Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby — Chương 2: Tập II — Nữ chủ Husaby · Phần I — Trái của tội lỗi · Chương II
Chương 2 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby
Đêm Giáng sinh, mưa trút xối xả, gió thổi dữ dội. Không thể dùng xe trượt tuyết, vì thế Kristin phải ở nhà, trong khi Erlend và gia nhân cưỡi ngựa đến dự lễ nửa đêm ở nhà thờ Birgsi.
Nàng đứng nơi cửa nhà chính nhìn theo họ. Những bó đuốc gỗ thông họ mang soi ánh đỏ lên các tòa nhà cũ tối sẫm, phản chiếu trên lớp băng ướt ngoài sân. Gió quật những ngọn lửa nằm rạp sang một bên. Kristin còn đứng đó chừng nào vẫn còn nghe thấy tiếng đoàn người xa dần trong đêm.
Trong đại sảnh, đèn vẫn cháy trên bàn. Thức ăn thừa của bữa tối còn bày ngổn ngang — những cục cháo trong đĩa; bánh mì ăn dở và xương cá nổi giữa bia đổ. Mấy nữ tỳ phải ở nhà đã nằm yên trong lớp rơm trải sàn. Kristin chỉ còn lại trong gia trang với họ và một ông già tên Aan. Ông đã hầu việc ở Husaby từ thời ông nội của Erlend; nay ông ở trong một căn nhà nhỏ dưới bờ biển, nhưng ban ngày vẫn thích lên gia trang, đi tha thẩn và tưởng mình làm được rất nhiều việc. Tối ấy Aan ngủ gục bên bàn, Erlend và Ulf vừa cười vừa khiêng ông vào một góc rồi phủ cho ông một tấm áo.
Giờ này ở Jørundgaard, sàn nhà hẳn đã được rải một lớp cói dày, vì suốt những đêm lễ, cả nhà đều ngủ chung trong gian chính. Trước khi đi nhà thờ, họ thường dọn hết thức ăn chay còn thừa, rồi mẹ nàng cùng các nữ tỳ bày bàn đẹp hết mức có thể, với bơ và phô mai, những chồng bánh mì mỏng màu sáng, thịt ba chỉ bóng mỡ và những khoanh giò muối dày nhất. Các bình bạc và sừng đựng rượu mật ong đứng sáng lấp lánh. Còn cha nàng đích thân đặt thùng bia lên ghế dài.
Kristin quay ghế về phía bếp lửa — nàng không muốn nhìn chiếc bàn bẩn thỉu ấy. Một đứa con gái ngáy nghe đến phát khiếp.
— Đó cũng là một trong những điều nàng không ưa ở Erlend — trong nhà mình, chàng ăn uống thật nhếch nhác và cẩu thả, bới trong đĩa tìm miếng ngon, trước khi ngồi vào bàn thì gần như chẳng buồn rửa tay — lại còn để chó trèo lên lòng, ngoạm thức ăn trong lúc mọi người đang ăn. Vậy thì chẳng lạ gì đám gia nhân không biết phép tắc trên bàn ăn. — Ở nhà, nàng đã được dạy phải ăn uống thanh nhã — và chậm rãi. Bởi mẹ nàng bảo, để người làm phải ngồi chờ trong khi chủ nhà ăn là điều không phải lẽ — những người đã vật lộn làm lụng phải có đủ thời giờ ăn cho thật no.
“Gunna,” Kristin khẽ gọi con chó cái lớn màu vàng đang nằm bên cả ổ chó con sát phiến đá bếp. Nó dữ tính đến nỗi Erlend đã đặt tên nó theo bà chủ già ở Raasvold.
“Tội nghiệp mày quá,” Kristin thì thầm, vuốt ve con vật khi nó đến gác đầu lên đầu gối nàng. Sống lưng nó sắc như lưỡi hái, còn vú gần quét xuống sàn. Lũ chó con đã bú mẹ đến kiệt quệ. “Phải rồi, tội nghiệp con chó của ta quá!”
Kristin ngả đầu vào lưng ghế, nhìn lên những thanh xà ám khói. Nàng mệt mỏi —.
Không, những tháng sống ở Husaby đối với nàng chẳng hề nhẹ nhàng. Tối hôm họ đến Medalby, nàng đã nói đôi chút với Erlend. Khi ấy nàng hiểu rằng chàng vẫn tưởng nàng giận chàng vì đã khiến nàng ra nông nỗi này.
“Ta vẫn nhớ,” chàng nói rất khẽ. “Cái ngày mùa xuân ấy, khi chúng ta đi trong khu rừng phía bắc nhà thờ. Ta vẫn nhớ em đã cầu xin ta để em được yên —”
Kristin vui vì chàng nói vậy. Những lúc khác, nàng thường lấy làm lạ không biết bao nhiêu chuyện Erlend dường như đã quên mất. Nhưng rồi chàng nói:
“Dẫu vậy, ta vẫn không ngờ em lại có thể âm thầm ôm mối oán ta như thế, Kristin, mà ngoài mặt vẫn tỏ ra dịu dàng vui vẻ. Bởi hẳn em đã biết tình trạng của mình từ lâu. Ta cứ tưởng em trong trẻo và thành thật như ánh mặt trời —”
“Ôi Erlend,” nàng buồn bã nói. “Hẳn hơn ai hết trên đời, anh biết em từng đi đường quanh khuất và dối trá với những người tin em nhất.” Nhưng nàng rất muốn chàng hiểu. “— Trước đây, anh cũng từng đối xử với em theo cách mà có người sẽ không gọi là đẹp đẽ, anh còn nhớ chứ. Nhưng Chúa và Đức Trinh Nữ Maria chứng giám, em không ôm lòng oán hận, cũng chẳng yêu anh ít đi —”
Gương mặt Erlend dịu lại:
“Ta cũng đã nghĩ như vậy,” chàng khẽ nói. “Nhưng hẳn em cũng biết — suốt những năm ấy, ta đã gắng sức sửa lại điều mình phá hỏng. Ta tự an ủi rằng cuối cùng mọi sự rồi sẽ thành thế này, rằng ta sẽ có thể đền đáp lòng chung thủy và nhẫn nại của em.”
Khi ấy nàng hỏi chàng:
“Anh hẳn đã nghe chuyện em trai ông nội em và tiểu thư Bengta, hai người trốn khỏi Thụy Điển trái ý họ hàng nhà nàng. Chúa đã quở phạt bằng cách không ban cho họ một đứa con chung. Trong những năm qua, anh chưa từng sợ Người sẽ trừng phạt chúng ta như thế sao —”
Run rẩy, nàng đã khẽ nói với chàng:
“Anh hẳn hiểu được, Erlend của em, rằng mùa hè vừa rồi em chẳng vui vẻ gì khi biết chuyện này đã xảy đến trước nhất. Dẫu vậy, em vẫn nghĩ —. Em nghĩ, nếu anh chết bỏ em trước khi chúng ta thành hôn — thì em thà còn lại với con của anh hơn là trơ trọi một mình. Em nghĩ, nếu em phải chết vì đứa trẻ — thì vẫn còn hơn việc anh không có một người con trai chính thống để kế vị nơi ghế danh dự, khi anh phải rời khỏi cõi đời này —”
Erlend đáp gay gắt:
“Nếu phải trả bằng mạng sống của em, ta sẽ thấy mình mua đứa con trai ấy với cái giá quá đắt. Đừng nói như vậy, Kristin —. Ta đâu có yêu quý Husaby đến thế,” một lát sau chàng nói. “Nhất là từ khi ta hiểu rằng Orm không bao giờ có thể thừa hưởng đất tổ sau ta —”
“Anh yêu _con trai nàng ấy_ hơn con trai em sao?” Kristin hỏi.
“_Con trai em_ —.” Erlend khẽ cười. “Về nó, giờ ta chẳng biết gì hơn ngoài chuyện nó sẽ đến đây sớm hơn lúc phải đến chừng nửa năm. Còn Orm, ta đã yêu nó mười hai năm rồi —”
Một lúc sau Kristin hỏi:
“Có khi nào anh nhớ mong các con mình không?”
“Có,” chồng nàng đáp. “Trước kia ta thường vào Østerdalen thăm chúng; chúng đang ở đó.”
“Anh có thể đến đó trong mùa Vọng này,” Kristin khẽ nói.
“Em sẽ không phật lòng chứ?” Erlend vui mừng hỏi.
Kristin đáp rằng nàng thấy như vậy là phải lẽ. Khi ấy chàng hỏi nàng có phản đối không nếu chàng đưa các con về nhà ăn lễ Giáng sinh. “Dù sao cũng phải có lần em gặp chúng.” Và một lần nữa nàng đáp rằng điều ấy nàng cũng thấy phải lẽ.
Trong thời gian Erlend đi vắng, Kristin vất vả lo liệu mọi thứ cho lễ Giáng sinh. Lúc này, đi lại giữa đám gia nhân nam nữ xa lạ ấy khiến nàng hết sức khổ sở — nàng phải cắn răng chịu đựng mỗi khi thay quần áo trước mặt hai nữ tỳ mà Erlend đã bảo phải ngủ cùng nàng trong đại sảnh. Nàng phải tự nhắc mình rằng nếu chỉ có một mình, nàng sẽ không bao giờ dám nằm trong gian nhà rộng lớn ấy — nơi trước nàng đã từng có một người đàn bà khác ngủ bên Erlend.
Đám nữ tỳ trong gia trang chẳng khá hơn điều người ta có thể chờ đợi. Những nông dân biết giữ gìn con gái sẽ không gửi chúng đến hầu việc ở một gia trang mà ông chủ công khai sống với một người đàn bà ngoại tình, lại còn trao quyền cai quản cho hạng đàn bà như thế. Các nữ tỳ lười biếng và không quen vâng lời một bà chủ. Nhưng chẳng bao lâu, vài người trong số họ bắt đầu ưa thích việc Kristin đưa nhà cửa vào nền nếp và tự mình cùng làm mọi việc với họ. Họ trở nên hoạt bát, vui vẻ khi nàng lắng nghe và đáp lại bằng lời ôn tồn, tươi tỉnh. Còn Kristin ngày nào cũng để người trong nhà thấy một gương mặt hiền hòa, điềm tĩnh. Nàng không quở trách ai; nhưng nếu nữ tỳ nào cãi lại lệnh nàng, bà chủ liền làm như tin rằng người ấy chỉ vì chưa biết cách, rồi lặng lẽ chỉ cho cô ta thấy nàng muốn công việc được làm ra sao. Kristin từng thấy cha mình đối đãi như vậy với những người làm mới hay lẩm bẩm chống đối — và không người đàn ông nào từng hai lần dám cãi lời Lavrans ở Jørundgaard.
Vậy là trong mùa đông này, mọi việc hẳn sẽ tạm ổn. Về sau nàng sẽ tìm cách tống đi những người đàn bà mình không ưa hoặc không thể uốn vào khuôn phép.
Có một việc nàng không đủ sức bắt tay làm nếu chưa thoát khỏi những ánh mắt xa lạ ấy. Nhưng vào buổi sáng, khi ngồi một mình trong đại sảnh, nàng khâu quần áo cho con — những tấm quấn bằng vải len mềm, những dải băng bằng vải mua màu đỏ và xanh, cùng vải lanh trắng để may áo rửa tội. Trong lúc ngồi khâu, lòng nàng chao đảo giữa nỗi sợ hãi và niềm tin vào những người bạn thánh thiện mà nàng đã cầu xin chuyển lời cầu nguyện. Đứa trẻ sống và cựa quậy trong nàng đến nỗi cả đêm lẫn ngày nàng đều không được yên. Nhưng nàng từng nghe chuyện những đứa trẻ sinh ra với một cái bọc ở nơi đáng lẽ phải có mặt, đầu ngoặt ra sau gáy, ngón chân quay về phía lẽ ra phải là gót. Và nàng lại thấy hiện lên trước mắt Svein, với một nửa khuôn mặt xanh tím đỏ bầm, bởi mẹ nó đã trông phải một đám cháy dữ —.
— Bấy giờ nàng quăng đồ khâu xuống, bước đến nhún mình trước ảnh Đức Trinh Nữ Maria rồi đọc bảy kinh Kính Mừng. Tu huynh Edvin từng nói rằng mỗi lần nghe lời chào của thiên thần, Mẹ Thiên Chúa lại vui mừng mãnh liệt như nhau, dù lời ấy thốt ra từ miệng kẻ tội lỗi khốn cùng nhất. Và những lời Dominus tecum làm trái tim Đức Maria hoan hỉ hơn cả; bởi vậy nàng phải luôn đọc chúng ba lần.
Điều ấy lần nào cũng giúp nàng được yên một lúc. Nàng biết nhiều người, cả đàn ông lẫn đàn bà, chẳng mấy tôn kính Thiên Chúa và Mẹ Người, lại giữ các điều răn rất tồi — nhưng nàng chưa từng thấy họ vì thế mà sinh con dị dạng. Thiên Chúa thường từ bi đến mức không quở phạt tội lỗi của cha mẹ trên những đứa con đáng thương, dẫu đôi khi Người vẫn phải cho loài người một dấu hiệu rằng Người không thể mãi dung thứ sự độc ác của họ. Nhưng hẳn đứa trẻ chịu điều ấy sẽ không đúng là _con nàng_ —.
Rồi trong lòng nàng kêu cầu Thánh Olav. Nàng từng nghe nói về ngài nhiều đến nỗi tưởng như mình đã biết ngài khi ngài còn sống trên đất nước này, đã tận mắt nhìn thấy ngài nơi trần thế. Ngài không cao, thân hình đẫy đà nhưng ngay thẳng và đẹp đẽ, đầu đội vương miện vàng, quanh mái tóc vàng óng quăn là vầng hào quang sáng ngời; bộ râu hung quăn viền lấy gương mặt rắn rỏi, dạn sương gió và can trường. Nhưng đôi mắt sâu thẳm, rực lửa của ngài nhìn xuyên thấu mọi người; kẻ nào làm điều sai trái không ai dám nhìn vào đó. Nàng cũng không dám; nàng cúi mắt trước ánh nhìn của ngài, nhưng không sợ — cảm giác ấy giống như thuở nhỏ, mỗi lần làm điều sai nàng phải cụp mắt trước cha. Thánh Olav nhìn nàng nghiêm nghị, song không khắc nghiệt — nàng đã hứa sẽ sửa đổi đời mình. Nàng khao khát khủng khiếp được vào Nidaros và quỳ trước thánh điện của ngài. Khi họ lên đây, Erlend đã hứa sẽ sớm đưa nàng tới đó. Nhưng chuyến đi cứ bị trì hoãn. Và giờ Kristin hiểu rằng chàng không muốn đi cùng nàng; chàng xấu hổ và sợ lời đàm tiếu của thiên hạ.
Một tối nọ, khi nàng ngồi bên bàn cùng người trong nhà, một nữ tỳ trẻ phụ việc trong nhà nói:
“Thưa bà chủ, tôi nghĩ chẳng phải chúng ta nên bắt tay khâu tã quấn và quần áo trẻ con ngay bây giờ, trước khi dựng khung cửi mà bà vẫn nói đến, thì hơn sao —.”
Kristin làm như không nghe thấy, tiếp tục nói về việc nhuộm vải. Khi ấy cô gái lại cất lời:
“Nhưng có lẽ bà đã mang quần áo trẻ con từ nhà theo rồi?”
Kristin khẽ mỉm cười rồi lại quay sang những người khác. Một lát sau, khi thoáng nhìn về phía cô nữ tỳ, nàng thấy mặt cô ta đỏ bừng, đang lo lắng liếc sang bà chủ. Kristin lại mỉm cười và nói chuyện với Ulf ở bên kia bàn. Bỗng cô gái òa lên khóc. Kristin khẽ cười, còn cô nữ tỳ càng khóc dữ hơn, đến mức cứ phải sụt sịt, khịt mũi.
“Thôi nào, đừng khóc nữa, Frida,” cuối cùng Kristin bình thản nói. “Cô đã đến đây làm một nữ tỳ trưởng thành; giờ đừng cư xử như một đứa bé nữa —.”
Cô gái thút thít — cô không cố ý ăn nói xấc xược, xin Kristin đừng giận cô.
“Không,” Kristin vẫn mỉm cười nói. “Giờ cô ăn đi, đừng khóc nữa. Chúng ta ai cũng chỉ có được chừng ấy khôn ngoan mà Thiên Chúa đã ban cho thôi.”
Frida bật dậy, vừa chạy ra ngoài vừa nức nở dữ dội.
Sau đó, khi Ulf Haldorssøn đứng bàn với Kristin về những việc phải làm vào ngày hôm sau, anh cười nói:
“Erlend đáng lẽ phải đính hôn với cô từ mười năm trước, Kristin. Nếu thế thì giờ mọi sự của cậu ấy đã khá hơn về mọi mặt.”
“Anh nghĩ vậy sao?” nàng hỏi, vẫn mỉm cười như trước. “Khi ấy tôi mới chín tuổi. Anh cho rằng Erlend có đủ sức chờ đợi một cô dâu con nít hết năm này sang năm khác sao —?”
Ulf cười rồi đi ra.
Nhưng đêm ấy, Kristin nằm khóc vì nỗi cô độc và nhục nhã.
Rồi Erlend trở về vào tuần trước lễ Giáng sinh, còn Orm, con trai chàng, cưỡi ngựa bên cạnh cha. Tim Kristin nhói lên khi chàng dẫn cậu bé đến trước mặt nàng và bảo nó chào mẹ kế.
Đó là đứa trẻ đẹp đẽ nhất. Nàng vẫn tưởng người con trai mình đang mang sẽ có dáng vẻ như thế. Đôi khi, vào những lúc dám cho phép mình vui mừng, dám tin rằng con mình sẽ sinh ra lành lặn, khỏe mạnh, và nghĩ tới cậu bé mai sau lớn lên bên đầu gối mình, thì chính là nó sẽ có dáng vẻ này — giống cha nó đến thế.
Có lẽ cậu bé hơi nhỏ và mảnh khảnh so với tuổi, nhưng thân hình cân đối đẹp đẽ, chân tay thanh tú, gương mặt xinh xắn; da và tóc đều sẫm màu, nhưng đôi mắt lớn xanh biếc, miệng đỏ và mềm mại. Cậu lễ phép chào mẹ kế, song nét mặt cứng rắn, lạnh lùng. Kristin chưa có dịp nói chuyện nhiều với cậu bé. Nhưng nàng cảm thấy đôi mắt nó dõi theo mình dù nàng đi hay đứng nơi đâu; và khi biết đứa trẻ đang nhìn chằm chằm, nàng lại cảm thấy thân hình cùng dáng đi của mình càng vụng về, nặng nề hơn.
Nàng không thấy Erlend nói chuyện nhiều với con trai, nhưng nàng hiểu chính cậu bé là người giữ vẻ xa cách. Kristin nói với chồng rằng Orm đẹp và trông rất thông minh. Erlend không đưa con gái theo; chàng thấy Margret còn quá nhỏ để đi một chuyến đường dài vào mùa đông. Khi Kristin hỏi về cô bé, chàng tự hào nói nó còn đẹp hơn anh trai rất nhiều — lại lanh lợi hơn nhiều; cha mẹ nuôi đều bị nó xoay quanh ngón tay út. Nó có mái tóc xoăn vàng óng và đôi mắt nâu.
Vậy hẳn nó giống mẹ, Kristin nghĩ. Nàng không sao ngăn được ngọn ghen bỏng rát trong lòng. Không biết Erlend có yêu cô con gái này như cha nàng từng yêu nàng hay không. Giọng chàng đã dịu dàng và ấm áp biết bao khi nói về Margret.
Kristin đứng dậy, đi ra cửa ngoài. Bên ngoài tối đen, nặng trĩu mưa, chẳng thấy trăng cũng chẳng thấy sao. Nhưng nàng nghĩ chắc cũng sắp nửa đêm rồi. Nàng lấy chiếc đèn ở tiền sảnh, vào trong thắp sáng. Rồi nàng khoác áo choàng lên người và bước ra mưa.
“Nhân danh Chúa Giêsu,” nàng thì thầm và làm dấu thánh giá ba lần khi bước ra màn đêm.
Trên đầu sân là nhà linh mục. Giờ nó bỏ không. Từ khi Erlend được giải vạ tuyệt thông, Husaby không còn linh mục riêng; thỉnh thoảng một cha phó ở Orkedal sang cử hành thánh lễ, nhưng vị linh mục mới được bổ nhiệm coi sóc nhà thờ đang ở nước ngoài cùng thầy Gunnulf; hẳn họ là bạn học thuở trước. Người ta đã chờ họ trở về từ mùa hè—giờ Erlend cho rằng có lẽ họ phải đợi đến sau mùa xuân mới về nước. Thuở trẻ Gunnulf từng mắc bệnh phổi, nên chắc ông không muốn đi đường vào mùa đông.
Kristin mở khóa vào ngôi nhà trống lạnh và tìm thấy chìa khóa nhà thờ. Rồi nàng đứng lại một lát. Mặt đất đóng băng trơn trượt—trời tối đen như mực, gió thổi, mưa rơi. Một mình nàng ra ngoài ban đêm là liều lĩnh, nhất là vào đêm Giáng sinh, khi mọi tà linh đều ở trong không trung. Nhưng nàng không thể bỏ cuộc—nàng phải đến nhà thờ.
“Nhân danh Thiên Chúa toàn năng, tôi bước đi nơi đây,” nàng thì thầm vào màn mưa gió. Soi đèn trước mặt, nàng đặt chân lên những chỗ có túm cỏ và đá nhô khỏi lớp băng. Trong bóng tối, con đường đến nhà thờ dường như dài vô tận. Nhưng cuối cùng nàng cũng đứng trên phiến đá trước cửa.
Bên trong lạnh buốt—lạnh hơn ngoài trời mưa rất nhiều. Kristin đi tới vòm cung thánh và quỳ xuống trước tượng Chúa chịu nạn thấp thoáng trong bóng tối trên đầu nàng.
Đọc kinh xong và đứng dậy, nàng nán lại một lát. Dường như nàng đã chờ đợi một điều gì đó xảy đến với mình. Nhưng chẳng có gì xảy ra. Nàng rét run và sợ hãi trong ngôi nhà thờ tối tăm, hoang vắng.
Nàng rón rén lên bàn thờ và soi đèn vào những pho tượng. Chúng cũ kỹ, xấu xí và khắc khổ. Mặt bàn thờ chỉ là phiến đá trơ trụi—nàng biết khăn, sách và các bình thánh đều được khóa trong một chiếc rương.
Trong lòng nhà thờ có một băng ghế chạy dọc theo tường. Kristin đi xuống ngồi đó; nàng đặt đèn dưới sàn. Áo choàng của nàng ướt sũng, chân cũng ướt và lạnh. Nàng thử co một chân lên dưới người, nhưng ngồi như thế lại đau quá. Bèn quấn chặt áo choàng quanh mình, nàng cố gom tâm trí vào điều này: giờ đây lại là giờ thánh giữa đêm, giờ Đức Kitô để mình được sinh ra bởi Đức Trinh nữ Maria tại Bethlehem.
Verbum caro factum est et habitavit in nobis—.
Nàng nhớ giọng Sira Eirik trầm và trong trẻo. Và Audun, người phó tế già nay đã không còn. Và nhà thờ quê nhà, nơi nàng từng đứng bên mẹ nghe thánh lễ Giáng sinh. Năm nào nàng cũng được nghe thánh lễ ấy. Nàng cố nhớ thêm những lời thánh, nhưng chỉ có thể nghĩ đến nhà thờ của họ và tất cả những gương mặt thân quen. Ở hàng đầu phía đàn ông, cha nàng đứng nhìn bằng đôi mắt xa vắng vào biển ánh sáng chói lòa từ cung thánh.
Thật không sao hiểu nổi nhà thờ của họ đã không còn nữa. Nó đã cháy rụi. Ý nghĩ ấy khiến nàng bật khóc. Và đêm nay nàng ngồi đây một mình trong bóng tối, giữa lúc mọi người Kitô hữu đều tụ hội hân hoan mừng vui trong nhà Thiên Chúa. Có lẽ như thế cũng là phải, rằng đêm nay nàng bị gạt ra ngoài lễ mừng Con Thiên Chúa sinh bởi một trinh nữ trong trắng, tinh tuyền—.
—Hẳn cha mẹ nàng đang ở Sundbu trong lễ Giáng sinh này. Nhưng đêm nay nhà nguyện không có thánh lễ; nàng biết đêm Giáng sinh người nhà Sundbu bao giờ cũng cưỡi ngựa đến dự lễ tại nhà thờ chính ở Ladalm.
Đây là lần đầu tiên, kể từ thuở nàng còn có thể nhớ được, nàng không dự thánh lễ Giáng sinh. Hẳn nàng còn rất bé khi cha mẹ đưa nàng đi lần đầu. Bởi nàng nhớ mình được nhét vào một chiếc bao da lót lông bên trong, rồi cha bế nàng trong tay. Đó là một đêm rét khủng khiếp, và họ cưỡi ngựa xuyên qua rừng—những bó đuốc gỗ thông soi sáng các cây vân sam nặng trĩu tuyết. Dưới ánh lửa, mặt cha nàng đỏ tía, còn viền lông quanh mũ trùm trắng toát vì sương giá. Thỉnh thoảng ông cúi xuống cắn nhẹ chóp mũi nàng—hỏi nàng còn cảm thấy không, rồi cười lớn gọi về phía sau bảo mẹ rằng Kristin vẫn chưa bị rét làm rụng mất mũi. Hẳn khi ấy họ vẫn còn sống ở Skog—có lẽ nàng mới được ba mùa đông. Thuở ấy cha mẹ nàng còn rất trẻ. Giờ nàng nhớ giọng mẹ trong đêm đó—cao, vui tươi và đầy tiếng cười khi bà gọi lên hỏi chồng về đứa bé. Phải, giọng mẹ khi ấy thật trẻ trung và khỏe khoắn—.
—Bethlehem, trong tiếng nước ta có nghĩa là nơi của bánh. Bởi tại đó loài người được ban cho thứ bánh nuôi dưỡng chúng ta đến sự sống đời đời—.
Trong thánh lễ ban ngày, Sira Eirik bước lên bục đọc sách và giảng giải Phúc Âm bằng tiếng bản xứ.
Giữa các thánh lễ, mọi người ngồi trong nhà hội yến phía bắc nhà thờ. Họ mang theo đồ uống và chuyền tay nhau. Đàn ông ra chuồng xem ngựa. Nhưng trong những đêm canh thức mùa hè, giáo dân tụ họp trên bãi đất nhà thờ, và thanh niên nam nữ nhảy múa giữa các giờ lễ.
—Và chính Đức Trinh nữ Maria diễm phúc đã quấn con mình trong khăn. Người đặt con vào máng cỏ nơi bò và lừa vẫn thường ăn—
Kristin ép chặt hai bàn tay vào hai bên sườn.
Con trai bé nhỏ, đứa con ngọt ngào của mẹ, con của riêng mẹ. Thiên Chúa sẽ thương xót chúng ta vì Đức Mẹ đầy ơn phúc của Người. Lạy Đức Maria diễm phúc, ngôi sao biển sáng trong, ánh hồng vĩnh cửu của sự sống đã sinh ra mặt trời soi khắp thế gian—xin cứu giúp chúng con! Con bé bỏng, đêm nay con làm sao vậy, sao con cựa quậy không yên—. Có phải dưới trái tim mẹ, con cảm thấy mẹ đang rét buốt đến thế nào chăng—.
Ngày lễ Các Thánh Anh Hài Giáng sinh năm ngoái, Sira Eirik đã giảng về những trẻ thơ vô tội bị quân lính hung tàn giết ngay trên tay mẹ. Nhưng Thiên Chúa đã chọn những bé trai ấy bước vào đại sảnh thiên đường trước mọi vị tử đạo khác. Và đó là dấu chỉ rằng Nước Trời thuộc về những người như thế. Rồi Người đem một đứa trẻ đến đặt giữa họ. Nếu anh chị em không biến đổi nên giống như những trẻ này, anh chị em không thể bước vào đại sảnh Nước Trời, hỡi anh chị em thân mến. Vậy đây là niềm an ủi cho bất cứ người nào, nam hay nữ, đang đau buồn vì cái chết của một đứa con thơ—. Khi ấy Kristin đã thấy ánh mắt cha mẹ nàng gặp nhau ngang qua nhà thờ, và nàng vội quay mắt đi, bởi hiểu rằng điều ấy không dành cho nàng—.
Đó là năm ngoái. Lễ Giáng sinh đầu tiên sau cái chết của Ulvhild. Ôi—nhưng đừng là con của con! Giêsu, Maria. Xin cho con được giữ lại con trai mình—!
Năm ngoái cha nàng không muốn dự cuộc đua ngựa lễ Thánh Stefan—nhưng cuối cùng đám đàn ông nài nỉ mãi khiến ông chịu đi. Cuộc đua khởi hành từ gò nhà thờ quê nhà, chạy xuống chỗ hợp lưu bên Loptsgaard; ở đó họ gặp những người từ Ottadalen. Nàng nhớ cha phóng qua trên con ngựa xám ánh vàng—ông nhổm dậy đứng trên bàn đạp, cúi rạp xuống cổ ngựa, vừa reo hò vừa thúc con ngựa đực—cả đoàn đua ầm ầm lao theo sau.
Nhưng năm ngoái ông về nhà sớm và hoàn toàn tỉnh táo. Những năm khác, vào ngày ấy đàn ông thường về rất muộn và say túy lúy. Bởi họ phải ghé mọi gia trang, uống những chén rượu được bưng ra chúc tụng Đức Kitô và Thánh Stefan, người đầu tiên nhìn thấy ngôi sao phương đông khi cưỡi những con ngựa non của vua Herodes ra uống nước ở sông Jordan. Hôm ấy cả ngựa cũng được uống bia, để chúng trở nên thật hung hăng và phấn khích. Ngày lễ Thánh Stefan, nông dân phải vui chơi cùng ngựa cho tới giờ kinh chiều—không sao khiến đàn ông nghĩ đến hay nói đến chuyện gì khác ngoài ngựa—.
Nàng nhớ một lễ Giáng sinh, họ mở tiệc rượu chung thật lớn ở Jørundgaard. Và cha nàng đã hứa với một linh mục trong số khách dự rằng ông sẽ được con ngựa đực non màu hung, con của Guldsveinen, nếu có thể bắt được nó rồi nhảy lên lưng nó khi nó đang chạy không yên cương trong sân.
Chuyện ấy đã lâu lắm rồi—trước khi tai họa xảy đến với Ulvhild. Mẹ nàng đứng trước cửa nhà, bế cô em nhỏ trong tay, còn Kristin níu váy mẹ—hơi sợ hãi.
Vị linh mục chạy đuổi theo con ngựa, túm lấy dây cương, nhảy bật lên khiến vạt áo dài bay phần phật quanh người, rồi lại buông con vật đang chồm dựng, hăng tiết:
“Ngựa con, ngựa con—hô nào ngựa con, hô nào con trai!” ông cất tiếng hát. Ông nhảy nhót, múa may như một con dê đực. Cha nàng và một lão nông đứng ôm cổ nhau—nét mặt cả hai nhão ra vì cười và vì say.
Hoặc vị linh mục đã thắng được Rauden, hoặc Lavrans vẫn tặng con ngựa cho ông, bởi Kristin nhớ ông đã cưỡi nó rời Jørundgaard. Khi ấy tất cả bọn họ đều đã đủ tỉnh; Lavrans kính cẩn giữ bàn đạp cho ông, còn ông giơ ba ngón tay ban phép lành từ biệt họ. Hẳn đó là một vị linh mục khá được trọng vọng—.
Ôi chao. Lễ Giáng sinh ở quê nhà thường vui biết bao. Rồi đám dê Giáng sinh kéo đến. Cha nàng hất nàng lên lưng; áo ông đóng băng, tóc ướt sũng. Để đầu óc tỉnh táo trước giờ kinh chiều, đám đàn ông dội nước đá vào nhau bên giếng. Họ cười khi những người đàn bà la ó về chuyện ấy. Cha nàng cầm hai bàn tay nhỏ lạnh ngắt của nàng áp lên trán mình, khi ấy vẫn còn đỏ và nóng bỏng. Chuyện này xảy ra ngoài sân vào lúc chiều tối—một mảnh trăng non trắng trẻo treo trên sống núi, giữa khoảng không xanh màu nước. Khi bước vào nhà cùng nàng, ông vô ý va đầu nàng vào khung cửa, khiến trên trán nàng nổi một cục u lớn. Sau đó nàng ngồi trên lòng ông bên bàn. Ông áp lưỡi dao găm vào cục u, đút cho nàng những miếng ngon và để nàng uống rượu mật ong trong cốc của mình. Vì thế nàng không còn sợ đám dê Giáng sinh đang làm huyên náo trong nhà.
—Ôi cha, ôi cha—. Người cha hiền lành, thân yêu của con—!
Kristin nức nở dữ dội, vùi mặt vào hai bàn tay. Ôi, giá cha nàng biết đêm Giáng sinh này nàng đang sống ra sao!
Khi trở lại qua sân, nàng thấy những tia lửa bay lên từ mái nhà bếp. Các cô hầu đã sang đó nấu thức ăn cho những người đi lễ.
Đại sảnh lờ mờ tối. Nến trên bàn đã cháy hết và lửa trong bếp gần như tắt hẳn. Kristin bỏ thêm củi vào rồi cúi xuống thổi than hồng. Khi ấy nàng mới thấy Orm đang ngồi trên ghế của mình. Cậu đứng dậy ngay khi người mẹ kế nhận ra cậu.
“Con ơi—!” Kristin nói. “Con không đi dự lễ với cha và mọi người sao?”
Orm nuốt khan một hai lần:
“Chắc cha quên đánh thức con, con nghĩ vậy. Cha bảo con nằm xuống chiếc giường phía nam một lát. Cha nói sẽ đánh thức con—”
“Thế thì tệ quá, Orm,” Kristin nói.
Cậu bé không đáp. Một lúc sau cậu nói:
“Con tưởng dù sao mẹ cũng đã đi cùng họ—con tỉnh dậy, thấy mình hoàn toàn đơn độc trong đại sảnh—.”
“Mẹ sang nhà thờ một lát,” Kristin đáp.
“Mẹ dám ra ngoài vào đêm Giáng sinh sao?” cậu bé hỏi. “Mẹ không biết đoàn quân ma trên trời có thể kéo đến bắt mẹ đi ư—”
“Đêm nay chắc không phải chỉ có tà linh ở ngoài kia,” nàng đáp. “Đêm Giáng sinh hẳn mọi linh hồn—. Mẹ từng quen một tu sĩ nay đã mất—mẹ nghĩ giờ ông đang ở trước nhan Thiên Chúa, bởi ông chỉ toàn lòng nhân hậu. Ông từng kể cho mẹ—. Con đã bao giờ nghe chuyện những con vật trong chuồng nói chuyện với nhau vào đêm Giáng sinh chưa? Khi ấy chúng có thể nói tiếng Latinh. Gà trống cất tiếng gáy: ‘Christus natus est!’ Không, giờ mẹ không nhớ hết nữa. Những con vật khác hỏi ở đâu, con dê kêu be be: ‘Betlem, Betlem’—còn con cừu nói: ‘Eamus, eamus—’”
Orm cười khinh khỉnh:
“Mẹ tưởng con là trẻ con đến mức có thể lấy mấy câu vè ra dỗ dành sao? Mẹ nên bảo con ngồi vào lòng rồi cho con bú nữa—”
“Có lẽ mẹ kể chủ yếu để tự an ủi mình thôi, Orm,” Kristin khẽ nói. “Mẹ cũng rất muốn được dự thánh lễ—”
Giờ nàng không chịu nổi khi nhìn chiếc bàn bẩn thỉu ấy nữa. Nàng bước tới, quét hết thức ăn thừa vào máng rồi đặt xuống sàn cho con chó cái. Sau đó nàng tìm búi cỏ lác dưới ghế và lau mặt bàn.
“Con có muốn cùng mẹ sang kho phía tây lấy bánh mì và thức ăn ướp muối không, Orm? Rồi chúng ta sẽ dọn bàn cho buổi sáng ngày thánh,” Kristin hỏi.
“Sao mẹ không để đám nữ tỳ của mẹ làm việc này?” cậu bé nói.
“Ở nhà cha mẹ, mẹ đã được dạy thế này,” người thiếu phụ đáp, “rằng trong lễ Giáng sinh không ai được nhờ người khác làm việc gì, mà mỗi người phải cố làm được nhiều nhất. Ai phụng sự được người khác nhiều nhất trong những ngày thánh thì người ấy có phúc nhất.”
“Nhưng mẹ đang nhờ con đấy thôi,” Orm nói.
“Đó là chuyện khác—con là con trai của gia trang này.”
Orm cầm đèn, hai người cùng đi qua sân. Trong kho, Kristin chất đầy thức ăn lễ Giáng sinh vào hai chiếc máng. Nàng còn lấy thêm một bó nến mỡ lớn. Trong khi họ làm việc ấy, cậu bé nói:
“Điều mẹ vừa nói chắc chỉ là tục lệ của nông dân. Vì con từng nghe người ta bảo Lavrans Bjørgulfsøn chỉ là một lão nông dân mặc vải thô.”
“Con nghe ai nói thế?” Kristin hỏi.
“Mẹ con,” Orm nói. “Khi chúng con còn sống ở Husaby lần trước, con đã nghe mẹ nói với cha không biết bao nhiêu lần rằng giờ cha đã có thể thấy, đến một lão nông áo vải xám cũng chẳng chịu gả con gái cho cha.”
“Thời ấy ở Husaby hẳn vui vẻ lắm,” Kristin nói cộc lốc.
Cậu bé không đáp. Môi cậu run lên.
Kristin và Orm mang hai chiếc máng đầy thức ăn trở lại đại sảnh, rồi nàng bày bàn. Nhưng nàng vẫn phải sang kho lấy thức ăn thêm một chuyến nữa. Orm cầm lấy chiếc máng và nói, hơi rụt rè:
“Để con đi thay mẹ, Kristin, ngoài sân trơn lắm.”
Nàng đứng ngoài cửa nhà đợi cho tới khi cậu trở lại.
Sau đó họ ngồi xuống bên bếp lửa—nàng ngồi trên ghế có tay vịn, còn cậu bé ngồi trên chiếc ghế ba chân gần nàng. Một lúc sau, Orm Erlendssøn khẽ nói:
“Kể thêm chuyện gì đi, trong lúc chúng ta ngồi đây, mẹ kế ơi!”
“Kể chuyện ư?” Kristin cũng khẽ hỏi.
“Vâng—một câu vè hay chuyện gì đó—hợp với đêm Giáng sinh,” cậu bé ngượng ngùng nói.
Kristin ngả người ra sau ghế, hai bàn tay gầy nắm lấy những đầu thú chạm trên tay vịn:
“Vị tu sĩ tôi vừa nhắc đến ấy, ông cũng từng sang nước Anh. Và ông kể rằng có một miền nơi những bụi gai nở hoa trắng vào mỗi đêm Giáng sinh. Thánh Josef xứ Arimathæa đã đặt chân lên bờ ở miền ấy khi ngài chạy trốn dân ngoại, và tại đó ngài cắm cây trượng xuống đất, cây trượng bén rễ rồi trổ hoa — ngài là người đầu tiên mang đức tin Kitô giáo đến Bretland. Miền ấy gọi là Glastonborg — giờ tôi nhớ ra rồi. Chính thầy Edvin đã tận mắt thấy những bụi gai ấy —. Ở Glastonborg, vua Artur mà hẳn cô từng nghe truyền tụng, người là một trong bảy dũng sĩ cao quý nhất của cõi Kitô giáo, đã được chôn cùng hoàng hậu của mình —.”
“Người ta ở nước Anh nói rằng thập giá của Chúa Kitô được làm bằng gỗ trăn. Nhưng ở nhà, vào kỳ lễ Giáng sinh chúng tôi đốt gỗ tần bì, bởi chính bằng gỗ tần bì mà thánh Josef, cha nuôi của Chúa Kitô, đã nhóm lửa sưởi cho Đức Maria đồng trinh và Con Thiên Chúa mới sinh. Cha tôi cũng nghe thầy Edvin kể như vậy —”
“Nhưng ở miền bắc núi non này chẳng có mấy cây tần bì,” cậu bé nói. “Thuở xưa người ta đã dùng gần hết để làm cán giáo, cô biết đấy. Tôi chẳng biết trên đất Husaby còn cây tần bì nào khác ngoài cây đứng phía đông cổng gia trang, mà cha tôi không thể đốn cây ấy, vì ông chủ tốt bụng ngụ ở bên dưới —. Kristin này, ở thành Roma người ta có cây thánh giá; vậy hẳn họ có thể biết được lời nói nó làm bằng gỗ trăn có đúng hay không —”
“Phải,” Kristin nói, “tôi không biết điều ấy có thật hay không. Bởi hẳn cậu cũng biết người ta kể rằng thập giá được làm từ một nhánh của cây sự sống, mà Seth được phép vào vườn Địa đàng lấy về cho Adam trước khi ông qua đời —”
“Vâng,” Orm nói. “Nhưng cô kể chuyện ấy đi —”
Một lúc sau, Kristin bảo đứa trẻ:
“Giờ cậu nên nằm xuống một lát mà ngủ đi, người nhà ạ. Còn lâu lắm những người đi lễ mới trở về.”
Orm đứng dậy:
“Chúng ta vẫn chưa uống mừng nhau như người nhà, Kristin Lavransdatter.” Cậu đi đến lấy một chiếc sừng uống trên bàn, nâng chén mừng mẹ kế rồi trao bình rượu cho nàng.
Nàng cảm thấy như nước băng chảy dọc sống lưng. Nàng không thể không nhớ lại khoảnh khắc mẹ Orm từng muốn uống cùng nàng. Và thai nhi trong bụng nàng cựa dữ dội. Đêm nay nó làm sao thế, người mẹ nghĩ. Dường như đứa con trai chưa chào đời cảm nhận được mọi điều nàng cảm nhận, lạnh run khi nàng lạnh run, co rúm vì sợ hãi khi nàng kinh hãi. Nhưng vậy thì ta không được yếu đuối đến thế, Kristin nghĩ. Nàng cầm chiếc sừng và uống cùng con riêng của chồng.
Khi trao lại cho Orm, nàng dịu dàng vuốt mớ tóc đen rủ trên trán cậu. Không, ta quyết sẽ không làm một người mẹ kế hà khắc với con, nàng nghĩ. Đứa con trai xinh đẹp, xinh đẹp của Erlend —.
Nàng đã ngủ thiếp trong ghế khi Erlend trở về, ném đôi găng đông cứng lên bàn.
“Mọi người đã về rồi sao,” Kristin ngạc nhiên nói. “Em tưởng mọi người sẽ ở lại qua cả lễ ban ngày —”
“Ôi, hai thánh lễ cũng đủ cho ta hưởng ích lâu rồi,” Erlend nói. Kristin đỡ lấy chiếc áo choàng đóng băng của chàng. “Ừ, trời đã quang, giờ rét lại rồi —.”
“Chàng quên đánh thức Orm thì thật không phải,” người vợ nói.
“Nó có buồn vì chuyện ấy không?” người cha hỏi. “Ta cũng đâu có quên,” chàng nói khẽ. “Nhưng nó ngủ ngon quá, nên ta nghĩ —. Nàng biết đấy, trong nhà thờ người ta đã nhìn ta chòng chọc đủ rồi vì ta đến mà không có nàng —. Ta chẳng muốn lại còn bước lên phía trước với thằng bé ấy bên cạnh —”
Kristin không nói gì. Nhưng lòng nàng đau đớn. Nàng thấy Erlend hành xử như vậy chẳng đẹp đẽ chút nào.