Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa — Chương 20: Tập I — Vòng hoa · Phần III — Lavrans Bjørgulfsøn · Chương V
Chương 20 / 23 · Bài review Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa
Mùa xuân ập đến trong một đợt. Vài ngày sau khi băng tan, cả miền thung lũng nằm đen nâu dưới những trận mưa xối xả. Nước ào xuống các sườn đồi, sông dâng lên, trải như một biển chì xám dưới đáy thung, trên mặt nước lềnh bềnh những lùm cây nhỏ, giữa dòng là một rãnh nước sủi bọt đầy hiểm độc. Ở Jørundgaard, nước tràn sâu vào đồng ruộng. Tuy vậy, khắp nơi thiệt hại đều nhẹ hơn người ta từng lo sợ.
Vụ cày gieo mùa xuân bắt đầu muộn, dân chúng gieo số hạt giống ít ỏi của mình, cầu xin Chúa gìn giữ chúng khỏi sương giá ban đêm cho tới mùa thu. Và xem chừng giờ đây Người muốn nghe lời họ mà cất bớt đôi chút gánh nặng. Tháng Sáu đến với thời tiết luôn biến chuyển, mùa hè thuận lợi, và dân chúng lại nuôi hy vọng rằng dấu vết của năm đói kém rồi sẽ phai mờ theo thời gian.
Vụ làm cỏ khô vừa xong thì một tối nọ, bốn người đàn ông cưỡi ngựa đến Jørundgaard. Đó là hai vị hiệp sĩ cùng hai tùy tùng: ngài Munan Baardsøn và ngài Baard Petersøn xứ Hestnæs.
Ragnfrid và Lavrans sai dọn bàn trong gian phòng trên lầu của đại sảnh, sửa soạn giường cho khách trong nhà kho. Nhưng Lavrans xin hai vị hãy đợi đến hôm sau, khi đã nghỉ ngơi lại sức sau chuyến đi, rồi mới nói rõ việc họ đến đây.
Trong bữa ăn, ngài Munan nói nhiều nhất; ông thường hướng câu chuyện về phía Kristin và trò chuyện như thể hai người đã quen biết thân thiết. Nàng thấy cha không thích điều ấy. Ngài Munan thấp đậm, mặt đỏ, xấu xí, lắm lời, cử chỉ lại có phần lố bịch. Người ta gọi ông là Munan Cụt hay Munan Vũ Công. Song bất chấp dáng vẻ ấy, con trai phu nhân Aashild vẫn là một người khôn ngoan, có năng lực; ông từng thay mặt triều đình giải quyết nhiều việc và hẳn có thế lực đáng kể trong số những người điều hành quốc sự. Ông ngự trên đất tổ của mẹ mình ở Skogheimsherred, rất giàu có và đã kết một cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối. Phu nhân Katrin, vợ ông, xấu khác thường và hiếm khi mở miệng, nhưng chồng bà lúc nào cũng nói về bà như thể bà là người đàn bà sáng suốt nhất, bởi thế người ta đùa gọi bà là phu nhân Katrin đa mưu túc trí, lời tựa châu ngọc. Xem ra họ sống thuận hòa, yêu thương nhau, mặc dù ngài Munan nổi tiếng phóng đãng cả trước lẫn sau khi thành hôn.
Ngài Baard Petersøn là một ông già đẹp lão và đường bệ, dẫu giờ đây đã hơi phệ và tay chân nặng nề. Tóc cùng râu ông đã nhạt màu, nhưng vẫn còn vàng nhiều ngang với bạc. Từ khi vua Magnus Haakonsøn qua đời, ông sống yên ổn, cai quản những điền sản rộng lớn của mình ở Nordmøre. Ông góa người vợ thứ hai và có nhiều con; nghe nói tất cả đều xinh đẹp, được nuôi dạy chu đáo và sống sung túc.
Hôm sau, Lavrans cùng các vị khách lên gác bàn chuyện. Lavrans mời vợ cùng dự, nhưng bà không chịu. “Việc này phải hoàn toàn do mình quyết định. Mình biết đấy, nếu chuyện không thành thì đó sẽ là nỗi đau nặng nề nhất đối với con gái chúng ta; nhưng tôi cũng thấy cuộc hôn nhân này có không ít điều đáng phản đối.”
Ngài Munan đưa ra một bức thư của Erlend Nikulaussøn. Erlend xin Lavrans tự mình toàn quyền định đoạt mọi điều kiện, nếu ông bằng lòng gả con gái Kristin cho chàng. Erlend sẵn lòng để những người vô tư định giá tài sản và kiểm tra các nguồn lợi tức của mình; chàng sẽ cấp cho Kristin sính sản và quà sáng hôm cưới sao cho nàng sở hữu một phần ba gia sản của chàng, ngoài của hồi môn riêng cùng mọi phần thừa kế nàng có thể nhận từ thân quyến, nếu nàng góa chồng mà không có người con nào sống lâu hơn cha. Chàng còn xin để Kristin được toàn quyền định đoạt phần gia sản của nàng, cả những gì nàng mang từ nhà cha mẹ lẫn những gì nàng nhận từ chàng. Nhưng nếu Lavrans muốn đặt ra những điều kiện khác cho việc phân định gia sản vợ chồng, Erlend cũng sẵn lòng nghe theo và tuân thủ. Điều kiện duy nhất mà thân quyến của Kristin phải cam kết để đổi lại là: nếu họ nhận quyền giám hộ con cái của chàng và nàng, họ sẽ không bao giờ tìm cách hủy bỏ những tặng vật chàng đã trao cho các con với Eline Ormsdatter, mà phải công nhận số tài sản ấy đã được tách khỏi gia sản của chàng trước khi chàng kết hôn với Kristin Lavransdatter. Cuối cùng, Erlend xin được tổ chức hôn lễ tại Husaby với mọi nghi thức huy hoàng xứng đáng.
Lavrans lên tiếng:
“Đây là một lời đề nghị hậu hĩ. Tôi hiểu người thân của các ngài hết sức mong đạt được thỏa thuận với tôi. Tôi cũng thấy điều ấy qua việc chàng đã khiến ngài, ngài Munan, phải lần thứ hai đi làm sứ giả trong một việc như thế này đến gặp một người như tôi, vốn chẳng có mấy thanh thế ngoài vùng thung lũng này; và một vị như ngài, ngài Baard, cũng chịu nhọc công đi chuyến này để trợ lời. Nhưng về đề nghị của Erlend, tôi xin nói thế này: con gái tôi không được nuôi dạy để tự mình cai quản tài sản và của cải; tôi vẫn luôn định gả nó cho một người mà tôi có thể yên lòng trao phúc lợi của con gái vào tay người ấy. Tôi không biết Kristin có đủ sức gánh quyền hành như vậy hay không, nhưng tôi khó tin nó sẽ thấy dễ chịu. Tính nó hiền hòa và thuận phục — mà một trong những lý do khiến tôi vẫn canh cánh trong lòng khi phản đối cuộc hôn nhân này chính là Erlend đã tỏ ra thiếu sáng suốt trong nhiều việc. Nếu nó là một người đàn bà thích nắm quyền, táo bạo và ngang ngạnh, thì mọi chuyện hẳn đã khác ngay từ đầu.”
Ngài Munan bật cười mà nói:
“Lavrans thân mến, ngài lại phàn nàn rằng cô gái chưa đủ ngang ngạnh sao—” Và ngài Baard mỉm cười nhẹ:
“Nhưng xem ra con gái ngài đã chứng tỏ mình chẳng thiếu ý chí — suốt hai năm nay cô ấy vẫn giữ lòng với Erlend, hoàn toàn trái ý ngài.”
Lavrans nói:
“Tôi nhớ chuyện ấy rất rõ, nhưng tôi vẫn biết mình đang nói gì. Chính nó cũng đã khổ sở trong thời gian chống lại tôi, và nó sẽ chẳng được vui lâu bên một người chồng nếu người ấy không đủ sức chế ngự nó.”
“Quỷ tha ma bắt, thật thế sao,” ngài Munan nói. “Vậy thì con gái ngài hẳn khác xa mọi người đàn bà tôi từng biết, bởi tôi chưa thấy một ai không muốn cai quản cả bản thân mình lẫn chồng mình.”
Lavrans nhún vai, không đáp.
Baard Petersøn bấy giờ nói:
“Tôi có thể hiểu, Lavrans Bjørgulfsøn, rằng từ khi chuyện người đàn bà Erlend từng nuôi trong nhà kết thúc như thế, ngài lại càng không muốn cuộc hôn nhân giữa con gái ngài và con nuôi tôi. Nhưng giờ ngài phải biết rằng người ta đã phát hiện người đàn bà khốn khổ ấy để một người đàn ông khác quyến rũ — viên quản gia của Erlend tại Husaby. Erlend đã biết chuyện đó khi chàng đưa cô ta xuôi qua thung lũng; chàng còn đề nghị cấp cho cô ta của hồi môn xứng đáng nếu viên quản gia chịu cưới cô ta.”
“Ngài có chắc sự việc đúng là như thế không?” Lavrans hỏi. “Dẫu vậy, tôi không biết chuyện ấy có đẹp đẽ hơn được chút nào chăng. Hẳn là cay đắng cho một người đàn bà dòng dõi tử tế khi bước vào gia trang trong tay chủ nhân, rồi lại ra đi theo gã đầy tớ.”
Munan Baardsøn xen vào:
“Tôi hiểu rồi, Lavrans Bjørgulfsøn: điều ngài bất bình nhất ở cháu trai tôi là tai họa giữa nó với vợ Sigurd Saksulvsøn. Quả thật, chuyện ấy chẳng hay ho gì. Nhưng nhân danh Chúa, ngài cũng phải nhớ cho — một chàng trai trẻ sống chung một mái nhà với một người vợ trẻ đẹp, mà cô ấy lại có một ông chồng già nua, lạnh lẽo, bất lực — trên ấy đêm lại dài nửa năm; theo tôi, khó lòng mong chuyện khác xảy ra, trừ phi Erlend là một bậc thánh sống. Không thể phủ nhận rằng Erlend chẳng bao giờ mang xác thịt của một tu sĩ, nhưng tôi cũng không nghĩ cô con gái trẻ đẹp của ngài sẽ cảm ơn nếu ngài đem gả cô ấy cho một ông chồng như thầy tu. — Đúng là về sau Erlend đã xử sự ngu xuẩn, thậm chí còn tệ hơn nữa —. Nhưng rồi chuyện này cũng phải có lúc kết thúc chứ — thân quyến chúng tôi đã gắng sức giúp chàng trai đứng dậy, người đàn bà kia đã chết, Erlend đã làm hết khả năng để chăm lo cho cả thể xác lẫn linh hồn cô ta, chính giám mục Oslo đã giải chàng khỏi tội lỗi, và nay chàng đã trở về, được Máu Thánh ở Schwerin tẩy sạch — chẳng lẽ ngài còn muốn nghiêm khắc hơn giám mục Oslo, hơn cả vị tổng giám mục hay bất cứ ai trông nom Máu Thánh quý báu dưới ấy sao—.”
“Lavrans thân mến, đức khiết tịnh quả là điều đẹp đẽ, nhưng một người đàn ông trưởng thành thật khó lòng giữ nổi nếu không được Chúa ban cho một ân sủng đặc biệt. Nhân danh Thánh Olav — ngài cũng phải nhớ rằng chính vị vua thánh mãi đến gần cuối cuộc đời nơi trần thế mới nhận được ân ấy — có lẽ ý Chúa là trước hết người phải sinh ra chàng trai tài cán, vua Magnus, người đã đánh tan cơn cuồng phong của dân ngoại tràn xuống các xứ phương bắc. Vua Olav đâu có người con trai ấy với hoàng hậu của mình, vậy mà người vẫn ngự giữa những vị thánh cao cả nhất trên Thiên Đàng. Phải, tôi nhìn mặt ngài thì biết ngài cho lời lẽ này là bất xứng—”
Ngài Baard ngắt lời ông:
“Lavrans Bjørgulfsøn, khi Erlend đến gặp tôi lần đầu và nói rằng chàng đã đem lòng yêu một thiếu nữ có hôn ước với người khác, tôi cũng chẳng ưa chuyện ấy hơn ngài. Nhưng về sau tôi hiểu ra rằng tình yêu giữa hai người trẻ tuổi này mạnh mẽ đến nỗi chia cắt họ sẽ là một tội lớn. Erlend đã cùng tôi dự tiệc Giáng sinh cuối cùng vua Haakon mở cho các bề tôi — họ gặp nhau ở đó, và ngay khi vừa trông thấy nhau, con gái ngài ngất lịm, nằm như chết suốt một hồi lâu — còn tôi nhìn con nuôi mình thì biết nó thà mất mạng còn hơn mất cô ấy.”
Lavrans ngồi im một lúc rồi mới đáp:
“Phải, những chuyện như thế nghe thật đẹp khi người ta đọc trong một thiên truyện hiệp sĩ từ miền nam. Nhưng chúng ta không ở Bretland, và hẳn ngài cũng đòi hỏi ở người đàn ông mình nhận làm con rể nhiều hơn việc hắn khiến con gái ngài ngất đi vì tình trước mắt thiên hạ—”
Hai người kia im lặng; Lavrans nói tiếp:
“Tôi nghĩ thế này, thưa các ngài: nếu Erlend Nikulaussøn không làm suy giảm cả gia sản lẫn thanh danh của mình đến thế, các ngài đã chẳng ngồi đây hết lời khẩn khoản một người có địa vị như tôi gả con gái cho chàng. Nhưng tôi không muốn thiên hạ nói rằng Kristin được nâng cao danh giá khi kết hôn vào Husaby với một người thuộc những dòng họ cao quý nhất nước — sau khi người đàn ông ấy đã tự làm nhục mình đến mức không thể mong một cuộc hôn nhân tốt hơn, cũng chẳng còn giữ nổi thanh thế của dòng tộc.”
Ông đứng phắt dậy, bước ra giữa sàn rồi đi tới đi lui.
Nhưng ngài Munan bật dậy:
“Không, Lavrans, nếu ngài nói đến chuyện tự làm nhục mình thì nhân danh Chúa, ngài phải biết rằng ngài kiêu ngạo quá đỗi—”
Ngài Baard cắt lời ông; ông bước đến bên Lavrans:
“Ngài kiêu ngạo đấy, Lavrans — ngài giống những người nông dân thuở trước mà chúng ta từng nghe kể, những kẻ không chịu nhận tước hiệu vua ban, bởi lòng kiêu hãnh không cho phép thiên hạ nói rằng họ phải mang ơn bất cứ ai ngoài chính mình. Tôi nói thật với ngài: dẫu Erlend vẫn còn nguyên thanh danh và của cải mà chàng sinh ra đáng được hưởng, tôi cũng không cho rằng mình hạ thấp bản thân khi xin một người đàn ông dòng dõi tử tế, gia cảnh sung túc gả con gái cho con nuôi tôi, nếu tôi biết hai người trẻ tuổi sẽ tan nát cõi lòng khi bị chia lìa. Nhất là,” ông hạ giọng, đặt một tay lên vai người kia, “nếu sự thể đã đến mức để họ cưới nhau mới tốt nhất cho phần rỗi linh hồn của cả hai.”
Lavrans tránh khỏi bàn tay ông; gương mặt ông khép lại, lạnh lùng:
“Tôi không hiểu ngài có ý gì, thưa ngài.”
Hai người nhìn nhau một lúc; rồi ngài Baard nói:
“Ý tôi là Erlend đã nói với tôi rằng hai người họ đã thề nguyền thuộc về nhau bằng những lời thề thiêng liêng nhất. Có thể ngài cho rằng mình có quyền giải lời thề cho con gái, vì nó đã thề mà không được ngài thuận tình. Nhưng ngài không thể giải lời thề cho Erlend. — Và tôi chẳng thấy điều gì cản trở chuyện này nhiều hơn lòng kiêu ngạo của ngài — cùng sự căm ghét tội lỗi nơi ngài. Nhưng trong việc ấy, xem ra ngài muốn nghiêm khắc hơn cả chính Chúa, Lavrans Bjørgulfsøn!”
Lavrans đáp, giọng có phần bất định:
“Có lẽ những điều ngài vừa nói với tôi cũng có phần đúng, ngài Baard. Nhưng lý do chính khiến tôi phản đối là vì Erlend có vẻ một người không đáng tin cậy để tôi trao con gái vào tay.”
“Tôi nghĩ giờ đây tôi dám đứng ra bảo chứng cho con nuôi mình,” Baard trầm giọng nói. “Nó yêu Kristin đến mức tôi biết rằng nếu ngài gả cô ấy cho nó, nó sẽ sống sao cho ngài không có cớ gì chê trách con rể.”
Lavrans không đáp ngay. Bấy giờ ngài Baard tha thiết nói, chìa tay ra:
“Nhân danh Chúa, Lavrans Bjørgulfsøn, xin ngài hãy thuận lời!”
Lavrans đặt tay mình vào tay ngài Baard:
“Nhân danh Chúa!”
Ragnfrid và Kristin được gọi lên gác, Lavrans báo cho họ biết quyết định của mình. Ngài Baard trang trọng chào hai người đàn bà; ngài Munan bắt tay Ragnfrid và nói với bà chủ nhà bằng lời lẽ nhã nhặn, nhưng với Kristin, ông chào theo lối ngoại quốc, bằng một nụ hôn, và ông cố tình kéo dài lời chào ấy. Kristin cảm thấy cha đang nhìn mình.
“Con thấy người bà con mới của mình, ngài Munan, thế nào?” ông hỏi giễu cợt khi có lúc được ở riêng với nàng vào cuối buổi tối.
Kristin nhìn cha van lơn. Ông vuốt mặt nàng mấy lượt rồi không nói gì thêm.
Khi ngài Baard và ngài Munan đi nghỉ, người sau nói:
“Ta sẵn lòng trả không ít để được thấy vẻ mặt Lavrans Bjørgulfsøn khi hắn biết sự thật về cô con gái quý báu ấy. Vậy mà anh với tôi phải quỳ gối van xin cho Erlend được lấy làm vợ một người đàn bà mà hắn đã bao lần ăn nằm cùng trong nhà Brynhild—”
“Câm miệng đi,” ngài Baard giận dữ đáp. “Điều tồi tệ nhất Erlend đã làm là dụ dỗ đứa trẻ ấy đến những nơi như vậy — và đừng bao giờ để Lavrans đánh hơi được chuyện đó; tốt nhất cho tất cả là giờ đây hai người họ có thể hòa thuận với nhau.”
Họ thỏa thuận sẽ mở tiệc đính hôn ngay mùa thu năm ấy. Lavrans nói ông không thể tổ chức tiệc này quá lớn, vì năm trước thung lũng đã chịu mất mùa; bù lại, chính ông sẽ đài thọ hôn lễ và tổ chức tại Jørundgaard với vẻ huy hoàng xứng đáng. Ông lại viện năm mất mùa làm lý do để yêu cầu thời gian đính ước phải kéo dài một năm.