Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby — Chương 21: Tập II — Nữ chủ Husaby · Phần III — Erlend Nikulaussøn · Chương VII
Chương 21 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby
Ngay đầu mùa xuân, Simon Andressøn đi về phía bắc, tới Toten, đón vợ cùng đứa con trai sơ sinh và đưa họ về Formo. Ông ở lại trên ấy một thời gian để trông nom đôi chút công việc riêng của mình.
Kristin không muốn rời Oslo. Và nàng không dám buông mình theo nỗi khát khao quặn thắt, như muốn hút cạn lòng nàng, hướng về ba đứa con trai đang ở trong thung lũng. Nếu nàng còn phải tiếp tục chịu đựng cuộc sống mà giờ đây nàng sống qua từng ngày, nàng không được nhớ đến các con. Nàng vẫn gắng chịu, trông bình tĩnh và can đảm, trò chuyện với người ngoài, nghe họ nói, đón nhận lời khuyên nhủ và an ủi— nhưng muốn thế, nàng phải ghì chặt tâm trí vào Erlend, chỉ một mình Erlend! Trong những khoảnh khắc ngắn ngủi khi ý chí hơi lơi tay khỏi tâm trí, bao hình ảnh và ý nghĩ lại xuyên qua lòng nàng: Ivar đứng trong nhà chứa củi ở Formo bên Simon, nôn nóng chờ trong khi dượng nó tìm cho nó một thanh gỗ vừa ý, cúi xuống uốn thử và xem xét những tấm ván trượt trong tay. Gương mặt thiếu niên sáng sủa của Gaute, quả quyết như một người đàn ông, khi nó khom mình gắng sức đi ngược màn tuyết cuốn trên núi vào ngày đông xám xịt mùa thu năm ngoái— tấm ván dưới chân nó trượt ngược, nó tụt giật lùi một quãng xuống triền dốc, rồi cắm sâu vào đụn tuyết— và trong một thoáng, nét mặt nó gần như vỡ òa; nó chỉ còn là một đứa trẻ kiệt sức, bất lực. Ý nghĩ nàng cứ muốn tìm đến hai đứa nhỏ: hẳn giờ Munan đã biết đi và nói được đôi chút— không biết nó có xinh xắn như các anh nó hồi bằng tuổi ấy không. Lavrans hẳn đã quên nàng rồi. Còn hai đứa lớn ở tu viện Tautra. Naakkve, Naakkve, đứa con đầu lòng của nàng—. Hai đứa lớn hiểu gì, nghĩ gì, và với tấm lòng non trẻ, Naakkve chịu đựng ra sao khi từ nay trên đời có lẽ chẳng còn điều gì đến với nó đúng như nàng, như chính nó và như mọi người từng hình dung—.
Sira Eiliv đã gửi thêm cho nàng một lá thư, và nàng kể lại với Erlend những điều trong thư nói về các con trai của họ. Ngoài ra, họ không bao giờ nhắc đến con cái. Giờ đây họ cũng không còn nói về quá khứ hay tương lai. Kristin mang đến cho chàng một món áo quần hoặc một món ăn, chàng hỏi kỹ xem từ lần gặp trước tới nay nàng sống ra sao, rồi hai người ngồi tay trong tay bên giường chàng. Đôi khi họ được ở riêng một lát trong căn phòng nhỏ lạnh lẽo, bẩn thỉu, hôi hám— họ ghì chặt lấy nhau trong những vuốt ve câm lặng, cháy bỏng, nghe mà không nhận biết tiếng cô hầu của Kristin cười đùa với đám lính canh thành ngoài cầu thang.
Đến khi chàng hoặc bị cướp khỏi nàng, hoặc được trao trả cho nàng, hãy còn đủ sớm để nàng đối diện với ý nghĩ về bầy con và cảnh ngộ đã đổi khác của chúng— về mọi điều khác trong đời nàng ngoài người chồng đang ở đây. Nàng không thể để mất một giờ nào trong quãng thời gian hai người được ở bên nhau, và nàng cũng không dám nghĩ tới lúc gặp lại bốn đứa con ở phía bắc dãy núi— bởi thế, nàng nhận lời khi Simon Andressøn đề nghị một mình đi Trondheim và cùng Arne Gjavvaldssøn trông nom quyền lợi của nàng trong việc thanh toán gia sản. Vua Magnus sẽ chẳng giàu thêm được bao nhiêu từ tài sản của Erlend— chàng mắc nợ nhiều hơn chính mình từng biết, lại còn vay được những khoản tiền đã gửi sang Đan Mạch, Scotland và Anh. Erlend nhún vai, cười nhạt, nói rằng giờ chàng chẳng trông mong được hoàn lại những khoản ấy.
Bởi vậy, vụ án của Erlend gần như vẫn giậm chân tại chỗ khi Simon Andressøn trở lại Oslo vào dịp lễ Suy Tôn Thánh Giá mùa thu. Nhưng ông kinh hãi khi thấy cả Kristin lẫn Erlend đều tiều tụy đến thế, và lòng ông bỗng mềm yếu, đau đớn lạ thường khi cả hai vẫn còn tự chủ đủ để nhớ cảm ơn ông đã đi tới đây vào mùa này, đúng lúc ông khó rời các điền trang của mình nhất. Nhưng lúc ấy người ta đang kéo nhau về Tunsberg, nơi vua Magnus ngồi chờ cô dâu của mình.
Qua đầu tháng được ít lâu, Simon thu xếp được một chỗ trên tàu đi Tunsberg cùng mấy thương nhân sẽ nhổ neo sau tám ngày. Bấy giờ, một buổi sáng, có người lính lạ đến xin Simon Andressøn lập tức chịu khó tới nhà thờ Thánh Hallvard— Olav Kyrning đang đợi ông ở đó.
Viên phó quản khố hoàng gia đang vô cùng kích động. Ông ở lại pháo đài trong khi quan quản khố đã tới Tunsberg. Tối hôm trước, một đoàn quý tộc đến trình cho ông xem thư đóng ấn vua Magnus, nói rằng họ được lệnh điều tra vụ Erlend Nikulaussøn, và ông đã cho áp giải người tù đến trước mặt họ. Ba người ấy là người ngoại quốc, hình như người Pháp— Olav không hiểu tiếng của họ, nhưng sáng nay linh mục của đoàn cận vệ đã nói chuyện với họ bằng tiếng Latin; nghe đâu họ là thân tộc của cô gái sắp trở thành hoàng hậu của chúng ta— điềm đẹp đấy! Họ đã tra khảo Erlend rất gắt gao— đem theo một thứ thang cùng mấy gã biết cách sử dụng những dụng cụ như thế. Hôm nay Olav đã không chịu đưa Erlend ra khỏi buồng giam và bố trí lính canh nghiêm ngặt— ông sẽ tự nhận lấy trách nhiệm, bởi đây là việc trái luật, một hành động chưa từng nghe nói tới ở Na Uy!
Simon mượn một con ngựa của một linh mục tại nhà thờ rồi cùng Olav cưỡi thẳng ra Akersnes.
Olav Kyrning hơi lo âu nhìn gương mặt nghiến chặt của người kia, trên đó những cơn đỏ bừng liên tiếp trào lên. Thỉnh thoảng Simon lại cử động dữ dội, hung hăng như chính ông cũng không hay biết— và con ngựa lạ chồm nhảy, dựng vó, chống lại người cưỡi này.
“Nhìn ngài, Simon, tôi biết ngài đang giận,” Olav Kyrning nói.
Chính Simon cũng hầu như không biết cảm xúc nào đang lấn át trong lòng mình. Ông kích động đến nỗi từng lúc lại thấy buồn nôn. Cái mù quáng, man dại đang dâng lên trong ông và đẩy cơn cuồng nộ tới cực điểm là một thứ hổ thẹn— một người đàn ông trần truồng, không vũ khí, không ai che chở, phải chịu những nắm tay xa lạ luồn vào áo quần mình, những bàn tay xa lạ sờ mó thân thể mình— nghe chuyện ấy chẳng khác gì nghe kể một người đàn bà bị cưỡng hiếp; ông phát cuồng vì khát vọng báo thù và muốn thấy máu đổ. Không, đó chưa bao giờ là phong tục hay lề thói trên đất nước này; chúng định tập cho giới quý tộc Na Uy quen chịu những chuyện như thế sao—. Điều đó thì không đời nào xảy ra!
Ông phát bệnh vì khiếp sợ điều mình sắp phải trông thấy— nỗi lo rằng chỉ bằng việc nhìn người đàn ông kia trong cảnh ấy, chính ông sẽ làm người ấy thêm nhục nhã, đã lấn át mọi cảm xúc khác khi Olav Kyrning mở khóa cửa phòng giam Erlend.
Erlend nằm trên sàn, thân người duỗi chéo từ góc phòng này sang góc phòng kia; chàng cao đến nỗi chỉ nằm như vậy mới có đủ chỗ duỗi hết chiều dài cơ thể. Người ta lót dưới thân chàng một ít rơm và quần áo trên lớp bùn nhơ dày đặc phủ sàn, rồi đắp lên người chàng chiếc áo choàng xanh sẫm lót lông, kéo tận cằm, khiến lớp lông chồn nâu xám mềm mại ở cổ áo lẫn vào bộ râu xoăn đen rối bù mà Erlend đã mọc trong thời gian bị giam.
Miệng chàng nom trắng bệch giữa bộ râu; gương mặt trắng như tuyết. Chiếc mũi lớn, thẳng, thành một tam giác nhô cao đến phi lý trên đôi má hõm; mái tóc điểm bạc bết mồ hôi, tách thành từng lọn ngả ra sau khỏi vầng trán cao và hẹp— trên mỗi bên thái dương lõm sâu là một vết bầm xanh đỏ lớn, như thể có vật gì đã kẹp hoặc ghì chàng ở đó.
Chậm chạp và khó nhọc, chàng mở đôi mắt lớn xanh nhạt như nước, cố nở một nụ cười khi nhận ra hai người đàn ông; giọng chàng hơi khác lạ và không rõ tiếng:
“Simon, ngồi xuống đi—” Chàng khẽ động đầu về phía khung giường trống. “Phải, từ lần cuối chúng ta gặp nhau tới giờ, tôi đã học được chuyện mới rồi—”
Olav Kyrning cúi xuống Erlend, hỏi chàng có cần gì không. Không nhận được lời đáp— hẳn vì Erlend không còn sức để nói— ông vén áo choàng sang một bên. Erlend chỉ mặc chiếc quần vải lanh và một mảnh áo sơ mi rách— cảnh những tay chân sưng phồng, đổi màu kích động và làm Simon rúng động bằng một nỗi kinh hoàng gần như tục tĩu. Ông tự hỏi Erlend có cảm thấy điều gì tương tự không— một bóng đỏ thoáng qua mặt chàng khi Olav dùng mảnh vải nhúng vào chậu nước lau dọc tay chân chàng. Và khi Olav đắp áo choàng lại, Erlend dùng vài cử động rất nhỏ của tứ chi và lấy cằm kéo áo lên để chỉnh lại, sao cho toàn thân mình được che kín.
“Phải,” Erlend nói; lúc này giọng chàng đã giống giọng thường ngày hơn đôi chút, nụ cười quanh đôi môi nhợt nhạt cũng rõ hơn, “lần sau— sẽ tệ hơn! Nhưng tôi không sợ— chẳng ai cần phải sợ— chúng sẽ không moi được gì từ tôi đâu— bằng cách này—”
Simon cảm thấy người đàn ông ấy đang nói thật. Tra tấn sẽ không thể ép nổi một lời nào ra khỏi Erlend Nikulaussøn. Con người có thể làm bất cứ chuyện gì và tiết lộ bất cứ điều gì trong cơn nóng nảy, thiếu suy nghĩ ấy sẽ không bao giờ để bạo lực lay chuyển mình lấy một gang tay. Và Simon cảm thấy nỗi hổ thẹn cùng sự xúc phạm mà ông đang chịu thay cho người khác thì bản thân Erlend hầu như không hề nhận thấy— chàng tràn đầy một niềm vui bướng bỉnh vì được thách thức những kẻ hành hình, cùng sự yên tâm thỏa mãn về sức chịu đựng dẻo dai của mình. Con người vốn luôn gục xuống thảm hại khi gặp phải một ý chí kiên định, vốn chính mình hẳn cũng có thể trở nên tàn nhẫn trong một phút kinh hoàng, giờ lại vươn dậy khi giữa sự tàn nhẫn ấy chàng đánh hơi thấy một đối thủ yếu hơn mình.
Nhưng Simon nghiến răng, gằn giọng đáp:
“Lần sau— sẽ chẳng có đâu! Ngài nói sao, Olav—?”
Olav lắc đầu, nhưng Erlend nói, trong giọng phảng phất vẻ ngông nghênh ba hoa ngày trước:
“Phải, giá tôi có thể— tin chắc như các ngài! Nhưng bọn này khó mà— bằng lòng với chừng ấy—” Chàng nhận thấy những cơn co giật đang kéo căng các cơ trên gương mặt nặng nề, rắn chắc của Simon: “Không, Simon—!” Erlend định chống khuỷu tay ngồi dậy; vì đau, chàng bật ra một tiếng rên nghẹn kỳ lạ rồi ngã xuống, lịm đi.
Olav và Simon vụng về loay hoay săn sóc chàng. Khi cơn ngất qua đi, Erlend nằm mở mắt một lúc; chàng nói nghiêm trang hơn:
“Các ngài không hiểu sao— đối với Magnus, điều quan trọng là— phải biết được— những kẻ nào ông ta không nên tin lâu hơn lúc còn trông thấy họ. Bao nhiêu náo động— và bất mãn— đã xảy ra ở đây—”
“Nếu ông ta nghĩ làm thế này sẽ dập được sự bất mãn,” Olav Kyrning nói bằng giọng đe dọa. Erlend bèn cất giọng khẽ mà trong:
“Tôi đã xử trí vụ này theo cách— khiến ít ai cho rằng số phận tôi ra sao là chuyện đáng kể— chính tôi biết điều ấy—”
Hai người đàn ông kia đỏ mặt. Simon vẫn tưởng Erlend không tự thấy điều ấy— và trước đây giữa họ chưa từng có ai nhắc bóng gió đến phu nhân Sunniva. Giờ ông tuyệt vọng bật lên:
“Đến nỗi anh lại có thể— hành xử ngu xuẩn, khinh suất như thế!”
“Ngay giờ tôi cũng không hiểu nổi—” Erlend thành thật nói, “nhưng— quỷ tha ma bắt! làm sao tôi ngờ được bà ta biết đọc chữ! Trông bà ta— dốt nát lắm—”
Mắt chàng khép lại, chàng sắp ngất đi lần nữa. Olav Kyrning lẩm bẩm rằng sẽ đi lấy thứ gì đó rồi bước ra ngoài. Simon cúi xuống Erlend, lúc này lại đang nằm với đôi mắt hé mở:
“Erlend— có— có phải Erling Vidkunssøn dự phần cùng anh trong chuyện này không?”
Erlend khẽ lắc lư đầu, chậm rãi mỉm cười:
“Có Chúa Jesus chứng giám, không. Chúng tôi nghĩ— hoặc ông ấy sẽ không đủ liều để nhập cuộc— hoặc rồi chỉ mình ông ấy quyết định hết mọi chuyện. Nhưng đừng hỏi, Simon— tôi sẽ không nói gì— với bất kỳ ai— như thế tôi biết mình sẽ không lỡ lời—”
Bất chợt Erlend thì thầm tên vợ. Simon cúi sát xuống chàng— ông chờ người kia nhờ mình đưa Kristin tới đây. Nhưng chàng nói gấp, như trong một cơn sốt vừa bùng lên:
“Đừng để nàng hay chuyện này, Simon. Hãy nói có lệnh của nhà vua, không ai được đến gần tôi. Đưa nàng ra chỗ Munan— tại Skogheim— nghe không— bọn người Pháp— hay dân Blåland— những người bạn mới— của đức vua chúng ta— vẫn chưa chịu dừng đâu! Đưa nàng ra khỏi thành trước khi tin này lan khắp nơi! Simon?”
“Vâng.” Ông không hề biết mình sẽ làm cách nào.
Erlend nằm nhắm mắt một lúc, rồi nói với một nụ cười nào đó:
“Đêm qua tôi nghĩ— đến lần nàng sinh đứa con trai đầu lòng của chúng tôi— hẳn khi ấy nàng cũng chẳng dễ chịu hơn, cứ xét theo tiếng nàng kêu than. Và nếu nàng đã chịu nổi điều đó— bảy lần— vì niềm hoan lạc của chúng tôi— thì hẳn tôi cũng có thể—”
Simon im lặng. Nỗi e dè miễn cưỡng ông cảm thấy trước việc cuộc đời phơi bày cho mình những bí mật cuối cùng của đau đớn và khoái lạc— Erlend dường như chẳng hề biết đến. Chàng vật lộn với điều tệ hại nhất và điều đẹp đẽ nhất bằng vẻ thật thà ngây thơ của một cậu bé vô tội được đám bạn đưa vào nhà chứa, say rượu và tò mò—.
Erlend sốt ruột lắc lư đầu:
“Lũ ruồi này— là thứ tệ nhất—. Tôi tin chúng chính là Quỷ dữ—”
Simon cầm mũ lên, đập túi bụi trên cao dưới thấp vào những mảng ruồi xanh đen, khiến chúng vo ve ầm ĩ bay vọt lên thành từng đám— rồi ông giận dữ giẫm nát trong lớp bùn nhơ tất cả những con bị đánh choáng rơi xuống sàn. Việc ấy chẳng ích được bao nhiêu, bởi lỗ cửa trên tường vẫn há toang— mùa đông trước nó được che bằng một tấm cửa gỗ có ô bịt màng da mỏng, nhưng khi ấy căn phòng tối lắm.
Ông vẫn đang đánh đập như thế khi Olav Kyrning trở lại cùng một linh mục mang theo chén nước. Vị linh mục luồn tay dưới gáy Erlend, đỡ chàng lên trong khi chàng uống. Một phần lớn nước chảy ra ngoài, xuống râu rồi dọc theo cổ chàng; chàng nằm yên, chẳng bận tâm như một đứa trẻ khi sau đó vị linh mục dùng mảnh vải lau cho chàng.
Simon cảm thấy như có thứ gì đang sôi lên trong cơ thể mình, máu cứ nện thình thịch trong cổ ngay dưới hai tai, tim đập lạ lùng và bất an. Ông đứng bên cửa một lát, nhìn chằm chằm thân hình dài duỗi thẳng dưới tấm áo choàng. Những đợt đỏ bừng vì sốt giờ dâng lên rồi rút xuống trên mặt Erlend; chàng nằm với đôi mắt hé mở, sáng bóng, nhưng vẫn mỉm cười với Simon, chỉ là một bóng mờ của nụ cười trẻ dại lạ lùng ấy—.
Ngày hôm sau, khi Stig Haakonssøn ở Mandvik đang ngồi bên bàn ăn buổi sáng muộn cùng các vị khách là ngài Erling Vidkunssøn và con trai ông, Bjarne, họ nghe tiếng vó của một con ngựa độc hành ngoài sân. Ngay sau đó, cửa đại sảnh bị hất tung, Simon Andressøn bước nhanh về phía họ. Ông lấy tay áo lau ngang mặt— sau cuộc cưỡi ngựa, bùn đất bắn lên tận gáy.
Ba người đàn ông bên bàn đứng bật dậy đón người mới tới, cùng những tiếng kêu ngắn, nửa là chào hỏi, nửa là kinh ngạc. Simon không chào; ông đứng chống người trên thanh kiếm, hai tay ôm lấy chuôi, rồi nói:
“Các ngài có muốn nghe một tin lạ lùng không— họ đã bắt Erlend Nikulaussøn và kéo giãn ông ấy trên thang tra tấn— mấy kẻ ngoại quốc được nhà vua phái đến thẩm vấn ông ấy—.”
Mấy người đàn ông bật kêu rồi xúm lại quanh Simon Andressøn. Stig đập hai bàn tay vào nhau:
“Erlend đã nói gì—!”
Cùng lúc ấy, cả ông lẫn Bjarne Erlingssøn đều như không tự chủ được mà quay sang nhìn ngài Erling. Simon bật cười, cười mãi không thôi.
Ông ngồi phịch xuống chiếc ghế Bjarne Erlingssøn đã kéo ra cho mình, nhận bát bia người thanh niên đưa rồi uống ngấu nghiến.
“Sao ngài lại cười?” ngài Erling cộc cằn hỏi.
“Tôi cười Stig.” Chàng ngồi hơi cúi về phía trước, hai tay chống trên đôi chân bó lấm bùn, rồi còn bật ra mấy tiếng cười khẽ. “Tôi đã nghĩ — những người có mặt trong căn phòng này đều là con trai các đại thủ lĩnh — tôi cứ ngỡ các vị sẽ phẫn nộ đến mức trước một chuyện như thế giáng xuống đầu một người ngang hàng với chúng ta, câu đầu tiên các vị hỏi phải là làm sao chuyện ấy lại có thể xảy ra —.
— Tôi không dám nói mình biết thật tường tận luật pháp trong những vụ như thế này. Từ khi đức vua Haakon, chúa thượng của tôi, qua đời, tôi vẫn lấy làm đủ rằng mình mắc nợ người kế vị ngài sự phụng sự của tôi, bất cứ khi nào đức vua muốn sai khiến tôi, trong chiến tranh cũng như thời bình — ngoài ra tôi chỉ ở yên tại gia trang của mình. Nhưng theo chỗ tôi hiểu thì trong vụ án chống lại Erlend Nikulaussøn này, người ta đã hành xử trái luật. Các bạn đồng ngũ của ông ấy đã nhóm riêng lại và phán xét vụ án — họ dựa vào quyền nào mà xử ông ấy tội chết, tôi không biết — rồi người ta ban cho ông ấy sự bảo hộ và giấy thông hành để ông ấy có thể tới gặp người bà con của mình là đức vua — phòng khi nhà vua chịu cho Erlend được giảng hòa với mình. — Sau đó người ấy bị giam trong tháp ở thành Akers gần một năm, còn đức vua thì phần lớn thời gian ấy ở nước ngoài — thư từ đã đi đi lại lại — mà chẳng đưa tới kết quả gì. Rồi nhà vua phái đến đây mấy tên thị đồng — chúng chẳng phải người Na Uy, cũng chẳng thuộc đội cận vệ của vua — và tìm cách thẩm vấn Erlend theo một lối đối xử chưa từng nghe thấy đối với một người Na Uy có quyền của cận thần — trong khi đất nước đang thái bình, còn họ hàng và những người đồng đẳng với Erlend đang tụ họp tại Tunsberg để mừng lễ cưới của đức vua —.
Ngài nghĩ sao về chuyện này, ngài Erling —?”
“Tôi nghĩ —.” Erling ngồi xuống chiếc ghế dài đối diện chàng. “Tôi nghĩ anh đã nói rõ ràng, rành mạch tình thế của vụ này rồi, Simon Darre. Theo tôi hiểu, đức vua chỉ có thể làm một trong ba việc: hoặc để Erlend chịu hình phạt theo bản án đã tuyên ở Nidaros — hoặc phải chỉ định một pháp đình mới gồm các cận thần, rồi giao việc buộc tội Erlend cho một người không mang tước hiệp sĩ — và họ có thể tuyên ông ấy bị đặt ngoài vòng pháp luật, với một thời hạn hợp pháp để rời khỏi các vương quốc của vua Magnus. Hoặc đức vua phải cho Erlend được giảng hòa với mình. Và đó sẽ là việc khôn ngoan nhất nhà vua có thể làm.
Theo tôi, giờ đây vụ này đã rõ đến mức dù anh trình bày với ai ở Tunsberg, người ấy cũng sẽ theo anh và ủng hộ anh. Jon Haftorssøn cùng em trai đang ở đó. Erlend là bà con của họ cũng chẳng kém gì là bà con của đức vua — những người con trai nhà Ogmund sẽ hiểu rằng đây là một sự bất công ngu xuẩn. Có lẽ trước tiên anh nên tìm đến vị chỉ huy cận vệ — thuyết phục ông ấy cùng ngài Paal Eirikssøn triệu tập những người đã tuyên thệ thần phục đang có mặt trong thành phố và được xem là thích hợp nhất để đảm trách việc này —”
“Ngài và những người bà con của ngài không chịu đi cùng tôi sao, thưa ngài?”
“Chúng tôi không định tới dự yến tiệc,” Erling đáp cụt lủn.
“Anh em nhà Haftor còn trẻ — ngài Paal thì già yếu — còn những người khác —. Chính ngài biết rõ nhất, thưa ngài, họ có được chút quyền thế là nhờ ân sủng của đức vua và những thứ tương tự, nhưng —. Erling Vidkunssøn, họ có nghĩa lý gì khi đứng trước ngài? Ngài, thưa ngài, đã từng nắm trong tay một quyền lực ở đất nước này mà chẳng thủ lĩnh nào khác có được kể từ — tôi cũng không biết là từ bao giờ. Sau lưng ngài là những dòng họ lâu đời mà dân chúng nước này biết từng người một, ngược mãi về thời xa xưa nhất còn được truyền tụng, qua những năm tháng dữ dằn cũng như những năm tháng tốt lành tại các miền quê của chúng ta. Xét về dòng cha — Magnus Eirikssøn hay các con trai của Haftor ở Sudrheim có nghĩa lý gì bên cạnh ngài — của cải của họ có đáng nhắc đến khi đặt cạnh của cải của ngài chăng? Những lời khuyên ngài vừa cho tôi — sẽ phải mất thời gian, trong khi bọn người Pháp đang ở Oslo, và ngài có thể thề chắc rằng chúng sẽ không chịu thôi đâu — rõ ràng đức vua muốn thử cai trị Na Uy theo phong tục các xứ ngoại bang; tôi biết ở nước ngoài, hễ thích và tìm được những người trong hàng hiệp sĩ sẵn lòng đi theo để chống lại chính những kẻ đồng đẳng với họ, nhà vua vẫn thường tự đặt mình lên trên luật pháp. — Olav Kyrning đã gửi thư và tìm được những gia nhân của các lãnh chúa để cùng đi với ông; đức giám mục hứa sẽ viết thư — nhưng cảnh rối ren và tranh chấp này, Erling Vidkunssøn, ngài có thể chấm dứt ngay khoảnh khắc ngài bước ra trước mặt vua Magnus. Ngài là người đứng đầu thừa kế toàn bộ quyền thế xưa của các lãnh chúa đất nước này — đức vua biết rằng tất cả chúng tôi đều sẽ đứng sau ngài —”
“Trước kia tôi không hề thấy điều đó,” Erling cay nghiệt nói. “Anh bênh vực em rể mình thật nồng nhiệt, Simon. — Nhưng anh không hiểu sao? Bây giờ tôi không thể làm thế. Người ta sẽ nói rằng — đúng lúc Erlend bị siết đến mức có thể lo ông ấy không còn đủ sức giữ kín miệng — thì tôi xuất đầu lộ diện!”
Một lúc lâu không ai nói gì. Rồi Stig lại hỏi:
“Erlend đã — nói gì chưa?”
“Chưa,” Simon nóng nảy đáp. “Ông ấy vẫn ngậm miệng. Và tôi nghĩ ông ấy sẽ tiếp tục như thế. Erling Vidkunssøn,” chàng van nài, “ông ấy là bà con của ngài — hai người từng là bạn —”
Erling thở ngắn và nặng nhọc đôi ba lần:
“Phải. — Simon Andressøn, anh đã hiểu hết Erlend Nikulaussøn từng gánh lấy việc gì chưa? Phá bỏ sự liên kết vương quyền này với người Thụy Điển — cái thể chế cai trị chưa bao giờ được thử nghiệm trước đây — và mỗi năm trôi qua dường như lại gây thêm suy kiệt, thêm khó khăn cho đất nước — để tìm đường trở về nền cai trị cũ mà chúng ta từng biết và biết rằng từng đem lại may mắn cùng thịnh vượng. Anh có hiểu đó là mưu tính của một người khôn ngoan và gan dạ không — và anh có hiểu rằng giờ đây người khác sẽ khó lòng tiếp tục mưu tính ấy sau ông ta không? Ông ta đã phá hỏng chính sự nghiệp của các con trai nhà Porse — trong vương tộc không còn người đàn ông nào khác để dân chúng tụ hội quanh mình. Có lẽ anh sẽ nói rằng nếu Erlend thực hiện được ý định và đưa công tử Haakon về Na Uy — thì ông ta đã trao thế cờ vào tay tôi. Xa hơn việc đưa cậu bé cập bờ, bọn — nhãi con ấy — hẳn chẳng đủ sức tiến hành mưu tính của chúng, nếu những người đàn ông chín chắn không phải bước vào để thu xếp phần còn lại. Sự thật là vậy — và tôi dám công khai nhận điều đó. Chúa biết tôi chẳng thu được lợi lộc gì; trái lại, tôi còn phải gác việc chăm nom tài sản của mình sang một bên trong suốt mười năm sống giữa bất an, nhọc nhằn, tranh đấu và những phiền não không dứt — có một số người trong đất nước này hiểu được chừng ấy, và tôi đành lấy đó làm đủ —!” ông đập mạnh tay xuống bàn. “Anh có hiểu không, Simon, rằng người đàn ông đã đặt lên vai mình những đại sự như thế — mà không ai biết được liệu chúng có liên quan đến phúc lợi của tất cả chúng ta trong đất nước này và của con cháu chúng ta suốt nhiều thế hệ hay không — lại quẳng tất cả xuống cùng chiếc quần của mình bên giường một con đàn bà dâm đãng. Máu Chúa! Hẳn ông ta cũng đáng được nhận cái giá mà Audun Hestakorn đã nhận!”
Ông nói, giọng đã bình tĩnh hơn đôi chút:
“Ngoài ra, không phải tôi không mong Erlend được cứu, và anh cũng đừng tưởng tôi không phẫn nộ vì chuyện anh vừa kể. Tôi cho rằng nếu anh làm theo lời khuyên của tôi, anh sẽ tìm được đủ người sẵn lòng cùng anh theo đuổi vụ này. Nhưng tôi không tin sự tháp tùng của tôi có thể giúp anh nhiều đến mức tôi phải tự ý tìm tới đức vua chỉ vì việc ấy.”
Simon đứng dậy, mình mẩy cứng đờ, cử động nặng nề. Vì kiệt sức, gương mặt chàng xám ngoét. Stig Haakonssøn bước tới đặt tay lên vai chàng — giờ người ta sẽ mang thức ăn ra; ông chỉ không muốn cho người ngoài vào trước khi họ nói chuyện xong. Nhưng lúc này Simon phải ăn uống lấy sức rồi ngủ một giấc. Simon cảm ơn — chàng muốn một lát nữa lại lên đường, nếu Stig có thể cho chàng mượn một con ngựa khỏe. Và liệu ông có thể cho người hầu của chàng là Jon Daalk trú lại đêm nay chăng. Tối qua Simon đã phải bỏ anh ta lại, bởi ngựa của anh ta không thể theo kịp Digerbein. Phải, chàng đã cưỡi gần trọn đêm — cứ ngỡ mình phải thông thạo con đường tới đây lắm rồi — thế mà vẫn đi lạc đôi lần —.
Stig bảo chàng hãy đợi đến ngày mai, khi ấy chính ông sẽ đi cùng chàng — ít nhất cũng được một quãng đường — phải, ông cũng có thể đi luôn tới Tunsberg —.
“Ở đây tôi chẳng còn gì để chờ nữa. Tôi chỉ định ghé vào nhà thờ — vì đã tới tận gia trang này rồi — ít ra tôi cũng muốn đọc một lời cầu nguyện nơi Halfrid nằm —”.
Máu réo ù và rung lên như tiếng chuông trong cơ thể kiệt quệ của chàng, tim đập vang đến điếc tai. Chàng tưởng mình sắp ngã nhào, như thể chỉ tỉnh có một nửa. Nhưng chàng nghe chính giọng mình nói, đều đặn và bình thản:
“Ngài không đi cùng tôi sao, ngài Erling? Tôi biết trong số họ hàng, nàng yêu quý ngài hơn cả —”
Chàng không nhìn người kia, nhưng cảm thấy ông cứng người lại. Một lúc sau, xuyên qua tiếng máu mình rì rầm, ngân vang, chàng nghe giọng Erling Vidkunssøn trong trẻo và nhã nhặn:
“Tôi rất sẵn lòng, Simon Darre. — Thời tiết thật tệ,” ông nói, vừa đeo kiếm vào người vừa choàng một tấm áo dày lên vai. Simon đứng bất động như đá cho đến khi người kia sửa soạn xong. Rồi họ ra đi.
Ngoài trời, mưa thu rơi rả rích, sương mù từ biển tràn vào dày đến mức họ hầu như không nhìn xa được quá đôi ba chiều dài thân ngựa, về phía ruộng đồng và những lùm cây lá vàng ở hai bên lối đi. Đường tới nhà thờ không xa. Simon sang nhà vị linh mục cai quản giáo xứ ngay bên cạnh lấy chìa khóa — chàng mừng khi thấy ở đó toàn những người mới tới sau thời mình còn sống nơi đây — nhờ vậy chàng khỏi phải chuyện trò dông dài.
Đó là một nhà thờ đá nhỏ, chỉ có một bàn thờ. Không suy nghĩ, Simon lại nhìn những bức tượng và đồ trang hoàng mà chàng đã thấy hàng trăm lần, trong lúc quỳ xuống cách Erling Vidkunssøn một quãng bên phiến đá cẩm thạch trắng, đọc các lời cầu nguyện và làm dấu thánh giá ở những chỗ phải làm — mà không ý thức được gì.
Chính chàng cũng không hiểu sao mình lại có thể làm thế. Nhưng giờ chàng đã dấn vào giữa việc ấy rồi. Chàng không biết mình sẽ nói gì — song dù kinh hoàng và hổ thẹn về chính mình đến phát bệnh, chàng vẫn biết mình sẽ thử làm việc này.
Chàng nhớ gương mặt trắng bệch, bệnh tật của người đàn bà đã luống tuổi trong bóng tối mờ mờ quanh giường, nhớ giọng nói dịu dàng, thanh nhã của nàng — buổi chiều chàng ngồi bên mép giường và nàng kể cho chàng nghe chuyện ấy. Khi đó còn khoảng một tháng nữa đứa trẻ mới ra đời; chính nàng cũng cho rằng việc ấy sẽ lấy mạng mình — vậy mà nàng sẵn lòng và vui lòng trả cái giá đắt đến thế để có được con trai của họ. Sinh linh bé bỏng đáng thương đang nằm dưới phiến đá này, trong một cỗ quan tài nhỏ bên vai mẹ. Không, chẳng người đàn ông nào có thể làm điều chàng đã định làm —.
Nhưng gương mặt trắng bệch của Kristin. Nàng đã biết chuyện khi chàng từ Akersnes trở về hôm ấy. Tái nhợt và bình tĩnh, nàng nói về việc đó rồi hỏi kỹ chàng — nhưng chàng chỉ nhìn thấy đôi mắt nàng trong một khoảnh khắc ngắn ngủi và từ đó không dám nhìn vào nữa. Giờ nàng đang ở đâu hay đã làm gì, chàng không biết — liệu nàng còn ngồi trong quán trọ, đang ở bên chồng, hay họ đã đưa nàng ra Skogheim — chàng đã giao việc ấy vào tay Olav Kyrning và Sira Ingolf — chàng không chịu đựng nổi thêm nữa, và cũng thấy mình không thể phí thời gian —.
Simon không hay mình đã vùi mặt vào hai bàn tay. Halfrid — chuyện này đâu phải là tội lỗi hay nhục nhã gì, Halfrid của ta —. Dẫu vậy. Điều nàng đã nói với chàng, người chồng của mình — về nỗi đau và về tình yêu khiến nàng phải ở lại với lão quỷ già. Một lần trước đó, lão đã giết chết đứa con ngay dưới tim người mẹ — và nàng vẫn ở lại, vì không muốn đặt người bạn nàng yêu quý nhất vào cơn cám dỗ —.
Erling Vidkunssøn quỳ đó, gương mặt cân đối, không chút sắc máu chẳng biểu lộ điều gì. Ông khép hai bàn tay trước ngực, lòng bàn tay áp vào nhau; thỉnh thoảng ông làm dấu thánh giá bằng một cử động lặng lẽ, mềm mại và đẹp đẽ, rồi lại chụm các đầu ngón tay vào nhau.
Không. Việc này kinh khủng đến mức chẳng người đàn ông nào có thể làm nổi. Ngay cả vì Kristin, chàng cũng không thể làm việc ấy. Hai người cùng đứng lên, cúi chào bàn thờ rồi đi dọc nhà thờ ra ngoài; mỗi bước trên nền lát đá, đinh thúc ngựa của Simon lại khẽ leng keng. Từ khi rời gia trang, họ vẫn chưa nói với nhau một lời, và Simon không biết chuyện gì sắp xảy ra.
Chàng khóa cửa nhà thờ, còn Erling Vidkunssøn đi trước qua nghĩa địa. Dưới mái che nhỏ bên cổng nghĩa địa, ông dừng lại. Simon theo đến; họ đứng đó một lúc trước khi bước ra màn mưa thấm lạnh.
Erling Vidkunssøn nói bình thản, đều giọng, nhưng Simon cảm thấy cơn thịnh nộ âm u, không bờ bến đang cuộn sâu trong người kia — chàng không dám ngẩng lên.
“Nhân danh quỷ dữ, Simon Andressøn, anh định làm gì khi — bày ra — chuyện này?”
Simon không đáp nổi một lời.
“Anh tưởng anh có thể đe dọa tôi — ép tôi làm theo ý anh — chỉ vì có lẽ anh đã nghe được vài lời đồn dối trá về những chuyện xảy ra — vào cái thời chắc anh còn chưa cai sữa —.” Cơn giận giờ đã gầm gừ sát lại.
Simon lắc đầu:
“Tôi đã nghĩ, thưa ngài, rằng khi ngài nhớ tới người còn quý hơn vàng ròng tinh khiết nhất — có lẽ ngài sẽ thương vợ con Erlend.”
Ngài Erling nhìn chàng — ông không đáp, mà bắt đầu bóc rêu và địa y khỏi những phiến đá xây tường nghĩa địa. Simon nuốt khan rồi đưa lưỡi làm ướt môi:
“Tôi hầu như chẳng biết mình đã nghĩ gì, Erling Vidkunssøn — rằng khi ngài nhớ tới người đã chịu đựng suốt những năm tháng đau khổ ấy — không có nguồn an ủi hay cứu giúp nào ngoài một mình Thiên Chúa — thì ngài sẽ cứu giúp biết bao nhiêu người — bởi ngài có thể! Vì thuở ấy ngài không thể cứu nàng. Có bao giờ ngài hối hận vì hôm đó đã cưỡi ngựa rời Mandvik, bỏ Halfrid lại dưới quyền ngài Finn không —”
“Nhưng tôi không hối hận!” Giọng Erling lúc này sắc như dao. “Bởi tôi biết nàng không bao giờ — nhưng chuyện này thì tôi không nghĩ anh hiểu nổi! Vì nếu có lấy một lần anh hiểu trọn vẹn nàng kiêu hãnh đến nhường nào, vị phu nhân mà anh đã được lấy làm vợ” — ông bật cười vì giận dữ — “thì anh đã không làm chuyện này. Tôi không biết anh biết những gì — nhưng anh có thể biết thêm điều này. Họ phái tôi đi, vì lúc ấy Haakon đang lâm bệnh, để tôi đón nàng về với họ hàng. Elin và nàng lớn lên như chị em, tuổi tác cũng xấp xỉ nhau, dù Elin là cô ruột của nàng — chúng tôi đã — sự việc đã thành ra thế này: nếu nàng trở về từ Mandvik, chúng tôi sẽ buộc phải gặp nhau hết lần này đến lần khác. Chúng tôi đã ngồi nói chuyện suốt trọn một đêm nơi hành lang của Lindormburet — từng lời đã nói ra, cả nàng lẫn tôi đều có thể trả lời trước Thiên Chúa vào ngày phán xét. Rồi chính Người hãy trả lời chúng tôi vì sao mọi sự lại phải như thế —.
Dẫu sao cuối cùng Thiên Chúa cũng đã tưởng thưởng lòng mộ đạo của nàng. Người ban cho nàng một người chồng tốt để bù đắp cho kẻ nàng từng có trước đó — một thằng nhãi con như anh khi ấy — ăn nằm với các nữ tỳ của nàng ngay trong gia trang của nàng — rồi bắt nàng nuôi nấng lũ con hoang của anh —,” ông ném văng nắm rêu đã vò tròn đi.
Simon đứng bất động, câm lặng. Erling lại lột một mảng rêu khác rồi ném đi:
“Tôi đã làm theo điều nàng truyền. Anh nghe đủ chưa? Không còn cách nào khác. Dù chúng tôi gặp nhau ở bất cứ nơi đâu trên thế gian, thì chúng tôi cũng sẽ — chúng tôi sẽ —. Thông dâm chẳng phải một từ đẹp đẽ gì. Loạn luân — còn xấu xa hơn —”
Simon cứng nhắc gật đầu thật khẽ.
Chính chàng cũng hiểu — nói ra điều mình đang nghĩ sẽ thật nực cười. Erling Vidkunssøn thuở ấy mới ngoài hai mươi, thanh nhã và hào hoa; Halfrid yêu ông đến mức hẳn nàng sẵn lòng cúi xuống hôn dấu chân ông trên lớp cỏ đẫm sương giữa sân vào buổi sáng mùa xuân ấy —. Còn chàng là một gã nông dân đã luống tuổi, béo mập, xấu xí — còn Kristin. Giờ đây hẳn nàng chẳng bao giờ nảy ra ý nghĩ rằng linh hồn của bất cứ ai có thể lâm nguy nếu họ sống chung dưới một mái gia trang suốt hai mươi năm. Chàng đã được dạy cho hiểu thật thấu đáo điều ấy rồi —.
Rồi chàng khẽ nói, gần như khiêm nhường:
“Bà ấy không đành lòng để đứa trẻ vô tội mà cô hầu gái của bà đã có với chồng bà phải chịu khổ giữa đời. Chính _bà ấy_ đã xin tôi đối đãi với nó cho phải lẽ và công bằng, hết sức tôi có thể. Ôi, Erling Vidkunssøn— xin vì người vợ tội nghiệp, vô tội của Erlend—. Nàng đau buồn đến chết mất—. Tôi thấy mình không thể để sót một hòn đá nào mà không lật lên, trong khi tìm sự giúp đỡ cho nàng và tất cả các con nàng—”
Erling Vidkunssøn đứng tựa vào cột cổng. Gương mặt ông vẫn bình thản như thường lệ, giọng nói nhã nhặn và lạnh lùng khi ông lên tiếng lần nữa:
“Tôi có cảm tình với nàng, Kristin Lavransdatter, qua đôi lần ít ỏi tôi được gặp— nàng là một người đàn bà đẹp và đáng trọng— và tôi đã nói với ngài nhiều lần rồi, Simon Andressøn, tôi tin chắc ngài sẽ nhận được sự giúp đỡ nếu chịu nghe lời khuyên của tôi. Nhưng tôi thật không hiểu ngài có ý gì với cái ý nghĩ— kỳ quặc này. Hẳn ngài không thể cho rằng chỉ vì thuở ấy tôi còn chưa đến tuổi tự quyết nên phải để chú tôi định đoạt chuyện hôn nhân, còn thiếu nữ tôi quý mến nhất thì đã được hứa gả khi chúng tôi quen nhau—. Vả lại, vợ Erlend cũng đâu đến nỗi vô tội như ngài nói. Phải, ngài lấy em gái nàng, quả là vậy, nhưng chính ngài, chứ không phải tôi, đã khiến chúng ta phải đi đến cuộc chuyện trò— kỳ quặc này— vậy ngài đành chịu cho tôi nhắc đến chuyện ấy. Tôi còn nhớ hồi Erlend cưới nàng, người ta đã bàn tán chẳng ít— cuộc hôn nhân ấy thành sự trái với lời khuyên và ý muốn của Lavrans Bjørgulfssøn, nhưng cô gái chỉ nghĩ đến việc làm theo ý mình hơn là vâng lời cha và giữ gìn danh dự. Phải, dẫu vậy nàng vẫn có thể là một người vợ tốt— nhưng nàng đã _có được_ Erlend, vậy hẳn họ cũng từng hưởng một thời vui thú bên nhau. Tôi không tin Lavrans từng được vui vẻ gì nhiều vì người con rể ấy— _ông ấy_ đã chọn một người khác cho con gái trước khi nàng quen Erlend— nàng đã được hứa gả, điều đó tôi biết—” Ông bỗng im bặt, nhìn Simon một thoáng rồi quay mặt sang bên, khá lúng túng.
Mặt đỏ rực vì hổ thẹn, Simon cúi đầu xuống ngực, nhưng chàng vẫn nói, nhỏ mà vững giọng:
“Phải, nàng đã được hứa gả cho tôi.”
Trong một thoáng, cả hai đứng đó, không ai dám nhìn ai. Rồi Erling Vidkunssøn ném nắm rêu cuối cùng đi, quay người bước ra ngoài mưa. Simon còn đứng lại— nhưng khi người kia đã đi được một quãng vào trong sương mù, ông dừng chân và sốt ruột vẫy chàng.
Thế rồi họ trở về, lặng lẽ như khi ra đi. Họ đã gần tới gia trang thì ngài Erling nói:
“Tôi sẽ làm việc ấy, Simon Andressøn. Ngài hãy đợi đến ngày mai, rồi cả bốn chúng ta sẽ cùng đi.”
Simon ngước nhìn người kia— gương mặt chàng méo hẳn đi vì hổ thẹn và đau đớn. Chàng muốn cảm ơn nhưng không sao thốt nổi, phải cắn mạnh vào môi vì hàm dưới run lên dữ dội.
Khi họ bước qua cửa vào nhà, Erling Vidkunssøn dường như vô tình chạm vào vai Simon. Nhưng cả hai đều biết người này không dám nhìn người kia.
Ngày hôm sau, khi họ sửa soạn lên đường, Stig Haakonssøn nhất quyết muốn cho Simon mượn quần áo— chàng không mang theo đồ thay. Simon nhìn xuống người mình— người hầu đã chải và lau sạch y phục cho chàng, nhưng sau chuyến cưỡi ngựa dài trong thời tiết dữ dằn, nó vẫn không sao hết vẻ tơi tả. Chàng vỗ hai tay xuống đùi:
“Tôi béo quá, Stig—. Với lại tôi đến đây đâu phải để dự tiệc—”
Erling Vidkunssøn đặt một chân lên ghế dài, còn con trai ông đang cài chiếc đinh thúc mạ vàng vào chân ấy— dường như hôm nay ngài Erling cố giữ đám gia nhân tránh xa mình hết mức có thể. Vị hiệp sĩ bật cười với một vẻ giận dữ lạ lùng:
“Hẳn cũng chẳng hại gì nếu ai nấy nhìn ra Simon Darre đã không tiếc sức khi lo việc cho anh em rể— nhưng chàng ta cứ từ đường cái bước thẳng vào đây với những lời gan góc và khôn khéo của mình. Người anh em rể cũ của chúng ta quả có tài ăn nói, Stig. Tôi chỉ sợ một điều— chính chàng ta sẽ không nhận ra lúc nào mình nên dừng lại—”
Simon đứng đó, mặt đỏ sẫm, nhưng không nói gì. Trong mọi lời Erling Vidkunssøn nói với chàng từ hôm qua, chàng đều nhận ra nỗi oán giận châm chọc— cùng một lòng tốt miễn cưỡng kỳ lạ— và quyết tâm vững chắc muốn đưa việc này đến cùng, một khi ông đã nhận lo nó.
Thế rồi họ cưỡi ngựa từ Mandvik đi về phía bắc: ngài Erling, con trai ông và Stig, cùng cả thảy mười người hầu ăn mặc chỉnh tề, binh khí đẹp đẽ. Simon, chỉ có một người đi theo, nghĩ rằng lẽ ra mình phải biết xuất hiện với đoàn tùy tùng và trang bị xứng đáng hơn— Simon Darre xứ Formo đâu cần phải cưỡi ngựa bên mấy người anh em vợ cũ như một kẻ thấp hèn tìm đến nhờ họ cứu giúp trong cảnh bất lực. Nhưng chàng chẳng còn bận tâm. Chàng đã quá mệt mỏi và suy sụp vì việc mình làm hôm qua, đến nỗi giờ đây dường như kết quả của chuyến đi này ra sao cũng không còn quan trọng.
Simon vẫn luôn làm ra vẻ không tin những lời đồn ghê tởm về vua Magnus. Chàng cũng chẳng phải bậc thánh nhân đến mức không chịu nổi một câu đùa thô tục giữa những người đàn ông trưởng thành. Nhưng mỗi khi người ta chụm đầu, rùng mình thì thầm về những tội lỗi đen tối và kín giấu, chàng luôn cảm thấy khó chịu. Và chàng cho rằng thật bất xứng nếu tin hay nghe những chuyện như thế về vị vua mà chàng mang danh là người đã tuyên thệ phụng sự.
Dẫu vậy, chàng vẫn kinh ngạc khi đứng trước vị vua trẻ. Chàng chưa gặp Magnus Eirikssøn từ khi nhà vua còn là một đứa trẻ, thế mà chàng vẫn chờ đợi sẽ thấy ở người có nét gì đó đàn bà, nhớp nháp hoặc bệnh hoạn— nhưng đây lại là một trong những người đàn ông trẻ đẹp nhất Simon từng nhìn thấy— và giữa tất cả vẻ trẻ trung cùng thân hình thanh mảnh ấy, nhà vua vẫn mang dáng vẻ nam nhi và đế vương.
Nhà vua mặc một chiếc áo dài xanh da trời pha lục, chấm gót và nhiều nếp, thắt sát vòng eo thon bằng chiếc đai mạ vàng— và người mang thân hình cao, mảnh như cây non với vẻ duyên dáng hoàn hảo trong bộ y phục nặng nề ấy. Vua Magnus có mái tóc sáng màu nằm mượt quanh chiếc đầu cân đối, nhưng phần ngọn được uốn công phu, xòe bồng quanh vầng cổ để trần, rộng và thẳng. Đường nét gương mặt người thanh tú mà cương nghị, nước da tươi, đôi má đỏ và phơn phớt sắc vàng vì nắng; đôi mắt trong, ánh nhìn cởi mở. Người chào các bề tôi với phong thái đẹp đẽ và vẻ dịu dàng thân ái. Sau đó, người đặt tay lên tay áo Erling Vidkunssøn, đưa ông đi cách những người khác vài bước trong khi cảm ơn ông đã đến.
Họ trò chuyện một lúc, rồi ngài Erling nói rằng ông có một việc riêng cần đến ân huệ và thiện ý của nhà vua. Đám thị thần bèn mang một chiếc ghế đặt cho vị hiệp sĩ trước ngai cao của vua, chỉ chỗ cho ba người kia ngồi thấp hơn, ở sâu xuống phía dưới gian phòng, rồi lui ra.
Dường như tự nhiên mà Simon tìm lại được những phép tắc và phong thái chàng đã học thuở thiếu thời— chàng cũng đã chịu nhận chiếc áo dài bằng dạ nâu Stig cho mượn, nên về dáng vẻ bên ngoài, chàng cũng không khác những người kia. Nhưng khi ngồi đó, chàng cảm thấy như mình đang ở giữa một giấc mơ; chàng vừa là, lại vừa không phải chàng Simon Darre trẻ tuổi năm xưa, người con trai nhanh nhẹn, nhã nhặn của một hiệp sĩ, từng bưng khăn và nến hầu vua Haakon trong vương dinh Oslo từ vô vàn mùa đông trước. Chàng vừa là, lại vừa không phải Simon, người chủ đất xứ Formo đã sống cuộc đời tự do, vui vẻ trên miền thung lũng suốt bao năm— theo một cách nào đó vẫn vô ưu, dù ngày nào chàng cũng biết trong lòng mình có hòn than ấy âm ỉ— nhưng chàng vẫn quay tâm trí khỏi nó. Một ý muốn phản kháng âm u, đầy đe dọa dâng lên trong người đàn ông ấy— điều chàng biết trong lòng không phải một tội lỗi hay lầm lạc chàng cố ý gây nên, mà là số phận đã thổi nó bùng thành ngọn lửa sáng; còn chàng phải vật lộn và làm như không có gì trong khi bị quay trên lửa nhỏ.
Chàng đứng lên vì tất cả những người khác đều đứng dậy— vua Magnus đã rời chỗ:
“Người họ hàng thân mến,” giọng nói trẻ trung, trong trẻo của nhà vua cất lên, “theo ta, sự việc là thế này. Vị công tử ấy là em trai ta, nhưng chúng ta chưa bao giờ thử dùng chung một đoàn cận thần— cùng những người ấy không thể phụng sự cả hai chúng ta. Mà xem ra Erlend cũng không định để tình trạng này kéo dài mãi— dù trong một thời gian hắn vẫn cai quản địa hạt dưới quyền ta, đồng thời lại trở thành người đã tuyên thệ phụng sự Haakon. Nhưng những người của ta muốn theo em ta Haakon hơn, sẽ được thôi việc dưới trướng ta và tự do tìm vận hội trong triều của em ấy. _Họ_ là những ai— điều đó ta định sẽ nghe chính miệng Erlend nói ra.”
“Vậy thì, tâu đức vua, xin người thử xem có thể thỏa thuận với Erlend Nikulaussøn về điểm này chăng. Người phải giữ lời bảo đảm an toàn đã ban và cho phép người họ hàng của mình được nói chuyện—”
“Phải, hắn là họ hàng của ta và cũng là họ hàng của ngài, còn ngài Ivar đã khiến ta hứa bảo đảm an toàn cho hắn— nhưng hắn chẳng giữ lời thề với ta, cũng chẳng nhớ đến tình thân giữa chúng ta.” Vua Magnus cười khẽ và lại đặt một tay lên cánh tay Erling. “Họ hàng của ta, này người họ hàng, dường như sống đúng theo câu người nước ta vẫn nói: họ hàng là kẻ tệ nhất với họ hàng. Giờ ta hoàn toàn sẵn lòng tỏ lòng khoan dung với người họ hàng Erlend xứ Husaby, vì Chúa, Đức Mẹ và vị hôn thê của ta, cho hắn được giữ mạng, tài sản và quyền cư ngụ trong nước nếu hắn chịu giảng hòa với ta; hoặc cho hắn thời hạn hợp pháp để rời khỏi các xứ của ta nếu hắn muốn đi theo vị chủ mới, công tước Haakon. Ta cũng sẽ ban cùng một lòng khoan dung ấy cho mọi người từng liên kết với hắn— nhưng ta muốn biết họ là ai, và những kẻ nào trong số người của ta đang sống khắp đất nước này đã phụng sự chủ mình bằng lòng gian trá. Ngài nói sao, Simon Andressøn— ta biết cha ngài từng là trụ cột trung thành của ông ngoại ta, còn chính ngài đã phụng sự vua Haakon một cách vẻ vang— ngài không cho rằng ta có quyền tra xét việc này sao?”
“Thần cho rằng, tâu đức vua”— Simon bước lên và lại cúi chào— “chừng nào Bệ hạ còn cai trị theo luật pháp và phong tục của đất nước này, với lòng khoan dung, thì hẳn người sẽ chẳng bao giờ biết những kẻ nào từng định tìm đến việc trái luật và phản nghịch quân vương. Bởi một khi dân chúng trong nước thấy Bệ hạ giữ đúng công lý và phép tắc mà tổ tiên người đã lập nên, thì chắc chắn không ai trong vương quốc này còn nghĩ đến chuyện phá hoại hòa bình. Còn những người có một thời có lẽ thấy khó tin rằng Bệ hạ, ở tuổi trẻ như thế, có thể cai trị hai vương quốc lớn bằng trí tuệ và sức mạnh, họ sẽ im lặng và nghĩ lại cho sáng suốt hơn.”
“Quả là vậy, tâu đức vua,” Erling Vidkunssøn tiếp lời, “không một người nào trong đất nước này từng nghĩ đến việc khước từ tuân phục điều gì người truyền phán một cách chính đáng—”
“Không ư? Vậy ý các ngài là nếu xét kỹ sự việc, Erlend không hề hành xử gian trá và phản quốc hay sao?”
Trong một thoáng, dường như ngài Erling không tìm được lời đáp; bấy giờ Simon lên tiếng:
“Bệ hạ là quân vương của chúng thần— mọi người đều trông đợi người dùng luật pháp trừng trị việc trái luật. Nhưng nếu người đi theo con đường Erlend Nikulaussøn đã bước trước, thì có thể chính những kẻ mà giờ đây người ráo riết muốn biết tên sẽ tiến ra tự xưng danh, hoặc những người khác sẽ bắt đầu suy xét xem đầu đuôi việc này thật ra thế nào— bởi thiên hạ sẽ bàn tán rất nhiều nếu Bệ hạ hành động như người đã đe dọa đối với một người nổi tiếng và cao quý như Erlend Nikulaussøn.”
“Ngài muốn nói gì, Simon Andressøn?” nhà vua hỏi gay gắt— đồng thời đỏ bừng mặt.
“Ý Simon là,” Bjarne Erlingssøn xen vào, “có lẽ sẽ chẳng lợi gì cho Bệ hạ nếu dân chúng bắt đầu hỏi vì sao Erlend không được hưởng sự bảo hộ của luật pháp, vốn là quyền của mọi người trừ phường trộm cắp và những kẻ đại gian ác. Rồi họ có thể nghĩ đến những người cháu ngoại khác của vua Haakon—”
Erling Vidkunssøn quay phắt về phía con trai, trông ông đầy giận dữ— nhưng nhà vua lạnh lùng hỏi:
“Các ngài không coi kẻ phản nghịch quân vương là phường đại gian ác sao?”
“Không ai _gọi_ người ấy như vậy nếu mưu tính của người ấy thành công, tâu Bệ hạ,” Bjarne đáp.
Trong một thoáng, tất cả đều đứng im lặng. Rồi Erling Vidkunssøn nói:
“Dẫu rồi đây Erlend bị gọi là gì, tâu Bệ hạ, người cũng không nên vì hắn mà làm xáo trộn luật pháp—.”
“Vậy thì ở điểm này luật pháp cần phải được sửa đổi,” nhà vua nóng nảy nói, “nếu quả thật ta không có quyền tìm hiểu xem dân chúng định giữ lòng trung thành với ta như thế nào—”
“Nhưng người vẫn không thể hành động theo một điều luật sửa đổi trước khi nó được ban hành, trừ phi người muốn áp bức dân trong nước— mà từ xưa họ vốn rất khó quen với sự áp bức của các vua mình,” ngài Erling nói cộc lốc.
“Ta có giới hiệp sĩ và những người đã tuyên thệ phụng sự để nương tựa,” Magnus Eirikssøn đáp với tiếng cười như một cậu bé. “Ngài nói sao, Simon?”
“Thần xin nói, tâu Bệ hạ— sự nương tựa ấy có thể sẽ không vững chắc đến thế— nếu xét theo những điều kiện mà giới hiệp sĩ và quý tộc đã dành cho các vua của họ ở Đan Mạch và Thụy Điển— khi dân thường không có quyền lực để nâng đỡ vương quyền chống lại họ. Nhưng nếu Bệ hạ đang nghĩ đến những phương sách như vậy, thần xin người cho thần thôi phụng sự— bởi khi ấy thần thà đứng trong đám dân quê còn hơn.”
Simon nói điềm tĩnh và chừng mực đến nỗi thoạt đầu dường như nhà vua không hiểu ý chàng. Rồi người bật cười:
“Ngài đang đe dọa ta sao, Simon Andressøn—? Ngài muốn ném găng thách đấu ta đấy ư?”
“Việc ấy sẽ tùy theo ý Bệ hạ,” Simon vẫn nói đều giọng, nhưng chàng rút đôi găng khỏi thắt lưng và cầm trong tay. Bấy giờ Bjarne trẻ tuổi nghiêng người tới, nắm lấy chúng:
“Đây đâu phải đôi găng cưới thích hợp để Bệ hạ mua!” Chàng giơ đôi găng cưỡi ngựa dày cộm, sờn cũ lên cao và cười. “Nếu người ta biết Bệ hạ từng hỏi mua thứ găng như thế, e rằng sẽ có quá nhiều đôi được đem chào— mà giá lại rẻ lắm!”
Erling Vidkunssøn kêu lên một tiếng. Bằng một cử động đột ngột, dường như ông quét vị vua trẻ sang một bên, ba người kia sang phía khác, rồi dồn họ về phía cửa: “Tôi muốn nói riêng với nhà vua.”
“Không, không, ta muốn nói chuyện với Bjarne,” nhà vua kêu lên và chạy theo.
Nhưng ngài Erling đẩy con trai ra ngoài cùng những người kia.
Họ đi tha thẩn một hồi trong sân thành rồi ra ngoài mỏm đá— không ai nói lời nào. Stig Haakonssøn có vẻ trầm ngâm, nhưng vẫn im miệng như suốt từ đầu đến giờ; Bjarne Erlingssøn vừa đi vừa kín đáo mỉm cười một mình. Một lúc sau, người hầu binh khí của ngài Erling đến truyền lời chủ, bảo họ đợi ông trong nhà khách— ngựa của họ đang đứng trong sân thành.
Sau đó họ ngồi trong nhà khách. Họ tránh nói đến chuyện vừa xảy ra— cuối cùng lại chuyện trò về ngựa, chó săn và chim ưng của mình. Đến tối, Stig và Simon ngồi kể những chuyện đàn bà— Stig Haakonssøn bao giờ cũng có cả một kho chuyện như thế, nhưng Simon cứ vừa nhớ ra chuyện nào thì Stig đã bắt đầu kể đúng chuyện ấy, và hoặc nó từng xảy đến với chính anh ta, hoặc mới xảy ra đâu đó gần Mandvik— mặc dù Simon nhớ rõ mình đã nghe đám gia nhân ở Dyfrin kể câu chuyện ấy từ thuở nhỏ.”
Nhưng chàng vẫn hí lên, cười thi với Stig. Đôi lúc, chiếc ghế dài dưới người chàng dường như chòng chành — chàng sợ một điều gì đó, nhưng không dám nghĩ cho ra đó là gì. Bjarne Erlingssøn cười thầm, uống rượu vang và gặm táo, nghịch chiếc mũ trùm liền cổ áo, thỉnh thoảng lại kể một mẩu chuyện ngắn — chuyện của anh ta mới là những chuyện tục tĩu nhất, nhưng kín đáo hiểm hóc đến nỗi Stig không hiểu. Bjarne bảo mình nghe được từ một linh mục ở Bjørgvin.
Cuối cùng ngài Erling cũng đến. Người con trai bước ra đón để đỡ áo ngoài cho cha. Erling giận dữ quay sang chàng trai trẻ:
“Mày!” Ông quẳng áo choàng vào tay Bjarne — rồi một thoáng cười vụt qua mặt ông, nụ cười mà người cha không muốn nhận là của mình. Ông quay sang Simon:
“Giờ thì hẳn anh có thể mãn nguyện rồi, Simon Andressøn! Chắc anh có thể vững dạ rằng chẳng bao lâu nữa sẽ đến ngày các người được sống yên ổn, vui vẻ bên nhau trên hai gia trang láng giềng — anh và Erlend — cùng vợ anh ta và tất cả các con trai của hai người.”
Simon tái đi đôi chút khi đứng dậy cảm tạ ngài Erling. Chàng đã biết nỗi sợ mà mình không dám nhìn thẳng vào mặt là gì. Nhưng giờ chẳng còn cách nào khác —.
Chừng mười bốn ngày sau, Erlend Nikulaussøn được trả tự do. Simon cùng hai gia nhân và Ulf Haldorssøn cưỡi ngựa ra Akersnes đón chàng.
Cây cối đã gần như trụi lá, bởi tuần trước gió thổi dữ dội. Giờ trời đã vào đợt rét khô không tuyết — mặt đất vang cứng dưới vó ngựa, đồng ruộng bạc trắng sương giá khi họ cưỡi về phía thành phố. Trời có vẻ sắp đổ tuyết — mây phủ kín khắp vòm trời, ánh ngày âm u một màu xám lạnh.
Simon đã thấy Erlend hơi kéo lê một chân khi bước ra sân thành, và chàng nom có phần cứng nhắc, vụng về lúc lên ngựa. Chàng cũng xanh xao lắm. Râu đã được cạo, tóc đã cắt tỉa chải chuốt — nửa mặt trên vàng bợt, nửa dưới trắng nhợt với chân râu xanh; dưới mắt hõm sâu. Nhưng trong chiếc áo dài và áo choàng xanh sẫm, chàng vẫn có vẻ đường bệ; khi từ biệt Olav Kyrning, trao tiền tặng cho những người đã canh giữ và mang thức ăn cho mình trong ngục, phong thái chàng như một thủ lĩnh đang chia tay dân chúng tại một tiệc cưới.
Thoạt đầu trên đường đi, chàng dường như rét; mấy lần chàng rùng mình. Rồi đôi má dần có sắc, khuôn mặt bừng tỉnh — tưởng như nhựa sống đang dâng lên trong người chàng. Simon nghĩ, hẳn Erlend cũng khó bẻ gãy chẳng kém một cành liễu.
Họ về đến nhà trọ, Kristin ra sân đón chồng. Simon cố không nhìn sang đó, nhưng chàng buộc phải nhìn.
Hai người nắm tay chào nhau và trao đổi vài lời, nhỏ nhẹ mà rõ ràng. Trước mắt tất cả người trong nhà, họ đã vượt qua cuộc gặp gỡ ấy khá đẹp đẽ và phải phép. Chỉ có điều cả hai cùng đỏ bừng mặt, nhìn nhau trong một khoảnh khắc, rồi đồng thời cụp mắt xuống. Sau đó Erlend lại đưa tay cho vợ, và họ cùng đi về phía nhà kho có gác, nơi họ sẽ ở trong thời gian lưu lại phố chợ.
Simon quay về phía căn phòng nơi chàng và Kristin vẫn trú từ trước đến giờ. Khi ấy, từ bậc thấp nhất của cầu thang lên gác, nàng ngoảnh lại gọi chàng, giọng ngân lên một âm sắc lạ lùng:
“Em không vào sao, em rể — vào ăn chút gì trước đã — cả anh nữa, Ulf!”
Nàng trông trẻ trung và thân thể mềm mại biết bao, khi đứng hơi nghiêng bên hông mà ngoảnh qua vai nhìn lại. Ngay khi đến Oslo, nàng đã bắt đầu vấn khăn theo một lối khác. Ở miền nam này, chỉ vợ những người dân thường mới đội khăn lanh theo kiểu cổ mà nàng vẫn dùng từ ngày lấy chồng: bó sát quanh mặt như khăn trùm của nữ tu, hai vạt bắt chéo trên vai khiến cổ bị che kín, hai bên xếp nhiều nếp rồi phủ ra sau búi tóc. Tại Trondheim, đội khăn theo lối ấy gần như được xem là dấu hiệu của lòng mộ đạo; Tổng giám mục Eiliv vẫn luôn ca ngợi đó là lối ăn vận đoan trang, nết na nhất dành cho phụ nữ đã có chồng. Nhưng để khỏi khác người, nàng đã theo thời trang miền nam, trải tấm vải lanh phẳng trên đỉnh đầu và buông thẳng xuống lưng, để lộ tóc trước trán, cổ và vai; các bím tóc chỉ được buộc gọn sao cho không lộ dưới mép khăn, còn tấm khăn mềm mại ôm theo hình dáng đầu. Simon từng nhìn thấy kiểu ấy và từng nghĩ nó hợp với nàng — nhưng trước đây chàng vẫn chưa nhận ra nó khiến nàng trông trẻ đến nhường nào. Và đôi mắt nàng sáng như sao.
Về cuối ngày, một số người đến chào Erlend — Ketil xứ Skog, Markus Torgeirssøn, rồi đến tối là chính Olav Kyrning, Sira Ingolf và ngài Guttorm, một linh mục ở nhà thờ Halvard. Khi hai linh mục tới, tuyết đã bắt đầu rơi, những hạt nhỏ, khô và mịn; họ đã lạc đường, đi vào một thửa ruộng giữa những bụi ké — áo quần họ dính đầy quả ké. Mọi người đều tất bật gỡ ké khỏi hai linh mục và những người theo hầu — Erlend và Kristin cùng gỡ cho ngài Guttorm; họ cứ liên hồi đỏ mặt, trêu đùa vị linh mục, và mỗi khi cười, giọng nói lại run rẩy, ngập ngừng một cách lạ lùng.
Đầu buổi tối Simon uống khá nhiều, nhưng không hề choáng váng — thân thể chỉ hơi nặng nề. Chàng nghe từng lời người ta nói rõ đến vô lý. Những người khác chẳng mấy chốc đã nói năng không còn dè giữ — trong bọn họ không ai là bạn của nhà vua.
Giờ đây, sau mọi chuyện, Simon bỗng thấy ngán ngẩm tất cả. Chẳng qua chỉ là những lời ngu xuẩn họ ngồi đó lớn tiếng phun ra — ồn ào và nóng nảy. Ketil Aasmundssøn có phần chất phác đến ngốc nghếch, mà người anh em bên vợ của ông ta, Markus, cũng chẳng khôn ngoan gì hơn; Olav Kyrning là người chính trực và hiểu biết, nhưng thiển cận — còn hai linh mục kia, theo chàng thấy, cũng không được sáng suốt cho lắm. Giờ tất cả đều ngồi nghe Erlend và phụ họa theo chàng — mà Erlend càng lúc càng trở lại đúng con người xưa nay của mình, ngông nghênh và khinh suất. Chàng đã cầm tay Kristin đặt lên đầu gối mình, ngồi nghịch những ngón tay nàng — hai người ngồi sát đến mức vai chạm vào nhau. Giờ nàng đỏ rực cả mặt, không sao rời mắt khỏi chàng — khi chàng lén vòng một cánh tay quanh eo nàng, khóe miệng nàng run lên, đến nỗi phải khó nhọc lắm mới giữ được đôi môi khép lại —.
Bấy giờ cửa mở, Munan Baardssøn bước vào.
“Cuối cùng chính con bò mộng lớn cũng tới,” Erlend cười gọi, bật dậy đi đón ông ta.
“Xin Chúa và Đức Trinh nữ Maria phù hộ chúng ta — tôi thấy anh vẫn cứ bất cần như không, Erlend,” Munan bực tức nói.
“Thế giờ than thở sầu não thì có ích gì, ông anh họ!”
“Ta chưa từng thấy ai như anh — anh đã phung phí sạch mọi cơ nghiệp của mình —”
“Tôi vốn chẳng phải hạng xuống địa ngục với mông trần chỉ để giữ cho chiếc quần khỏi cháy,” Erlend nói, còn Kristin bật cười khe khẽ, mê say.
Simon gục xuống mặt bàn, vùi đầu trong hai cánh tay. Giá họ tưởng chàng đã say đến mức ngủ thiếp đi — chàng chỉ muốn được yên thân —.
Không có gì khác với điều chàng đã chờ đợi — ít nhất là điều chàng đáng lẽ phải chờ đợi. Nàng cũng vậy. Nàng ngồi đây, người đàn bà duy nhất giữa tất cả những người đàn ông này, vẫn dịu dàng, e lệ, bình thản và vững vàng như thế. Thuở ấy nàng cũng từng như vậy — khi nàng phản bội chàng — trơ trẽn hay vô tội, chàng không biết. Không, điều ấy cũng chẳng đúng; nàng đã không vững vàng đến thế, nàng không trơ trẽn — phía sau vẻ bình thản kia nàng đâu hề bình thản —. Nhưng người đàn ông ấy đã bỏ bùa nàng — vì Erlend, nàng sẵn lòng bước qua đá nung đỏ — và nàng đã bước qua chàng như thể không biết chàng là gì khác ngoài một phiến đá lạnh —.
Ôi, chàng đang nằm đây mà nghĩ quẩn — nàng chỉ muốn đạt cho được ý mình và chẳng để tâm đến gì khác. Cứ để họ hưởng niềm vui của họ — chàng có thể thản nhiên trước chuyện ấy. Họ có sinh thêm bảy đứa con trai nữa thì can hệ gì đến chàng — như thế sẽ có mười bốn đứa chia nhau một nửa gia sản của Lavrans Bjørgulfssøn. Xem ra chàng chẳng cần lo cho con cái mình; Ramborg không mau mắn sinh nở bằng chị — nhưng rồi một ngày kia, con cháu chàng sẽ kế tục chàng trong quyền thế và giàu sang. Song đêm nay chàng chẳng thiết gì đến chuyện ấy —. Chàng muốn uống thêm — nhưng chàng biết đêm nay những món quà của Chúa sẽ chẳng ngấm vào mình — mà nếu vậy, chàng sẽ phải ngẩng đầu lên và có lẽ bị kéo vào câu chuyện.
“Phải, hẳn anh tưởng mình đủ tài làm nhiếp chính,” Munan chế giễu nói.
“Không, ông cũng biết đấy, chúng tôi vốn định chọn chính _ông_ làm nhiếp chính kia,” Erlend cười đáp.
“Nhân danh Chúa, giữ mồm giữ miệng đi, anh bạn —”
Những người khác bật cười.
Erlend bước đến, chạm vào vai Simon:
“Em ngủ à, em rể —” Simon ngẩng lên. Người kia đứng trước mặt chàng, tay cầm một chiếc cốc. “Uống với tôi đi, Simon. Dẫu sao em là người tôi phải cảm tạ hơn hết vì đã giữ được mạng sống — mà tôi quý cái mạng này, dẫu nó có ra sao, anh bạn ạ! Em đã đứng bên tôi như một người anh em — nếu em không phải em rể tôi, có lẽ tôi đã mất đầu rồi. — Thế thì em đã có thể lấy góa phụ của tôi —”
Simon bật dậy. Trong một khoảnh khắc, hai người đứng nhìn nhau — Erlend tỉnh rượu và trắng bệch, đôi môi hé ra trong một tiếng hít mạnh —
Simon vung nắm đấm đánh văng chiếc cốc khỏi tay người kia, rượu mật ong bắn tung tóe. Rồi chàng quay người, bước ra khỏi phòng.
Erlend đứng nhìn theo. Chàng vô thức lau bàn tay và cổ tay vào vạt áo dài — rồi ngoảnh lại: những người khác không nhận thấy chuyện vừa xảy ra. Chàng dùng chân đẩy chiếc cốc vào dưới ghế dài — đứng yên một lát — rồi lặng lẽ đi ra theo người em rể.
Simon Darre đứng dưới chân cầu thang lên gác — Jon Daalk đang dắt ngựa của chàng ra khỏi chuồng. Chàng không nhúc nhích khi Erlend bước đến:
“Simon! Simon — tôi không biết — tôi không biết mình đã nói gì!”
“Bây giờ thì anh biết rồi.”
Giọng Simon hoàn toàn không một âm sắc. Chàng đứng bất động, không nhìn người kia.
Erlend bối rối nhìn quanh. Một vệt trăng nhợt nhạt thấp thoáng sau màn mây, những hạt tuyết nhỏ và cứng lất phất rơi. Erlend rùng mình:
“Em — em định đi đâu —” chàng lúng búng hỏi, nhìn người gia nhân và mấy con ngựa.
“Tìm một chỗ trọ khác,” Simon đáp gọn. “Anh thừa biết tôi chẳng buồn ở _đây_ nữa —”
“Simon!” Erlend thốt lên. “— Ôi, tôi chẳng biết có thứ gì mình không chịu đem đổi, miễn sao lời ấy chưa từng được nói ra —!”
“Tôi cũng vậy,” người kia đáp, vẫn bằng giọng như trước.
Cánh cửa trên gác mở ra. Kristin cầm đèn bước ra hành lang ngoài — nàng cúi người, soi đèn xuống:
“Hai người đứng đó à?” nàng hỏi, giọng lanh lảnh. “Giờ này còn ra ngoài làm gì?”
“Tôi chợt thấy mình nên ra xem ngựa thế nào — theo lối nói của những người biết giữ lễ,” Simon ngẩng lên cười đáp.
“Nhưng — em đã cho dắt ngựa ra rồi còn gì!” nàng ngạc nhiên nói, giọng đầy ý cười.
“Phải — khi đầu óc choáng váng, người ta có thể làm những chuyện như thế,” Simon vẫn nói bằng giọng ấy.
“Nhưng giờ vào đi!” nàng cắt ngang, giọng trong trẻo, vui tươi.
“Vâng. Ngay đây.” Nàng đi vào, còn Simon gọi Jon dắt ngựa trở lại chuồng. Chàng quay sang Erlend — người đàn ông đứng đó, nét mặt và dáng điệu tê dại một cách lạ lùng. “Lát nữa tôi sẽ vào. Chúng ta phải — cố làm như chuyện này chưa từng được nói ra, Erlend — vì vợ của chúng ta. Nhưng đến điều này có lẽ anh cũng hiểu — anh là người cuối cùng trên đời mà tôi muốn — muốn cho biết chuyện này. Và đừng quên rằng tôi không hay quên như anh đâu!”
Cánh cửa trên kia lại mở; các vị khách cùng đoàn tùy tùng kéo nhau ra, Kristin đi với họ, bên cạnh là cô hầu gái cầm đèn.
“Phải,” Munan Baardssøn cười nhăn nhở, “đêm đã khuya lắm rồi — mà tôi nghĩ hai người ở đây đang nóng lòng muốn lên giường lắm —”
“Erlend. Erlend. Erlend.” Ngay khi chỉ còn lại hai người bên trong cánh cửa nhà gác, Kristin đã lao vào lòng chàng. Nàng nép thật chặt, thật sát vào người chàng. “Erlend. — Trông anh buồn quá —” nàng hoảng sợ thì thầm, đôi môi hé mở kề sát miệng chàng. “Erlend?” Nàng ôm lấy hai thái dương chàng bằng cả hai tay.
Chàng đứng một lát, hai cánh tay chỉ hờ hững vòng quanh nàng. Rồi với một âm thanh khe khẽ như tiếng nức nở trong cổ họng, chàng ghì nàng vào mình.
Simon đi về phía chuồng ngựa — chàng đã định nói gì đó với Jon, nhưng dọc đường lại quên mất. Chàng đứng một lúc ở cửa chuồng, ngước nhìn màn sương trăng và tuyết rơi — giờ những bông tuyết lớn hơn bắt đầu buông xuống. Jon và Ulf bước ra, đóng then cửa phía sau, rồi ba người đàn ông cùng đi về phía ngôi nhà nơi họ sẽ ngủ.