Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa — Chương 5: Tập I — Vòng hoa · Phần I — Jørundgaard · Chương V
Chương 5 / 23 · Bài review Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa
Năm Kristin tròn mười lăm tuổi vào mùa xuân, Lavrans Bjørgulfsøn và hiệp sĩ Andres Gudmundsøn xứ Dyfrin hẹn gặp nhau tại hội nghị Holled. Ở đó, họ bàn định để Simon, người con trai thứ hai của Andres, đính hôn với Kristin Lavransdatter và nhận Formo, sản nghiệp tổ truyền bên ngoại của ngài Andres. Hai người bắt tay giao ước, song chưa lập văn thư, vì trước hết Andres còn phải thu xếp với những người con khác về phần thừa kế của họ. Bởi vậy cũng chưa mở tiệc rượu mừng đính ước, nhưng hiệp sĩ Andres và Simon cùng về Jørundgaard để xem mặt cô dâu, và Lavrans mở một bữa tiệc lớn đãi khách.
Bấy giờ Lavrans đã dựng xong ngôi nhà ở mới hai tầng, có lò xây cả trong gian chính lẫn phòng trên gác, được trang hoàng giàu đẹp bằng gỗ chạm và đồ đạc tốt. Ông cũng sửa sang lại ngôi nhà gác cũ và tu bổ các nhà khác, nên giờ đây ông ăn ở xứng với địa vị một người thuộc hàng võ sĩ. Gia cảnh ông rất thịnh vượng, bởi những việc ông làm đều gặp may, mà ông lại là một người chủ khôn ngoan, biết lo xa; ông đặc biệt nổi tiếng vì nuôi được những giống ngựa đẹp nhất cùng gia súc hảo hạng đủ mọi loài. Và nay, khi ông đã thu xếp để con gái mình lấy một người thuộc dòng họ Dyfrin và về làm dâu tại Formo, người ta cho rằng chí nguyện trở thành người đứng đầu trong vùng của ông đã thành tựu mỹ mãn. Chính ông và Ragnfrid đều hết sức hài lòng, ngài Andres và Simon cũng vậy.
Thoạt trông thấy Simon Andressøn, Kristin có phần hụt hẫng, vì nàng đã nghe người ta hết lời ca tụng vẻ tuấn tú và phong thái nhã nhặn của chàng, nên không biết bao nhiêu mà kể những điều nàng từng mong đợi ở người sẽ làm chồng mình.
Quả Simon có diện mạo dễ coi, nhưng mới hai mươi tuổi mà chàng đã hơi đẫy đà, cổ ngắn, gương mặt tròn và bóng như mặt trăng. Tóc chàng rất đẹp, màu nâu và quăn; đôi mắt xám, trong, nhưng dường như hơi bị ép hẹp lại vì mí mắt đầy thịt; mũi quá nhỏ, miệng cũng nhỏ và hơi chúm, song không xấu. Dẫu thân hình nặng nề, chàng vẫn nhẹ nhàng, nhanh nhẹn và mềm mại trong mọi cử động, lại giỏi các môn vận động. Chàng hơi bạo miệng và nói năng lanh lẹ, nhưng Lavrans nhận thấy khi trò chuyện với những người lớn tuổi, chàng vẫn tỏ ra vừa sáng dạ vừa có học.
Ragnfrid chẳng bao lâu đã đem lòng quý mến chàng, còn Ulvhild thì lập tức yêu chàng hết mực — mà chàng cũng đặc biệt hiền hậu, âu yếm với cô bé đau yếu. Khi Kristin đã quen hơn với gương mặt tròn và lối nói năng của chàng, nàng cũng thật sự hài lòng với vị hôn phu, và vui vì cha đã thu xếp cho mình như vậy.
Phu nhân Aashild có mặt trong bữa tiệc. Từ khi người nhà Jørundgaard nối lại giao tình với bà, những gia đình quyền thế ở các vùng lân cận lại bắt đầu nhớ tới dòng dõi cao sang của bà và ít nghĩ hơn đến những lời đồn kỳ lạ quanh bà, nên giờ đây phu nhân thường xuyên đi lại giao thiệp với mọi người. Sau khi nhìn thấy Simon, bà nói:
“Đây là một cuộc hôn nhân tốt, Kristin ạ. Simon này rồi sẽ nên người trên đời — con sẽ tránh được nhiều nỗi lo, mà sống cùng cậu ta cũng sẽ êm ấm. Nhưng ta thấy cậu ta có phần quá béo tốt và vui tính —. Nếu ở Na Uy ngày nay vẫn như thuở trước, cũng như tại những xứ khác, nơi người đời không nghiêm khắc với kẻ có tội hơn chính Thiên Chúa, thì ta sẽ bảo con nên tìm lấy một người bạn gầy gò và sầu muộn — một người để con có thể ngồi bên mà trò chuyện. Khi ấy ta sẽ nói rằng con không thể nào gặp một người chồng tốt hơn Simon.”
Kristin đỏ mặt, mặc dù nàng không hiểu trọn ý phu nhân Aashild. Nhưng thời gian trôi qua, những chiếc rương của nàng dần đầy lên, và nàng luôn nghe người ta nói về cuộc hôn nhân cùng những thứ nàng sẽ mang theo về nhà chồng, nên nàng bắt đầu mong cho việc ấy sớm được ràng buộc bằng lễ đính ước và Simon sớm trở lại miền bắc; cuối cùng nàng cũng nghĩ đến chàng khá nhiều và vui mừng mong được gặp lại chàng.
Kristin nay đã lớn hẳn và trở nên rất đẹp. Nàng giống cha hơn cả; vóc người cao, eo thon, các khớp xương nhỏ nhắn thanh tú, nhưng thân thể vẫn tròn trịa đầy đặn. Gương mặt nàng hơi ngắn và tròn, vầng trán thấp, rộng, trắng như sữa; đôi mắt lớn, xám và dịu dàng dưới hàng mày có nét đẹp. Miệng nàng hơi rộng, nhưng tươi đỏ và đầy đặn, cằm tròn như quả táo, cân đối. Nàng có mái tóc dày và dài tuyệt đẹp, song sắc tóc hơi sẫm, gần nâu hơn vàng, và thẳng mượt. Lavrans không thích gì hơn là được nghe Sira Eirik khen Kristin — vị linh mục đã nhìn nàng lớn lên, dạy nàng đọc sách viết chữ và rất yêu mến nàng. Nhưng ông không thật vừa lòng khi đôi lúc vị kia ví con gái ông với một con ngựa cái tơ không tì vết, lông óng như lụa.
Tuy vậy, ai nấy đều nói rằng nếu tai họa kia không xảy đến với Ulvhild, cô bé hẳn còn đẹp hơn chị mình gấp nhiều lần. Em có gương mặt xinh xắn, ngọt ngào nhất, trắng hồng như hoa hồng và hoa huệ; mái tóc vàng nhạt, mềm như lụa, bồng bềnh uốn lọn quanh chiếc cổ mảnh và đôi vai gầy. Đôi mắt em mang nét của dòng họ Gjesling: nằm sâu dưới hàng mày thẳng đen, trong như nước, màu xanh xám, nhưng ánh nhìn hiền dịu chứ không sắc. Giọng đứa trẻ lại trong trẻo, êm ái đến nỗi nghe em nói hay hát đều là một niềm vui; em mau hiểu việc sách vở, giỏi đủ mọi lối gảy đàn dây và trò chơi trên bàn, nhưng ít ham việc kim chỉ, vì lưng em rất chóng mỏi.
Bởi dường như đứa trẻ xinh đẹp này khó lòng có ngày lấy lại được trọn vẹn sức vóc. Em đã khá hơn đôi chút sau khi cha mẹ đưa em đến Nidaros cầu khấn Thánh Olav. Lavrans và Ragnfrid đã đi bộ tới đó, không có gia nhân nam nữ nào theo hầu; suốt dọc đường, hai người cùng khiêng đứa trẻ trên một chiếc cáng. Sau chuyến đi ấy, Ulvhild khỏe lên đủ để có thể chống nạng mà bước. Nhưng khó tin rằng em sẽ bình phục đến mức có thể lấy chồng, nên khi tới tuổi, có lẽ em phải được gửi vào tu viện cùng toàn bộ phần tài sản sẽ thuộc về mình.
Họ không bao giờ nói tới chuyện ấy, và bản thân Ulvhild cũng không hiểu mình khác những đứa trẻ khác đến thế nào. Em rất thích đồ trang sức cùng quần áo đẹp, mà cha mẹ không nỡ từ chối em điều gì; Ragnfrid thêu thùa, may vá cho em và trang điểm em như một công chúa. Có lần mấy lái buôn đi qua vùng này và nghỉ đêm tại Laugarbru, Ulvhild sang đó trông thấy hàng hóa của họ; họ có một ít lụa màu hổ phách, và em nhất quyết đòi may một chiếc áo trong bằng thứ ấy. Vốn Lavrans không bao giờ giao dịch với hạng người đi khắp các miền quê rao bán trái phép hàng hóa chốn thị thành, nhưng lần này ông lập tức mua cả cuộn. Ông cũng cho Kristin vải may một chiếc áo trong mặc ngày cưới, và nàng may nó suốt mùa hè ấy. Trước đó nàng chưa từng có áo trong nào ngoài loại bằng len và một chiếc bằng vải lanh để mặc những dịp trang trọng. Còn Ulvhild được một chiếc áo trong bằng lụa để mặc khi dự tiệc, và một chiếc áo ngày Chủ nhật bằng vải lanh, phần thân trên đắp lụa.
Bấy giờ Lavrans Bjørgulfsøn cũng đã sở hữu Laugarbru, và Tordis cùng Jon trông nom nơi ấy. Ramborg, con gái út của Lavrans và Ragnfrid, sống với họ; Tordis đã cho đứa bé bú sữa mình. Trong thời gian đầu sau khi con chào đời, Ragnfrid hầu như không chịu nhìn mặt nó, vì bà nói mình chỉ đem vận rủi đến cho các con. Tuy vậy, bà rất yêu cô con gái nhỏ, thường xuyên gửi quà cho con và cho Tordis; về sau bà cũng hay sang Laugarbru thăm Ramborg, nhưng thường chỉ đến khi đứa trẻ đã ngủ rồi ngồi bên nó. Lavrans và hai cô con gái lớn thường tới Laugarbru chơi với em bé; nó khỏe mạnh, cứng cáp, nhưng không xinh bằng các chị.
Mùa hè ấy là mùa hè cuối cùng Arne Gyrdsøn ở Jørundgaard. Vị giám mục đã hứa với Gyrd rằng ngài sẽ giúp chàng trai lập thân trên đời, và đến mùa thu Arne sẽ lên đường tới Hamar.
Kristin cũng hiểu Arne yêu mến mình, nhưng tâm tính nàng về nhiều mặt còn khá trẻ con, nên không nghĩ ngợi mấy về chuyện ấy; nàng vẫn đối với chàng như từ thuở hai người còn bé, tìm đến bầu bạn với chàng bất cứ khi nào có thể, và bao giờ cũng nắm tay chàng khi họ nhảy múa trong nhà hay trên sân nhà thờ. Việc mẹ nàng không thích thế, nàng chỉ thấy hơi buồn cười. Nhưng nàng không bao giờ nói với Arne về Simon hay cuộc hôn nhân của mình, vì nàng nhận thấy hễ chuyện ấy được nhắc tới là chàng lại buồn rầu.
Arne rất khéo tay, và giờ chàng muốn làm cho Kristin một chiếc ghế may vá để nàng giữ làm kỷ niệm về mình. Chàng đã chạm trổ cả hòm lẫn khung ghế thật tinh xảo, đẹp đẽ, và lúc này đang ở lò rèn làm đai sắt cùng ổ khóa cho nó. Một buổi chiều quang đẹp vào cuối mùa hè, Kristin xuống chỗ chàng. Nàng mang theo một chiếc áo của cha cần vá, ngồi xuống phiến đá rồi bắt đầu khâu, trong lúc chuyện trò khe khẽ với chàng trai ở trong lò rèn. Ulvhild cũng đi cùng nàng, chống nạng nhảy quanh và ăn những quả mâm xôi mọc giữa các đống đá ven cánh đồng.
Một lúc sau, Arne bước ra cửa lò rèn để hóng mát. Chàng định ngồi xuống bên nàng, nhưng nàng nhích ra một chút và bảo chàng cẩn thận, kẻo làm muội than dây vào món đồ khâu đang đặt trên đầu gối nàng.
“Giữa chúng ta giờ đã thành thế này rồi sao,” Arne nói, “em không dám để anh ngồi bên, vì sợ một thằng con trai nhà nông làm bẩn người em?”
Kristin kinh ngạc nhìn chàng, rồi đáp:
“Anh thừa biết em muốn nói gì mà. Nhưng hãy cởi tạp dề da ra, rửa than trên tay đi, rồi ngồi đây nghỉ với em một lát —” và nàng nhường chỗ cho chàng.
Nhưng Arne nằm xuống bãi cỏ trước mặt nàng; nàng lại nói:
“Đừng giận nữa, Arne của em. Anh tưởng em có thể lấy sự bạc bẽo mà đáp lại món quà đẹp anh làm cho em sao, hay có thể quên rằng ở quê nhà, anh vẫn luôn là người bạn tốt nhất của em?”
“Anh đã từng là thế thật sao?” chàng hỏi.
“Anh biết rõ mà,” Kristin nói. “Và em sẽ không bao giờ quên anh. Nhưng anh sắp ra ngoài đời — có khi anh sẽ giàu sang, hiển đạt sớm hơn anh tưởng — chắc anh sẽ quên em từ lâu trước khi em quên anh —”
“Em sẽ chẳng bao giờ quên anh đâu,” Arne nói và mỉm cười. “Nhưng anh sẽ quên em trước khi em quên anh — em vẫn chỉ là một đứa trẻ thôi, Kristin.”
“Anh cũng có già đâu,” nàng đáp.
“Anh bằng tuổi Simon Darre,” chàng lại nói. “Dòng họ anh đội mũ sắt, mang khiên chẳng kém gì người nhà Dyfrin, chỉ vì cha mẹ anh không gặp may —”
Chàng đã lau tay vào những búi cỏ; giờ chàng nắm lấy cổ chân Kristin và áp má vào bàn chân nàng đang lộ ra dưới gấu váy. Nàng định rút chân lại, nhưng Arne nói:
“Mẹ em đang ở Laugarbru, Lavrans đã cưỡi ngựa rời gia trang — từ các ngôi nhà không ai nhìn thấy chúng ta ngồi đây. Chỉ một lần này thôi, em hãy để anh nói ra điều vẫn canh cánh trong lòng.”
Kristin đáp:
“Anh và em, cả hai chúng ta vẫn luôn biết rằng dù có đem lòng thương nhau thì cũng chỉ vô ích.”
“Cho anh gối đầu vào lòng em nhé,” Arne nói; và khi nàng không đáp, chàng liền làm thế, quàng một cánh tay quanh eo nàng. Một tay chàng kéo kéo những bím tóc của nàng.
“Em sẽ thấy thế nào,” một lúc sau chàng hỏi, “khi Simon nằm như thế này trong lòng em và nghịch tóc em?”
Kristin không đáp. Dường như một sức nặng bỗng đổ xuống người nàng — những lời của Arne và đầu Arne trong lòng nàng — nàng cảm thấy tựa hồ một cánh cửa vừa mở vào một gian phòng, với nhiều con đường tối dẫn sâu vào bóng tối hơn nữa; buồn bã, lòng thắt lại, nàng chần chừ, không muốn nhìn vào.
“Người đã lấy nhau đâu có làm những chuyện như thế,” nàng chợt nói, thật nhanh, như thể nhẹ cả người. Nàng thử hình dung gương mặt tròn trĩnh, đầy đặn của Simon ngước lên nhìn mình bằng ánh mắt như Arne lúc này, nàng nghe thấy giọng chàng — rồi không sao nhịn được cười:
“Simon chắc chẳng bao giờ nằm dài trên đất để nghịch giày em đâu!”
“Không, vì hắn có thể đùa nghịch với em trên giường hắn,” Arne nói. Giọng chàng bỗng khiến nàng buồn nôn và rã rời. Nàng cố đẩy đầu chàng khỏi lòng mình, nhưng chàng lại dúi mạnh mặt vào bụng dưới nàng và nói khẽ:
“Nhưng anh thì sẽ nghịch giày em, tóc em, những ngón tay em, sẽ theo em ra vào suốt ngày, Kristin ạ, dẫu em đã là vợ anh từ bao lâu đi nữa và đêm nào cũng ngủ trên cánh tay anh.”
Chàng nhổm nửa người dậy, ôm lấy vai nàng và nhìn vào mắt nàng.
“Anh nói với em như thế thật không phải,” Kristin nói khẽ, vẻ e sợ.
“Phải,” Arne nói. Chàng đứng lên trước mặt nàng. “Nhưng hãy nói anh nghe một điều — chẳng phải em vẫn muốn người ấy là anh hơn sao —?”
“Ôi, em chỉ muốn —” nàng ngồi im một lát. “Em chỉ muốn chưa phải lấy ai cả — chưa phải bây giờ —”
Arne không động đậy, chỉ nói:
“Vậy em muốn được gửi vào tu viện hơn sao, như người ta đã định cho Ulvhild, và làm trinh nữ suốt đời?”
Kristin siết chặt hai bàn tay đan vào nhau trên lòng. Trong người nàng dâng lên một nỗi run rẩy lạ lùng, ngọt ngào — rồi trong một cơn rùng mình đột ngột, nàng bỗng cảm thấy mình đã hiểu em gái nhỏ đáng thương biết bao — đôi mắt nàng tràn đầy nước mắt vì đau buồn cho Ulvhild.
“Kristin,” Arne khẽ gọi.
Ngay lúc ấy Ulvhild thét lên. Chiếc nạng của em mắc giữa mấy hòn đá trong đống đá vụn, khiến em ngã xuống. Arne và Kristin chạy tới; Arne nhấc em lên, đặt vào tay người chị. Miệng em bị va đập và chảy rất nhiều máu.
Kristin ôm em ngồi xuống nơi cửa lò rèn, còn Arne lấy nước vào một chiếc bát gỗ. Hai người cùng rửa mặt cho Ulvhild. Da ở hai đầu gối em cũng bị trầy xước. Kristin âu yếm cúi xuống đôi chân nhỏ gầy guộc.
Tiếng than khóc của Ulvhild chẳng bao lâu đã dịu đi, em khóc khe khẽ, đau đớn như những đứa trẻ đã quen chịu đau. Kristin ghì đầu em vào ngực mình và nhẹ nhàng ru em.
Bấy giờ chuông trên nhà thờ Olav bắt đầu ngân gọi giờ Kinh Chiều.
Arne nói với Kristin, nhưng nàng cứ ngồi như không nghe không biết, cúi mình trên em gái, khiến chàng sợ hãi và hỏi nàng có cho rằng vết thương nguy hiểm không. Kristin lắc đầu mà không nhìn chàng.
Một lát sau, nàng đứng dậy, bế Ulvhild trong tay và đi lên phía gia trang. Arne lặng lẽ, bối rối theo sau — Kristin trông trầm tư đến nỗi gương mặt nàng cứng đờ. Trong lúc nàng bước đi, tiếng chuông vẫn ngân khắp những bãi đất và thung lũng; khi nàng vào gian nhà chính, chuông vẫn còn ngân.
Nàng đặt Ulvhild xuống chiếc giường hai chị em vẫn ngủ chung từ khi Kristin đã quá lớn để còn ngủ với cha mẹ. Rồi nàng cởi giày, nằm xuống bên cô bé, lắng nghe tiếng chuông mãi lâu sau khi chuông đã im và đứa trẻ đã ngủ.
Ý nghĩ ấy đã đến với nàng khi tiếng chuông bắt đầu ngân, trong lúc nàng ngồi ôm khuôn mặt nhỏ đẫm máu của Ulvhild giữa hai bàn tay: biết đâu đó là một dấu hiệu dành cho nàng. Nếu nàng chịu thế chỗ em gái—nếu nàng nguyện hiến mình phụng sự Thiên Chúa và Đức Trinh Nữ Maria—thì liệu Thiên Chúa có trả lại sức khỏe và đôi chân lành lặn cho đứa trẻ chăng.
Nàng nhớ lời tu sĩ Edvin nói rằng thời buổi này, cha mẹ chỉ dâng cho Thiên Chúa những đứa con què quặt, bại liệt và những đứa họ không tìm được nơi hôn phối tử tế. Nàng biết cha mẹ mình là người mộ đạo—thế nhưng nàng chưa từng nghe nói gì khác ngoài chuyện chính nàng sẽ lấy chồng; còn khi hiểu rằng Ulvhild sẽ đau yếu suốt đời, họ lập tức định liệu cho con bé vào tu viện—.
Nhưng chính nàng lại không muốn—nàng chống lại ý nghĩ rằng Thiên Chúa sẽ làm phép lạ cho Ulvhild nếu nàng trở thành nữ tu. Nàng bám lấy lời Sira Eirik rằng ngày nay không còn xảy ra nhiều phép lạ nữa. Dẫu tối nay nàng cảm thấy lời tu sĩ Edvin là đúng: nếu một người có đủ đức tin, người ấy có thể làm nên phép lạ. Nhưng nàng không muốn có đức tin ấy; nàng không yêu Thiên Chúa, Mẹ Người và các thánh đến thế, cũng chẳng hề muốn yêu họ đến thế—nàng yêu thế gian và khao khát thế gian—.
Kristin áp miệng xuống mái tóc mềm như tơ của Ulvhild. Đứa trẻ ngủ say; người chị cả bồn chồn ngồi dậy, rồi lại nằm xuống. Trong lòng nàng rỉ máu vì đau đớn và hổ thẹn, nhưng nàng biết mình không muốn tin vào phép lạ, bởi nàng không muốn từ bỏ phần gia tài là sức khỏe, sắc đẹp và tình yêu của mình.
Rồi nàng cố tự an ủi bằng ý nghĩ rằng cha mẹ sẽ không cho phép nàng làm một việc như thế. Họ cũng sẽ không tin việc ấy có ích gì. Nàng đã được hứa gả rồi, và hẳn họ không muốn mất Simon, người con rể họ quý mến đến vậy. Nàng thấy mình bị lừa khi họ coi chàng rể này là một mối vẻ vang đến thế; bỗng nàng nghĩ đến khuôn mặt tròn đỏ, đôi mắt nhỏ lúc nào cũng cười của Simon với vẻ chán ghét, nghĩ đến dáng đi nhún nhảy của chàng—thình lình nàng thấy chàng nảy lên như một quả bóng—nghĩ đến những câu bông đùa khiến nàng cảm thấy mình quê mùa và đần độn. Lấy được chàng cũng chẳng vẻ vang gì, rồi chỉ bị dời xuống Formo—. Tuy vậy, nàng vẫn thà lấy chàng còn hơn bị đưa vào tu viện—. Nhưng thế gian bên ngoài những dãy núi, cung điện của nhà vua, các bá tước và hiệp sĩ mà phu nhân Aashild từng kể, một người đàn ông tuấn tú có đôi mắt u buồn sẽ theo nàng mỗi bước ra vào mà không bao giờ mệt mỏi. Nàng nhớ Arne trong ngày hè ấy, khi chàng nằm nghiêng ngủ, mái tóc nâu óng xõa trên thạch nam—thuở đó nàng đã yêu quý chàng như thể chàng là anh trai mình. Chàng thật không phải khi nói với nàng như vậy, trong khi biết rõ họ không bao giờ có thể thuộc về nhau—.
Có người từ Laugarbru đưa tin rằng mẹ nàng sẽ ở lại đó qua đêm. Kristin đứng lên để cởi áo quần đi nghỉ. Nàng bắt đầu tháo dây áo váy—nhưng rồi lại xỏ giày, quấn áo choàng quanh mình và bước ra ngoài.
Bầu trời đêm căng rộng, xanh nhạt trên sống núi. Chẳng bao lâu nữa trăng sẽ mọc; nơi trăng còn khuất dưới núi, mấy đám mây nhỏ trôi qua, viền dưới ánh lên như bạc; bầu trời mỗi lúc một sáng hơn, như kim loại đọng sương.
Nàng chạy giữa những hàng rào gỗ, băng qua đường rồi lên dốc về phía nhà thờ. Nhà thờ ngủ im, đen tối và đóng kín, nhưng nàng đi tới cây thánh giá dựng ngay gần đó để ghi nhớ rằng Thánh Olav từng nghỉ chân nơi này khi ngài chạy trốn kẻ thù.
Kristin quỳ xuống phiến đá, đặt hai bàn tay chắp lại lên chân bệ: “Ôi Thánh giá thiêng liêng, cột buồm vững chắc nhất, thân cây đẹp đẽ nhất, cây cầu đưa người bệnh tới bến bờ tươi đẹp của sự chữa lành—”
Theo từng lời kinh, nỗi khao khát trong nàng dường như mở rộng ra như những vòng sóng trên mặt nước. Những ý nghĩ riêng rẽ khiến nàng bất an dần phẳng lặng; tâm trí nàng trở nên yên tĩnh và dịu dàng hơn, một nỗi buồn êm nhẹ, không vướng ý nghĩ, đến thay cho những đau khổ của nàng.
Nàng vẫn quỳ đó, cảm nhận mọi âm thanh của đêm. Gió thở dài nghe lạ lùng, dòng sông gầm vang ngoài những lùm cây sau nhà thờ, còn con suối chảy ngang đường ngay gần đó—và khắp nơi, gần cũng như xa trong bóng tối, nàng nhận thấy bằng cả mắt lẫn tai những sợi nước nhỏ đang chảy và nhỏ giọt. Dòng sông lóe trắng dưới thung lũng. Trăng lướt lên qua một khe núi nhỏ; ánh sáng hơi lấp lánh trên lá và đá đẫm sương, rồi hắt mờ đục lên những thân gỗ mới quét hắc ín của tháp chuông bên cổng nghĩa địa nhà thờ. Sau đó trăng lại biến mất ở nơi sườn đồi nhô sống lưng cao hơn. Giờ đây trên trời đã có thêm nhiều đám mây trắng sáng.
Nàng nghe tiếng một con ngựa đang bước chậm trên con đường phía cao hơn, cùng tiếng đàn ông trò chuyện đều đều, khe khẽ. Ở ngay gần nhà, nơi nàng quen biết từng người, nàng không sợ gặp người qua lại; những tiếng ấy khiến nàng yên lòng.
Đàn chó của cha nàng lao bổ tới, quay ngoắt rồi phóng trở vào lùm cây, lại vòng ra chạy lên phía nàng; cha nàng cất tiếng chào khi bước ra giữa những cây bạch dương. Ông dắt Guldsveinen bằng dây cương; một chùm chim săn được treo trước yên, đập lạch phạch, còn trên tay trái Lavrans đậu con chim ưng đội mũ trùm đầu. Đi cùng ông là một người đàn ông cao, lưng còng trong áo dòng; trước khi nhìn thấy mặt người ấy, Kristin đã biết đó là tu sĩ Edvin. Nàng bước ra đón họ, không ngạc nhiên hơn thể đang ở trong một giấc mơ; nàng chỉ mỉm cười khi Lavrans hỏi nàng có nhận ra vị khách của họ không.
Lavrans đã gặp tu sĩ trên cầu Rost; sau đó ông thuyết phục được tu sĩ cùng về và nghỉ đêm tại gia trang. Nhưng tu sĩ Edvin nhất quyết xin được ngủ trong chuồng bò: “Vì tôi đầy chấy rận rồi,” ông nói, “các người không thể để tôi nằm trên những chiếc giường sạch sẽ trong nhà.”
Dù Lavrans hết lời nài nỉ, tu sĩ vẫn khăng khăng; thoạt đầu ông còn muốn họ đem thức ăn ra sân cho mình. Cuối cùng họ cũng đưa được ông vào nhà; Kristin bỏ thêm củi vào lò ở góc phòng và đặt đèn lên bàn, trong khi một cô hầu mang thức ăn cùng đồ uống vào.
Tu sĩ ngồi xuống chiếc ghế dài bên cửa, nơi đặt các đồ gỗ ghép, và chỉ chịu dùng cháo nguội với nước cho bữa tối. Ông cũng không nhận lời khi Lavrans đề nghị sửa soạn nước tắm và giặt sạch áo quần cho ông.
Tu sĩ Edvin cựa quậy, gãi mình và cười bằng cả khuôn mặt già nua, gầy guộc:
“Không, không,” ông nói, “thứ này cắn vào da thịt kiêu ngạo của tôi thấm hơn cả roi vọt lẫn lời quở trách của cha bề trên. Mùa hè này tôi đã ngồi dưới một mái đá trên núi—họ cho phép tôi vào chốn hoang địa để ăn chay và cầu nguyện; tôi ngồi đó, thấy mình chẳng khác gì một ẩn sĩ thánh thiện, còn những người nghèo ở tận thung lũng Setna mang thức ăn lên cho tôi và nghĩ rằng đây quả là một tu sĩ mộ đạo, sống thanh sạch; họ nói, tu sĩ Edvin ạ, nếu có nhiều tu sĩ như cha thì hẳn chúng tôi sẽ sớm trở nên tốt đẹp hơn nhiều, nhưng khi chúng tôi thấy linh mục, giám mục và tu sĩ cắn xé, đánh nhau vì đạo như lũ lợn con—. Phải, tôi bảo họ rằng nói như vậy là trái đạo—nhưng tôi lại rất thích nghe, rồi tôi hát và cầu nguyện đến mức vách núi vang rền. Giờ đây, thật hữu ích cho tôi khi cảm thấy chấy rận cắn xé, đánh nhau trên da mình, và nghe những bà chủ muốn nhà cửa sạch sẽ, tươm tất kêu lên rằng lão tu sĩ bẩn thỉu này vào mùa hè cứ việc nằm ngoài kho thóc. Giờ tôi sẽ đi về phía bắc, tới Nidaros dự lễ vọng Thánh Olav; biết rằng người ta không háo hức đến gần mình sẽ rất tốt cho tôi—”
Ulvhild thức giấc; Lavrans liền đi tới, bế con bé lên trong vạt áo choàng của mình:
“Đây là đứa trẻ tôi đã kể với cha, thưa cha kính mến. Xin cha đặt tay lên con bé và cầu Thiên Chúa cho nó, như cha đã cầu cho cậu bé ở phía bắc Meldalen mà chúng tôi nghe nói đã đi lại được—”
Tu sĩ dịu dàng đỡ dưới cằm Ulvhild và nhìn vào mặt con bé. Rồi ông nâng một bàn tay của nó lên hôn.
“Lavrans Bjørgulfsøn, anh và vợ mình nên cầu xin để khỏi bị cám dỗ mà tìm cách uốn ý Chúa theo ý mình trong chuyện đứa trẻ này. Chính Chúa Jesus đã đặt đôi chân nhỏ bé ấy lên con đường mà nó có thể bước an toàn nhất tới ngôi nhà bình an—ta nhìn vào mắt con và biết, Ulvhild có phúc, con có những người cầu thay cho mình ở cõi bên kia.”
“Tôi nghe nói cậu bé ở Meldalen đã khỏi rồi,” Lavrans khẽ nói.
“Nó là đứa con duy nhất của một góa phụ nghèo; nếu người mẹ mất đi thì ngoài dân làng, chẳng còn ai nuôi nấng và cho nó áo mặc. Vậy mà người đàn bà ấy chỉ cầu xin Thiên Chúa ban cho bà một trái tim không biết sợ, để bà có thể tin rằng Người sẽ khiến mọi sự xảy ra theo cách tốt nhất cho đứa trẻ. Tôi cũng chẳng làm gì khác ngoài việc cùng bà cầu lời nguyện ấy.”
“Mẹ con bé và tôi thật không dễ gì cam lòng trước chuyện này,” Lavrans nặng nề đáp. “Nhất là khi nó xinh đẹp và ngoan ngoãn đến thế.”
“Anh đã thấy đứa trẻ ở Lidstad phía nam thung lũng chưa?” tu sĩ hỏi. “Anh muốn con gái mình thành ra như thế hơn sao?”
Lavrans rùng mình, ôm chặt đứa trẻ vào ngực.
“Anh không nghĩ sao,” tu sĩ Edvin lại nói, “rằng dưới mắt Thiên Chúa, tất cả chúng ta đều như những đứa trẻ khiến Người có cớ phải đau buồn, bởi tội lỗi đã làm chúng ta què quặt. Thế mà chúng ta vẫn không thấy mình là những kẻ bất hạnh nhất thế gian.”
Ông bước tới ảnh Đức Mẹ trên vách; tất cả cùng quỳ xuống trong khi ông đọc kinh tối. Họ cảm thấy tu sĩ Edvin đã an ủi mình rất nhiều.
Nhưng sau khi ông ra khỏi nhà để tìm chỗ ngủ, Astrid, người đứng đầu các cô hầu, vẫn quét thật kỹ sàn nhà ở mọi nơi tu sĩ đã đứng, rồi hất ngay những thứ quét được vào lửa.
Sáng hôm sau, Kristin dậy sớm, đặt cháo sữa và bánh mì lúa mì vào một chiếc đĩa gỗ nu có vân lửa đẹp đẽ, vì nàng biết tu sĩ không bao giờ đụng đến thịt, rồi tự mình mang thức ăn ra cho ông. Trong nhà hầu như vẫn chưa có ai thức dậy.
Tu sĩ Edvin đã sẵn sàng lên đường với gậy và túi, đứng trên lối dốc dẫn vào chuồng bò; ông mỉm cười cảm ơn Kristin đã nhọc công, rồi ngồi xuống cỏ ăn, trong khi Kristin ngồi dưới chân ông.
Con chó trắng nhỏ của nàng chạy tới, khiến những chiếc chuông con trên vòng cổ kêu leng keng. Nàng ôm nó vào lòng; tu sĩ Edvin búng ngón tay gọi nó, ném những mẩu bánh mì lúa mì nhỏ vào miệng nó và hết lời khen ngợi.
“Đây là giống chó mà hoàng hậu Eufemia đã đưa vào xứ này,” ông nói. “Giờ đây ở Jørundgaard, từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, các người đều sang trọng cả.”
Kristin đỏ mặt vì vui sướng. Nàng vốn biết con chó rất đẹp và lấy làm kiêu hãnh vì có nó; trong cả vùng không ai khác nuôi chó cảnh để bế trong lòng. Nhưng nàng vẫn không biết nó cùng giống với những con chó cưng của hoàng hậu.
“Simon Andressøn đã gửi nó cho con,” nàng nói, ép nó vào ngực trong khi nó liếm mặt nàng. “Tên nó là Kortelin.”
Nàng từng định kể với tu sĩ về nỗi bất an của mình và xin ông khuyên bảo. Nhưng giờ nàng không còn muốn bận tâm đến những ý nghĩ của mình từ tối hôm trước nữa. Tu sĩ Edvin đã tin rằng Thiên Chúa sẽ khiến mọi sự trở nên tốt đẹp nhất cho Ulvhild. Và Simon thật tử tế khi gửi cho nàng một món quà như thế, ngay cả trước khi việc đính ước của họ được quyết định. Nàng không muốn nghĩ đến Arne—nàng thấy chàng đã cư xử không phải với mình.
Tu sĩ Edvin cầm lấy gậy và túi, nhờ Kristin gửi lời chào mọi người trong nhà—ông không muốn ở lại đến khi người ta thức dậy, mà muốn lên đường khi trời còn mát. Nàng tiễn ông lên phía trên, qua khỏi nhà thờ rồi đi thêm một quãng ngắn vào lùm cây.
Khi chia tay, ông chúc nàng được bình an trong Chúa và ban phép lành cho nàng.
“Xin cha cho con một lời, như cha đã cho Ulvhild, thưa cha kính mến,” Kristin khẩn cầu; nàng đứng đó, nắm tay ông trong tay mình.
Tu sĩ lấy bàn chân trần nổi cục vì bệnh gút miết lên cỏ ướt:
“Vậy thì, con gái, ta muốn con ghi lòng điều này: hãy nhìn cho kỹ cách Thiên Chúa chăm lo nhu cầu của người dân trong thung lũng. Ở đây mưa ít, nhưng Người đã ban cho các con nước từ núi, và sương đêm nào cũng làm đồng cỏ, ruộng nương tươi lại. Hãy tạ ơn Thiên Chúa vì những món quà tốt lành Người đã ban cho con, và đừng than phiền nếu con thấy mình còn thiếu một thứ khác mà con nghĩ có thêm vào thì sẽ rất hợp. Con có mái tóc vàng đẹp đẽ; chớ buồn vì nó không uốn thành lọn. Con chưa nghe chuyện bà lão ngồi khóc vì chỉ có một miếng thịt muối nhỏ cho bảy đứa con đói ăn vào lễ Giáng sinh sao? Đúng lúc may mắn ấy, Thánh Olav cưỡi ngựa đi ngang qua; ngài giơ tay trên miếng thức ăn và cầu xin Thiên Chúa cho lũ quạ con khốn khổ được no bụng. Nhưng khi bà lão nhìn thấy một con lợn đã mổ nằm trên bàn bếp, bà lại khóc vì mình không có đủ nồi niêu để nấu.”
Kristin chạy về nhà, còn Kortelin nhảy nhót quanh chân nàng, ngoạm những vạt áo, vừa sủa vừa làm tất cả những chiếc chuông bạc nhỏ của nó rung leng keng.