phu nhân Aashild hỏi.

“Chúng ta nằm ở đâu thì có lẽ cũng vậy thôi,” Kristin đáp.

Phu nhân Aashild ra ngoài xem thời tiết.

“Nếu gió nổi lên hoặc trời dịu đi, họ sẽ chưa đi được bao xa thì thời tiết đã đổi,” Kristin nói.

“Ở Haugen lúc nào cũng có gió,” phu nhân Aashild đáp. “Không có dấu hiệu gì cho thấy trời sắp đổi.”

Rồi họ lại ngồi như trước.

“Cô chớ quên,” một lúc sau phu nhân nói, “nàng ta đã định dành cho hai người số phận thế nào.”

Kristin khẽ đáp:

“Cháu nghĩ có lẽ nếu ở vào cảnh ngộ của nàng, cháu cũng muốn làm như thế.”

“Cô không bao giờ muốn khiến một người khác mắc bệnh phong,” phu nhân Aashild nói gay gắt.

“Dì có nhớ không, dì từng nói với cháu rằng không dám làm điều mình thấy không đẹp là tốt. Nhưng nếu chỉ vì không dám làm một việc mà cho rằng việc ấy không đẹp, thì chẳng tốt chút nào.”

“Cô không dám làm vì sợ phạm tội,” phu nhân Aashild nói.

“Không, cháu không nghĩ thế,” Kristin đáp. “Bởi cháu đã làm nhiều việc mà trước kia cháu hẳn tưởng mình không dám làm vì sợ phạm tội. Nhưng khi ấy cháu không thấy rằng phạm tội thì cũng kéo theo việc phải giẫm đạp lên người khác.”

“Erlend đã muốn chấm dứt đời sống trụy lạc từ lâu trước khi gặp cô,” Aashild gay gắt đáp. “Giữa hai người họ đã hết từ trước rồi.”

“Cháu biết,” Kristin nói. “Nhưng có lẽ nàng chưa bao giờ có lý do để tin rằng ý định của Erlend vững chắc đến mức nàng không thể lay chuyển.”

“Kristin,” phu nhân Aashild lo sợ van nài, “giờ cô sẽ không buông Erlend ra chứ. Bây giờ hai người chỉ có thể được cứu nếu cứu lấy nhau.”

“Một linh mục hẳn khó lòng khuyên như thế,” Kristin nói và mỉm cười lạnh lẽo. “Nhưng cháu biết mình sẽ không buông Erlend—dẫu phải giẫm đạp lên chính cha mình.”

Phu nhân Aashild đứng dậy.

“Chúng ta tìm việc gì làm còn hơn cứ ngồi thế này,” bà nói. “Có lẽ cố nằm nghỉ cũng vô ích thôi.”

Bà lấy thùng đánh bơ từ gian chứa đồ ra, mang vào mấy vò sữa rồi đổ đầy thùng, đứng vào chỗ và bắt đầu đánh bơ.

“Để cháu làm việc này,” Kristin xin. “Lưng cháu còn trẻ hơn.”

Họ làm việc mà không nói với nhau; Kristin đứng bên cửa gian chứa đồ đánh bơ, còn Aashild chải len trước bếp lửa. Mãi đến khi Kristin đã lọc hết sữa bơ khỏi thùng và đang nhào khối bơ, cô gái trẻ mới đột ngột hỏi:

“Dì Aashild—dì chưa bao giờ sợ ngày mình phải đứng trước sự phán xét của Chúa sao?”

Phu nhân Aashild đứng dậy, bước tới đứng trước mặt Kristin trong vùng sáng:

“Có lẽ khi đến thời của Người, ta sẽ có đủ can đảm để hỏi Đấng đã tạo ra ta đúng như ta thế này rằng Người có chịu thương xót ta chăng. Bởi khi làm trái điều răn của Người, ta chưa bao giờ cầu xin lòng thương xót. Và ta cũng chưa bao giờ xin Chúa hay người đời miễn cho ta dù chỉ một đồng trong cái giá đền tội mà ta đã trả tại mái nhà này.”

Một lát sau bà khẽ nói:

“Munan, con trai cả của ta, khi ấy mới hai mươi tuổi. Hồi đó nó chưa phải con người như ta biết nó bây giờ. Các con ta ngày ấy chưa phải như bây giờ—”

Kristin lặng lẽ đáp:

“Nhưng suốt bao năm ấy, ngày nào đêm nào dì cũng có ngài Bjørn ở bên.”

“Phải—điều ấy ta cũng đã có,” Aashild nói.

Một lát sau Kristin làm bơ xong. Phu nhân Aashild nói họ nên thử nằm xuống nghỉ một chút.

Trong chiếc giường tối, bà choàng tay quanh vai Kristin và kéo đầu cô gái trẻ vào sát mình. Chẳng bao lâu sau, nghe hơi thở đều đặn, êm nhẹ của nàng, bà biết Kristin đã ngủ.