Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa — Chương 21: Tập I — Vòng hoa · Phần III — Lavrans Bjørgulfsøn · Chương VI

Chương 21 / 23 · Bài review Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa

Lễ đính hôn bị hoãn lại vì nhiều duyên cớ; mãi đến đầu năm mới được cử hành, nhưng Lavrans thuận rằng đám cưới không vì thế mà lùi lại; hôn lễ sẽ diễn ra ngay sau lễ Thánh Micae, như giao ước ban đầu.

Thế là Kristin ở lại Jørundgaard, đã chính thức trở thành vị hôn thê của Erlend. Cùng mẹ, nàng xem xét mọi thứ của hồi môn đã được sắm sửa cho mình, rồi lại gắng sức chất thêm vào những chồng chăn đệm và y phục, bởi Lavrans nhất quyết rằng một khi đã gả con gái cho chủ nhân Husaby, ông sẽ không tiếc bất cứ thứ gì.

Chính Kristin cũng lấy làm lạ vì sao giờ đây nàng không vui hơn. Nhưng giữa bao nhiêu bận rộn, ở Jørundgaard vẫn không có niềm vui thực sự.

Nàng hiểu cha mẹ đau đớn nhớ thương Ulvhild. Nhưng nàng cũng hiểu không phải chỉ vì thế mà họ lặng lẽ và buồn bã đến vậy. Họ vẫn tử tế với nàng, song mỗi khi nói với nàng về vị hôn phu, nàng biết họ phải gắng gượng mà làm, chỉ để nàng vui và để tỏ lòng thương mến; chứ bản thân họ chẳng muốn nói đến Erlend. Sau khi đã quen biết người đàn ông ấy, họ vẫn chẳng vui hơn chút nào trước cuộc hôn nhân nàng lựa chọn. Chính Erlend cũng lặng lẽ và dè dặt trong quãng thời gian ngắn chàng ở Jørundgaard trước lễ đính hôn — mà hẳn không thể khác được, Kristin nghĩ; chàng biết cha nàng chỉ miễn cưỡng thuận tình.

Bản thân nàng và Erlend hầu như chưa trao đổi riêng với nhau được mười lời. Với cả hai, thật lạ lẫm và gượng gạo khi phải ngồi bên nhau trước mắt mọi người như thế; lúc ấy họ chẳng có mấy điều để nói, bởi giữa họ vốn đã có quá nhiều bí mật chung. Trong nàng dần nảy sinh một nỗi sợ không rõ rệt, mơ hồ và tối tăm nhưng luôn luôn hiện diện — rằng một mai thành vợ chồng, có lẽ vì một lẽ nào đó họ sẽ thấy khó sống với nhau, bởi thoạt đầu họ đã quá gần gũi, rồi sau đó lại hoàn toàn xa cách nhau quá lâu.

Nhưng nàng cố gạt ý nghĩ ấy đi. Erlend dự định sẽ đến thăm họ ở Jørundgaard vào dịp lễ Hiện Xuống; chàng đã hỏi Lavrans và Ragnfrid liệu họ có phiền lòng nếu chàng đến không, và Lavrans hơi cười, đáp rằng Erlend hẳn phải biết ông sẽ tiếp đón con rể mình tử tế.

Vào dịp lễ Hiện Xuống, họ có thể cùng nhau đi lại ngoài trời, lại có thể chuyện trò như những ngày xưa; khi ấy hẳn cái bóng đã chen vào giữa họ vì cuộc xa cách dài lâu — khi mỗi người đi một ngả và một mình mang lấy nỗi riêng — cũng sẽ tan đi.

Trong dịp lễ Phục Sinh, Simon Andressøn và vợ ở Formo. Kristin trông thấy họ trong nhà thờ. Vợ Simon đứng cách nàng không xa.

Chắc nàng ấy phải lớn tuổi hơn Simon nhiều, Kristin nghĩ — gần ba mươi rồi. Phu nhân Halfrid nhỏ nhắn, mảnh mai và gầy, nhưng có một gương mặt đẹp dịu dàng lạ lùng. Ngay cả màu nâu nhạt của mái tóc lượn sóng lộ ra dưới khăn vải lanh cũng dường như thật hiền hòa, và đôi mắt nàng đầy vẻ dịu hiền; đôi mắt ấy lớn, màu xám, lấm tấm những đốm vàng nhỏ. Mọi đường nét trên gương mặt đều thanh tú, trong trẻo — nhưng da nàng hơi xám tái, và khi nàng hé miệng, người ta thấy răng nàng không được tốt. Nàng trông không khỏe mạnh, mà nghe nói quả thật cũng hay đau yếu — hình như đã sẩy thai mấy lần rồi. Kristin tự hỏi Simon sống với người vợ này ra sao.

Người Jørundgaard và người Formo đã mấy lần chào nhau từ hai phía bãi nhà thờ, nhưng không trò chuyện. Đến ngày thứ ba, Simon đi lễ mà không có vợ. Chàng bước lại gần Lavrans, hai người nói với nhau một lúc. Kristin nghe thấy họ nhắc đến Ulvhild. Sau đó chàng nói chuyện với Ragnfrid. Ramborg đứng cạnh mẹ, nói khá lớn: “Em nhớ anh rõ lắm — em biết anh là ai.” Simon nhấc bổng đứa bé lên, xoay nó một vòng: “Ramborg không quên anh, thế là ngoan lắm.” Với Kristin, chàng chỉ chào từ đằng xa. Sau đó cha mẹ nàng không nhắc gì đến cuộc gặp ấy.

Nhưng Kristin nghĩ về chuyện đó khá nhiều. Dù sao, trông thấy Simon Darre trở lại trong thân phận một người chồng vẫn là một cảm giác lạ lùng. Bao nhiêu chuyện cũ vì thế mà sống dậy: nàng nhớ lại tình yêu mù quáng và quy phục của chính mình đối với Erlend thuở ấy. Giờ đây tình yêu đó đã khác đi đôi chút. Nàng tự hỏi Simon có kể cho vợ nghe chuyện chàng và nàng đã lìa nhau như thế nào không — nhưng nàng biết chàng không kể, “vì cha ta,” nàng nghĩ với vẻ giễu cợt. Thật thảm hại lạ lùng khi nàng vẫn chưa chồng, còn ở nhà với cha mẹ. Nhưng nàng và Erlend đã đính hôn rồi, Simon có thể thấy họ đã cưỡng lại mọi người mà đạt được điều mình muốn. Dù Erlend còn làm những gì khác nữa, chàng vẫn một lòng giữ lấy nàng, và nàng không phải hạng buông tuồng hay nhẹ dạ.

Một buổi tối đầu xuân, Ragnfrid cần sai người mang lời nhắn xuống phía nam cho bà Gunhild già, góa phụ chuyên may đồ lông thú. Buổi tối đẹp đến nỗi Kristin xin được đi; cuối cùng nàng cũng được phép, vì mọi người đàn ông đều đang bận việc.

Mặt trời đã lặn, một làn sương giá trắng mỏng dâng lên nền trời xanh ánh vàng. Sau mỗi nhịp vó, Kristin lại nghe tiếng lớp băng chiều giòn mỏng vỡ ra, bắn tung và loạt xoạt tản đi. Nhưng từ những bụi cây ven đường, tiếng chim hót reo vui, mềm mại và tràn đầy hơi xuân, dâng vào bóng chạng vạng.

Kristin cưỡi nhanh xuống dốc, chẳng nghĩ ngợi gì nhiều, chỉ cảm thấy thật dễ chịu khi một lần nữa được một mình ra ngoài. Nàng vừa đi vừa dán mắt vào vầng trăng non đang lặn dần về phía sống núi bên kia thung lũng. Vì thế nàng suýt ngã khỏi ngựa khi nó đột ngột nhảy sang bên rồi chồm lên.

Nàng trông thấy một thân hình tối sẫm nằm co quắp bên đường — thoạt đầu nàng hoảng sợ. Nàng không bao giờ rũ bỏ được nỗi khiếp đảm ghê gớm trước việc gặp người lạ khi chỉ có một mình trên đường. Nhưng nàng nghĩ đó có thể là một khách bộ hành lâm bệnh, nên khi đã chế ngự được con ngựa, nàng quay nó lại, cưỡi về phía ấy và cất tiếng hỏi có ai ở đó không.

Cái hình co quắp hơi cử động, rồi một giọng nói cất lên:

“Ta nghĩ chính là con đấy, Kristin Lavransdatter —”

“Thầy Edvin?” nàng khẽ hỏi. Nàng gần như tưởng đây là ảo ảnh hay ma quỷ bày trò lừa gạt mình. Nhưng nàng bước lại gần; quả thật là vị tu sĩ già, và ông không thể đứng dậy nếu không có người giúp.

“Cha thân yêu — vào mùa này mà cha còn đi đường sao?” nàng kinh ngạc hỏi.

“Ngợi khen Thiên Chúa đã đưa con qua con đường này tối nay,” vị tu sĩ nói. Kristin nhận thấy toàn thân ông đang run rẩy. “Ta định đi lên phía bắc, đến chỗ các con, nhưng tối nay ta không còn sức đi tiếp nữa. Ta gần như tưởng ý Chúa muốn ta nằm xuống mà chết trên những con đường ta đã nằm ngủ và lang bạt suốt đời. Nhưng ta vẫn mong được xưng tội và lãnh nghi thức sau hết. Và ta cũng mong được gặp lại con một lần nữa, con gái của ta —”

Kristin đỡ vị tu sĩ lên ngựa; nàng dắt cương và đỡ lấy ông. Giữa những lần than phiền rằng vì mình mà nàng phải để chân ướt trong lớp băng nhão, ông khẽ rên vì đau đớn.

Ông kể mình đã ở Eyabu từ lễ Giáng Sinh; trong năm mất mùa, một số nông dân giàu có trong vùng đã hứa sẽ tô điểm lại nhà thờ bằng những vật trang hoàng mới. Nhưng công việc tiến triển chậm chạp; suốt mùa đông ông lại đau ốm — trong bụng có chứng gì dữ dội khiến ông nôn ra máu và không ăn nổi. Chính ông tin mình chẳng còn sống được bao lâu, và giờ đây chỉ khát khao trở về tu viện, muốn được chết ở đó giữa những người anh em. Nhưng trước hết ông chợt ao ước được đi lên phía bắc thung lũng một lần cuối cùng, nên đã đi cùng vị linh mục dòng từ Hamar lên phía bắc để nhận chức quản sự mới tại quán trọ dành cho người hành hương ở Roaldstad. Từ Fron, ông một mình đi tiếp.

“Ta nghe nói con đã đính hôn,” ông nói, “với người đàn ông ấy —. Và khi ấy ta bỗng khát khao được gặp con. Ta đau lòng khi nghĩ lần gặp nhau trong nhà thờ của chúng ta lại là lần cuối. Chuyện con đã bước vào con đường bất hòa cứ đè nặng trong lòng ta, Kristin —”

Kristin hôn tay vị tu sĩ và nói:

“Con không hiểu mình đã làm gì, đã có công trạng gì mà cha lại dành cho con tình thương lớn đến thế.”

Vị tu sĩ khẽ đáp:

“Ta thường nghĩ, Kristin, giá như mọi việc khiến chúng ta được gặp nhau thường xuyên hơn, con đã có thể trở thành đứa con tinh thần của ta.”

“Có phải cha muốn nói rằng khi ấy cha sẽ dẫn dắt con để con hướng lòng về đời sống tu viện không?” Kristin hỏi. Một lát sau nàng nói: “Cha Eirik đã buộc con rằng nếu không được cha con ưng thuận và không thể kết hôn với Erlend, con phải gia nhập một hội nữ tu đạo hạnh để đền những tội lỗi của mình —”

“Ta thường cầu xin cho con biết khao khát đời sống tu viện,” thầy Edvin nói. “Nhưng từ sau khi con nói ra chuyện con biết đấy thì ta không còn cầu như vậy nữa. Ta từng mong con mang vòng hoa của mình đến với Thiên Chúa, Kristin —”

Khi họ về đến Jørundgaard, thầy Edvin phải được khiêng vào nhà và đặt lên giường. Họ để ông nằm trong gian nhà mùa đông cũ có bếp lửa giữa sàn, và hết lòng chăm nom. Ông lâm bệnh rất nặng, cha Eirik đến thăm, mang theo thuốc chữa cả thể xác lẫn linh hồn. Nhưng vị linh mục nói căn bệnh của ông lão là ung thư và ông không còn sống được bao lâu. Bản thân thầy Edvin cho rằng khi đã hồi lại đôi chút sức lực, ông sẽ lên đường về phía nam và cố trở lại tu viện. Cha Eirik bảo những người khác rằng theo ông, chuyện ấy không thể nào tính đến được.

Mọi người ở Jørundgaard đều cảm thấy cùng với vị tu sĩ, một niềm bình an và vui sướng lớn lao đã đến với họ. Suốt ngày, người ta ra vào gian nhà có bếp lửa, và ban đêm không bao giờ thiếu người muốn thức bên bệnh nhân. Hễ có thời giờ, họ lại tụ tập đông đúc để ngồi nghe cha Eirik đến đọc sách đạo cho người sắp chết và chuyện trò với thầy Edvin về những điều thiêng liêng. Dù phần nhiều những gì ông nói vẫn tối nghĩa và mơ hồ như cách ông thường nói xưa nay, mọi người vẫn cảm thấy ông củng cố và an ủi linh hồn họ, bởi ai nấy đều hiểu thầy Edvin tràn đầy lòng kính yêu Thiên Chúa.

Nhưng vị tu sĩ cũng thích nghe đủ mọi chuyện khác; ông hỏi tin tức các miền quê và để Lavrans kể về năm mất mùa. Trong cảnh cùng quẫn ấy, có những người đã tìm đến những phương kế xấu xa và cầu viện những thế lực mà người Kitô hữu phải lánh xa. Hơi chếch vào vùng đồi phía tây thung lũng, trên núi có một nơi với những tảng đá trắng lớn mang hình dạng những chỗ kín của con người, và một số đàn ông đã sa ngã đến mức hiến tế lợn đực và mèo đực trước thứ ghê tởm ấy. Cha Eirik bèn đưa một số nông dân mộ đạo và can đảm nhất vào đó trong một đêm, rồi họ đập vỡ những tảng đá. Lavrans đã đi cùng và có thể làm chứng rằng chúng bê bết máu, còn xương cùng những thứ tương tự nằm vương vãi quanh đó. — Trên Heidal, người ta còn đồn rằng dân chúng đã để một bà lão ngồi ngoài trời trên một tảng đá mọc liền trong đất, hát những câu thần chú cổ suốt ba đêm thứ Năm.

Một đêm, Kristin ngồi một mình bên thầy Edvin.

Khoảng nửa đêm, ông tỉnh giấc và dường như đang chịu những cơn đau dữ dội. Ông bảo Kristin lấy cuốn sách kể những phép lạ của Đức Mẹ Maria mà cha Eirik đã cho thầy Edvin mượn, rồi đọc cho ông nghe.

Kristin không quen đọc thành tiếng, nhưng nàng ngồi xuống bậc giường, đặt ngọn đèn bên cạnh, để cuốn sách trên đầu gối và đọc hết sức mình.

Một lát sau, nàng thấy người bệnh nằm nghiến chặt răng; trong những cơn đau quặn, ông siết hai bàn tay gầy mòn.

“Cha đau đớn quá,” Kristin buồn rầu nói.

“Bây giờ ta cảm thấy là thế. Nhưng ta biết chính Thiên Chúa đã khiến ta lại thành trẻ nhỏ, rồi tung ta lên và đỡ ta xuống —.

— Ta nhớ có lần khi còn bé — lúc ấy ta mới bốn tuổi — ta đã lẻn khỏi nhà, đi vào rừng. Ta lạc đường và ở ngoài đó suốt bao nhiêu ngày đêm —. Mẹ ta đi cùng những người tìm thấy ta, và khi ôm ta lên, bà cắn vào gáy ta, ta còn nhớ. Ta tưởng vì bà giận ta, nhưng về sau ta mới hiểu rõ hơn.

— Giờ đây chính ta đang khát khao được về nhà, ra khỏi khu rừng này. Có lời đã chép: hãy từ bỏ mọi sự mà theo Ta, nhưng trên đời này có quá nhiều điều ta không muốn từ bỏ —”

“Cha ư?” Kristin nói. “Con vẫn luôn nghe mọi người bảo cha là tấm gương về đời sống thanh sạch, nghèo khó và khiêm nhường —”

Vị tu sĩ khẽ cười:

“Phải, con còn trẻ nên hẳn tưởng trên đời chẳng có gì cám dỗ ngoài dục vọng, giàu sang và quyền lực. Ta bảo con, đó chỉ là những thứ nhỏ nhặt người ta bắt gặp bên đường; còn ta, ta yêu những con đường — ta không yêu những thứ nhỏ nhặt của thế gian, mà yêu cả thế gian. Từ thuở thanh xuân, Thiên Chúa đã ban cho ta ân sủng để yêu mến phu nhân Nghèo Khó và phu nhân Khiết Tịnh; bởi thế ta tưởng có hai người chị em ấy làm bạn thì mình cứ việc an lòng mà đi, và ta đã lang thang, đã đi mãi, chỉ mong có thể đi khắp mọi nẻo đường trên mặt đất. Trái tim và tư tưởng của ta cũng lang thang, cũng đi mãi — ta sợ rằng trong những suy tưởng về các điều tối tăm nhất, ta đã nhiều lần lạc lối. Nhưng giờ đã hết rồi, Kristin bé nhỏ; giờ ta muốn trở về nhà mình, gác bỏ mọi ý tưởng riêng và lắng nghe lời sáng rõ của bề trên về điều ta phải tin và phải nghĩ đối với tội lỗi của mình cùng ân sủng nơi Thiên Chúa —”

Một lát sau, ông ngủ thiếp đi. Kristin đến ngồi bên bếp lửa và trông chừng hơi ấm. Nhưng về gần sáng, khi chính nàng cũng sắp gà gật, thầy Edvin bỗng cất tiếng từ phía giường:

“Ta vui mừng, Kristin, vì chuyện giữa Erlend Nikulaussøn và con đã đi đến một kết cục tốt đẹp.”

Kristin liền òa khóc:

“Chúng con đã làm biết bao điều sai trái trước khi đi đến được đây. Điều day dứt lòng con nhất là con đã khiến cha mình đau buồn quá nhiều. Đến giờ cha con vẫn không vui vì chuyện này. Thế mà cha vẫn chưa biết — nếu biết hết mọi sự, có lẽ cha sẽ chẳng còn thương yêu con nữa.”

“Kristin,” thầy Edvin dịu dàng nói, “con không hiểu sao, con của ta, rằng chính vì thế con phải im lặng với cha, và cũng chính vì thế con không được làm cha đau buồn thêm nữa — bởi cha con sẽ không bao giờ đòi con phải đền tội. Không một điều gì con làm có thể thay đổi tấm lòng của cha con đối với con.”

Vài ngày sau, thầy Edvin đã khá đến mức muốn đi về phương nam. Vì thầy tha thiết với việc ấy, Lavrans cho làm một thứ cáng treo giữa hai con ngựa, rồi đưa người bệnh đi về phía nam đến tận Lidstad; tại đó, thầy Edvin được đổi ngựa và có đoàn hộ tống mới, cứ như vậy thầy được đưa đến tận Hamar. Thầy qua đời trong tu viện của các tu sĩ Dòng Giảng Thuyết và được mai táng trong nhà thờ của họ. Về sau, các tu sĩ chân trần đòi trao thi hài thầy cho họ, bởi nhiều người khắp các miền quê coi thầy là một người thánh thiện và gọi thầy là Thánh Even; nông dân cầu khấn thầy khắp miền Opland và các thung lũng, lên tận phía bắc tới Trondheim. Vì thế, giữa hai tu viện đã nổ ra một cuộc tranh chấp kéo dài về thi hài ấy.

Mãi về sau Kristin mới nghe biết chuyện này. Nhưng nàng đau buồn khôn xiết khi phải lìa vị tu sĩ. Nàng cảm thấy chỉ mình thầy hiểu thấu trọn cuộc đời nàng — thầy đã biết đứa trẻ vô tội là nàng thuở còn sống dưới sự che chở của cha, và thầy cũng biết cuộc đời bí mật của nàng với Erlend; bởi vậy, nàng thấy thầy tựa như một chiếc móc cài, gắn tất cả những gì nàng từng yêu quý với điều giờ đây đang choán đầy tâm trí nàng. Nay nàng đã hoàn toàn lìa khỏi con người mình từng là thuở còn con gái.