Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa — Chương 19: Tập I — Vòng hoa · Phần III — Lavrans Bjørgulfsøn · Chương IV
Chương 19 / 23 · Bài review Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa
Rét giá cứ dai dẳng. Trong mọi chuồng bò khắp vùng, những con vật đói vì thiếu thức ăn rống lên, rên rỉ và chịu rét. Nhưng ngay từ lúc này, người ta đã phải dè sẻn cỏ khô đến mức cùng cực.
Mùa Giáng sinh năm ấy chẳng mấy ai đi thăm viếng; nhà nào nhà nấy đều ở yên trong nhà mình.
Đến lễ Giáng sinh, cái rét càng dữ dội — dường như mỗi ngày lại lạnh hơn ngày trước. Người ta hầu như không nhớ nổi một mùa đông nào khắc nghiệt đến thế — tuyết cũng không rơi thêm, ngay cả sâu trong núi, nhưng lớp tuyết đã xuống vào lễ Thánh Clemens thì đông cứng như đá. Giờ đây, khi ban ngày bắt đầu sáng lâu hơn, mặt trời chiếu từ bầu trời quang đãng. Ban đêm, cực quang nổ lách tách và chập chờn trên những sống núi phía bắc, tràn qua nửa bầu trời — nhưng không đem theo một sự đổi thời tiết nào; thỉnh thoảng có một ngày trời kéo mây, chút tuyết khô rắc xuống, rồi trời lại quang và rét buốt như thiêu đốt. Dưới những vòm băng, sông Laagen âm u rì rầm, òng ọc.
Mỗi sáng Kristin đều nghĩ rằng giờ thì nàng không còn sức nữa, nàng không thể chịu cho hết ngày này. Bởi mỗi ngày, nàng đều cảm thấy như có một cuộc giao đấu giữa cha và mình. Mà họ lại phải đứng đối đầu nhau như thế lúc mọi sinh linh, cả người lẫn vật trong khắp vùng, đều đang chịu chung một cơn thử thách. Nhưng khi tối xuống, nàng vẫn đã chịu đựng được.
Không phải cha nàng tỏ ra không tử tế. Họ không bao giờ nói đến điều đang ngăn cách hai người, nhưng đằng sau mọi lời ông không nói, nàng cảm thấy ông đã quyết giữ nguyên sự khước từ của mình, không gì lay chuyển nổi.
Và nỗi thiếu vắng tình thân với cha bỏng rát trong nàng. Nó bỏng rát khủng khiếp, bởi nàng biết cha còn phải mang biết bao gánh nặng khác — nếu vẫn như ngày trước, hẳn ông đã đem những điều ấy ra trò chuyện với nàng. Quả thật, Jørundgaard được che chở khá hơn phần lớn những nơi khác, nhưng ngay tại đây, họ cũng cảm thấy tai họa mất mùa từng ngày, từng giờ. Những mùa đông trước, Lavrans vẫn thường bắt những con ngựa non về thuần dưỡng, nhưng mùa thu năm ấy ông đã bán hết chúng xuống miền nam. Người con gái nhớ giọng cha vang ngoài sân, nhớ cảnh ông vật lộn với những con ngựa hai tuổi thanh mảnh, lông xù, trong trò chơi mà ông yêu thích đến thế. Sau vụ thu hoạch năm trước, các kho lẫm, vựa cỏ và ngăn chứa trong trang trại chưa đến nỗi trống trơn; nhưng rất nhiều người cũng tìm đến Jørundgaard xin cứu giúp, kẻ hỏi mua, người xin không, và không một ai cầu xin mà phải về tay trắng.
Một tối muộn, có một ông già lực lưỡng khoác áo da trượt tuyết đến. Lavrans nói chuyện với ông ngoài sân, rồi Halvdan mang thức ăn cho ông vào gian nhà có bếp lửa. Không ai trong trang trại từng trông thấy ông biết ông là ai — hẳn ông thuộc số những người sống sâu trong núi; có lẽ Lavrans đã từng gặp ông ở trong ấy. Nhưng cha nàng không nhắc gì đến chuyến viếng thăm, Halvdan cũng vậy.
Nhưng một tối khác, có một người đàn ông đến; giữa ông ta và Lavrans Bjørgulfsøn đã có chuyện bất hòa chưa dứt suốt nhiều năm. Lavrans cùng ông ta vào kho. Khi trở lại gian nhà, ông nói:
“Ai ai cũng muốn đến tìm ta xin cứu giúp. Nhưng ngay trong trang trại của ta, tất cả các người đều chống lại ta. Cả bà nữa, vợ ạ,” ông gay gắt nói với Ragnfrid.
Người mẹ liền quay phắt sang Kristin.
“Con có nghe cha con nói gì với mẹ không! Tôi đâu có chống lại ông, Lavrans. Chính con cũng biết mà, Kristin, chuyện xảy ra dưới Roaldstad vào cuối thu, khi hắn đi xuống thung lũng cùng kẻ gian dâm kia, người bà con của hắn ở Haugen — người đàn bà khốn khổ mà hắn đã dụ bỏ hết thảy thân quyến ấy đã tự kết liễu đời mình.”
Kristin cứng rắn, lạnh lùng đáp:
“Con hiểu rằng cha mẹ trách chàng về những năm chàng gắng sức thoát khỏi tội lỗi cũng nặng chẳng kém những năm chàng sống trong tội lỗi.”
“Lạy Chúa Jesus, Đức Mẹ Maria,” Ragnfrid kêu lên, chắp hai tay lại. “Con đã trở thành thế nào vậy! Đến chuyện này cũng không khiến con đổi lòng được sao!”
“Không,” Kristin nói. “Con không đổi lòng.”
Bấy giờ Lavrans ngẩng lên từ chiếc ghế dài nơi ông đang ngồi bên Ulvhild:
“Cha cũng không đổi lòng, Kristin,” ông nói khẽ.
Nhưng trong thâm tâm, Kristin biết rằng xét theo một cách nào đó, nàng đã đổi khác — nếu không đổi lòng thì cũng đổi cách nhìn. Nàng đã nhận được tin về kết cục của chuyến đi tai họa ấy. Mọi chuyện đã trôi qua dễ dàng hơn người ta có thể ngờ. Không biết vì hơi lạnh đã nhiễm vào vết thương hay vì nguyên do gì khác, nhát dao Erlend trúng ở ngực đã trở nặng; chàng phải nằm bệnh một thời gian trong quán trọ tại Roaldstad. Những ngày ấy, ngài Bjørn đã chăm sóc chàng. Nhưng vì Erlend mang thương tích, chuyện kia cũng dễ giải thích hơn và dễ khiến người ta tin hơn.
Khi có thể tiếp tục lên đường, chàng đã đưa người chết theo trong một cỗ quan tài đến tận Oslo. Tại đó, dường như nhờ cha Jon đứng ra thu xếp, chàng đã xin được một chỗ chôn cho bà ta trong nghĩa địa của nhà thờ Thánh Nikolaus đã bị phá đổ; rồi chàng xưng tội với chính giám mục Oslo, và vị này truyền cho chàng phải hành hương đến Thánh Huyết ở Schwerin. Giờ chàng đã rời khỏi đất nước.
Còn nàng không thể hành hương đến một nơi nào để tìm sự giải tội. Phần nàng là ngồi lại đây, chờ đợi, suy nghĩ và cố chịu đựng trong sự chống đối cha mẹ. Một thứ ánh sáng mùa đông lạnh lẽo kỳ lạ phủ lên mọi ký ức về những lần nàng gặp Erlend. Nàng nghĩ đến sự dữ dội của chàng — trong tình yêu cũng như trong đau khổ — và nàng cảm thấy rằng, giá như mình có thể đón nhận mọi chuyện đột ngột như thế, lập tức xông thẳng vào chúng như một cơn bão, thì có lẽ về sau chúng sẽ trở nên nhỏ nhẹ hơn, dễ mang hơn. Đôi khi nàng nghĩ, có lẽ Erlend sẽ từ bỏ mình. Dường như từ trước tới nay nàng vẫn luôn có một nỗi sợ nhỏ nhoi rằng nếu mọi việc trở nên quá khó khăn cho họ, chàng sẽ chịu thua. Nhưng nàng sẽ không từ bỏ chàng, trừ phi chính chàng giải phóng nàng khỏi mọi lời thề.
Mùa đông cứ thế trôi dần. Và Kristin không thể tự lừa dối mình thêm nữa; nàng buộc phải thấy rằng giờ đây thử thách khắc nghiệt nhất đang chờ tất cả bọn họ, bởi Ulvhild chẳng còn sống được bao lâu. Giữa nỗi đau cay đắng vì em gái, nàng kinh hãi nhận ra rằng quả thật linh hồn mình đã lạc lối và bị tội lỗi gặm mòn. Bởi ngay trước đứa trẻ đang hấp hối và nỗi đau không lời nào tả xiết của cha mẹ, nàng vẫn nghĩ đến điều này — nếu Ulvhild chết, làm sao ta có thể chịu nổi khi nhìn cha mà không quỳ sụp dưới chân người, thú nhận hết mọi chuyện, cầu xin người tha thứ và định đoạt đời ta —
Họ đã bước vào mùa Chay. Người ta giết bớt những đàn gia súc nhỏ mà họ từng hy vọng giữ cho sống sót, để chúng khỏi tự chết đói. Còn con người thì đổ bệnh vì phải sống bằng cá, trong khi thức ăn làm từ bột vừa ít ỏi vừa tồi tệ. Cha Eirik miễn cho cả vùng khỏi lệnh kiêng các thức ăn từ sữa. Nhưng người ta hầu như chẳng có lấy một giọt sữa.
Ulvhild nằm liệt giường. Em nằm một mình trên chiếc giường của hai chị em, và mỗi đêm đều có người thức canh bên em. Có những đêm cha nàng và Kristin cùng ngồi trông em. Một đêm như thế, Lavrans nói với con gái:
“Con có nhớ điều tu sĩ Edvin đã nói về số phận của Ulvhild không? Ngay khi ấy cha đã nghĩ, có lẽ ông muốn nói đến chuyện này. Nhưng rồi cha gạt ý nghĩ ấy đi.”
Trong những đêm ấy, đôi lúc ông kể chuyện này chuyện khác về thời các con còn nhỏ. Kristin ngồi đó, mặt trắng bệch, tuyệt vọng, và hiểu rằng đằng sau những lời ấy, cha đang cầu xin nàng.
Một ngày nọ, Lavrans cùng Kolbein đi tìm một hang gấu trong khu rừng núi phía bắc. Họ trở về với một con gấu cái trên xe trượt, còn Lavrans giấu một gấu con sống trong ngực áo. Ulvhild vui lên được đôi chút khi ông đem nó ra cho em xem. Nhưng Ragnfrid nói lúc này đâu phải thời buổi để nuôi thêm một con vật như thế, mà ông còn định làm gì với nó?
“Ta sẽ nuôi lớn nó để xích trước kho, canh cho các cô con gái của ta,” Lavrans nói và cười khan.
Nhưng họ không thể kiếm được thứ sữa béo mà gấu con cần, vì vậy mấy ngày sau Lavrans giết nó.
Mặt trời đã có sức đến mức đôi khi giữa trưa, nước nhỏ xuống từ mái nhà. Những con chim bạc má bám chặt, leo trèo trên các bức tường gỗ phía đón nắng; chúng mổ đến vang tiếng trong lúc tìm những con ruồi ngủ trong các kẽ thân gỗ. Khắp những bãi đất, tuyết cứng và sáng lóa như bạc.
Cuối cùng, một tối nọ, mây bắt đầu kéo qua mặt trăng. Sáng ra, mọi người ở Jørundgaard thức dậy giữa một màn tuyết mịt mù, không thể nhìn ra bất cứ phía nào.
Ngày hôm ấy, họ hiểu rằng Ulvhild sắp chết.
Cả nhà đều ở trong phòng, và cha Eirik cũng sang. Nhiều ngọn nến cháy trong gian nhà. Khi trời vừa tối, Ulvhild lặng lẽ, bình yên tắt thở trong vòng tay mẹ.
Ragnfrid chịu đựng vững vàng hơn mọi người đã nghĩ. Hai vợ chồng ngồi bên nhau, cả hai đều khóc rất lặng lẽ. Tất cả những người có mặt trong phòng đều khóc. Khi Kristin đến bên cha, ông vòng tay qua vai nàng. Ông cảm thấy nàng run lên bần bật, liền kéo nàng sát vào mình. Nhưng nàng tưởng chính ông hẳn cũng phải cảm thấy như thể nàng đã bị giằng xa khỏi ông hơn cả đứa con bé bỏng đã chết trên giường kia.
Nàng không hiểu mình đã chịu đựng bằng cách nào. Nàng hầu như không còn nhớ mình chịu đựng vì điều gì; nhưng tê dại, câm lặng vì đau đớn, nàng vẫn đứng vững và không quỳ sụp dưới chân cha.
Rồi vài tấm ván trên sàn nhà thờ trước bàn thờ Thánh Tomas được nạy lên, và người ta đào một ngôi mộ cho Ulvhild Lavransdatter trong lớp đất cứng như đá ở bên dưới.
Tuyết rơi dày và lặng lẽ suốt những ngày thi hài đứa trẻ được quàn trên giường rơm; tuyết vẫn rơi khi em được đưa xuống huyệt, rồi cứ thế rơi gần như không ngừng suốt trọn một tháng.
Đối với những người ngày ngày chờ đợi sự giải thoát của mùa xuân, dường như mùa xuân sẽ không bao giờ đến. Ngày đã dài và sáng, thung lũng nằm trong làn hơi bốc lên từ tuyết đang tan dưới ánh mặt trời. Nhưng hơi rét vẫn giữ chặt trong không khí, và sức ấm chẳng sao lấn tới được. Ban đêm rét đóng cứng — băng nổ răng rắc, tiếng động dội ra từ trong núi, sói tru và cáo sủa ngay dưới vùng dân cư như giữa chính đông. Người ta lột vỏ cây cho gia súc ăn, nhưng chúng vẫn ngã chết từng đàn trong chuồng. Không ai hiểu rồi chuyện này sẽ kết thúc ra sao.
Kristin đi ra ngoài vào một ngày như thế, khi nước rỉ dọc những vệt bánh xe trên đường và tuyết lấp lánh như bạc khắp các cánh đồng. Ở phía hướng về mặt trời, những ụ tuyết đã bị khoét rỗng, đến nỗi lớp mắt lưới băng mảnh mai ở vành vỏ tuyết cứng vỡ ra với tiếng ngân bạc khe khẽ mỗi khi nàng chạm chân vào. Nhưng khắp nơi, chỉ cần trong một bóng râm nhỏ nhất, cái rét sắc nhọn vẫn nằm trong không khí và tuyết vẫn cứng.
Nàng đi lên phía nhà thờ — chính nàng cũng không biết mình đến đó làm gì, nhưng có một sức kéo nàng tới. Cha nàng đang ở đó — nàng biết có mấy người nông dân, những anh em trong hội, đang họp tại hiên nhà thờ.
Trên sườn dốc, nàng gặp đoàn nông dân đang đi xuống. Cha Eirik cũng ở cùng họ. Tất cả đàn ông đều đi bộ; họ tụ lại thành một đám đen sẫm, xù xì, cúi đầu và không trò chuyện với nhau; khi nàng chào lúc đi ngang qua, họ đáp lời cộc lốc.
Kristin nghĩ đã lâu lắm rồi kể từ thời mọi người trong vùng đều là bạn của nàng. Giờ hẳn ai cũng biết nàng là một đứa con gái bất hiếu. Có lẽ họ còn biết nhiều chuyện hơn về nàng. Giờ hẳn tất cả cũng tin rằng những lời đồn cũ về nàng với Arne và Bentein có phần là thật. Có lẽ thanh danh nàng đã ô uế đến cùng cực. Nàng ngẩng cao đầu và tiếp tục đi về phía nhà thờ.
Cánh cửa khép hờ. Bên trong nhà thờ lạnh buốt, nhưng từ khoảng không gian nâu sẫm, mờ tối ấy vẫn như có một luồng hơi ấm chảy vào tâm hồn nàng, nơi những thân cột vươn cao nâng bóng tối lên tới giàn xà mái. Trên các bàn thờ không thắp đèn, nhưng một chút nắng lọt qua khe cửa, lấp lánh yếu ớt trên các tượng ảnh và bình thánh.
Phía trước bàn thờ Thánh Tomas, nàng thấy cha đang quỳ, đầu cúi sát đôi bàn tay chắp lại đang ghì chiếc mũ vào ngực.
E dè và buồn bã, Kristin lặng lẽ bước ra, đứng dưới hiên. Qua vòm cung giữa hai cây cột nhỏ nàng đang vịn lấy, nàng thấy Jørundgaard nằm phía dưới, và sau mái nhà là làn sương xanh nhợt phủ trên thung lũng. Dưới ánh nắng, dòng sông lóe trắng bởi nước và băng khi chảy xuyên qua vùng dân cư. Nhưng những bụi trăn dọc bờ sông đã ánh nâu vàng vì đầy nụ, rừng vân sam trên này, cạnh nhà thờ, dẫu sao cũng mang màu xanh mùa xuân, và trong lùm cây gần đó, chim nhỏ líu ríu, ríu rít, huýt vang. Phải rồi, tối nào sau khi mặt trời lặn cũng có tiếng chim hót như thế.
Và nàng cảm thấy nỗi khao khát mà nàng tưởng giờ đây hẳn đã bị đau đớn vắt kiệt khỏi mình, nỗi khao khát trong máu và trong thân thể, lại cựa mình, non nớt và yếu ớt như vừa thức dậy khỏi giấc ngủ đông.
Lavrans Bjørgulfsøn bước ra và khóa cửa nhà thờ sau lưng. Ông đến đứng gần con gái, nhìn ra ngoài qua vòm cung kế bên. Nàng thấy mùa đông này đã tàn phá cha mình đến mức nào. Chính nàng cũng không hiểu sao lúc này mình có thể chạm đến chuyện ấy, nhưng lời vẫn vụt ra khỏi miệng.
“Điều mẹ nói hôm trước có thật không, rằng cha đã bảo mẹ — nếu đó là Arne Gyrdsøn thì cha đã thuận theo ý con?”
“Phải,” Lavrans nói, không nhìn nàng.
“Khi Arne còn sống, cha đâu có nói thế,” Kristin đáp.
“Chuyện ấy chưa bao giờ được nhắc tới. Cha biết thằng bé thương con — nhưng nó không nói gì — nó lại còn trẻ — và cha cũng chưa từng nhận ra con nghĩ về nó theo cách ấy. Hẳn con không thể trông chờ cha đem con gái mình dâng cho một người chẳng có gì trong tay.” Ông thoáng mỉm cười. “Nhưng cha quý thằng bé,” ông nói khẽ. “Và nếu cha thấy con bị tình yêu dành cho nó giày vò đến kiệt quệ —”
Họ đứng đó nhìn ra ngoài. Kristin cảm thấy cha đang nhìn mình — nàng cố giữ cho gương mặt bình thản, nhưng cảm nhận được mình đang trắng bệch đi. Bấy giờ cha bước đến, vòng cả hai tay ôm lấy nàng, ghì nàng vào lòng. Ông ngả đầu nàng ra sau, nhìn xuống mặt con gái, rồi lại giấu gương mặt ấy bên vai mình.
“Lạy Chúa Jesus Kitô, Kristin bé nhỏ, con khổ đến thế sao —”
“Con nghĩ mình sẽ chết vì nỗi này, cha ạ,” nàng nói, mặt áp vào ông.
Nàng bật khóc. Nhưng nàng khóc bởi qua cái vuốt ve của cha và trong đôi mắt ông, nàng đã cảm thấy và nhìn thấy rằng giờ đây ông đã bị nỗi đau giày vò đến mức không còn sức giữ vững sự chống đối nữa. Nàng đã thắng ông.
Đến khuya, nàng thức giấc vì cha chạm vào vai mình trong bóng tối:
“Dậy đi,” ông nói khẽ, “con có nghe thấy không —?”
Bấy giờ nàng nghe tiếng gió hát quanh mái nhà — âm trầm đầy đặn của ngọn nam phong sũng hơi nước. Nước từ mái tuôn xuống xối xả, tiếng mưa rì rầm rơi trên lớp tuyết mềm đang tan.
Kristin khoác váy lên người rồi theo cha ra cửa ngoài. Hai cha con đứng bên nhau nhìn vào đêm tháng Năm sáng tỏ — gió ấm và mưa quất vào mặt họ — bầu trời cuồn cuộn những đám mây mưa rối bời, trôi dạt; tiếng rào rạt dâng lên từ rừng cây, gió rít giữa các nếp nhà — và từ trên núi vọng xuống những tiếng ì ầm nặng nề của tuyết đang sụt tràn xuống.
Kristin tìm bàn tay cha và nắm lấy. Ông đã gọi nàng dậy, muốn cho nàng thấy cảnh này. Trước kia giữa hai cha con vẫn từng như thế, ông hẳn đã làm như vậy. Và giờ đây lại như thế nữa.
Khi họ trở vào để nằm xuống, Lavrans nói:
“Người trai lạ mặt đến đây trong tuần vừa rồi mang cho cha một bức thư của ngài Munan Baardsøn. Mùa hè này ông ấy định lên đây thăm mẹ, và xin được gặp cha để nói chuyện.”
“Cha sẽ trả lời ông ấy thế nào, cha?” nàng thì thầm.
“Giờ cha chưa thể nói với con,” Lavrans đáp. “Nhưng cha sẽ nói chuyện với ông ấy, rồi cha phải định liệu sao cho cha thấy mình có thể chịu trách nhiệm trước mặt Chúa, con gái ạ.”
Kristin lại chui vào nằm bên Ramborg, còn Lavrans đi nằm xuống cạnh người vợ đang ngủ. Ông nằm đó, nghĩ rằng nếu trận lũ dâng lớn và ập đến bất ngờ, thì trong vùng này ít gia trang nào ở vào thế hiểm nghèo như Jørundgaard. Người ta vẫn truyền một lời tiên báo rằng một ngày kia dòng sông sẽ cuốn nó đi.