Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby — Chương 3: Tập II — Nữ chủ Husaby · Phần I — Trái của tội lỗi · Chương III

Chương 3 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby

Giáng sinh năm ấy, ở Husaby họ không gặp gỡ mấy người. Erlend không chịu đi bất cứ nơi nào người ta mời chàng, mà chỉ quanh quẩn trong gia trang, lòng dạ cáu kỉnh.

Thật ra chàng để bụng chuyện này nhiều hơn vợ chàng có thể biết. Từ khi họ hàng chàng đến Jørundgaard xin được lời thuận gả cho chàng, chàng đã khoe về vị hôn thê của mình biết bao. Điều chàng ít muốn nhất là để ai đó tưởng chàng coi nàng hoặc họ hàng nàng thấp kém hơn người nhà mình. Không, tất cả phải biết chàng xem việc Lavrans Bjørgulfsøn gả con gái cho chàng là một vinh dự và là sự phục hồi thanh danh. Giờ người ta sẽ nói hẳn chàng chẳng coi cô gái ấy hơn một đứa con nhà nông là bao, nên mới dám xúc phạm cha nàng đến thế, ăn nằm với con gái ông trước khi nàng được trao cho chàng làm vợ. Trong lễ cưới, Erlend đã thiết tha nài cha mẹ vợ rằng đến mùa hè nhất định họ phải tới Husaby xem chàng sống ra sao. Chàng vừa muốn cho họ thấy chàng không đưa con gái họ vào một cảnh sống hèn mọn, vừa háo hức được cùng đôi nhạc phụ nhạc mẫu đẹp đẽ, đường bệ ấy đi đây đi đó cho mọi người trông thấy; chàng hiểu rằng Lavrans và Ragnfrid, dù đến nơi nào, cũng có thể đứng ngang hàng với những người cao sang nhất. Và từ lần ở Jørundgaard khi nhà thờ cháy, chàng đã tin rằng dẫu sao Lavrans cũng không ghét chàng đến thế. Giờ thì khó lòng mong cuộc tái ngộ giữa chàng và họ hàng bên vợ sẽ đem lại niềm vui cho bất cứ bên nào.

Kristin bực mình vì Erlend thường trút tâm trạng cáu kỉnh lên Orm. Cậu bé không có đứa trẻ đồng tuổi nào chơi cùng, nên thường cứ quấn lấy người lớn, làm người ta phát phiền; cậu cũng gây ra không ít chuyện nghịch ngợm. Một hôm cậu tự tiện lấy chiếc nỏ tay kiểu Pháp của cha, khiến một bộ phận trong lẫy nỏ bị hỏng. Erlend nổi giận dữ dội; chàng tát Orm một cái dưới tai và thề rằng từ nay ở Husaby thằng bé sẽ không được đụng đến cung nỏ nữa.

“Không phải lỗi của Orm,” Kristin nói mà không ngoảnh lại. Nàng ngồi quay lưng về phía hai cha con, tay vẫn khâu. “Cánh nỏ đã vênh sẵn khi nó cầm lấy, nó chỉ cố nắn lại thôi. Anh không thể vô lý đến mức cấm đứa con trai lớn của mình dùng một trong bao nhiêu cây cung có ở gia trang này. Thà anh cho nó một cây trên gác hiệp sĩ còn hơn.”

“Em thích thì tự cho nó cung lấy,” Erlend cáu kỉnh nói.

“Em sẵn lòng,” Kristin vẫn điềm nhiên đáp. “Lần tới Ulf đi ra phố chợ, em sẽ nói với ông ấy chuyện đó.”

“Đi lại đó mà cảm ơn người mẹ kế tốt bụng của mày đi, Orm,” Erlend nói, giọng giễu cợt và giận dữ.

Orm làm theo. Rồi cậu chuồn ra cửa nhanh hết sức. Erlend đứng lại một lát.

“Em làm thế chủ yếu để chọc tức anh, Kristin,” chàng nói.

“Phải, em biết em là đồ quỷ cái. Anh đã nói với em rồi,” người vợ đáp.

“Em yêu, em cũng nhớ chứ,” Erlend buồn bã nói, “lần ấy anh đâu có nói thật lòng.”

Kristin không đáp, cũng không ngẩng lên khỏi đường kim. Erlend bèn bỏ đi, còn nàng ngồi lại khóc. Nàng thương Orm và thấy Erlend thường đối xử vô lý với con trai mình. Nhưng còn bởi sự ít lời và vẻ mặt buồn bực của chồng giờ đây giày vò nàng đến nỗi nàng nằm khóc mất nửa đêm. Rồi suốt ngày hôm sau nàng lại đau đầu. Hai bàn tay nàng đã gầy đến mức phải đeo thêm bên ngoài chiếc nhẫn đính hôn và nhẫn cưới mấy chiếc nhẫn bạc nhỏ có từ thuở bé, để chúng khỏi tuột ra trong lúc nàng ngủ.

Chiều Chủ nhật trước khi bước vào mùa Chay, ngài Baard Peterssøn bất ngờ đến Husaby cùng người con gái góa chồng, và ngài Munan Baardssøn cùng phu nhân. Erlend và Kristin ra sân đón khách.

Vừa trông thấy Kristin, việc đầu tiên ngài Munan làm là túm lấy vai Erlend:

“Ta thấy cậu quả biết cách chăm nom vợ mình đấy, người anh em, khiến cô ấy sống trong nhà cậu mà tốt tươi thế kia. Giờ cô không còn gầy gò tiều tụy như trong lễ cưới nữa, Kristin — sắc mặt cũng tươi hơn nhiều,” ông cười, bởi Kristin đã đỏ bừng như quả tầm xuân.

Erlend không đáp. Vẻ mặt ngài Baard tối sầm, nhưng hai vị phu nhân làm như không nghe, không thấy gì; họ lặng lẽ và nhã nhặn chào chủ nhà.

Trong khi chờ thức ăn, Kristin sai đem bia và rượu mật ong ra bên bếp lửa. Munan Baardssøn nói không ngừng miệng. Ông mang thư của nữ công tước gửi cho Erlend — bà hỏi chàng và cô dâu của chàng biến đâu mất rồi. Có phải cô gái chàng cưới bây giờ chính là cô gái trước kia chàng định đem trốn sang Thụy Điển không. Đi giữa mùa đông thế này quả là chuyến đi khốn kiếp — ngược qua các thung lũng, rồi xuống thuyền tới Nidaros. Nhưng ông đi làm việc của nhà vua, nên có càu nhàu cũng vô ích. Ông đã ghé thăm mẹ ở Haugen và mang lời thăm hỏi của bà tới.

“Ngài có đến Jørundgaard không?” Kristin khẽ hỏi.

Không, vì ông nghe tin mọi người đã đi dự tiệc tang ở Blakarsarv. Đó là một tai họa khủng khiếp. Bà chủ Tora, chị em họ của Ragnfrid — bà đã ngã từ hành lang nhà kho xuống, gãy lưng, mà chính chồng bà đã vô tình xô bà ngã — đó là những nhà kho kiểu cũ, không có hành lang thực sự, chỉ đặt vài tấm ván trên những đầu xà nhô ra ở tầng hai. Từ khi tai nạn xảy ra, hình như người ta phải trói Rolv lại và canh ông cả ngày lẫn đêm — ông muốn tự kết liễu đời mình.

Mọi người ngồi im, lạnh cả người. Kristin không biết rõ những người họ hàng ấy, nhưng họ từng dự lễ cưới của nàng. Nàng bỗng thấy người lạ đi và yếu lả — trước mắt tối sầm. Munan ngồi đối diện nàng, ông bật dậy. Khi đứng bên nàng, vòng tay đỡ lấy vai nàng, trông ông hiền hậu — Kristin hiểu có lẽ chẳng lạ gì khi Erlend yêu quý người anh em họ này.

“Ta biết Rolv khi chúng ta còn trẻ,” ông nói. “Người ta vẫn thương hại Tora Guttormsdatter — họ bảo ông ấy hung hăng và cứng lòng. Giờ mới thấy ông ấy yêu bà biết bao. Chao ôi, nhiều người đàn ông vẫn khoác lác, làm như chỉ mong thoát khỏi cuộc hôn nhân của mình, nhưng phần đông hẳn đều biết mất vợ là mất mát ghê gớm nhất trên đời—”

Baard Peterssøn đột ngột đứng dậy, đi tới chiếc ghế dài sát tường.

“Xin Chúa nguyền rủa cái miệng tôi,” ngài Munan nói khẽ. “Sao tôi chẳng bao giờ nhớ giữ mồm giữ miệng được thế này—”

Kristin không hiểu có chuyện gì. Cơn choáng đã qua, nhưng bầu không khí thật ghê sợ — ai nấy đều lạ lùng đến thế. Nàng mừng khi gia nhân bưng thức ăn vào.

Munan nhìn bàn ăn và xoa hai tay:

“Ta đã nghĩ ghé qua chỗ cô trước khi phải nhai thức ăn mùa Chay thì chẳng thiệt gì, Kristin. Chỉ trong chốc lát mà cô đã dọn ra được ngần ấy món ngon. Người ta suýt tưởng cô đã học được phép phù thủy của mẹ ta. Nhưng ta thấy cô quả mau mắn trong việc sửa soạn mọi thứ mà một bà chủ phải dùng để làm vui lòng chồng mình.”

Mọi người ngồi vào bàn. Chỗ dành cho khách trên bệ ghế trong, ở hai bên ghế danh dự, đã được trải nệm nhung. Gia nhân ngồi trên ghế ngoài, Ulf Haldorssøn ở chính giữa, đối diện thẳng với chủ nhà.

Kristin khe khẽ chuyện trò với hai vị phu nhân khách và cố hết sức che giấu nỗi khổ sở của mình. Chốc chốc Munan Baardssøn lại buông một câu mà ông cho là dí dỏm, câu nào cũng xoay quanh chuyện bụng Kristin đã lùm lùm đến thế. Nàng làm như không nghe thấy.

Munan là một người béo phì khác thường. Đôi tai nhỏ, đẹp đẽ của ông gần như lún hẳn vào lớp thịt cổ đỏ au, dày nục, còn cái bụng thì vướng víu mỗi khi ông ngồi vào bàn.

“Phải, ta vẫn thường thắc mắc về sự phục sinh của thân xác,” ông nói. “Không biết đến Ngày ấy, ta có phải sống dậy cùng với tất cả số mỡ đã đắp lên người này không. Cô thì chẳng bao lâu nữa sẽ lại thon eo thôi, Kristin — còn ta thì khó hơn. Có lẽ cô không tin, nhưng khi hai mươi tuổi, đai lưng ta cũng thắt chặt như Erlend kia—”

“Thôi đi, Munan,” Erlend khẽ van. “Anh làm Kristin khổ sở—”

“Cậu đã nói thì ta thôi,” người kia tiếp lời. “Giờ cậu hẳn hãnh diện lắm — ngồi đầu bàn của chính mình, bên cạnh có người vợ danh chính ngôn thuận trên ghế danh dự. Chúa Tối Cao biết, thế này cũng chẳng sớm sủa gì — cậu đủ già rồi đấy, anh bạn! Cậu bảo thì tất nhiên ta sẽ ngậm miệng. Xưa kia, khi chính cậu ngồi đầu bàn của ta, có ai từng bảo cậu lúc nào nên nói, lúc nào nên im đâu — cậu làm khách nhà ta lâu ngày thỏa thích, mà ta không tin có lúc nào cậu thấy mình không được hoan nghênh—

Nhưng ta không biết Kristin có thật sự khó chịu đến thế khi ta đùa với cô ấy đôi câu không — cô nói gì đi, cô em họ xinh đẹp của ta — trước kia cô đâu có nhút nhát thế này. Ta biết Erlend từ khi nó chỉ cao bằng chừng này, và ta dám nói rằng suốt đời ta vẫn luôn mong điều tốt lành cho nó. Erlend, cậu nhanh nhẹn và gan góc khi cầm gươm, dù trên lưng ngựa hay trong lòng thuyền. Nhưng ta xin Thánh Olav dùng rìu bổ ta làm đôi vào cái ngày ta thấy cậu đứng thẳng trên đôi chân dài ngoẵng ấy, nhìn thẳng vào mắt một người đàn ông hay đàn bà và nhận lấy trách nhiệm về chuyện cậu đã gây ra vì thói khinh suất. Không đâu, người anh em thân mến, lúc ấy cậu chỉ cúi gằm đầu như chim mắc bẫy, chờ Chúa và họ hàng tới cứu mình khỏi cảnh khốn cùng. Cô là người đàn bà sáng trí, Kristin, hẳn cô biết rõ điều đó — ta nghĩ lúc này cô cần được cười đôi chút; mùa đông vừa rồi chắc cô đã nhìn đủ những vẻ mặt hổ thẹn, buồn phiền và ăn năn rồi—”

Kristin ngồi đó, mặt đỏ sẫm. Hai bàn tay nàng run lên, nàng không dám liếc sang Erlend. Cơn giận sôi sục trong lòng — hai vị phu nhân khách, Orm và cả đám gia nhân đều ngồi đây. Vậy ra đây là sự nhã nhặn của đám họ hàng giàu có nhà Erlend—.

Bấy giờ ngài Baard nói nhỏ đến mức chỉ những người ngồi gần nhất mới nghe thấy:

“Ta không hiểu chuyện Erlend thu xếp hôn sự của mình ra nông nỗi này thì có gì đáng đem ra đùa cợt — chính ta đã đứng ra bảo chứng cho cậu trước mặt Lavrans Bjørgulfsøn, Erlend—”

“Phải, cha nuôi làm thế quả là ngu xuẩn chết đi được,” Erlend nói lớn và dữ dội. “Con không thể hiểu sao cha lại dại dột đến thế. Vì cha — chính cha cũng biết rõ con mà—”

Nhưng lúc này Munan đã hoàn toàn không sao kiềm chế nổi:

“Được, giờ ta sẽ nói vì sao ta thấy chuyện này buồn cười. Baard, ông còn nhớ ông đã trả lời ta thế nào khi ta đến bảo rằng chúng ta phải giúp Erlend cưới được cô gái ấy không — không, giờ ta nhất định phải nói, Erlend phải biết ông đã nghĩ gì về ta — ta đã bảo, giữa hai đứa sự tình là thế này thế kia, và nếu nó không lấy được Kristin Lavransdatter thì có Chúa và Đức Trinh Nữ Maria mới biết chúng ta sẽ còn phải nghe tin về chuyện điên rồ nào nữa. Khi ấy ông hỏi có phải ta nhất quyết muốn nó cưới cô gái tóc quăn ấy vì ta ngờ cô ta thuộc dòng dõi thấp hèn, bởi đã để mình tự do lâu đến thế hay không. Nhưng ta nghĩ mọi người ở đây đều biết ta, đều biết đối với họ hàng ta là một người bà con trọn lòng trung nghĩa—” vì xúc động, giọng ông vỡ ra thành tiếng khóc.

“Xin Chúa và hết thảy các thánh làm chứng cho ta — ta chưa bao giờ thèm muốn tài sản của cậu, người anh em — mà giữa ta với Husaby còn có Gunnulf nữa. Nhưng ta đã trả lời ông, Baard, ông biết mà — đứa con trai đầu tiên Kristin sinh ra, ta sẽ tặng nó con dao găm thếp vàng của ta, cùng chiếc vỏ bằng xương cá voi — cô cầm lấy đây—” ông vừa khóc vừa hét, quăng món vũ khí lộng lẫy dọc theo mặt bàn về phía nàng. “Lần này không phải con trai thì sang năm rồi sẽ có—”

Những giọt nước mắt vì nhục nhã và giận dữ chảy xuống đôi má nóng bừng của Kristin. Nàng gắng sức dữ dội để khỏi suy sụp. Nhưng hai vị phu nhân khách vẫn bình thản ăn uống như thể đã quen với những cảnh náo loạn thế này. Còn Erlend thì thầm bảo nàng nhận con dao: “Nếu không, Munan sẽ làm ầm chuyện này suốt cả tối—”

“Phải, ta cũng không giấu,” Munan nói tiếp, “ta muốn cha cô được thấy, Kristin, rằng ông ấy đã quá vội vàng khi đứng ra bảo chứng cho lòng dạ cô. Lavrans kiêu ngạo làm sao — chúng ta không đủ tốt đối với ông ấy, còn cô thì quá thanh cao, quá tinh khiết, không thể chịu nổi một người đàn ông như Erlend trên giường mình. Ông ấy nói như thể tin rằng ban đêm cô không chịu nổi bất cứ việc gì ngoài hát trong ca đoàn nữ tu. Ta đã nói với ông ấy: Lavrans thân mến, con gái ngài là một cô gái trẻ đẹp đẽ, khỏe mạnh, đầy sức sống, mà đêm đông ở xứ này thì dài và lạnh—”

Kristin kéo khăn trùm đầu che mặt, bật khóc thành tiếng và định đứng dậy, nhưng Erlend kéo nàng ngồi xuống:

“Em phải tự chủ chứ,” chàng cáu kỉnh nói. “Đừng để ý đến Munan — em thừa thấy ông ấy say mềm rồi—”

Nàng cảm thấy phu nhân Katrin và phu nhân Vilborg khinh nàng yếu đuối, không làm chủ nổi bản thân. Nhưng nàng không sao ngừng khóc được.

Baard Peterssøn giận dữ nói:

“Câm cái mồm thối tha của ông lại. Cả đời ông vẫn là đồ lợn — nhưng ít ra ông cũng có thể để yên cho một người đàn bà đang đau yếu, đừng phun những lời bẩn thỉu ấy vào cô ta—”

“Ông bảo đồ lợn à — phải, ta có nhiều con ngoại hôn hơn ông, chuyện ấy đúng. Nhưng có một việc ta chưa bao giờ làm — Erlend cũng thế — là mua chuộc một người đàn ông khác để hắn mang tiếng làm cha con mình thay cho ta—”

“Munan!” Erlend thét lên và bật dậy. “Giờ ta tuyên bố đình chiến trong đại sảnh của ta—!”

“Ôi, tuyên bố đình chiến vào mông cậu ấy! Con ta gọi chính người đã sinh ra chúng là cha — trong lối sống của loài lợn, như ông nói đấy!” Munan đập bàn khiến cốc chén và đĩa nhỏ nảy tung. “Con trai chúng ta không phải làm đầy tớ trong nhà họ hàng mình. Còn con trai cậu ngồi cùng bàn với cậu ở đây, mà lại ngồi trên ghế của gia nhân. Với ta, đó mới là nỗi nhục nhã tồi tệ nhất—”

Baard bật dậy, nện một chiếc cốc vào mặt người kia. Hai người đàn ông lao vào nhau, khiến mặt bàn lật nghiêng quá nửa, thức ăn và bát đĩa đổ tràn vào lòng những người ngồi trên ghế ngoài.

Kristin ngồi trắng bệch, miệng hé mở. Có lúc nàng nhìn sang Ulf — người đàn ông ấy cười công khai, thô bạo và hiểm độc. Rồi ông đẩy mặt bàn trở lại, ép nó vào hai người đang đánh nhau.

Erlend nhảy lên bàn. Quỳ giữa đống hỗn độn, chàng túm được hai cánh tay Munan và luồn tay dưới vai ông, nhấc ông lên phía mình — chính mặt chàng cũng đỏ bừng vì gắng sức. Munan kịp đá ông già một cú khiến miệng Baard chảy máu — bấy giờ Erlend quăng ông ta ngang qua bàn, rơi xuống sàn phòng. Chàng cũng nhảy theo xuống — đứng đó thở phì phò như ống bễ.

Người kia đứng bật dậy, xông vào Erlend; chàng hai lần lách người dưới cánh tay ông ta. Rồi chàng áp sát Munan, ghì ông trong vòng siết của đôi tay chân dài và rắn chắc. Erlend mềm dẻo như mèo, nhưng Munan vẫn trụ vững — khỏe và nặng, ông không để chàng vật mình xuống sàn. Họ quay cuồng hết vòng này đến vòng khác quanh gian phòng, trong khi các nữ tỳ rú lên, kêu thét, còn không người đàn ông nào tỏ ý muốn can họ ra.

Bấy giờ phu nhân Katrin đứng dậy; nặng nề, béo tốt và chậm chạp, bà bước qua bàn, bình thản như đang đi trên cầu thang nhà kho.

“Thôi, dừng lại đi,” bà nói bằng giọng chậm nặng, no nê. “Thả ông ấy ra, Erlend! Ông nhà làm thế thật không phải—ăn nói như vậy với một ông già, lại là bà con gần—”

Hai người đàn ông nghe lời bà. Munan đứng im, ngoan ngoãn để vợ dùng khăn trùm đầu lau máu mũi cho mình. Bà bảo ông đi ngủ, và ông thuận theo khi bà dìu đến chiếc giường phía nam. Vợ ông cùng một gia nhân của ông lột quần áo, đẩy ông vào trong rồi đóng cửa giường lại.

Erlend đã đi tới bên bàn. Chàng cúi qua Ulf, người vẫn ngồi nguyên như trước.

“Cha nuôi!” chàng đau đớn gọi. Dường như chàng đã quên hẳn vợ mình. Ngài Baard ngồi lắc lư đầu, nước mắt chảy ròng ròng trên má.

“Con cũng đâu cần phải đi ở, Ulf,” ông nói, tiếng khóc dồn lên, nấc nghẹn trong ngực. “Con có thể nhận điền trang sau Haldor; con biết ta đã định như thế mà—”

“Điền trang ông cho Haldor đâu có sang trọng gì—ông mua được một người chồng quá rẻ cho con hầu của vợ mình,” Ulf nói. “Ông ấy khai khẩn và gây dựng nơi ấy nên cơ nghiệp—tôi thấy các em tôi kế nghiệp cha chúng là chuyện phải lẽ. Đó là một lẽ—vả lại tôi cũng chẳng ham ngồi làm nông dân—nhất là ở trên sườn đồi ấy, ngày ngày nhìn xuống sân Hestnes—tôi tưởng như hôm nào cũng nghe Paal và Vilborg ở dưới đó buông lời nguyền rủa, vì ông đã ban cho thằng con hoang của mình một món quà quá lớn—”

“Ta đã ngỏ ý giúp con, Ulf,” Baard vừa khóc vừa nói. “Khi con muốn ra đi với Erlend. Ta đã kể cho con mọi chuyện về việc này ngay khi con vừa đủ lớn để hiểu. Ta đã bảo con tìm đến cha mình—”

“Tôi gọi người đã che chở tôi thuở nhỏ là cha. Người ấy là Haldor. Ông ấy đối xử tử tế với mẹ và với tôi. Ông ấy dạy tôi cưỡi ngựa và vung kiếm—dẫu theo lối bọn nông dân vung chùy, tôi nhớ có lần Paal đã nói thế—”

Ulf ném phăng con dao đang cầm, khiến nó kêu lanh canh trượt đi trên mặt bàn. Rồi ông đứng dậy, nhặt nó lên, lau vào mặt sau đùi mình, tra vào vỏ và quay sang Erlend:

“Hãy cho tiệc tàn đi và sai mọi người về ngủ! Anh không thấy vợ mình vẫn chưa quen với lề thói yến tiệc của dòng họ chúng ta sao—”

Nói đoạn, ông rời khỏi phòng.

Ngài Baard nhìn theo ông—trông ông già nua, yếu đuối đến thảm hại khi ngồi co quắp giữa những chiếc gối nhung. Con gái ông, Vilborg và một gia nhân đỡ ông đứng lên rồi dìu ra ngoài.

Kristin ngồi một mình trên ghế danh dự, khóc mãi không thôi. Khi Erlend đưa tay về phía nàng, nàng hất mạnh tay chàng ra. Nàng chao đảo đôi lần lúc bước qua sàn, nhưng chỉ đáp cụt lủn rằng không khi chồng hỏi nàng có đau ốm gì không.

Nàng không thích những chiếc giường đóng kín này. Ở nhà, họ chỉ treo rèm che phía quay ra gian phòng, nên bên trong không nóng và ngột ngạt đến thế. Mà lúc này còn khó chịu hơn mọi khi—vốn nàng đã khó lòng thở nổi. Nàng tưởng khối cứng đang ép sát dưới vòm sườn là đầu đứa bé—nàng hình dung cái đầu nhỏ tóc đen của nó đang khoan sâu vào giữa những chân rễ của tim nàng—nó làm nàng nghẹt thở như Erlend từng làm ngày trước, khi chàng vùi mái đầu tóc sẫm vào ngực nàng. Nhưng đêm nay ý nghĩ ấy không còn chút ngọt ngào nào—

“Em định khóc mãi không thôi sao?” chồng nàng hỏi và định luồn một cánh tay xuống dưới vai nàng.

Chàng hoàn toàn tỉnh rượu. Chàng chịu được rất nhiều rượu, mà thường cũng uống khá ít. Kristin nghĩ, chuyện này đời đời cũng không thể xảy ra ở nhà nàng—chưa bao giờ nàng nghe người ta buông lời nhục mạ nhau hay moi lại những chuyện đáng lẽ nên im đi. Bao lần nàng đã thấy cha mình loạng choạng trong cơn say dữ dội, căn phòng đầy những khách khứa say khướt, vậy mà chưa từng _xảy ra_ chuyện ông không giữ nổi phép tắc trong nhà—hòa khí và thiện ý vẫn ngự trị cho đến khi người ta lăn khỏi ghế dài, thiếp đi trong vui vẻ và thuận hòa.

“Em yêu, đừng quá đau lòng vì chuyện này,” Erlend van nài.

“Còn ngài Baard nữa!” nàng bật ra giữa tiếng khóc. “Thật đáng phỉ nhổ cho một cung cách—ông ta đã nói với cha em như thể mang điều răn của Chúa đến truyền—vâng, Munan đã kể em nghe trong tiệc đính hôn của chúng ta—”

Erlend khẽ đáp:

“Anh biết rõ, Kristin, rằng trước mặt cha em anh có lý do để cúi mắt hổ thẹn. Ông là một người đáng trọng—nhưng cha nuôi anh cũng chẳng kém gì. Inga, mẹ của Paal và Vilborg, đã nằm liệt và đau ốm suốt sáu năm trước khi qua đời. Đó là trước khi anh đến Hestnes, nhưng anh đã nghe kể—chưa từng có người chồng nào chăm sóc người vợ đau yếu tận tụy và trìu mến hơn. Nhưng chính trong quãng thời gian ấy Ulf đã có mặt trên đời—”

“Thế thì càng đáng hổ thẹn hơn—lại với con hầu của người vợ đang đau ốm—”

“Em thường trẻ con đến nỗi không ai nói chuyện nổi với em,” Erlend chán nản nói. “Lạy Chúa cứu con, Kristin, mùa xuân này em sẽ tròn hai mươi tuổi—và đã mấy mùa đông rồi người ta phải tính em là một người đàn bà trưởng thành—”

“Phải, quả đúng là _anh_ có quyền giễu em vì chuyện đó—”

Erlend rên lên thành tiếng:

“Chính em cũng biết anh không có ý ấy—Nhưng em cứ ở Jørundgaard, nghe ông Lavrans nói mãi—dẫu ông ấy đáng trọng và nam nhi đến đâu, nhiều lúc ông ấy vẫn nói như thể mình là một tu sĩ chứ không phải một người đàn ông đã trưởng thành—”

“Anh từng nghe nói có tu sĩ nào sinh được sáu người con chưa?” nàng hỏi, lòng bị xúc phạm.

“Anh nghe nói Skurda-Grim có bảy đứa,” Erlend tuyệt vọng đáp. “Vị viện phụ trước đây ở Holm ấy—Không, Kristin, Kristin, đừng khóc như thế nữa. Nhân danh Chúa, anh nghĩ em mất trí rồi—”

Sáng hôm sau Munan hiền hẳn. “Ta không ngờ cháu lại để bụng mấy lời lúc rượu của ta đến thế, Kristin trẻ tuổi ạ,” ông nghiêm trang nói và vuốt má nàng. “Bằng không ta đã biết giữ miệng hơn.”

Ông nói với Erlend rằng hẳn Kristin sẽ thấy khó xử vì cậu bé vẫn quanh quẩn ở đây—tốt nhất nên cho Orm đi khỏi trong ít lâu tới; Munan ngỏ ý đón cậu về chỗ mình một thời gian. Erlend thấy như vậy là phải, và Orm cũng vui lòng đi với Munan. Nhưng Kristin nhớ đứa trẻ vô cùng—nàng đã đem lòng yêu thương người con riêng của chồng.

Giờ đây, vào các buổi tối, nàng lại ngồi một mình với Erlend, mà chàng chẳng phải người bầu bạn được bao nhiêu. Chàng ngồi bên bếp lửa, thỉnh thoảng nói một câu, nhấp một ngụm trong bát bia rồi chơi một lát với lũ chó. Sau đó chàng đi tới duỗi mình trên ghế dài—rồi vào giường—đôi lần hỏi nàng chẳng sắp đi nghỉ hay sao—và thế là chàng ngủ.

Kristin ngồi khâu vá. Hơi thở nàng nghe rõ, ngắn và nặng nhọc. Nhưng giờ cũng chẳng còn bao lâu nữa. Nàng gần như không nhớ nổi cảm giác được nhẹ nhõm và thon gọn nơi eo—có thể buộc giày mà không phải nhọc nhằn, đau đớn.

Giờ đây, khi Erlend đã ngủ, nàng cũng không cố cầm nước mắt nữa. Trong phòng không một tiếng động ngoài tiếng những thanh củi cháy sụp xuống trong bếp và lũ chó trở mình. Đôi khi nàng tự hỏi—ngày trước Erlend và nàng đã nói với nhau những gì. Hẳn họ chẳng nói bao nhiêu—trong những giờ gặp gỡ ngắn ngủi và vụng trộm ấy, họ còn có việc khác để làm—

—Vào mùa này trong năm, mẹ nàng và những người hầu gái thường ngồi trong phòng dệt vào các buổi tối. Rồi cha nàng và đám đàn ông cũng vào đó, ngồi xuống làm công việc của mình—họ vá đồ da và nông cụ, đẽo gọt gỗ. Căn phòng nhỏ chật kín người—tiếng chuyện trò rì rầm, nhỏ nhẹ giữa họ. Khi một người vừa đi uống bia trong thùng trở lại, bao giờ trước khi treo chiếc gáo lên, người ấy cũng hỏi có ai khác muốn uống không—đó là lệ không bao giờ đổi.

Rồi có người kể một thiên sử truyện—về những tráng sĩ thuở xa xưa từng giao chiến với ma gò và những mụ khổng lồ. Hoặc cha nàng vừa chạm gỗ vừa kể những truyện hiệp sĩ mà thời trẻ, khi làm thị đồng, ông từng nghe đọc trong đại sảnh của Công tước Haakon. Những cái tên đẹp lạ lùng—vua Osantrix, hiệp sĩ Titurel—các hoàng hậu mang tên Sisibe, Guniver, Gloriana và Isodd—Nhưng những tối khác, họ kể chuyện bịa và chuyện khôi hài, khiến đám đàn ông cười rống lên, còn mẹ nàng cùng các người hầu gái vừa lắc đầu vừa khúc khích.

Ulvhild và Astrid hát. Mẹ nàng có giọng đẹp nhất, nhưng họ phải nài nỉ rất lâu mới khiến bà chịu cất tiếng ca. Cha nàng thì không làm cao đến thế—và ông có thể gảy đàn hạc hay tuyệt—

Rồi Ulvhild đặt guồng sợi và con suốt xuống, đưa tay ôm lấy thắt lưng phía sau.

“Lưng con mỏi rồi phải không, Ulvhild bé nhỏ?” cha nàng hỏi và bế em lên lòng. Có người mang bàn cờ tới, cha nàng cùng Ulvhild chơi cờ cho đến giờ đi ngủ. Nàng nhớ những lọn tóc vàng của em gái nhỏ xõa tràn trên cánh tay áo dạ nâu xanh của cha. Ông ôm tấm lưng nhỏ yếu ớt ấy thật dịu dàng.

Đôi bàn tay lớn, thon dài của cha, mỗi ngón út đều đeo một chiếc nhẫn vàng nặng. Chúng từng thuộc về mẹ ông. Chiếc gắn viên đá đỏ là nhẫn cưới của bà; ông đã nói Kristin sẽ được nhận nó sau khi ông qua đời. Còn chiếc ông đeo trên tay phải, gắn viên đá nửa xanh nửa trắng như huy hiệu trên khiên của ông, là chiếc ngài Bjørgulf đã sai làm cho phu nhân mình khi bà mang thai—bà sẽ được nhận nó khi sinh cho ông một con trai. Kristin Sigurdsdatter đã đeo chiếc nhẫn ba đêm, rồi buộc nó quanh cổ đứa con trai, và Lavrans nói ông muốn mang nó theo mình xuống mồ.

Ôi, cha nàng sẽ nói gì khi nghe được chuyện ấy về nàng. Khi tin truyền khắp các làng quê nhà, và ông buộc phải biết rằng bất cứ nơi nào mình đến, tới nhà thờ, dự pháp đình hay hội họp, mọi người đàn ông đều cười sau lưng vì ông đã để mình bị lừa đến thế. Ở Jørundgaard, họ đã khoác y phục cho một người đàn bà làm lẽ, đội vương miện Sundbu lên mái tóc buông xõa của thị—

“Người ta hẳn nói về ta rằng ta không biết dạy con.” Nàng nhớ gương mặt cha khi ông nói câu ấy—ông định tỏ ra nghiêm khắc, nhưng đôi mắt lại ánh vẻ vui cười. Nàng đã phạm một lỗi nhỏ nào đó—nói chen với ông khi chưa được hỏi, lúc trong nhà có khách lạ, hay một chuyện tương tự. “Này Kristin, con chẳng sợ cha được bao nhiêu nhỉ!” Rồi ông bật cười, nàng cũng cười theo. “Nhưng như thế thật là không hay, Kristin.” Và cả hai đều không biết điều gì mới thật là không hay—việc nàng không có nỗi kính sợ đúng mực đối với cha, hay việc ông không sao giữ nổi vẻ nghiêm nghị mỗi khi phải quở trách nàng.

—Dường như nỗi kinh hãi không chịu nổi rằng đứa bé có thể mắc điều gì đó đã lắng xuống và lùi xa dần, khi thân thể Kristin ngày càng thêm nhọc nhằn, đau đớn. Nàng cố nghĩ tới một tháng sau; khi ấy nàng đã có thằng bé bên mình được một thời gian rồi. Nhưng điều đó không trở nên thật được với nàng. Nàng chỉ nhớ nhà, nhớ mãi không thôi.

Một lần Erlend hỏi nàng có muốn chàng sai người đi đón mẹ nàng không. Nhưng nàng đã nói không—nàng nghĩ mẹ không chịu nổi một chuyến đi xa đến thế vào mùa đông. Giờ nàng hối hận. Nàng cũng hối hận vì đã từ chối Tordis ở Laugarbru, người nhất định muốn theo nàng lên miền bắc và hầu hạ trong mùa đông đầu tiên nàng làm nữ chủ. Nhưng nàng xấu hổ trước Tordis. Tordis từng là người hầu gái của Ragnfrid ở Sundbu, đã theo bà tới Skog rồi trở về thung lũng. Khi Tordis lấy chồng, Lavrans đã đặt chồng bà làm quản gia ở Jørundgaard, bởi Ragnfrid không chịu nổi cảnh thiếu người hầu thân yêu của mình. Kristin đã không muốn đưa theo bất cứ người hầu gái nào từ nhà.

Giờ đây nàng thấy thật kinh khủng khi không có lấy một gương mặt quen thuộc ở bên mình lúc đến giờ phải xuống sàn sinh nở. Nàng sợ—nàng biết quá ít về cuộc nằm cữ của sản phụ. Mẹ chưa từng nói với nàng về chuyện ấy, cũng chưa bao giờ muốn những cô gái trẻ có mặt khi bà giúp một người đàn bà trong cơn sinh khó—làm thế chỉ khiến bọn trẻ sợ hãi, bà nói. Hẳn chuyện ấy có thể khủng khiếp lắm—Kristin nhớ lần mẹ sinh Ulvhild. Nhưng Ragnfrid nói đó là vì bà lỡ quên mình mà chui dưới một hàng rào—những đứa con khác bà đều sinh dễ dàng. Nhưng Kristin nhớ chính mình đã vô ý đi qua dưới một sợi dây trên con tàu—

Điềm ấy đâu phải bao giờ cũng ứng—nàng từng nghe mẹ và những người đàn bà khác nói về những chuyện như vậy. Ở quê nhà, Ragnfrid nổi tiếng là bà đỡ giỏi nhất, và bà chưa bao giờ từ chối lên đường giúp đỡ, dẫu người cần bà là một nữ hành khất hay cô con gái bị dụ dỗ của người đàn ông nghèo nhất, dẫu thời tiết khắc nghiệt đến nỗi phải có ba người đàn ông theo bà bằng ván trượt tuyết và thay nhau cõng bà trên lưng.

—Nhưng thật không sao tưởng tượng nổi một người đàn bà từng trải như mẹ nàng lại không hiểu điều gì đã khiến nàng khốn khổ đến thế vào mùa hè. Ý nghĩ ấy vụt giáng xuống tâm trí Kristin. Nhưng vậy—nhưng vậy thì hẳn chắc chắn mẹ sẽ đến, dù họ không sai người báo tin cho bà! Ragnfrid nhất định không chịu để một người đàn bà xa lạ nâng đỡ con gái mình trong cuộc vật lộn ấy—Mẹ sẽ đến—chắc giờ bà đã trên đường lên đây—Ôi, rồi nàng sẽ được xin mẹ tha thứ cho mọi lỗi lầm nàng đã phạm với bà—chính mẹ nàng sẽ nâng đỡ nàng, nàng sẽ được quỳ bên đầu gối của chính mẹ mình khi sinh đứa trẻ. Mẹ đang đến, mẹ đang đến—Kristin nức nở nhẹ nhõm vào hai bàn tay. Vâng, mẹ ơi, xin tha thứ cho con, mẹ ơi—

Ý nghĩ mẹ đang trên đường đến với mình bám rễ sâu trong Kristin đến nỗi một ngày kia nàng cảm thấy mẹ sẽ tới chính hôm ấy. Sáng đã qua được một lúc, nàng khoác áo choàng và ra ngoài đón mẹ trên con đường từ Gauldalen vượt sang Skaun. Không ai để ý thấy nàng rời khỏi gia trang.

Erlend đã cho chở gỗ về để sửa sang nhà cửa, vì thế đường đi khá tốt, nhưng dẫu vậy mỗi bước chân vẫn nặng nhọc đối với nàng—nàng hụt hơi, tim đập dồn và đau hai bên sườn—chỉ mới đi được một quãng ngắn, nàng đã có cảm giác cái đai căng chặt ấy sắp bục tung. Phần lớn con đường lại xuyên qua rừng rậm. Nàng quả có sợ—nhưng mùa đông năm ấy trong vùng chưa nghe nói có sói. Và Chúa hẳn sẽ che chở cho nàng, bởi nàng đang đi đón mẹ, để phủ phục trước bà và xin được tha thứ—nàng không sao ngăn mình đi tiếp.

Nàng ra đến một hồ nhỏ, bên bờ có vài gia trang bé. Ở chỗ con đường ăn ra mặt băng, nàng ngồi xuống một thân gỗ—ngồi một lát, rồi đi lại một lát mỗi khi thấy rét, và chờ đợi suốt nhiều giờ. Nhưng cuối cùng nàng đành quay về nhà.

Ngày hôm sau nàng lại đi theo con đường ấy. Nhưng khi nàng băng qua sân của một trong những gia trang nhỏ bên hồ, người vợ trong nhà chạy theo nàng.

“Vì Chúa, thưa bà chủ, bà không được làm thế này!”

Nghe người đàn bà kia nói vậy, chính Kristin cũng kinh hãi đến mức không thể nhúc nhích khỏi chỗ—run rẩy, đôi mắt sợ đến mất vía, nàng nhìn người đàn bà nông dân.

“Đi xuyên rừng—nhỡ sói đánh hơi thấy bà thì sao. Những điều dữ khác cũng có thể giáng xuống bà—sao bà có thể đi đứng mất trí đến thế!”

Người vợ nông dân vòng tay đỡ lấy vị nữ chủ trẻ, nhìn vào gương mặt gầy guộc, vàng bệch, lấm những đốm nâu:

“Bà hãy vào nhà chúng tôi nghỉ một lát—rồi sẽ có người ở đây đưa bà về,” vợ người nông dân nói và dìu nàng đi theo.

Đó là một căn nhà nhỏ nghèo nàn, bên trong rất bừa bộn, nhiều đứa trẻ con đang chơi trên sàn. Người mẹ đuổi chúng sang nhà bếp, cởi áo choàng cho khách, đưa nàng đến ngồi trên ghế dài rồi tháo đôi giày phủ tuyết ra. Sau đó bà quấn một tấm da quanh chân Kristin.

Mặc cho Kristin bảo bà đừng nhọc công, người đàn bà vẫn dọn thức ăn và rót bia từ thùng bia Giáng sinh. Trong lúc ấy bà nghĩ—ở Husaby hẳn là một nếp nhà hay ho lắm! Chính bà là vợ một người nghèo, họ có rất ít người giúp việc trong điền trang, mà thường khi chẳng có ai, thế nhưng Øistein chưa bao giờ chịu để bà đi một mình ra ngoài hàng rào lúc đang mang thai—phải, dù bà chỉ xuống chuồng bò sau khi trời tối, cũng phải có người soi đèn theo bà. Vậy mà nữ chủ giàu có nhất vùng lại có thể liều mình đi tìm cái chết ghê gớm nhất, chẳng một linh hồn Kitô hữu nào trông nom nàng—trong khi gia nhân ở Husaby đông đến nỗi đi đâu cũng vấp phải nhau mà chẳng làm gì cả. Vậy thì lời người ta nói hẳn là thật: Erlend Nikulaussøn đã chán cuộc hôn nhân của mình và chẳng còn thiết gì đến vợ—.

Nhưng suốt lúc ấy bà vẫn chuyện trò khe khẽ với Kristin và ép nàng ăn uống. Kristin thật lấy làm xấu hổ—nhưng nàng bỗng thèm ăn như đã lâu không từng thấy—phải, từ mùa xuân đến giờ chưa lần nào; thức ăn của người đàn bà tốt bụng này ngon đến lạ. Bà cười, bảo đàn bà nhà quyền quý hẳn cũng chẳng được tạo ra khác người thường. Ở nhà có thể không chịu nổi khi nhìn thấy thức ăn, vậy mà nhiều khi sang nơi khác lại hóa tham ăn, dẫu món ăn thô sơ nghèo nàn.

Bà tên là Audfinna Audunsdatter, quê ở Updal, bà nói. Nhận thấy vị khách thích nghe, bà bắt đầu kể về quê nhà và vùng đất của mình. Rồi trước khi Kristin kịp nhận ra, chính nàng cũng đã mở lòng—nàng kể về quê nhà mình, về cha mẹ và miền đất nơi nàng sinh trưởng. Audfinna hiểu rằng trái tim người vợ trẻ gần như muốn vỡ ra vì nhớ nhà—bởi vậy bà khéo léo gợi dẫn, khiến Kristin tiếp tục kể. Nóng bừng và choáng váng vì thứ bia nặng, Kristin nói mãi, cho đến khi vừa cười vừa khóc. Tất cả những gì nàng đã uổng công cố khóc cho vơi trong những buổi tối cô quạnh ở Husaby, giờ dần dần được tháo mở khi nàng có thể kể ra với người vợ nông dân tốt bụng này.

Khoảng trời trên lỗ thoát khói đã tối hẳn, nhưng Audfinna muốn Kristin nán lại cho đến khi Øistein hoặc các con trai bà từ rừng trở về và có thể đưa nàng về. Kristin lặng đi rồi bắt đầu buồn ngủ, nhưng nàng vẫn ngồi mỉm cười, mắt long lanh—từ khi đến Husaby, nàng chưa bao giờ cảm thấy dễ chịu đến thế.

Bấy giờ một người đàn ông giật tung cửa, gọi vào hỏi họ có thấy nữ chủ đâu không—rồi thoáng trông thấy nàng, anh ta liền lao trở ra. Ngay sau đó, thân hình cao dài của Erlend cúi luồn qua khung cửa. Chàng đặt chiếc rìu đang cầm xuống, lảo đảo lùi vào sát vách—chàng phải chống hai tay ra sau, không sao nói được.

“Ngài đã sợ cho nữ chủ của mình lắm phải không?” Audfinna hỏi và bước đến bên chàng.

“Phải, tôi chẳng xấu hổ gì mà không nhận.” Chàng đưa tay vuốt ngược lên chân tóc. “Chắc chưa người đàn ông nào từng sợ hãi như tôi tối nay. Khi nghe nói nàng đã đi sâu vào rừng—”

Audfinna kể Kristin đã đến đây thế nào. Erlend nắm lấy tay người đàn bà:

“Tôi sẽ không bao giờ quên ơn bà và chồng bà,” chàng nói.

Rồi chàng đi đến chỗ vợ đang ngồi, đứng bên nàng và đặt một tay sau gáy nàng. Chàng không nói với nàng lời nào, nhưng cứ đứng như thế suốt thời gian họ còn ở trong nhà.

Bấy giờ những gia nhân từ Husaby và đàn ông ở các điền trang gần đó kéo vào. Ai nấy trông đều như đang cần một ngụm cho hoàn hồn, nên Audfinna mời họ uống bia trước khi lên đường.

Đám đàn ông mang ván trượt băng qua những cánh đồng, nhưng Erlend đã đưa ván của mình cho một gia nhân; chàng đi bộ xuống dốc, giữ Kristin nép dưới áo choàng của mình. Trời lúc này tối đen và đầy sao.

Bấy giờ từ khu rừng sau lưng họ vọng tới một tiếng tru dài, mỗi lúc một dâng cao trong đêm. Đó là sói—có nhiều con. Erlend run rẩy dừng lại, buông nàng ra; Kristin nhận thấy chàng làm dấu thánh giá, tay kia siết chặt cán rìu. “Nếu lúc này em đã—ôi không—!” Chàng kéo nàng vào lòng mạnh đến nỗi nàng bật tiếng rên đau.

Những người trượt ván ngoài đồng lập tức quay ngoắt lại, gắng hết sức trở về chỗ hai người. Họ vắt ván lên vai, cầm giáo và rìu vây kín quanh nàng. Lũ sói bám theo họ suốt quãng đường về đến Husaby—gần đến nỗi đôi lúc họ thoáng trông thấy chúng trong bóng tối.

Khi họ vào đến gian sảnh, mặt nhiều người đã xám ngoét hoặc trắng bệch. “Chuyện này thật kinh khủng nhất—” một người nói, rồi ngay lúc ấy nôn xuống bếp lửa giữa nhà. Đám nữ tỳ hoảng hốt đưa nữ chủ lên giường. Nàng không ăn nổi. Nhưng giờ đây, khi cơn kinh hãi quằn quại, khủng khiếp đã qua, nàng lại thấy, theo một cách nào đó, thật dễ chịu khi biết mọi người đều đã sợ hãi vì nàng đến thế.

Khi chỉ còn lại hai người trong gian sảnh, Erlend bước tới ngồi xuống mép giường:

“Vì sao em làm chuyện này?” chàng thì thầm. Và khi nàng không đáp, chàng còn hạ giọng hơn nữa:

“Em đau khổ đến thế vì đã về sống trong điền trang của ta sao—”

Phải một lát sau nàng mới hiểu chàng muốn nói gì:

“Lạy Chúa Jesus, Đức Mẹ Maria! Sao anh có thể nghĩ một điều như thế!”

“Vậy lần ấy em có ý gì khi nói—sau lúc chúng ta ở Medalby, khi ta định cưỡi ngựa bỏ em lại—rằng ta có thể phải chờ rất lâu mới thấy em đến Husaby tìm ta?” chàng vẫn hỏi bằng giọng như trước.

“Ôi, lúc ấy em nói trong cơn giận,” Kristin đáp khẽ, đầy hổ thẹn. Rồi nàng kể cho chàng biết mấy ngày qua nàng đã đi tìm thứ gì. Erlend ngồi rất yên lặng nghe nàng.

“Ta tự hỏi bao giờ mới đến ngày em cảm thấy nơi đây, ở Husaby bên ta, chính là nhà mình,” chàng nói và cúi xuống sát nàng trong bóng tối.

“Ôi, chắc cũng chẳng còn hơn một tuần nữa đâu,” Kristin thì thầm và cười không vững. Khi chàng áp mặt xuống gần mặt nàng, nàng quàng hai tay quanh cổ chàng và cuồng nhiệt hôn đáp lại.

“Đây là lần đầu tiên em chủ động ôm lấy cổ ta kể từ khi ta đánh em,” Erlend nói nhỏ. “Em để bụng lâu thật đấy, Kristin của ta—”

Nàng chợt nhớ ra rằng đây cũng là lần đầu tiên, kể từ buổi tối chàng hiểu nàng đang mang thai, nàng dám âu yếm chàng khi chàng chưa ngỏ lời đòi hỏi.

Nhưng từ sau ngày ấy, Erlend dịu dàng với nàng đến nỗi Kristin ân hận từng giờ phút mình đã giận chàng.