Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby — Chương 1: Tập II — Nữ chủ Husaby · Phần I — Trái của tội lỗi · Chương I

Chương 1 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby

Chiều hôm trước lễ thánh Simon, chiếc tàu buôn của Baard Peterssøn cập vào bến ở Birgsi. Chính viện phụ Olav ở Nidarholm đã cưỡi ngựa ra bờ để đón người bà con của mình là Erlend Nikulaussøn và chào mừng người vợ trẻ chàng đưa về. Đôi vợ chồng mới cưới sẽ là khách của viện phụ và ngủ lại ở Vigg đêm ấy.

Erlend dìu người vợ trẻ khốn khổ, trắng bệch như xác chết, đi qua cầu tàu. Viện phụ nói đùa về nỗi nhọc nhằn của chuyến đi biển; Erlend cười, bảo rằng hẳn vợ chàng đang thèm được đặt mình xuống một chiếc giường đứng yên bên vách nhà biết bao. Còn Kristin cố gắng mỉm cười, nhưng nàng nghĩ rằng, nếu tự nguyện, nàng sẽ chẳng bao giờ bước lên boong tàu nữa chừng nào còn sống. Chỉ cần Erlend đến gần là nàng đã muốn buồn nôn, chàng nồng nặc mùi tàu thuyền và mùi biển, tóc chàng nhớp và dính đặc vì nước mặn. Trên tàu suốt cả quãng đường chàng đã vui đến ngây ngất, và ngài Baard cười bảo: ngoài vùng Møre, nơi chàng lớn lên, bọn con trai vẫn nằm thuyền mà dong buồm chèo chống từ sớm đến khuya. Hẳn Erlend và ngài Baard cũng có phần thương hại nàng, nhưng Kristin thấy họ chẳng thương hại nàng đến mức nỗi khốn khổ của nàng đáng được. Họ cứ nói rằng say sóng rồi sẽ qua khi nàng quen đi tàu. Nhưng suốt cả chuyến nàng vẫn khổ sở như vậy.

Sáng hôm sau, khi cưỡi ngựa đi lên qua các làng mạc, nàng vẫn còn cảm thấy mình đang lênh đênh. Đường dốc lên rồi dốc xuống qua những gò sạt lở đất sét đồ sộ, và nếu nàng cố ghim mắt vào một chỗ nào đó phía trước trên sườn đồi, thì dường như cả mặt đất đều chòng chành, dâng lên như sóng và bị quăng hất vào nền trời mùa đông sáng xanh trắng nhạt.

Buổi sáng có cả một đám đông bạn bè và láng giềng của Erlend đến Vigg để tiễn đưa đôi vợ chồng về nhà, nên họ cưỡi đi trong một đoàn rất lớn. Mặt đất rung rền dưới vó ngựa, vì lớp sương giá khô làm đất cứng như sắt. Hơi thở bốc trắng quanh người và ngựa; sương bám trên mình súc vật và trong tóc cùng áo lông của mọi người. Erlend nom trắng tóc chẳng kém gì viện phụ, mặt chàng đỏ bừng vì chén rượu buổi sớm và cái rét cắt da. Hôm nay chàng mặc bộ đồ chú rể; chàng trông trẻ đến thế, vui đến thế, như thể tự mình phát sáng, và niềm vui cùng vẻ hớn hở dâng đầy trong giọng nói đẹp, mềm của chàng khi chàng cưỡi ngựa gọi với, cười vang cùng khách khứa.

Tim Kristin bỗng run lên một cách lạ lùng, vì buồn, vì dịu thương, và vì sợ hãi. Nàng vẫn còn ốm sau chuyến đi, vẫn mang cơn nóng rát đau đớn trong ngực, cứ hễ ăn hay uống một chút gì là lại dấy lên; nàng rét cóng, và tận sâu trong lòng còn ngồi lì một cơn giận câm lặng, nặng nề đối với Erlend, kẻ vô ưu đến thế. Dẫu vậy, giờ đây khi nàng thấy chàng ngây thơ tự hào và rạng ngời hân hoan biết bao trong việc đưa nàng về nhà với tư cách vợ mình, thì trong nàng lại rỉ lên một nỗi ân hận cay đắng; ngực nàng nhói đau vì thương xót chàng. Giờ nàng ước gì mình đừng nghe theo tính bướng bỉnh của bản thân, mà đã cho Erlend biết chuyện ấy khi chàng ở nhà nàng mùa hè vừa rồi. Đám cưới của họ được làm quá đỗi linh đình thật chẳng hợp chút nào. Nhưng hẳn cũng là vì nàng đã để cho chàng được thấy điều đó, cho chính chàng nữa, rằng họ sẽ không thể thoát khỏi hành vi của mình mà không phải chịu nhục.

Và rồi nàng cũng đã sợ cha mình. Nàng từng nghĩ rằng, một khi hôn lễ của họ đã cử hành xong, thì họ sẽ đi xa đến thế; chắc phải rất lâu nàng mới lại được thấy quê nhà, không trước khi mọi lời bàn tán về nàng rốt cuộc lắng xuống êm đẹp.

Giờ nàng hiểu là chuyện này sẽ còn tệ hơn nhiều. Erlend có nhắc đến tiệc mừng trở về thật lớn chàng muốn mở ở Husaby, nhưng nàng không ngờ nó lại giống như một lễ cưới mới. Mà những vị khách ở đây, ấy là những con người Erlend và nàng sẽ phải sống giữa họ, là sự kính trọng và tình bằng hữu của họ mà hai người cần giành lấy. Chính những người này đã chứng kiến sự điên dại và bất hạnh của Erlend suốt bao năm. Giờ chàng tự tin rằng mình đã đứng thẳng lại được trong mắt họ, rằng nay chàng sẽ giữ chỗ đứng giữa những người ngang hàng với mình, đúng như dòng dõi và của cải chàng đáng có. Thế mà rồi khắp vùng này hẳn chàng sẽ thành trò cười, khi người ta biết ra rằng chàng đã phạm lỗi với chính vị hôn thê được pháp luật thừa nhận của mình.

Viện phụ nghiêng người về phía nàng:

“Trông nàng nghiêm quá, Kristin Lavransdatter. Nàng vẫn chưa hết say sóng sao? Hay có lẽ đang nhớ mẹ mình?”

“Vâng, thưa ngài,” Kristin khẽ nói. “Quả thật tôi đang nghĩ đến mẹ tôi.”

Họ đã lên đến Skaun. Họ cưỡi ngựa cao trên sườn dốc. Dưới đáy thung lũng bên dưới, rừng cây lá rụng đứng trắng và xù lên vì sương giá, lấp lánh trong nắng, và ở dưới đó còn chớp ánh một hồ nước nhỏ xanh biếc. Rồi họ ra khỏi một cụm rừng thông. Erlend chỉ về phía trước:

“Kìa, Husaby đó, Kristin. Cầu Chúa cho nàng được nhiều ngày vui ở đó, vợ ta!” chàng nói, giọng ấm lên.

Trước mặt họ mở ra những cánh đồng rộng lớn trắng xóa vì sương. Trang viên nằm như trên một bậc rộng giữa sườn dốc, gần nhất là một nhà thờ đá nhỏ sáng màu, và thẳng phía nam của nó là các ngôi nhà; chúng nhiều và lớn, khói cuộn lên từ các lỗ thoát khói trên mái. Chuông từ nhà thờ bắt đầu ngân, và người ta đổ ra từ trang viên tiến về phía họ, vừa gọi vừa chào. Những chàng trai trẻ trong đoàn rước dâu lấy vũ khí nện vào nhau, và trong tiếng rầm rầm náo động cùng tiếng reo vui, cả đám người lao tới cơ ngơi của người chồng mới cưới.

Họ dừng lại trước nhà thờ; Erlend bế cô dâu xuống ngựa rồi dắt nàng đến cửa, nơi cả một đám đông linh mục và giáo sĩ đang đứng đón họ. Bên trong lạnh buốt, ánh sáng ban ngày rịn qua những ô cửa sổ vòm tròn nhỏ nơi gian giữa, đến nỗi ánh nến trong cung thánh nhợt đi.

Kristin thấy mình lạc lõng và sợ hãi khi Erlend buông tay nàng ra và bước sang phía đàn ông, còn nàng thì đi vào giữa đám phụ nữ xa lạ vận lễ phục. Nghi lễ thật đẹp. Nhưng Kristin rét cóng, và nàng cảm thấy như những lời cầu nguyện của mình bị thổi bật trở lại, mỗi khi nàng cố làm nhẹ trái tim mình và nâng nó lên cao. Nàng nghĩ, có lẽ chẳng phải điềm lành gì khi hôm nay là ngày thánh Simon, vì ngài là vị thánh bảo hộ của người đàn ông mà nàng đã chẳng đối xử tử tế.

Từ nhà thờ, mọi người đi thành đoàn xuống trang viên, các linh mục đi trước, rồi đến Kristin và Erlend tay trong tay, còn khách khứa đi từng đôi phía sau. Kristin chẳng còn đầu óc nào để nhìn ngắm kỹ hơn về trang viên. Sân dài và hẹp; nhà cửa nằm thành hai hàng ở phía nam và phía bắc. Chúng rất lớn và xây sát vào nhau, nhưng nom cũ kỹ và tàn tạ.

Đoàn người dừng trước cửa ngôi nhà lớn, và các linh mục làm phép bằng nước thánh. Rồi Erlend dắt nàng đi qua một tiền sảnh tối. Bên phải nàng, một cánh cửa được mở tung vào vùng sáng rực. Nàng cúi đầu bước qua khuôn cửa và đứng cùng Erlend trong đại sảnh của chàng.

Đó là căn phòng lớn nhất mà nàng từng thấy một người không phải vua chúa sở hữu. Giữa sàn có bếp lửa dài đến nỗi lửa cháy ở cả hai đầu, còn căn phòng thì rộng đến mức những xà ngang phải được chống thêm bằng các cột chạm trổ, khiến nàng thấy nó giống gian nhà thờ hay đại điện của vua hơn là phòng lớn trong một trang viên. Ở đầu hồi phía đông, nơi chỗ ngồi cao đặt giữa bục, người ta đã dựng những giường kín lồng vào giữa các cột.

Và giờ đây trong phòng đốt lên biết bao là nến, trên các bàn oằn nặng những chén đĩa quý giá, và trên những chân nến gắn vào tường. Theo tục lệ xưa, vũ khí và khiên giáp treo giữa những tấm thảm căng trên vách. Sau chỗ ngồi cao, bức tường được phủ nhung, và có một người đang treo lên đó thanh gươm chuôi vàng của Erlend cùng chiếc khiên trắng có con sư tử đỏ đang chồm nhảy của chàng.

Đám gia nhân nam nữ đã giúp khách khứa cởi áo khoác ngoài. Erlend nắm tay vợ và đưa nàng đến trước bếp lửa; khách giữ thành một nửa vòng tròn ngay phía sau họ. Một phu nhân đẫy đà, gương mặt hiền hậu, bước tới giũ thẳng lại khăn trùm đầu của Kristin, đã hơi nhàu dưới áo choàng. Lúc bà lùi về chỗ mình, bà gật đầu với đôi trẻ và mỉm cười; Erlend cũng mỉm cười gật lại rồi nhìn xuống vợ mình. Khi ấy gương mặt chàng đẹp biết bao. Và Kristin lại cảm thấy như tim mình chùng hẳn xuống, nàng thấy thương chàng quá. Nàng biết chàng đang nghĩ gì lúc này, chàng nhìn nàng đứng đó trong đại sảnh của chàng, với dải khăn của bà chủ nhà trắng như tuyết buông xuống trên chiếc áo cưới đỏ thắm. Sáng nay nàng đã phải quấn chặt một chiếc đai dệt dài quanh bụng và eo dưới lớp áo, rồi mới có thể khiến chiếc váy ôm vào cho đẹp. Và nàng còn xoa lên má một thứ thuốc đỏ mà phu nhân Aashild đã cho nàng. Trong lúc sửa soạn như thế, nàng đã nghĩ, vừa phẫn uất vừa buồn bã, rằng Erlend hẳn chẳng còn ngắm nàng bao nhiêu nữa, giờ chàng đã có được nàng rồi, vì chàng vẫn chưa hiểu ra gì cả. Giờ nàng ân hận cay đắng vì đã chẳng nói gì với chàng.

Trong khi hai vợ chồng đứng như vậy, tay trong tay, các linh mục đi quanh phòng, làm phép cho ngôi nhà và bếp lửa, cho giường và bàn.

Rồi một nữ tỳ đem chìa khóa của nhà ra cho Erlend. Chàng móc chùm khóa nặng trĩu vào thắt lưng Kristin, và khi làm thế, nom chàng như thể chỉ muốn cúi xuống hôn nàng ngay tức khắc. Một người đàn ông mang tới một chiếc sừng cao viền vòng vàng; Erlend đưa lên miệng và uống mừng nàng:

“Chúc nàng bình an và hạnh phúc trong nhà mình, bà chủ!”

Và khách khứa reo cười khi nàng cùng uống với chồng mình, rồi hắt phần rượu còn lại vào lửa trong bếp.

Rồi đám nhạc công cất tiếng chơi, khi Erlend Nikulaussøn dẫn người vợ chính thức của mình lên ngồi cùng ở ghế cao và mọi người dự tiệc vào bàn.

Đến ngày thứ ba, khách khứa bắt đầu ra về, và đến giờ kinh nona ngày thứ năm, những người cuối cùng cũng đã đi hết. Thế là Kristin ở lại một mình với chồng tại Husaby.

Việc đầu tiên nàng làm là bảo gia nhân lấy hết chăn nệm khỏi giường, giặt sạch chúng và rửa cả vách chung quanh bằng nước kiềm, còn rơm thì mang ra đốt. Rồi nàng cho nhồi rơm mới vào và trải lên trên bằng những đồ giường do chính nàng mang theo đến nhà này. Mãi rất khuya công việc ấy mới xong. Nhưng Kristin còn ra lệnh phải làm như vậy với tất cả các chỗ ngủ trong trang viên, và đem mọi tấm đệm da đi sấy trong nhà tắm hơi; sáng mai các thị tỳ phải bắt tay vào ngay và làm được bao nhiêu hay bấy nhiêu trước ngày lễ. Erlend lắc đầu cười, nàng quả thật ra dáng một bà vợ. Nhưng chàng cũng khá xấu hổ.

Kristin hầu như không ngủ được đêm đầu tiên, mặc dù các linh mục đã làm phép cho giường của nàng. Bên trên, giường được trải gối bọc lụa, khăn trải bằng vải lanh cùng những tấm chăn và da thú tốt nhất, nhưng phía dưới lại là rơm bẩn và mốc; có chấy rận trong chăn áo và trong tấm da gấu đen lộng lẫy đặt trên cùng.

Bao điều nàng đã thấy trong mấy ngày ấy. Dưới những tấm thảm đắt tiền phủ trên tường, muội than và cáu bẩn trên các thân gỗ vẫn chưa từng được lau rửa. Trong yến tiệc có rất nhiều thức ăn, nhưng lắm món đã ôi hỏng và nấu nướng tồi tệ. Và họ đã phải đốt thứ củi sống ướt nhem, khó lòng bén lửa, khói làm đầy cả phòng.

Nàng thấy sự bê bối ở khắp nơi, khi ngày thứ hai nàng đi cùng Erlend xem xét quanh trang viên. Khi tiệc tùng chấm dứt, các kho lẫm và nhà chứa hẳn sẽ trống rỗng; những thùng bột gần như đã bị quét sạch. Và nàng không tài nào hiểu nổi Erlend định nuôi tất cả đám ngựa cùng ngần ấy súc vật bằng chỗ cỏ khô và rơm hiện có ở đây như thế nào; lá cây dự trữ thì ngay cả cho cừu dê cũng không đủ.

Nhưng lại có một gác kho chất nửa đầy lanh mà không hề được đụng đến, hẳn là phần lớn số thu hoạch của bao năm. Và một kho đầy ắp len cũ kỹ từ đời nào, chưa giặt, bốc mùi hôi, phần thì đựng trong bao, phần thì chất rời khắp nơi. Khi Kristin thò tay vào, những hạt trứng sâu màu nâu li ti rơi lả tả xuống, len đã bị mọt và giòi ăn.

Gia súc thì tồi tàn, gầy đét, ghẻ lở và lở loét, và chưa bao giờ nàng thấy nhiều bò già rệu đến vậy tụ lại một chỗ. Chỉ có ngựa là đẹp và được chăm sóc tử tế. Nhưng trong số ấy giờ chẳng con nào có thể sánh với Guldsveinen hay Ringdrotten, con giống đực mà cha nàng hiện có. Sløngvanbauge, con ngựa cha cho nàng mang từ nhà đến, là con đẹp nhất đứng trong chuồng Husaby. Nàng đã phải ôm lấy cổ nó và áp mặt mình vào má nó ngay khi bước đến bên. Vậy mà các điền chủ lớn xứ Trøndelag vẫn nhìn nó và ngợi khen cặp chân lớn thô chắc, bộ ngực sâu, chiếc cổ cao, cái đầu nhỏ và cặp mông rộng của nó. Lão già từ Gimsar thề cả trước Chúa lẫn trước quỷ dữ rằng thật là uổng một tội lớn khi họ đã thiến con ngựa này, đáng lẽ nó có thể là một chiến mã giống đực cứng cáp biết bao. Khi ấy Kristin cũng phải khoe đôi chút về cha nó, Ringdrotten. Nó còn to lớn và thô chắc hơn nhiều, chẳng có con giống đực nào trị nổi nó; cha nàng đã cho nó thử sức với những con ngựa nổi danh tận trong Sogn. Chính Lavrans đã đặt cho những con ngựa ấy những cái tên lạ lùng, Ringdrotten và Sløngvanbauge, vì chúng vàng óng nhẹ như vàng sáng và có vằn như những vòng vàng đỏ. Mẹ của Ringdrotten đã lạc khỏi bầy ngựa cái một mùa hè trong vùng Raanekampene, và họ tưởng gấu đã bắt mất nó, nhưng đến cuối thu nó lại trở về trang viên. Rồi con ngựa con mà nó sinh năm sau, hiển nhiên không phải do một con ngựa giống thuộc về dân bên kia núi gây ra. Vì thế họ đã hun con ngựa con bằng lưu huỳnh và bằng bánh mì, còn Lavrans thì dâng con ngựa mẹ cho nhà thờ để được yên tâm hơn. Nhưng con ngựa con lớn lên đến mức giờ ông nói thà mất nửa cơ nghiệp còn hơn mất Ringdrotten.

Erlend cười nói:

“Ngoài chuyện ấy ra nàng ít nói lắm, Kristin, nhưng cứ nhắc đến cha nàng là nàng hùng biện hẳn lên!”

Kristin bỗng im bặt. Nàng nhớ lại gương mặt của cha khi nàng phải cưỡi ngựa đi cùng Erlend và ông bế nàng lên yên. Ông đã làm ra vẻ vui, vì quá nhiều người đứng quanh họ, nhưng nàng đã thấy mắt ông. Ông vuốt dọc cánh tay nàng và cầm lấy tay nàng để từ biệt. Khi ấy có lẽ nàng chủ yếu chỉ nghĩ đến việc mình vui biết bao vì sắp được đi khỏi. Giờ nàng thấy rằng, suốt đời mình, mỗi lần nhớ lại đôi mắt cha hôm ấy, tâm hồn nàng sẽ lại nhói buốt.

Thế là Kristin Lavransdatter bắt tay vào cai quản và thu xếp nhà cửa của mình. Sáng nào nàng cũng dậy từ giờ kinh sáng, mặc cho Erlend phản đối và làm như muốn giữ nàng lại trên giường bằng sức lực, vì nào ai chờ đợi một người vợ mới cưới lại chạy khắp các gian nhà từ rất lâu trước khi trời sáng.

Mỗi khi thấy mọi sự ở đây sa sút đến thế nào và còn biết bao việc chờ tay mình lo liệu, trong nàng lại vụt qua một ý nghĩ sáng lạnh và cứng rắn: phải, nếu nàng đã chất tội lên mình để đến được nơi này, thì cứ thế đi, vì để mặc những ơn ban của Chúa bị phung phí như ở đây cũng là tội lỗi. Những kẻ từng quản xuyến nơi này đáng phải hổ thẹn, và cả tất cả những ai đã để cơ nghiệp của Erlend hao mòn đến vậy. Hai năm nay ở Husaby không hề có một người quản sự cho ra hồn; chính Erlend phần lớn vắng nhà trong quãng ấy, mà hơn nữa chàng cũng ít hiểu biết việc điều hành trang viên. Thế thì cũng chẳng lạ gì bọn quản lĩnh của chàng ở xa ngoài các làng mạc lừa gạt chàng, như nàng nhận ra là chúng đã làm, còn đám gia nhân ở Husaby thì chỉ làm chừng nào chúng thích, lúc nào chúng muốn, và theo cách nào hợp với từng đứa. Bây giờ để đưa việc nhà trở lại nề nếp thì với nàng sẽ không phải chuyện dễ.

Một hôm nàng đem chuyện đó nói với Ulf Haldorssøn, người hầu riêng của Erlend. Ít nhất lẽ ra họ cũng phải xong việc đập lúa vụ nhà rồi chứ, mà số ấy cũng chẳng nhiều nhặn gì, trước khi đến lúc giết mổ lớn. Ulf nói:

“Nàng biết đấy, Kristin, tôi đâu phải kẻ làm ruộng. Haftor và tôi lẽ ra phải là thị vệ mang vũ khí cho Erlend, và đã lâu tôi không còn quen việc đồng áng nữa.”

“Tôi biết,” bà chủ nói. “Nhưng là thế này, Ulf, mùa đông này tôi sẽ không dễ gì cai quản ở đây, khi tôi mới đến vùng phía bắc núi này và còn xa lạ với người nhà của chúng ta. Nếu anh chịu giúp và chỉ bảo cho tôi, ấy sẽ là điều rất đẹp.”

“Tôi hiểu, Kristin, mùa đông này cô sẽ chẳng dễ dàng gì đâu,” người đàn ông nói, nhìn nàng với một nụ cười khẽ — nụ cười kỳ lạ mà anh ta vẫn luôn có mỗi khi nói chuyện với nàng hoặc Erlend. Nó xấc xược và giễu cợt, thế nhưng trong cung cách anh ta lại có cả lòng tử tế lẫn một thứ kính trọng đối với nàng. Nàng cũng không thấy mình có quyền phật ý khi Ulf tỏ ra thân mật với nàng quá mức phải phép. Chính nàng và Erlend đã để cho người tùy tùng này biết rõ hành vi phóng túng, bất chính của họ; giờ nàng hiểu rằng anh ta cũng biết nàng đang ở trong tình cảnh nào. Nàng đành phải chịu vậy — nàng cũng thấy Erlend mặc cho Ulf nói gì làm gì, và người tùy tùng ấy chẳng tỏ mấy lòng cung kính với chủ mình. Nhưng họ đã là bạn từ thuở nhỏ; Ulf quê ngoài Møre, con trai một tiểu nông sống gần gia trang của Baard Peterssøn. Anh ta xưng hô thân tình với Erlend, và giờ với cả nàng nữa — nhưng ở miền bắc núi người ta vẫn thường làm thế hơn nơi thung lũng quê nàng.

Ulf Haldorssøn là một người đàn ông khá đẹp, cao lớn và ngăm đen, có đôi mắt đẹp, nhưng miệng anh ta xấu và thô. Kristin đã nghe các nữ tỳ trong gia trang kể những chuyện chẳng hay về anh ta — mỗi khi vào phố chợ, anh ta uống rượu đến kinh người, chè chén và gây huyên náo trong những căn nhà gần Gjeilene; nhưng khi ở nhà tại Husaby, anh ta lại là người đáng tin cậy nhất, tháo vát nhất, siêng năng nhất và khôn ngoan nhất. Kristin đã có cảm tình với anh ta.

“Sau tất cả những chuyện từng xảy ra ở đây, bất cứ người đàn bà nào về gia trang này cũng chẳng dễ dàng gì,” anh ta lại nói. “Dẫu vậy, tôi tin bà chủ Kristin sẽ thu xếp mọi việc ở đây giỏi hơn phần đông những người đàn bà khác. Bà không phải hạng người chỉ biết ngồi than thân khóc lóc, mà sẽ lo giữ lấy gia sản này cho chính con cháu mình, khi chẳng còn ai khác biết nghĩ đến những việc như thế. Và hẳn bà biết có thể trông cậy vào tôi; tôi sẽ giúp bà hết khả năng của mình. Chỉ xin bà nhớ rằng tôi không quen việc nông trang. Nhưng nếu bà chịu bàn bạc với tôi và để tôi hỏi ý bà, thì mùa đông này rồi cũng sẽ qua được bằng cách nào đó.”

Kristin cảm ơn Ulf rồi đi vào nhà.

Lòng nàng nặng trĩu vì sợ hãi và bất an, nhưng nàng cố vùi mình vào công việc để quên đi. Một nỗi là nàng không hiểu nổi Erlend — vậy mà chàng dường như chẳng hề ngờ vực gì. Nhưng nỗi kia, cũng là nỗi tệ hại nhất, là nàng không cảm thấy đứa con mình mang đang cựa sống. Nàng biết đến tuần thứ hai mươi thai nhi phải máy — giờ đã quá thời hạn ấy hơn ba tuần. Ban đêm nàng nằm cảm nhận gánh nặng này mỗi ngày một lớn, một nặng hơn, mà vẫn cứ lì lặng và không chút sinh khí. Trong đầu nàng chập chờn tất cả những chuyện từng nghe về những đứa trẻ sinh ra bị liệt, gân cốt co cứng, về những bào thai chào đời không có tay chân — gần như chẳng còn hình dạng con người. Trước đôi mắt nhắm nghiền của nàng lần lượt hiện ra hình ảnh những đứa trẻ sơ sinh dị dạng khủng khiếp; cảnh tượng kinh hoàng này tan vào một cảnh tượng còn ghê rợn hơn. Ở phía nam thung lũng quê nàng, tại Lidstad, người ta có một đứa con như thế — phải, giờ chắc nó đã lớn rồi. Cha nàng từng nhìn thấy nó, nhưng ông không bao giờ chịu nói đến; nàng đã nhận thấy ông khó chịu mỗi khi có ai nhắc tới. Không biết nó trông ra sao —. Ôi không. Lạy Thánh Olav, xin cầu cho con —! Nàng phải vững tin vào lòng thương xót của đức vua thánh; nàng đã phó thác con mình cho ngài che chở, nàng phải kiên nhẫn chịu khổ vì tội lỗi của mình và hết lòng trông cậy vào sự cứu giúp cùng ân sủng dành cho đứa trẻ. Hẳn chính Kẻ Thù đang dùng những hình ảnh ghê tởm ấy cám dỗ nàng, hòng lôi nàng vào tuyệt vọng —. Nhưng ban đêm thật khổ sở. Nếu một đứa trẻ không có tay chân, nếu nó bị liệt, thì người mẹ hẳn không thể cảm thấy dấu hiệu sự sống —. Trong cơn nửa tỉnh nửa mê, Erlend nhận ra vợ nằm thao thức, liền ôm nàng sát hơn trong cánh tay và vùi mặt vào hõm cổ nàng.

Nhưng ban ngày nàng làm như không có gì. Và mỗi sáng nàng đều cẩn thận ăn mặc để còn giấu người trong nhà thêm ít lâu nữa rằng nàng không đi một mình.

Ở Husaby có lệ sau bữa tối, tôi tớ đều lui về những ngôi nhà nơi họ ngủ. Bấy giờ nàng và Erlend ngồi riêng trong đại sảnh. Nhìn chung, nếp sinh hoạt tại gia trang này giống thời xưa hơn, thời người ta còn có nam nữ nô lệ làm việc nhà. Trong đại sảnh không có chiếc bàn nào đóng cố định xuống sàn; sáng và tối người ta bày thức ăn trên một tấm bàn lớn đặt ngang những giá đỡ, sau bữa ăn lại treo nó lên tường. Những bữa khác, mọi người mang thức ăn ra các ghế dài, ngồi đó mà ăn. Kristin biết thuở trước vốn có lệ như vậy. Nhưng thời nay, khi rất khó tìm được đàn ông chịu hầu bàn và mọi việc trong nhà đều phải giao cho nữ tỳ, cách ấy không còn thích hợp — đàn bà không muốn vì khiêng những tấm bàn nặng mà kiệt quệ sức khỏe. Kristin nhớ mẹ nàng từng kể rằng ở Sundbu, khi bà lên tám tuổi, người ta đặt một chiếc bàn cố định trong phòng sinh hoạt, và đám phụ nữ coi đó là một cải tiến lớn về mọi mặt — từ đó họ không cần đem mọi việc may vá ra nhà kho nữa, mà có thể ngồi trong phòng cắt may, và trông cũng thật sang trọng khi lúc nào cũng có chân nến cùng vài món đồ dùng đẹp đẽ bày trên bàn. Kristin nghĩ sang mùa hè nàng sẽ xin Erlend cho đặt một chiếc bàn dọc theo bức tường dài phía bắc.

Ở quê nhà cũng như vậy, và cha nàng ngồi ghế danh dự ở đầu bàn — còn giường thì kê sát bức tường bên tiền sảnh. Ở nhà, mẹ nàng ngồi chỗ trên cùng của ghế dài phía ngoài để tiện đi lại và trông nom việc dọn thức ăn. Chỉ khi có tiệc, Ragnfrid mới ngồi bên chồng. Nhưng ở đây, ghế danh dự đặt giữa bức vách đầu hồi phía đông, và Erlend muốn nàng lúc nào cũng ngồi đó bên chàng. Ở nhà, nếu có tôi tớ của Chúa làm khách tại Jørundgaard, cha nàng luôn mời họ ngồi ghế danh dự, còn chính ông và Ragnfrid hầu họ ăn uống. Nhưng Erlend không chịu làm thế, trừ phi họ có địa vị cao. Chàng chẳng ưa các linh mục và tu sĩ cho lắm — chàng bảo đó là những người bạn đắt giá. Kristin không khỏi nhớ tới lời cha nàng và Cha Eirik vẫn nói mỗi khi người ta than phiền các giáo sĩ tham tiền: mỗi người đều quên thú vui tội lỗi mình từng hưởng, đến khi phải trả giá cho nó.

Nàng hỏi Erlend về đời sống ở Husaby thuở trước. Nhưng chàng biết ít một cách lạ lùng. Chàng đã nghe thế này thế kia, nếu còn nhớ đúng — nhưng không thể nhớ rõ. Vua Skule từng sở hữu gia trang và cho xây cất thêm — hẳn ông đã định lấy Husaby làm cơ nghiệp chính khi hiến Rein cho nữ tu viện. Erlend rất tự hào rằng mình là hậu duệ của vị công tước mà chàng luôn gọi là vua, và của Giám mục Nikulaus; vị giám mục là cha của ông cố chàng, Munan Biskopssøn. Nhưng Kristin thấy chàng chẳng biết gì thêm về những người ấy ngoài những chuyện chính nàng từng nghe cha kể. Ở quê nhà thì khác. Cả cha lẫn mẹ nàng đều không kiêu hãnh vì quyền thế và thanh danh của tổ tiên. Nhưng họ thường nói về những người đã khuất, nêu những điều tốt đẹp họ biết để làm gương, và kể lại những lỗi lầm cùng tai họa từ đó sinh ra để răn dạy. Họ còn biết những chuyện vui ngắn — về Ivar Gjesling Già và mối bất hòa giữa ông với vua Sverre, về những câu đối đáp nhanh trí, dí dỏm của Ivar Giáo trưởng, về thân hình béo khổng lồ của Haavard Gjesling và vận may săn bắn kỳ diệu của Ivar Gjesling Trẻ. Lavrans kể về người em trai của ông nội mình đã đưa một thiếu nữ dòng Folkunge ra khỏi tu viện Vreta, về ông nội mình là hiệp sĩ Thụy Điển Ketil, và bà nội Ramborg Sunesdatter, người luôn mong nhớ quê nhà ở Vestergautland và đã cùng xe ngựa sụp xuống lớp băng trên hồ Venern trong một lần đến thăm anh trai tại Solberga. Ông kể về lòng dũng cảm khi cầm vũ khí của cha mình và nỗi đau không lời nào tả xiết của người ấy trước cái chết của người vợ trẻ đầu tiên, Kristin Sigurdsdatter; bà chết khi sinh Lavrans. Và ông đọc trong sách về bà tổ của mình, phu nhân thánh thiện Elin ở Skøvde, người đã được ban ân sủng để trở thành vị tử đạo của Chúa. Cha nàng thường nói ông và Kristin sẽ đi hành hương đến mộ của vị góa phụ phúc lành ấy. Nhưng việc đó chưa bao giờ thành.

Trong nỗi sợ hãi và khốn quẫn, Kristin cố cầu khấn vị thánh mà chính nàng có quan hệ huyết thống. Nàng cầu Thánh Elin che chở cho con mình và hôn cây thánh giá cha đã trao; bên trong có một mảnh vải liệm của vị thánh nữ. Nhưng giờ đây Kristin lại sợ Thánh Elin, bởi chính nàng đã làm ô danh dòng họ một cách ghê gớm. Khi cầu xin Thánh Olav và Thánh Thomas chuyển cầu, nàng thường cảm thấy lời than van của mình đã đến được những đôi tai còn sống và những trái tim biết thương xót. Cha nàng yêu kính hai vị tử đạo vì lẽ công chính ấy hơn tất cả các thánh khác, phải, hơn cả Thánh Laurentius, vị thánh mà ông mang tên, và cứ đến ngày lễ kính ngài vào cuối hè, ông vẫn tổ chức một tiệc rượu lớn cùng những cuộc bố thí hậu hĩnh. Chính cha nàng đã từng thấy Thánh Thomas trong mộng vào một đêm ông nằm bị thương bên ngoài Baagahus. Không lời nào của con người có thể tả được vẻ đáng kính và đáng mến của ngài, còn Lavrans thì chẳng thốt nổi lời nào ngoài: “Lạy ngài, lạy ngài!” Nhưng vị giám mục rạng ngời đã dịu dàng chạm vào vết thương của ông và hứa cho ông được sống, được lành lặn, để ông lại được nhìn thấy vợ và con gái mình, điều ông đã cầu xin. Thế nhưng khi ấy chẳng một ai tin Lavrans Bjørgulfssøn có thể sống qua đêm.

Phải, Erlend nói. Người ta vẫn nghe những chuyện như thế. Còn chàng thì chưa bao giờ gặp chuyện gì tương tự, mà chắc cũng chẳng có khả năng gặp — chàng vốn chưa bao giờ là người ngoan đạo như Lavrans.

Rồi Kristin hỏi về những người đã dự tiệc rượu đón dâu của họ. Erlend cũng chẳng có mấy điều để kể về họ. Kristin nhận thấy chồng mình không giống dân chúng trong những vùng quanh đây. Nhiều người trong số họ có dung mạo đẹp, tóc da sáng và hồng hào, đầu tròn chắc, thân hình khỏe mạnh, đậm người — nhiều ông già béo quá mức. Giữa các vị khách, Erlend trông như một giống chim lạ. Chàng cao hơn phần đông đàn ông cả một cái đầu, mình hẹp và gầy; tay chân thon dài, các khớp thanh mảnh. Chàng có mái tóc đen mềm như lụa, nước da tái nâu — nhưng đôi mắt xanh nhạt dưới hàng mày đen như than và bóng rợp của hàng mi đen. Trán chàng cao và hẹp, thái dương lõm, mũi hơi quá lớn, còn miệng thì hơi nhỏ và mềm mại quá đối với một người đàn ông — nhưng chàng vẫn đẹp; nàng chưa từng thấy người đàn ông nào đẹp được bằng một nửa Erlend. Ngay cả giọng nói êm và trầm của chàng cũng khác với giọng đầy đặn của những người kia.

Erlend cười và nói rằng dòng họ chàng cũng đâu phải người vùng này — ngoại trừ bà cố Ragnfrid Skulesdatter. Người ta bảo chàng rất giống ông ngoại, Gaute Erlendssøn ở Skogheim. Kristin hỏi chàng biết gì về người ấy. Nhưng hầu như chẳng có gì.

Một tối nọ, Erlend và Kristin đang cởi áo quần. Erlend không tháo được dây giày, bèn lấy dao cắt, nhưng lưỡi dao trượt vào bàn tay chàng. Máu chảy rất nhiều và chàng buông lời nguyền rủa tục tằn; Kristin lấy một mảnh vải lanh trong rương. Nàng chỉ mặc độc chiếc áo lót dài. Trong lúc nàng băng tay cho chàng, Erlend vòng cánh tay kia quanh eo nàng.

Bỗng chàng nhìn xuống mặt nàng, kinh hãi và bối rối — đồng thời chính chàng đỏ bừng lên. Kristin cúi đầu.

Erlend rút tay về. Chàng không nói gì — Kristin lặng lẽ bước đi rồi trèo lên giường. Tim nàng nện nặng nề, dữ dội vào lồng ngực. Thỉnh thoảng nàng nhìn sang chồng. Chàng đã quay lưng lại với nàng, chậm rãi cởi từng món áo quần. Rồi chàng bước tới nằm xuống.

Kristin chờ chàng lên tiếng. Nàng chờ căng thẳng đến nỗi có lúc tưởng như tim mình không còn đập nữa, chỉ đứng yên mà run lên trong lồng ngực.

Nhưng Erlend không nói một lời. Và chàng cũng không kéo nàng vào vòng tay.

Cuối cùng chàng ngập ngừng đặt một bàn tay lên ngực nàng, ép cằm xuống vai nàng khiến chân râu châm vào da thịt. Khi chàng vẫn không nói gì, Kristin quay mặt vào tường.

Nàng có cảm giác mình đang chìm xuống, chìm mãi. Chàng không có lấy một lời để trao cho nàng — giờ đây, khi đã biết nàng mang con chàng suốt quãng thời gian dài đằng đẵng và nặng nhọc ấy. Kristin nghiến chặt răng trong bóng tối. Nàng sẽ không van xin chàng — nếu chàng im lặng, nàng cũng sẽ im lặng, dẫu phải kéo dài đến tận ngày nàng sinh đứa trẻ. Cơn phẫn uất trào dâng trong nàng. Nhưng nàng nằm cứng đờ, quay vào tường. Và Erlend cũng nằm yên trong bóng tối. Hết giờ này sang giờ khác, họ nằm như thế, người này biết người kia chưa ngủ. Cuối cùng, nghe hơi thở đều đặn của chàng, nàng biết chàng đã thiếp đi. Bấy giờ nàng để mặc nước mắt tuôn chảy, vì đau buồn, vì bị xúc phạm và vì hổ thẹn. Nàng tưởng mình sẽ không bao giờ tha thứ được cho chàng chuyện này.

Suốt ba ngày, Erlend và Kristin cứ sống bên nhau như thế — chàng thì giống một con chó ướt, người vợ trẻ nghĩ. Nàng nóng bừng và chai cứng vì giận dữ — cơn cay đắng khiến nàng gần phát cuồng mỗi khi nhận ra chàng dò xét mình, nhưng lại vội vàng rút ánh mắt đi nếu nàng nhìn về phía chàng.

Sáng ngày thứ tư, nàng đang ngồi trong phòng thì Erlend xuất hiện ở cửa, đã mặc đồ cưỡi ngựa. Chàng nói mình sắp đi về phía tây đến Medalby — nàng có muốn đi cùng để xem gia trang ấy không; đó là một phần tài sản thuộc lễ vật sáng cưới của nàng. Kristin đáp có, và chính Erlend giúp nàng mang đôi ủng lót lông cùng chiếc áo choàng tay dài màu đen cài móc bạc.

Ngoài sân có bốn con ngựa đã thắng yên, nhưng Erlend bảo Haftor và Egil cứ ở nhà giúp việc đập lúa. Rồi chính chàng đỡ vợ lên yên. Kristin hiểu giờ đây Erlend đã định nói đến chuyện còn nằm im không được thốt ra giữa họ. Thế nhưng chàng vẫn không nói gì khi hai người chậm rãi cưỡi ra ngoài, đi về phía nam, hướng đến khu rừng.

Bấy giờ tháng giết mổ đã trôi qua quá nửa, nhưng trong vùng vẫn chưa có tuyết rơi. Ngày trời trong trẻo và đẹp, mặt trời vừa mọc, sương muối trắng khắp nơi lấp lánh ánh vàng, trên đồng đất cũng như trên cây cối. Họ cưỡi qua những cánh đồng của Husaby. Kristin thấy đất trồng ngũ cốc và ruộng gốc rạ rất ít, phần lớn là đất bỏ hóa và đồng cỏ cũ, lổn nhổn những ụ cỏ, phủ đầy rêu và bị chồi cây sủi mọc lấn khắp nơi. Nàng lên tiếng nói về chuyện ấy.

Chồng nàng ngạo nghễ đáp:

“Kristin, em giỏi cai quản và coi sóc gia sản như thế mà không biết trồng ngũ cốc gần phố chợ chẳng có lợi sao — đem bơ và len đổi lấy thóc cùng bột của các thương nhân ngoại quốc còn lời hơn —.”

“Vậy thì chàng nên đem đổi hết những thứ chất trên kho gác nhà chàng và đã hỏng từ lâu rồi,” Kristin nói. “Ngoài ra em còn biết luật quy định mỗi người thuê đất phải gieo ngũ cốc trên ba phần, chỉ để một phần tư làm đất bỏ hóa. Cơ nghiệp chính của chúa đất hẳn không nên được trông nom tệ hơn gia trang của những tá điền — cha em vẫn luôn nói thế —.”

Erlend cười khẽ rồi đáp:

“Trong chuyện này ta chưa bao giờ bận tâm đến luật — miễn nhận được phần mình phải có thì nông dân của ta cứ cai quản gia trang của họ theo ý họ, còn ta cai quản Husaby theo cách ta thấy thuận tiện và tốt nhất.”

“Vậy chàng muốn khôn ngoan hơn,” Kristin hỏi, “tổ tiên chúng ta, hơn Thánh Olav và vua Magnus, những người đã đặt ra các luật ấy sao?”

Erlend lại cười và nói:

“Ta chưa từng nghĩ đến chuyện đó. — Nhưng quỷ tha ma bắt, em quả là am tường luật lệ và phép nước đấy, Kristin —.”

“Em biết đôi chút về những việc này,” Kristin đáp, “vì cha em thường nhờ Sigurd ở Loptsgaard đọc luật cho chúng em nghe mỗi khi ông ấy đến nhà và chúng em ngồi quây quần vào buổi tối. Cha cho rằng tôi tớ và người trẻ tuổi hiểu biết những điều ấy thì có ích, thế là Sigurd lại đọc một mục luật này hoặc một mục luật khác —.”

“Sigurd —” Erlend nói. “À phải, giờ ta nhớ rồi, ta đã thấy lão trong đám cưới của chúng ta. Lão già mũi rủ, rụng hết răng, vừa chảy dãi vừa khóc, lại còn vỗ lên ngực em — đến sáng lão vẫn say bí tỉ, khi mọi người lên chỗ chúng ta và đứng nhìn ta đội khăn của người vợ lên đầu em —.”

“Ông ấy đã biết em từ thuở em còn chẳng nhớ nổi,” Kristin giận dữ nói. “Khi em còn là một bé gái, ông ấy vẫn thường bế em lên lòng và chơi với em —.”

Erlend lại cười:

“Quả là một thú vui kỳ quặc — mọi người cứ ngồi nghe lão ấy đọc luật, mục này sang mục khác. Lavrans thật khác mọi người đàn ông trên đời về đủ mọi phương diện — mà người ta vẫn thường nói, nếu người nông dân biết tường tận luật nước và con ngựa đực biết hết sức mình, thì Quỷ Sứ hẳn đã thành hiệp sĩ rồi—”

Kristin kêu lên một tiếng, quất vào mông ngựa. Erlend nhìn vợ vừa giận dữ vừa kinh ngạc khi nàng phóng đi khỏi chàng.

Chợt chàng thúc cựa vào ngựa. Lạy Chúa, chỗ lội — bây giờ không thể nào qua đó được, đất sét đã sụt từ mùa thu—. Sløngvanbauge sải dài hơn khi nhận thấy con ngựa kia đuổi theo sau. Erlend sợ chết khiếp — nàng cứ thế phóng xuống những triền dốc dựng đứng. Chàng vượt qua nàng giữa rừng cây bụi, vòng lên chặn đường ở nơi con đường chạy bằng phẳng một quãng ngắn, khiến nàng phải dừng lại. Khi chàng đến ngang bên nàng, chàng thấy chính nàng lúc này cũng đã hơi hoảng sợ.

Erlend nghiêng người về phía vợ và tát nàng dưới tai, nghe đánh bốp một tiếng — Sløngvanbauge giật sang bên, hoảng hốt chồm lên.

“Phải, em đáng bị thế,” Erlend nói, giọng run lên, khi hai con ngựa đã yên lại và họ lại cưỡi sóng đôi. “Giận dữ mà hành động điên rồ như vậy—. Em làm ta khiếp sợ—”

Kristin giữ đầu quay đi, khiến chàng không thể nhìn thấy mặt nàng. Erlend ước gì mình đã không đánh nàng. Nhưng chàng lại nói:

“Phải, em làm ta sợ, Kristin — liều lĩnh như thế! Lại còn vào lúc này—” chàng nói rất khẽ.

Kristin không đáp, cũng không nhìn chàng. Nhưng Erlend cảm thấy lúc này nàng đã bớt giận hơn trước, khi chàng chế giễu quê nhà nàng. Chàng hết sức kinh ngạc về điều ấy — nhưng chàng thấy quả thực là vậy.

Họ đến Medalby, người lĩnh canh đất của Erlend bước ra mời họ vào nhà. Nhưng Erlend cho rằng trước hết họ nên xem xét các ngôi nhà — và Kristin cũng phải đi cùng. “Giờ nàng là chủ điền trang này — mà nàng còn thông thạo những việc ấy hơn ta, Stein,” chàng vừa cười vừa nói. Ở đó có mấy nông dân đến làm chứng — một vài người trong số họ cũng là tá điền của Erlend.

Stein đã tới điền trang vào kỳ chuyển cư vừa rồi, và suốt từ đó vẫn xin chủ đất đích thân đến xem các ngôi nhà ở trong tình trạng nào khi ông nhận chúng, hoặc cử người đại diện tới. Những người nông dân làm chứng rằng không một mái nhà nào kín được nước mưa, còn những căn bây giờ sắp đổ thì lúc Stein đến đã như vậy rồi. Kristin thấy đây là một điền trang tốt, nhưng lâu nay bị chăm nom rất tồi. Nàng nhận ra Stein là người tháo vát, còn Erlend cũng rất dễ dàn xếp và hứa giảm cho ông một phần địa tô cho tới khi ông sửa sang xong các ngôi nhà.

Sau đó họ vào nhà, nơi bàn đã dọn đầy thức ăn ngon và bia nặng. Vợ người nông dân xin Kristin thứ lỗi vì chị không ra đón nàng. Nhưng chồng chị không cho phép chị bước ra dưới trời quang trước khi đã đến nhà thờ sau kỳ sinh nở. Kristin dịu dàng chào hỏi chị, rồi phải tới bên nôi nhìn đứa bé. Đây là đứa con đầu lòng của họ, một bé trai mười hai ngày tuổi, lớn và khỏe mạnh.

Bấy giờ Erlend và Kristin được đưa lên ghế danh dự, mọi người cùng ngồi xuống, ăn uống hồi lâu. Kristin là người nói nhiều nhất trong bữa ăn; Erlend ít lời, những người nông dân cũng vậy, nhưng Kristin vẫn cảm thấy dường như họ có thiện cảm với nàng.

Rồi đứa bé thức giấc, lúc đầu chỉ ư ử, sau đó khóc thét dữ dội đến nỗi người mẹ phải bế nó lên, cho bú để dỗ nó nín. Kristin mấy lần nhìn sang hai mẹ con, và khi thằng bé đã no, nàng đón nó từ tay người mẹ, đặt lên cánh tay mình.

“Chủ nhà xem,” nàng nói, “chàng không thấy đây là một cậu bé xinh xắn, kháu khỉnh hay sao—”

“Hẳn là thế,” người đàn ông đáp, nhưng không nhìn sang.

Kristin bế đứa trẻ một lát rồi mới trao lại cho mẹ nó.

“Ta sẽ gửi một món quà đến cho con trai chị, Arndis,” nàng nói, “vì nó là đứa trẻ đầu tiên ta bế trên tay kể từ khi ta đến miền bắc núi.”

Mặt nóng bừng và đầy thách thức, thoáng một nụ cười, Kristin nhìn chồng mình, rồi nhìn dọc theo những người nông dân ngồi trên ghế dài. Khóe miệng một vài người hơi động đậy, nhưng rồi họ nhìn thẳng trước mặt, nét mặt cứng lại vì vẻ trang nghiêm. Bấy giờ một ông lão già nua đứng dậy; ông đã uống khá nhiều. Ông lấy gáo ra khỏi bát bia, đặt lên bàn rồi nâng chiếc bát lớn nặng nề:

“Vậy chúng ta hãy uống mừng điều này, thưa bà chủ: mong đứa trẻ tiếp theo bà đặt lên cánh tay mình sẽ là vị chủ nhân mới của Husaby!”

Kristin đứng lên nhận chiếc bát nặng. Trước tiên nàng mời chồng. Erlend chỉ vừa chạm môi vào miệng bát, nhưng Kristin uống sâu và lâu:

“Cảm ơn lời chúc ấy, Jon ở Skog,” nàng nói, đôi mắt lấp lánh, tươi cười gật đầu. Rồi nàng chuyền chiếc bát đi.

Kristin thấy Erlend ngồi đó, mặt đỏ bừng và hết sức tức giận. Còn bản thân nàng lúc này chỉ thấy thèm được cười, được vui một cách vô lý. Một lát sau Erlend đòi lên đường, và họ bắt đầu trở về nhà.

Họ đã cưỡi ngựa được một quãng mà không nói với nhau lời nào, chợt Erlend giận dữ nói:

“Em thấy cần phải để ngay cả nông dân của chúng ta cũng biết em đã mang thai khi lấy chồng hay sao—. Cứ như thế thì chẳng mấy chốc chuyện của hai chúng ta sẽ bay khắp mọi miền quanh vịnh này — em có thể bảo quỷ đến bắt em đi được rồi—”

Thoạt đầu Kristin không đáp. Nàng nhìn thẳng qua đầu con ngựa, mặt lúc này trắng bệch đến nỗi Erlend phát sợ.

“Chừng nào còn sống, em sẽ không bao giờ quên được,” cuối cùng nàng nói, vẫn không nhìn chàng, “—rằng đó là những lời đầu tiên chàng dùng để chào đón nó, đứa con trai của chàng đang ở dưới đai lưng em.”

“Kristin!” Erlend van nài.

“Kristin của ta,” chàng khẩn khoản khi nàng không đáp, cũng không nhìn chàng. “Kristin!”

“Thưa ngài?” nàng lạnh lùng và lễ độ hỏi, không quay đầu lại.

Erlend nguyền rủa dữ dội, thúc cựa vào ngựa rồi phóng lên trước trên đường. Nhưng một lát sau chàng lại cưỡi ngựa quay về phía nàng.

“Vừa rồi ta suýt giận đến mức chính ta đã bỏ em mà đi,” chàng nói.

“Nếu vậy,” Kristin bình thản đáp, “có lẽ chàng sẽ phải chờ rất lâu, chờ cho thật thỏa, trước khi em theo chàng về Husaby.”

“Em ăn nói kiểu gì vậy!” người chồng thất vọng nói.

Họ lại cưỡi một quãng mà không trò chuyện. Một lúc sau, họ đến nơi có một con đường mòn nhỏ chạy lên sườn đồi. Erlend nói với vợ:

“Ta đã định chúng ta sẽ cưỡi qua đỉnh đồi này để về nhà — đường sẽ xa hơn một chút, nhưng ta vẫn muốn có lần đưa em lên đây.”

Kristin hờ hững gật đầu.

Một lát sau Erlend bảo từ đây tốt hơn nên đi bộ. Chàng buộc ngựa của họ vào một thân cây.

“Gunnulf và ta từng dựng một công trình trên đồi này,” chàng nói. “Ta muốn xem thành lũy của chúng ta còn lại chút gì không—”

Chàng cầm tay nàng. Nàng để mặc chàng, nhưng cứ cúi nhìn nơi mình đặt chân. Chẳng bao lâu họ đã lên tới đỉnh. Bên kia khu rừng cây lá rộng phủ sương muối, uốn vòng theo con sông nhỏ, Husaby nằm trên sườn đồi ngay trước mặt họ, đồ sộ và tráng lệ với ngôi nhà thờ đá cùng nhiều tòa nhà lớn nặng nề, đồng ruộng rộng trải chung quanh và dải đồi rừng tối sẫm phía sau.

“Mẹ ta,” Erlend khẽ nói, “bà thường cùng chúng ta lên đây — nhiều lần. Nhưng lúc nào bà cũng ngồi nhìn mãi về phương nam, về phía Dovrefjeld. Hẳn sớm hôm gì bà cũng mong được rời khỏi Husaby. Những lúc khác bà quay về phương bắc, nhìn ra khe núi — chỗ em thấy xanh mờ kia; đó là núi bên kia vịnh. Bà không bao giờ nhìn về phía điền trang—”

Giọng chàng mềm xuống, đầy van nài. Nhưng Kristin không nói, cũng không nhìn chàng. Chàng bèn đi quanh, đá vào những bụi thạch nam đông cứng:

“Không, chắc chẳng còn gì từ thành lũy của ta và Gunnulf nữa. Mà cũng đã lâu lắm rồi, từ thuở Gunnulf và ta còn chơi đùa ở đây—”

Chàng không nhận được câu trả lời.— Ngay dưới chỗ họ đứng có một vũng nước nhỏ đã đóng băng — Erlend nhặt một hòn đá ném xuống. Vũng nước đã đông cứng tận đáy, nên trên tấm gương đen chỉ hiện ra một ngôi sao trắng nhỏ. Erlend nhặt thêm một hòn đá, ném mạnh hơn — rồi hòn nữa, hòn nữa; lúc này chàng giận dữ ném hết sức, nhất quyết phải đập tan lớp băng cho bằng được. Bấy giờ chàng nhìn thấy mặt vợ — nàng đứng đó, đôi mắt tối lại vì khinh miệt, môi cười nhạo sự trẻ con của chàng.

Erlend quay phắt đi — nhưng đúng lúc ấy Kristin tái nhợt như chết, hai mí mắt khép lại. Nàng đứng quờ quạng hai tay trước mặt, chao đảo như sắp ngã vật xuống — rồi túm được một thân cây.

“Kristin — em làm sao vậy?” chàng sợ hãi hỏi.

Nàng không đáp, đứng như đang lắng nghe điều gì. Ánh mắt nàng xa vắng và khác lạ.

Giờ nàng lại cảm thấy nó. Sâu trong lòng nàng, tựa như một con cá quẫy đuôi. Và một lần nữa, dường như cả mặt đất lay động chung quanh, khiến nàng choáng váng, yếu lả, nhưng không dữ dội bằng lần đầu.

“Em làm sao thế?” Erlend lại hỏi.

Nàng đã trông đợi điều này biết bao — gần như chẳng dám thừa nhận nỗi kinh sợ lớn lao trong lòng mình. Nàng không thể nói ra — không phải bây giờ, sau khi họ đã bất hòa suốt ngày hôm nay. Khi ấy chính chàng nói:

“Có phải đứa trẻ vừa máy trong bụng em không?” chàng khẽ hỏi, chạm vào vai nàng.

Thế là nàng vứt bỏ mọi giận dữ với chàng, nép sát vào người cha của đứa trẻ và giấu mặt vào ngực chàng.

Một lát sau họ đi xuống nơi buộc ngựa. Ngày ngắn gần tàn; phía sau họ, ở hướng tây nam, mặt trời đang chìm xuống sau những ngọn cây, đỏ ửng và mờ đục trong màn sương giá.

Erlend cẩn thận kiểm tra các khóa và dây trên yên cương trước khi nâng vợ lên ngựa. Rồi chàng đi tới cởi ngựa của mình. Chàng thò tay vào dưới đai lưng tìm đôi găng đã giắt ở đó, nhưng chỉ thấy một chiếc. Chàng nhìn quanh trên mặt đất.

Bấy giờ Kristin không nén được, nàng nói:

“Chàng tìm găng ở đây cũng vô ích thôi, Erlend!”

“Nếu em thấy ta đánh rơi, em cũng có thể nói cho ta biết — dù em giận ta đến đâu chăng nữa,” chàng nói. Đó là đôi găng Kristin đã khâu cho chàng và trao cùng những món quà đính ước.

“Nó rơi khỏi đai lưng chàng khi chàng đánh em,” Kristin nói rất khẽ, mắt nhìn xuống.

Erlend đứng bên ngựa, một tay đặt trên vòm yên. Trông chàng rụt rè và khổ sở. Nhưng rồi chàng bật cười:

“Ta chẳng bao giờ ngờ được, Kristin — hồi còn cầu hôn em, chạy khắp nơi nài nỉ họ hàng nói giúp cho ta, rồi hạ mình mềm mỏng, đáng thương đến thế để có được em — rằng em lại có thể là một con quỷ cái thế này!”

Bấy giờ Kristin cũng cười:

“Không — nếu biết thế, hẳn chàng đã từ bỏ chuyện ấy từ lâu rồi — và chắc chắn như vậy còn tốt cho chính chàng hơn.”

Erlend bước vài bước đến bên nàng, đặt tay lên đầu gối nàng:

“Lạy Chúa Jesus cứu giúp ta, Kristin — em có bao giờ nghe nói ta từng làm điều gì có lợi cho chính mình chưa—”

Chàng áp mặt xuống lòng nàng rồi ngước đôi mắt lấp lánh nhìn gương mặt vợ. Đỏ mặt và vui sướng, Kristin cúi đầu, cố giấu Erlend nụ cười cùng ánh mắt của mình.

Chàng nắm dây cương ngựa của nàng, để ngựa mình đi theo sau; chàng dẫn nàng như thế cho đến khi họ xuống khỏi đồi. Mỗi lần họ nhìn nhau, chàng lại cười, còn nàng quay mặt đi để giấu rằng mình cũng đang cười.

“Nào,” chàng tinh nghịch nói khi họ trở lại đường cái, “giờ chúng ta sẽ cưỡi về Husaby, Kristin của ta, và vui như hai tên trộm!”