Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby — Chương 20: Tập II — Nữ chủ Husaby · Phần III — Erlend Nikulaussøn · Chương VI

Chương 20 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby

Erlend bị giam trong vương phủ cho đến gần lễ Thánh Klemens. Bấy giờ có sứ giả cùng thư từ tới, báo rằng chàng sẽ được đưa đến gặp vua Magnus, có giấy bảo đảm an toàn. Năm ấy nhà vua định đón lễ Giáng sinh tại Baagahus.

Kristin kinh hoàng khiếp sợ. Với một nỗ lực không sao kể xiết, nàng đã tập cho mình vẻ bình thản trong lúc Erlend bị cầm tù, mang án tử hình. Giờ đây chàng lại sắp bị đưa đi xa, tới một nơi chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra; người ta đồn về nhà vua đủ điều trái ngược, mà trong đám những người thân cận với ngài, chồng nàng không có lấy một người bạn. Ivar Ogmundssøn, nay là thành chủ Baagahus, đã dùng những lời gay gắt nhất để nói về tội phản nghịch của Erlend. Và nghe đâu ông ta càng thêm tức giận sau khi được kể lại mấy lời giễu cợt Erlend từng nói về mình.

Nhưng Erlend lại vui mừng. Kristin biết rõ chàng không hề xem nhẹ cuộc chia lìa sắp tới của họ. Song cảnh giam cầm lâu ngày đã bắt đầu bào mòn chàng đến mức chàng háo hức nắm lấy viễn cảnh của chuyến hải hành dài, và dường như hầu chẳng còn thiết gì đến mọi chuyện khác.

Trong vòng ba ngày, mọi việc đã được thu xếp, và Erlend lên đường trên thuyền của ngài Finn. Simon đã hứa sẽ trở lại Nidaros trước Mùa Vọng, sau khi sắp đặt phần nào công việc ở nhà; nếu trước đó có tin tức gì mới, ông đã dặn Kristin cho người báo, ông sẽ đến ngay. Bấy giờ nàng nảy ra ý định đi về nam tìm ông, rồi từ đó sẽ đến chỗ nhà vua, phủ phục dưới chân ngài mà xin ân xá cho chồng mình—nàng sẵn lòng đem tất cả những gì mình sở hữu ra chuộc mạng chàng.

Erlend đã bán và cầm cố gia trang của mình trong thành cho nhiều người khác nhau; tu viện Nidarholm nay sở hữu ngôi nhà chính, nhưng viện phụ Olav đã ân cần viết thư cho Kristin, mời nàng cứ sử dụng nơi ấy bao lâu còn cần. Giờ nàng ở đó một mình với một nữ tỳ, Ulf Haldorssøn—người đã được trả tự do vì họ không thể chứng minh đầy đủ tội trạng của ông—cùng Haldor, cháu gọi Ulf bằng bác, cũng là tùy tùng riêng của Kristin.

Nàng bàn bạc với Ulf, thoạt đầu ông có phần do dự—ông cho rằng chuyến đi qua Dovre sẽ rất gian nan đối với nàng; trên núi tuyết đã xuống dày. Nhưng khi thấy nỗi lo sợ vò xé lòng bà chủ, ông khuyên nàng cứ đi. Phu nhân Gunna đưa hai đứa nhỏ về Raasvold, nhưng Gaute không chịu rời mẹ, mà nàng cũng không dám để thằng bé khuất khỏi mắt mình ở miền bắc núi non này.

Khi họ lên tới phía nam Dovre, thời tiết dữ dội đến nỗi theo lời Ulf, họ để ngựa lại Drivstuen và mượn ván trượt tuyết ở đó—phòng khi đêm sau buộc phải ngủ ngoài trời. Kristin chưa xỏ ván trượt từ thuở còn là một thiếu nữ nhỏ tuổi, nên đi tới hết sức nhọc nhằn, mặc dù những người đàn ông đã gắng hết sức nâng đỡ nàng. Ngày hôm ấy họ chỉ tới được khoảng giữa vùng núi từ Drivstuen đến Hjerdkinn; khi trời bắt đầu tối, họ phải tìm chỗ tránh trong một sườn đồi mọc bạch dương và đào tuyết làm nơi trú. Tại Toftar họ thuê được ngựa; ở đây họ gặp sương mù, rồi khi xuống thấp hơn một quãng trong thung lũng thì trời đổ mưa. Nhiều giờ sau khi đêm xuống, lúc họ cưỡi ngựa vào sân Formo, gió rú quanh các góc nhà, dòng sông gầm réo, còn từ những triền đồi vọng xuống tiếng rì rào, ầm ầm. Sân nhà nhão như một bãi lầy, nuốt mất tiếng vó ngựa—trong giờ nghỉ lễ chiều thứ Bảy, đại trang không hề có dấu hiệu sự sống, cả người lẫn chó dường như đều không nhận biết họ đã tới.

Ulf dùng ngọn giáo nện thình thình lên cửa nhà chính; một gia nhân ra mở. Ngay sau đó, chính Simon xuất hiện nơi cửa tiền sảnh, thân hình rộng lớn và tối sẫm trên nền ánh sáng phía sau, một đứa trẻ bế trên tay; ông xua đàn chó đang sủa ra sau lưng. Nhận ra chị vợ, ông bật lên một tiếng, đặt đứa trẻ xuống rồi kéo nàng và Gaute vào trong, tự tay cởi bỏ những lớp áo ngoài sũng nước cho họ.

Trong phòng ấm áp dễ chịu, nhưng không khí hết sức ngột ngạt, vì đây là một gian nhà sưởi bằng lò, trần phẳng, nằm dưới gác chứa cỏ khô. Người đông nghịt—trẻ con và chó nhung nhúc từ mọi góc. Rồi Kristin nhận ra khuôn mặt hai đứa con trai nhỏ của mình, đỏ hồng, nóng hổi và vui vẻ, ở phía trong sau chiếc bàn có một ngọn nến đang cháy. Bấy giờ chúng bước ra, chào mẹ và anh trai với vẻ hơi xa lạ—Kristin hiểu rằng mình đã bất ngờ xông vào giữa lúc mọi người đang vui vầy. Vả lại gian phòng bừa bộn khắp nơi, và mỗi bước đi sâu vào trong, chân nàng lại giẫm lên những vỏ hạt vỡ lạo xạo—chúng vung vãi kín cả sàn.

Simon sai đám gia nhân nam nữ đi làm nhiều việc, và căn phòng vơi hết người, cùng phần lớn trẻ con và chó—đó là những người láng giềng và đoàn tùy tùng của họ. Trong lúc hỏi han và nghe nàng kể, ông cài lại áo sơ mi cùng áo dài, vốn để mở phanh xuống tận bộ ngực trần đầy lông. Ông phân trần rằng lũ trẻ đã làm ông ra nông nỗi ấy. Ông trông nhếch nhác khủng khiếp, thắt lưng xoắn lệch, áo quần và hai bàn tay rất bẩn, mặt lấm muội, tóc đầy rác vụn và bụi.

Ngay sau đó, hai nữ gia nhân đưa Kristin và Gaute sang phòng riêng của Ramborg. Lửa đã cháy trong lò, các tỳ nữ tất bật thắp nến, sửa soạn giường và giúp nàng cùng thằng bé thay quần áo khô, trong khi những người khác bày thức uống và thức ăn lên bàn. Một thiếu nữ chưa hoàn toàn trưởng thành, tóc tết lụa, mang đến cho nàng bát bia đội một lớp bọt dày. Cô gái ấy là Arngjerd, con gái đầu lòng của Simon.

Rồi chính ông bước vào; ông đã sửa soạn lại mình và trông giống với Simon mà Kristin vẫn quen thấy hơn, y phục đẹp đẽ, sang trọng. Ông dắt cô con gái nhỏ bên tay, còn Ivar và Skule đi theo.

Kristin hỏi thăm em gái, Simon đáp rằng Ramborg đã theo những người đàn bà ở Sundbu xuống Ringheim; Jostein đã đến đón con gái mình là Helga, rồi ông còn muốn đưa cả Dagny lẫn Ramborg đi cùng—ông là một ông lão vui tính, dễ mến, và đã hứa sẽ chăm nom chu đáo ba người đàn bà trẻ. Vì vậy có lẽ Ramborg sẽ ở đó suốt mùa đông. Nàng đang chờ sinh vào khoảng lễ Thánh Mathias—mà bản thân Simon vốn nghĩ mùa đông này có thể ông sẽ phải xa nhà; ở với những người chị em họ trẻ tuổi, nàng sẽ vui hơn. Không, việc Ramborg ở nhà hay đi vắng chẳng ảnh hưởng gì đến công việc nội trợ ở Formo, Simon cười nói—ông chưa bao giờ đòi hỏi một đứa trẻ như Ramborg phải vất vả với cả cơ nghiệp bộn bề này.

Nghe Kristin nói về dự định của mình, Simon lập tức bảo ông sẽ cùng nàng đi về nam. Ở đó ông có rất nhiều thân quyến, lại có những bạn bè lâu năm của cha ông và của chính ông, nên ông hy vọng mình sẽ giúp nàng được nhiều hơn ở Trondheim. Còn việc nàng đích thân tìm đến nhà vua có khôn ngoan hay không, ở đó ông cũng dễ dò xét hơn. Ba—bốn ngày nữa ông sẽ sẵn sàng lên đường.

Sáng hôm sau là Chủ nhật, họ cùng nhau dự thánh lễ, rồi đến nhà Sira Eirik tại Romundgaard làm khách. Vị linh mục nay đã già; ông ân cần tiếp đón Kristin và tỏ ra hết sức đau buồn trước cảnh bất hạnh của nàng. Sau đó họ ghé qua Jørundgaard.

Những ngôi nhà vẫn như xưa, và trong các gian phòng vẫn là những chiếc giường, ghế dài cùng bàn cũ. Giờ đây đó là gia trang của chính nàng; xem chừng rất có thể các con trai nàng sẽ lớn lên ở đây, và một ngày kia bản thân nàng cũng sẽ nằm xuống nơi này mà khép mắt. Nhưng chưa bao giờ nàng cảm nhận rõ ràng như trong giờ phút ấy rằng chính cha mẹ nàng đã nâng đỡ sự sống của mái nhà này. Dù trong chỗ kín đáo họ từng phải vật lộn với những gì, từ họ vẫn luôn tỏa ra hơi ấm và sự giúp đỡ, bình yên và chở che cho tất cả những người sống quanh mình.

Trong tâm trạng bất an và u uất, nàng thấy hơi mệt mỏi khi Simon nói về chuyện riêng của ông, về gia trang và con cái. Chính nàng cũng hiểu như thế là vô lý; ông sẵn lòng giúp nàng bằng tất cả khả năng, và nàng thấy thật đáng quý khi ông chịu rời nhà trong mùa lễ Giáng sinh, xa cả vợ mình giữa lúc nàng ấy đang như vậy—hẳn ông nghĩ rất nhiều đến chuyện lần này mình có được một đứa con trai hay không, bởi với Ramborg ông mới chỉ có một đứa con, mặc dù họ đã thành vợ chồng gần sáu năm. Nàng không thể mong ông đau nỗi bất hạnh của nàng và Erlend đến mức vì nó mà quên sạch mọi niềm vui trong cảnh đời tốt đẹp của chính mình—nhưng đi bên ông tại nơi này vẫn khiến nàng thấy lạ lùng, bởi ông xem ra vui sướng, nồng hậu và yên ổn biết bao trong mái nhà mình.

Không chủ ý, Kristin vẫn hình dung Ulfhild Simonsdatter hẳn phải giống cô em gái nhỏ của chính nàng, người mà con bé được đặt tên theo—phải sáng sủa, mảnh mai và thanh khiết. Nhưng cô con gái nhỏ của Simon lại tròn trĩnh, bụ bẫm, đôi má như táo và cái miệng như một quả mọng đỏ, đôi mắt xám lanh lợi giống mắt cha thuở trẻ, cùng mái tóc nâu đẹp đẽ, quăn thành lọn. Simon hết sức yêu quý đứa con xinh xắn, hoạt bát của mình và đầy tự hào về những lời líu lo nhanh nhảu của nó.

“Ấy thế mà con bé này xấu xí, đáng ghét, gớm ghiếc đến thế,” ông nói, vòng hai tay quanh thân nó rồi xoay tròn trong lúc nhấc bổng nó lên, “ta tin đây là đứa trẻ đánh tráo mà lũ quỷ núi trên mỏm đá kia đã đặt vào nôi cho mẹ con và ta, một đứa nhỏ vừa xấu vừa dữ thế này,” rồi ông đột ngột đặt nó xuống và vội vã làm dấu thánh giá ba lần trên mình đứa trẻ, như thể chính ông cũng hoảng sợ vì những lời bất cẩn vừa thốt ra.

Arngjerd, đứa con gái ngoài giá thú của ông, không xinh đẹp, nhưng trông hiền lành và sáng dạ, và bất cứ khi nào có dịp, người cha đều đưa cô theo bên mình. Sớm tối ông đều khen ngợi sự đảm đang của cô—Kristin phải đến xem chiếc rương của Arngjerd, xem tất cả những gì cô đã tự kéo sợi, dệt và may để chuẩn bị cho ngày về nhà chồng.

“Ngày ta đặt tay đứa con gái này của mình vào tay một người chồng chưa cưới tốt bụng và thủy chung,” Simon nói, mắt dõi theo đứa trẻ đã đi xa, “sẽ là một trong những ngày vui nhất đời ta.”

Để tiết kiệm chi phí và đi cho nhanh, Kristin không muốn mang theo tỳ nữ, cũng không đem thêm người đàn ông nào ngoài Ulf Haldorssøn. Thế rồi, mười bốn ngày trước lễ Giáng sinh, nàng và Ulf rời Formo trên lưng ngựa, cùng Simon Andressøn và hai tùy tùng trẻ tuổi, khỏe mạnh của ông.

Khi họ đến Oslo, Simon lập tức dò hỏi được rằng nhà vua sẽ không sang Na Uy—hẳn ngài định đón lễ Giáng sinh tại Stokholm. Erlend bị giam trong thành Akersnes; viên chỉ huy thành đi vắng, nên trước mắt không một ai trong bọn họ có cách gặp chàng. Nhưng phó quản khố Olav Kyrning hứa sẽ cho Erlend biết họ đang ở trong thành. Olav rất thân thiện với Simon và Kristin, bởi anh trai ông ta lấy Ramborg Aasmundsdatter ở Skog, nên ông ta nhận mình có quan hệ thông gia xa với những người con gái của Lavrans.

Ketil ở Skog vào thành, mời họ ra nhà ông đón lễ Giáng sinh, nhưng Kristin không muốn vui chơi trong mùa lễ khi Erlend lâm vào cảnh ấy. Vì thế Simon cũng không chịu đi, mặc dù nàng hết lời khuyên ông; Simon và Ketil có quen biết đôi chút, còn Kristin chỉ gặp người anh em con bác bên cha ấy một lần kể từ khi ông trưởng thành.

Kristin và Simon trọ trong chính gia trang nơi xưa kia nàng từng làm khách của cha mẹ ông, vào thời hai người còn đính ước, nhưng lần này họ ở một ngôi nhà khác. Trong phòng có hai chiếc giường, nàng ngủ một chiếc, Simon và Ulf ngủ chiếc kia; các tùy tùng nằm ngoài chuồng ngựa.

Đêm Giáng sinh, Kristin muốn đến dự thánh lễ nửa đêm tại nhà thờ Nonneseter—nàng nói đó là vì các nữ tu hát quá hay. Cả năm người cùng đi tới đó. Đêm đầy sao, dịu dàng và đẹp đẽ; lúc chạng vạng lại có một trận tuyết nhỏ, nên trời khá sáng. Khi chuông các nhà thờ bắt đầu ngân lên, người từ mọi gia trang tuôn ra đường, và Simon phải nắm tay dẫn Kristin đi. Thỉnh thoảng ông lén nhìn sang nàng. Mùa thu ấy nàng đã gầy đi rất nhiều, nhưng dường như vóc người cao ráo, thẳng thắn của nàng lại tìm về đôi chút vẻ mềm mại, lặng lẽ duyên dáng của thuở thiếu nữ. Trên khuôn mặt nhợt nhạt lại hiện ra vẻ bình thản, hiền hòa thời son trẻ, che phủ một sự căng thẳng sâu kín, luôn lắng nghe. Nàng mang một nét giống kỳ lạ, như bóng ma, với cô gái Kristin của mùa Giáng sinh xa xưa ấy—. Simon siết chặt tay nàng mà không hề hay biết mình đã làm vậy, cho đến khi nàng bóp nhẹ những ngón tay ông để đáp lại. Ông ngước lên—nàng mỉm cười, gật đầu, và ông hiểu nàng đã coi cái siết tay ấy là lời nhắc phải giữ vững lòng can đảm—và giờ nàng đang gắng cho ông thấy rằng, phải, nàng vẫn can đảm.

Khi những ngày đại lễ đã qua, Kristin đi ra tu viện, xin được kính cẩn thăm hỏi viện mẫu cùng những nữ tu vẫn còn sống từ thời nàng ở đó. Nàng ngồi trong phòng tiếp khách của viện mẫu một lúc. Sau đó nàng đi vào nhà thờ. Nàng hiểu rằng bên trong những bức tường tu viện, mình không còn phận sự gì. Các nữ tu tiếp đón nàng thân thiện, nhưng nàng thấy đối với họ, nàng chỉ là một trong bao thiếu nữ từng đến đây học một năm—nếu họ đã nghe chuyện nàng có phần khác biệt với những cô gái trẻ khác, mà không phải theo chiều hướng tốt đẹp, thì họ cũng không để lộ ra. Nhưng năm nàng sống tại Nonneseter, vốn chiếm một vị trí lớn lao đến thế trong đời nàng, lại có ý nghĩa quá nhỏ bé đối với tu viện. Cha nàng đã mua cho mình và gia đình một phần trong những lời cầu nguyện của tu viện dành cho các linh hồn; viện mẫu mới, phu nhân Elin, cùng các nữ tu nói rằng họ sẽ cầu nguyện cho nàng và chồng nàng được cứu thoát. Nhưng nàng hiểu mình không có quyền xông vào quấy rầy các nữ tu bằng những cuộc viếng thăm. Nhà thờ của họ mở cửa đón nàng cũng như đón mọi người; nàng có thể đứng trong hành lang phía bắc, nghe tiếng hát của những giọng nữ trong trẻo vọng ra từ cung nguyện, nhìn quanh gian nhà quen thuộc, nhìn các bàn thờ và thánh tượng—và khi các nữ tu đã rời nhà thờ qua cánh cửa dẫn vào sân tu viện, nàng có thể bước lên quỳ trước phiến đá mộ của phu nhân Groa Guttormsdatter, nghĩ về vị mẫu trưởng thông tuệ, mạnh mẽ và đáng kính, người mà nàng đã không hiểu cũng chẳng coi trọng lời khuyên—ngoài ra nàng không còn quyền thuộc về nào khác trong mái nhà của những người phụ nữ phụng sự Đức Kitô này.

Cuối mùa lễ, ngài Munan đến gặp nàng—ông nói mãi đến lúc này mới nghe tin nàng đang ở trong thành. Ông thân mật chào nàng, chào Simon Andressøn và Ulf, người mà ông luôn miệng gọi là thân quyến và bạn quý của mình. Theo ông, có lẽ họ sẽ khó lòng gặp được Erlend, bởi chàng bị canh giữ nghiêm ngặt—chính ông cũng không sao vào thăm đứa cháu gọi mình bằng cậu. Nhưng sau khi vị hiệp sĩ cưỡi ngựa đi rồi, Ulf cười bảo ông không tin Munan đã cố nài nỉ cho lắm—ông ta sợ chết khiếp bị lôi vào vụ này, đến nỗi gần như chẳng dám nghe ai nhắc tới nó. Munan đã già đi ghê gớm, đầu hói nhiều và thân thể gầy rộc, da thịt nhão nhoét rủ quanh bộ khung khổng lồ. Ông sống tại Skogheim và để một cô con gái ngoài giá thú đã góa chồng ở cùng. Ông bố rất muốn tống khứ cô ta, bởi không đứa con nào khác của ông, dù chính thức hay ngoài giá thú, chịu đến gần ông nếu người chị em cùng cha khác mẹ ấy còn cai quản nhà cửa; cô ta là một người đàn bà háo quyền, tham tiền và cay độc. Nhưng Munan không dám bảo cô ta đi.

Cuối cùng, sang đầu năm mới, Olav Kyrning xin được phép cho vợ Erlend và Simon vào gặp chàng. Vậy là Simon lại phải đưa người đàn bà đau khổ đến những cuộc gặp xé nát lòng. Ở đây họ canh giữ nghiêm ngặt hơn nhiều so với Nidaros, không để Erlend nói chuyện với bất cứ ai mà không có người của thành chủ đứng bên.

Erlend vẫn bình thản như trước, nhưng Simon hiểu rằng giờ đây cảnh ngộ này đã bắt đầu bào mòn chàng. Chàng không bao giờ than phiền, chỉ nói mình không bị ngược đãi, mọi thứ đều được cung cấp tốt hết mức có thể; tuy vậy chàng thừa nhận cái lạnh khiến chàng khá khổ sở, bởi trong phòng không có lò sưởi. Chàng cũng chẳng có mấy điều kiện giữ mình sạch sẽ—dẫu nếu không có lũ chấy rận để đánh nhau, thì thời gian ở đây hẳn còn trôi chậm hơn nữa, chàng cười nói.

Kristin cũng bình thản—bình thản đến mức Simon nghẹt thở lo âu chờ đợi cái ngày nàng hoàn toàn suy sụp.

Vua Magnus đang thực hiện chuyến tuần du Eriksgata tại Thụy Điển, và chưa có triển vọng ngài sẽ sớm tới biên giới, cũng như tình cảnh của Erlend sẽ sớm có bất kỳ thay đổi nào.

Vào ngày lễ Thánh Gregor, Kristin và Ulf Haldorssøn đã đến dự lễ tại nhà thờ Nonneseter. Trên đường về, khi qua cây cầu bắc ngang suối Nữ tu, nàng không đi xuống phía quán trọ nằm gần dinh giám mục, mà quay về hướng đông, đến khoảng đất rộng bên nhà thờ Klemens rồi rẽ vào những ngõ hẹp giữa nhà thờ và dòng suối.

Ngày xám xịt nặng nề, trời đã ấm dịu được một dạo, nên giày dép và gấu áo choàng của họ chẳng mấy chốc đã ướt sũng, nặng trĩu vì thứ đất sét vàng ven sông. Họ đi ra những cánh đồng phía bờ dốc. Có một lần mắt họ gặp nhau. Ulf lặng lẽ cười, méo miệng như nhăn nhó, nhưng đôi mắt ông buồn bã; Kristin nở một nụ cười héo hắt lạ lùng.

Ngay sau đó họ đã đứng trên mép dốc; đất sét nơi đây thuở nào từng sụt xuống, và gia trang nằm ngay bên dưới, nép sát chân vách đất vàng bẩn, trên đó lơ thơ vài bụi cỏ dại đen đúa, cằn cỗi, đến nỗi mùi hôi từ chuồng lợn mà họ nhìn thẳng xuống xộc nồng lên tận chỗ họ—hai con lợn nái béo ụ đang sục mõm kiếm ăn trong lớp bùn tối. Bờ sông ở đây chỉ còn như một dải hẹp; dòng nước xám đục đầy bùn, lẫn những tảng băng lạo xạo, chảy sát tận những ngôi nhà đổ nát có mái bạc màu úa héo.

Trong lúc họ đứng đó, một người đàn ông và một người đàn bà bước tới hàng rào nhìn lũ lợn—người đàn ông cúi rạp vào trong, lấy đầu cán chiếc rìu mảnh nạm bạc mà ông dùng làm gậy để gãi cho một con lợn nái. Đó chính là Munan Baardssøn, còn người đàn bà là Brynhild. Ông ngẩng lên, trông thấy họ—đứng há miệng nhìn lên, và Kristin vui vẻ cất tiếng chào ông từ trên cao.

Ngài Munan bật cười ha hả:

“Xuống đây uống một chén bia nóng giữa cái thời tiết cứt đái này đi,” ông gọi vọng lên.

Trên đường xuống cổng gia trang, Ulf kể rằng Brynhild Jonsdatter không còn mở quán trọ hay bán bia nữa. Bà đã mấy lần vướng vòng lao lý, cuối cùng còn bị dọa lột da, nhưng Munan đã cứu bà và đứng bảo lãnh rằng bà sẽ dứt hẳn những nghề trái phép ấy. Các con trai bà giờ đây cũng đã có địa vị đến mức vì họ, người mẹ phải lo cải thiện thanh danh của mình. Sau khi vợ qua đời, Munan Baardssøn lại nối tình với bà và thường xuyên ở tại Flugagaarden.

Ông đón họ ở cổng gia trang:

“Bốn chúng ta đều là bà con trong cùng một vòng rào cả,” ông khúc khích—ông đã ngà ngà men, nhưng chưa say lắm. “Cô là một người đàn bà tốt, Kristin Lavransdatter, ngoan đạo mà không kiêu kỳ—Brynhild bây giờ cũng là một người đàn bà đáng trọng, đoan chính rồi—còn ta là người chưa vợ khi sinh ra hai đứa con trai chung của chúng ta—mà chúng lại là những đứa xuất sắc nhất trong tất cả con cái ta—điều ấy ta cũng đã nói với nàng mỗi ngày suốt bao năm rồi, Brynhild. Trong đám con ta, ta thương Inge và Gudleik nhất—”

Brynhild vẫn còn đẹp, nhưng da vàng tái, nom như đến gần hẳn sẽ thấy làn da bà ẩm nhớp, Kristin nghĩ, giống như người đứng suốt một ngày bên những nồi mỡ. Nhưng căn phòng của bà được chăm nom tươm tất, thức ăn cùng đồ uống bà bưng lên bàn đều tuyệt hảo, bát đĩa sạch sẽ và đẹp đẽ.

“Phải, hễ có việc đến Oslo là ta lại ghé vào đây,” Munan nói. “Cô hiểu đấy, người mẹ vẫn thích hỏi tin các con trai mình. Inge thường xuyên viết thư cho ta, bởi Inge là người có học, mà quản sự của một giám mục thì tất nhiên phải thế—ta cũng kiếm cho nó một cuộc hôn nhân tốt, với Tora Bjarnesdatter ở Grjote; cô nghĩ có mấy người đàn ông lo được một người vợ như thế cho đứa con trai do nhân tình sinh ra? Thế rồi chúng ta ngồi đây chuyện trò về việc ấy, Brynhild lại mang thức ăn và bia cho ta như thuở trước, khi nàng giữ chùm chìa khóa của ta ở Skogheim. Bây giờ ngồi ngoài ấy mà nghĩ tới người vợ phúc lành của ta thật nặng lòng—. Vì thế ta cưỡi ngựa vào đây tìm chút ấm cúng—mỗi khi Brynhild có lòng ban cho ta đôi chút dịu dàng và ấm cúng ấy?”

Ulf Haldorssøn ngồi chống tay dưới cằm, nhìn nữ chủ Husaby. Kristin ngồi nghe, đáp lại thật khẽ khàng, dịu dàng và nhã nhặn—điềm tĩnh và đoan trang chẳng khác nào nàng đang dự tiệc tại một trong những đại gia trang quê nhà ở Trondheimen.

“Phải, cô, Kristin Lavransdatter, đã có danh phận làm vợ và được kính trọng,” Brynhild Fluga nói, “dẫu cô đã tự nguyện đến với Erlend trong căn gác kho nhà tôi. Còn tôi thì suốt đời bị gọi là chó cái, là con đĩ—mẹ kế tôi bán tôi vào tay lão kia—tôi cắn, tôi cào, dấu từng móng tay tôi còn in trên mặt lão trước khi lão làm được điều lão muốn với tôi—”

“Giờ nàng lại phải nói chuyện ấy nữa sao,” Munan rên rỉ. “Nàng thừa biết—ta cũng đã nói biết bao lần rồi—ta hẳn đã để nàng yên, nếu nàng cư xử cho ra người và cầu xin ta tha cho nàng, nhưng nàng đã chồm thẳng vào mặt ta như mèo rừng ngay khi ta còn chưa bước hẳn qua cửa—”

Ulf Haldorssøn khẽ cười một mình.

“Thế mà sau đó ta chẳng phải vẫn đối đãi tử tế với nàng suốt bao ngày đó sao,” Munan nói. “Nàng muốn chỉ tay vào thứ gì cũng đều được cả—còn con cái chúng ta—phải, chúng sống sung túc và yên ổn hơn những đứa con trai khốn khổ của Kristin nhiều—xin Chúa che chở những đứa trẻ đáng thương ấy, Erlend đã thu xếp cho con mình ra nông nỗi nào! Ta nghĩ đối với lòng một người mẹ, điều đó phải quý hơn danh phận làm vợ—và nàng biết đã bao lần ta ước nàng có dòng dõi đủ cao để ta có thể cưới nàng theo luật—chưa có người đàn bà nào ta yêu thích bằng nàng—dẫu nàng hiếm khi dịu dàng hay tử tế với ta—còn người vợ ta đã cưới, xin Chúa ban thưởng cho nàng. Ta đã lập một bàn thờ cho Katrin của ta và cho ta trong nhà thờ ở quê nhà, Kristin—ngày nào ta cũng tạ ơn Chúa và Đức Mẹ vì cuộc hôn nhân của mình, chưa người đàn ông nào có được cuộc hôn nhân tốt đẹp hơn—” ông khịt mũi, thút thít khóc.

Một lúc sau, Ulf Haldorssøn nói rằng giờ họ phải đi. Ông và Kristin không trao đổi một lời nào trên đường về. Nhưng bên ngoài cửa phòng, nàng đưa tay cho ông:

“Ulf—người bà con, người bạn của tôi!”

“Nếu có thể giúp được gì,” ông khẽ nói, “thì tôi sẵn lòng lên giá treo cổ thay Erlend—vì anh ấy và vì cô.”

Tối hôm ấy, trước giờ đi ngủ một lát, Kristin ngồi một mình trong phòng với Simon. Bỗng nhiên nàng bắt đầu kể mình đã đi đâu trong ngày. Nàng thuật lại cuộc trò chuyện ở ngoài đó.

Simon ngồi trên một chiếc ghế đẩu cách nàng một quãng. Hơi cúi về phía trước, hai cánh tay tựa trên đùi, hai bàn tay buông thõng, chàng ngước nhìn nàng với vẻ dò xét lạ lùng trong đôi mắt nhỏ và sắc. Chàng không thốt một lời, không một thớ thịt nào lay động trên khuôn mặt nặng nề, bè rộng.

Rồi nàng kể rằng nàng đã nói chuyện ấy với cha mình, và kể cả những lời ông đáp.

Simon vẫn ngồi như trước, bất động. Nhưng một lúc sau chàng bình thản nói:

“Đó là lời cầu xin duy nhất tôi từng ngỏ với chị trong suốt những năm chúng ta quen biết—nếu tôi nhớ đúng—rằng chị hãy—nhưng chị không thể im lặng chuyện ấy để Lavrans khỏi phải đau lòng hay sao—”

Toàn thân Kristin run bần bật:

“Phải. Nhưng—. Ôi Erlend, Erlend, Erlend—”

Tiếng thét man dại ấy khiến chàng bật dậy—Kristin đã bổ người về phía trước, đầu vùi trong hai cánh tay, nàng lắc lư từ bên này sang bên kia và cứ gào gọi Erlend, xen giữa những tiếng nấc run rẩy, rền rĩ như bị giằng bật khỏi thân thể nàng, trào đầy miệng nàng thành tiếng khóc, sủi lên rồi văng tóe ra ngoài—.

“Kristin—nhân danh Chúa Giêsu!”

Khi chàng nắm lấy hai cánh tay trên của nàng và cố ghìm nàng lại, nàng dồn cả sức nặng toàn thân ngã vào chàng, quàng lấy cổ chàng, vừa khóc vừa gọi mãi, gọi mãi tên chồng mình.

“Kristin—hãy trấn tĩnh—” chàng siết nàng trong vòng tay và nhận ra nàng không hề hay biết, nàng khóc đến mức không thể tự đứng thẳng. Chàng liền bế nàng lên—trong một khoảnh khắc siết nàng nát vào ngực, rồi bế nàng đến đặt xuống giường.

“Hãy trấn tĩnh,” chàng lại van, giọng nghẹn lại, gần như đe dọa—chàng đặt hai bàn tay lên mặt nàng, còn nàng nắm lấy cổ tay và cánh tay chàng, bám chặt vào chàng:

“Simon—Simon—ôi, phải cứu anh ấy—”

“Tôi đang làm mọi điều có thể, Kristin—bây giờ chị _phải_ trấn tĩnh!” Chàng đột ngột quay đi, bước ra cửa. Chàng gọi lớn đến mức tiếng vang dội giữa các ngôi nhà, gọi cô hầu gái mà Kristin đã thuê ở Oslo. Cô chạy đến, Simon bảo cô vào với bà chủ. Nhưng ngay sau đó cô lại bước ra—phu nhân muốn ở một mình, cô sợ hãi nói với Simon, lúc ấy vẫn đứng nguyên tại chỗ.

Chàng gật đầu rồi sang chuồng ngựa, ở đó cho tới khi Gunnar, người hầu cận của chàng, và Ulf Haldorssøn đến cho súc vật ăn tối. Simon bắt chuyện với họ, rồi cùng Ulf trở lên phòng.

Ngày hôm sau Kristin hầu như không thấy mặt em rể. Nhưng sau giờ kinh chiều, khi nàng đang ngồi may một chiếc áo định mang ra cho chồng, chàng chạy vào, không nói với nàng cũng không nhìn nàng, chỉ hất mở chiếc rương hành trang, rót đầy rượu vào chiếc cốc bạc của mình rồi lao trở ra. Kristin đứng dậy đi theo. Trước cửa phòng có một người đàn ông lạ mặt vẫn đang giữ ngựa—Simon tháo chiếc nhẫn vàng khỏi ngón tay, thả vào cốc rồi nâng cốc chúc mừng người đưa tin.

Kristin đoán ra chuyện gì và vui mừng reo lên:

“Em có con trai rồi, Simon!”

“Phải.” Chàng vỗ vai người đưa tin khi anh ta cảm tạ rồi cẩn thận giắt chiếc cốc và chiếc nhẫn vào trong thắt lưng. Sau đó Simon ôm ngang eo chị của vợ, xoay nàng một vòng. Chàng trông vui mừng đến nỗi Kristin phải đặt hai tay lên vai chàng—chàng liền hôn ngay giữa môi nàng rồi cười lớn.

“Vậy sau này hẳn dòng họ Darre sẽ nối tiếp em làm chủ Formo rồi, Simon,” nàng vui vẻ nói.

“Sẽ là như thế—nếu Chúa muốn.—Không, tối nay tôi muốn đi một mình,” chàng nói khi Kristin hỏi liệu họ có cùng nhau đi dự giờ kinh tối không.

Tối ấy chàng nói với Kristin rằng chàng đã hỏi thăm và biết Erling Vidkunssøn đang ở điền trang Aker của mình gần Tunsberg. Sáng hôm ấy chàng đã tìm được một chuyến thuyền xuôi vịnh—chàng muốn nói chuyện với ngài Erling về vụ của Erlend.

Kristin không nói gì nhiều. Trước đó họ chỉ vừa chạm đến chuyện này, rồi tránh không bàn sâu thêm—liệu ngài Erling có biết về mưu sự của Erlend hay không. Simon nói chàng muốn hỏi ý kiến Erling Vidkunssøn về kế hoạch của Kristin: Simon sẽ tháp tùng nàng đến gặp những người bà con quyền thế của Lavrans ở Thụy Điển, đòi họ vì huyết thống và tình thân mà ra tay giúp đỡ.

Bấy giờ nàng mới nói:

“Nhưng giờ em đã nhận được một tin trọng đại như thế, em rể, thì chị thấy hợp lẽ nhất là em nên hoãn chuyến đi Aker này—trước hết hãy lên Ringheim thăm Ramborg và con trai em.”

Chàng phải quay mặt đi, lòng chàng bỗng yếu mềm đến thế. Chàng đã chờ đợi điều này biết bao—chờ xem Kristin có tỏ một dấu hiệu rằng nàng hiểu chàng đang khao khát được nhìn thấy con trai mình hay không. Nhưng khi đã phần nào chế ngự được xúc động, chàng nói, giọng rụt rè:

“Tôi đã nghĩ thế này, Kristin—có lẽ Chúa sẽ cho thằng bé ấy được lớn lên thuận lợi hơn, nếu tôi biết kiên nhẫn và ghìm nỗi khát khao gặp con cho tới khi tôi giúp Erlend và chị tiến thêm được một đoạn trong việc này.”

Ngày hôm sau chàng ra ngoài mua những món quà sang trọng và quý giá cho vợ cùng con trai—và cả cho tất cả những người đàn bà đã ở bên Ramborg khi nàng sinh con. Kristin lấy ra một chiếc thìa bạc đẹp mà nàng được thừa hưởng từ mẹ; Andres Simonssøn sẽ nhận chiếc thìa ấy, còn cho em gái, nàng gửi sợi dây chuyền bạc mạ vàng nặng trĩu mà thuở nhỏ Lavrans đã tặng nàng cùng với cây thánh giá đựng thánh tích. Giờ nàng chuyển cây thánh giá ấy sang sợi dây chuyền trong lễ vật đính hôn của Erlend. Trưa hôm sau Simon xuống thuyền.

Tối đến, con thuyền ghé vào dưới một hòn đảo trong vịnh. Simon ở lại trên thuyền, nằm trong một túi da, bên trên phủ mấy tấm vải len thô, ngắm bầu trời sao, nơi những hình sao tưởng chừng chồm lên rồi lặn xuống khi con thuyền nhấp nhô trên những đợt sóng lững lờ, ngái ngủ. Nước vỗ lép bép, những tảng băng cọ nghiến và thúc vào mạn thuyền. Gần như dễ chịu khi cảm thấy cái lạnh mỗi lúc một len sâu hơn vào thân thể. Nó làm cơn đau dịu xuống—.

Dẫu sao giờ đây chàng tin chắc rằng, cho dù mọi việc từng tồi tệ đến đâu, chúng cũng không bao giờ có thể tồi tệ đến thế nữa. Giờ đây chàng đã có một đứa con trai. Không phải chàng nghĩ mình có thể yêu thằng bé hơn các con gái. Nhưng đó là một điều khác. Những cô bé của chàng có thể khiến lòng chàng vui sướng biết bao khi chúng tìm đến cha với trò chơi, tiếng cười và chuyện trò; thật ngọt ngào biết bao khi ôm chúng trong lòng, cảm thấy mái tóc trẻ thơ mềm mại dưới cằm—nhưng một người đàn ông không thể đứng theo cách ấy trong chuỗi đàn ông của dòng họ mình, nếu gia trang, của cải cùng ký ức về cuộc đời ông trên thế gian phải theo tay một người con gái mà sang một dòng họ xa lạ. Còn giờ đây, nếu chàng dám hy vọng Chúa sẽ cho thằng bé nhỏ xíu này được lớn lên, thì ở Formo, con trai sẽ nối tiếp cha—Andres Gudmundssøn, Simon Andressøn, Andres Simonssøn—và như thế dường như đã là lẽ tự nhiên rằng đối với Andres, chàng phải sống như cha mình từng sống trước chàng: một người ngay thẳng, trong những ý nghĩ kín thầm cũng như trong mọi hành vi công khai.

—Đôi khi mọi sự đã đến mức chàng không hiểu mình còn có thể chịu đựng được bao lâu. Giá như chàng từng thấy được _một_ dấu hiệu rằng nàng hiểu đôi chút. Nhưng nàng đối với chàng như thể họ là anh em ruột thịt—lo cho chàng được yên lành, tử tế, trìu mến và dịu dàng—. Và chàng không biết tình cảnh ấy còn kéo dài bao lâu—họ còn phải sống chung một mái nhà theo cách này đến bao giờ. Nàng không bao giờ nghĩ rằng chàng không thể quên hay sao—dẫu nay chàng đã cưới em gái nàng, chàng vẫn không thể hoàn toàn quên được rằng hai người họ từng được định sẽ sống với nhau như vợ chồng—.

Nhưng giờ đây chàng đã có đứa con trai này. Chàng vẫn luôn hổ thẹn nếu tự mình thêm vào những lời cầu nguyện bất kỳ lời ước xin hay tạ ơn nào. Nhưng Đức Kitô và Đức Maria hẳn biết chàng muốn nói gì khi trong những ngày gần đây, mỗi ngày chàng đọc số kinh Paternoster và Ave nhiều gấp đôi. Và chàng sẽ tiếp tục như thế chừng nào còn xa nhà. Ngoài ra, chàng cũng sẽ tỏ lòng biết ơn theo cách thích đáng và hào phóng. Có lẽ nhờ vậy chàng cũng sẽ nhận được sự trợ giúp trong chuyến đi này.

Thật ra chính chàng cũng thấy thật vô lý nếu mong chuyến đi này mang lại kết quả gì. Giữa ngài Erling và nhà vua giờ đây hoàn toàn lạnh nhạt. Và cho dù vị nhiếp chính trước kia có quyền thế và kiêu hãnh đến đâu, có ít lý do phải e sợ vị vua trẻ đến đâu—trong khi chính nhà vua đang ở thế khó khăn hơn rất nhiều so với người đàn ông giàu có và cao quý nhất Na Uy—thì cũng khó lòng trông đợi ngài sẽ muốn khiến vua Magnus càng thêm căm giận mình bằng cách lên tiếng cho Erlend Nikulaussøn, và chuốc lấy mối nghi rằng ngài từng biết đến mưu phản của Erlend. Dẫu ngài có dự phần vào đó, thậm chí dẫu ngài đứng sau toàn bộ mưu sự, sẵn sàng can thiệp và để mình được đặt lên nắm quyền cai trị đất nước ngay khi nơi đây lại có một vị vua chưa trưởng thành—thì ngài vẫn không buộc phải liều mình cứu giúp kẻ đã khiến toàn bộ kế hoạch tan vỡ chỉ vì một cuộc tình vụng trộm đáng hổ thẹn. Khi ở bên Erlend và Kristin, Simon dường như quên mất một nửa điều ấy—bởi chính hai người họ xem chừng cũng chẳng còn nhớ. Nhưng sự thật vẫn là chính Erlend đã khiến cho toàn bộ mưu sự chẳng đem lại gì ngoài tai họa cho bản thân mình và cho những người đáng trọng đã bị lộ vì thói khinh suất ngu xuẩn của chàng ta.

Nhưng chàng phải thử mọi đường để giúp nàng và chồng nàng. Và giờ đây chàng bắt đầu hy vọng; bởi biết đâu Thiên Chúa và Đức Trinh Nữ Maria, hoặc một vị thánh nào trong số những vị chàng vẫn thường tỏ lòng tôn kính bằng lễ vật và việc bố thí, cũng sẽ nâng đỡ chàng trong chuyện này.

Tối hôm sau, chàng đến Aker khá muộn. Một viên quản gia ra đón, sai các gia nhân đi, người dắt ngựa, người đưa đầy tớ của chàng đến nhà dành cho tôi tớ, còn chính ông ta dẫn chàng tới tòa gác nơi vị hiệp sĩ đang ngồi uống rượu. Ngay sau đó, ngài Erling đích thân bước ra hiên gác và đứng đó trong khi Simon lên cầu thang; ông chào khách khá nhã nhặn rồi dẫn chàng vào phòng, nơi Stig Haakonssøn ở Mandvik đang ngồi cùng một người còn rất trẻ, Bjarne Erlingssøn, con trai duy nhất của Erling.

Chàng được tiếp đãi khá trọng thị, gia nhân cởi áo ngoài cho chàng rồi mang thức ăn và đồ uống vào. Nhưng chàng đoán những người kia cũng đã đoán được — ít nhất là ngài Erling và Stig — chàng đến vì việc gì, và cảm thấy họ đang giữ ý. Vì thế, khi Stig bắt đầu nói rằng Simon quả là khách hiếm thấy ở miền này, chàng chẳng hề làm mòn ngưỡng cửa nhà những người bà con bên vợ trước — mà từ khi Halfrid mất, chàng đã có lần nào đi xa về phía nam quá Dyfrin chưa — Simon đáp rằng chưa, mãi đến mùa đông này mới đi. Nhưng mấy tháng vừa rồi chàng ở Oslo cùng chị vợ, Kristin Lavransdatter, người kết duyên với Erlend Nikulaussøn.

Nghe vậy, họ im lặng một lúc. Sau đó ngài Erling lịch sự hỏi thăm Kristin, vợ Simon cùng các anh chị em của chàng; còn Simon hỏi thăm phu nhân Elin và các con gái của Erling, hỏi Stig sống ra sao, Mandvik có tin tức gì, cùng những người láng giềng cũ ở đó.

Stig Haakonssøn là một người đàn ông đẫy đà, tóc sẫm, lớn hơn Simon vài tuổi, con trai của ngài Haakon Toressøn, người anh em cùng cha khác mẹ với Halfrid Erlingsdatter, và là cháu gọi phu nhân Elin Toresdatter của Erling Vidkunssøn bằng cô. Hai mùa đông trước, ông đã mất Skidusyssel và quyền chỉ huy thành Tunsberg khi bất hòa với nhà vua; ngoài chuyện ấy, ông vẫn sống khá sung túc tại Mandvik, nhưng không con và đã góa vợ. Simon biết ông khá rõ và vẫn giao hảo với ông cũng như với tất cả thân quyến của người vợ đầu — tuy tình bạn ấy chưa bao giờ đặc biệt nồng hậu. Chàng biết quá rõ tất cả họ đã nghĩ gì về cuộc hôn nhân thứ hai của Halfrid — người con trai thứ của ngài Andres Gudmundssøn có thể vừa giàu có vừa thuộc dòng dõi tốt, nhưng không phải một đám xứng đôi với Halfrid Erlingsdatter, lại còn kém nàng mười tuổi; họ không sao hiểu được vì đâu nàng đem lòng yêu người trai trẻ này, song đành để nàng làm theo ý mình — bởi nàng đã từng khốn khổ đến không sao chịu nổi bên người chồng trước.

Simon mới chỉ gặp Erling Vidkunssøn đôi ba lần trước đây, và những lần ấy ông luôn đi cùng phu nhân Elin, thành thử ông chẳng mấy khi lên tiếng; hễ bà có mặt trong phòng thì không ai cần nói gì nhiều hơn vài tiếng vâng dạ. Ngài Erling đã già đi không ít kể từ thuở ấy — ông trở nên đẫy đà hơn, nhưng vóc dáng vẫn đẹp đẽ và uy nghi, bởi phong thái của ông vô cùng đường bệ; mái tóc đỏ hung nhợt nhạt nay đã ngả màu xám bạc óng ánh lại rất hợp với ông.

Simon chưa từng gặp Bjarne Erlingssøn trẻ tuổi. Chàng trai lớn lên gần Bjørgvin, trong nhà một vị giáo sĩ quyền quý là bạn của Erling — trong họ hàng, người ta bảo cha cậu không muốn để cậu sống ngoài Giske giữa cái mớ chuyện vẩn vơ của đàn bà ở đó. Chính Erling cũng chỉ đến đó khi buộc phải đến, còn đưa con trai theo trong những chuyến đi liên miên thì ông không dám, bởi thuở lớn lên Bjarne có sức khỏe rất yếu, và Erling Vidkunssøn đã mất hai người con trai khác khi chúng còn nhỏ.

Chàng trai trông đẹp lạ thường khi ngồi với ánh sáng phía sau, để lộ khuôn mặt nhìn nghiêng. Mái tóc đen, dày và quăn mạnh xõa rậm trên trán; đôi mắt lớn tưởng như đen; mũi to, cong đẹp; miệng cương nghị, đầy đặn mà thanh tú, cằm cân đối. Cậu lại cao, vai rộng và mình thon. Nhưng rồi Simon phải ngồi vào bàn ăn, người hầu bàn dời ngọn đèn, và lúc ấy chàng trông thấy da cổ Bjarne đã bị sẹo hạch ăn nát — chúng lan kín cả hai bên, lên tận dưới tai và vòng tới dưới cằm, những mảng da chết trắng bóng, những vệt tím đỏ cùng những cục u sưng phồng. Bjarne lại có thói quen không ngừng kéo chiếc mũ trùm của tấm áo choàng vai tròn bằng nhung viền da lông mà cậu vẫn mặc ngay cả trong phòng lên quá nửa đầu, sát đến hai tai. Một lúc sau, có lẽ thấy nóng, cậu lại kéo nó xuống, rồi lại rụt mình vào đó — dường như chính cậu cũng không biết mình đang làm thế. Cuối cùng, chỉ nhìn cảnh ấy thôi cũng khiến hai bàn tay Simon bứt rứt không yên — dù chàng đã cố tránh nhìn sang.

Ngài Erling hầu như không rời mắt khỏi con trai — nhưng dường như chính ông cũng không biết mình đang ngồi đó, nhìn chàng trai không chớp mắt. Gương mặt Erling Vidkunssøn không mấy linh động, đôi mắt xanh nhợt cũng chẳng có bao nhiêu biểu cảm — nhưng dưới cái nhìn hơi mơ hồ và đẫm nước ấy dường như lắng đọng nỗi lo âu, những suy tư và tình yêu của vô vàn năm tháng.

Ba người đàn ông lớn tuổi trò chuyện với nhau, nhã nhặn và dè dặt, trong khi Simon ăn, còn chàng trai trẻ ngồi đó mân mê chiếc mũ trùm trên cổ áo. Sau đó cả bốn người cùng uống thêm một khoảng thời gian vừa phải, rồi ngài Erling hỏi Simon có mệt vì đường xa không, và Stig mời chàng sang ngủ cùng mình. Simon mừng vì được hoãn lại việc trình bày mục đích chuyến đi. Buổi tối đầu tiên ở Aker đã khiến lòng chàng nặng trĩu.

Ngày hôm sau, khi Simon đem việc ấy ra nói, ngài Erling trả lời gần như đúng điều chàng đã liệu trước. Ông nói vua Magnus chưa bao giờ tự nguyện nghe lời ông; ngay từ khi Magnus Eirikssøn đủ lớn để có chủ kiến, ông đã hiểu rằng nhà vua không muốn Erling Vidkunssøn còn có chút ảnh hưởng nào đối với mình một khi đã trưởng thành. Và từ khi cuộc tranh chấp giữa một bên là ông cùng bạn hữu, một bên là nhà vua, được dàn xếp, ông không nghe tin cũng không hỏi han gì về nhà vua và những người thân cận của ngài. Nếu ông nói giúp Erlend trước vua Magnus thì e cũng chẳng ích lợi bao nhiêu cho người ấy. Nhưng ông biết rõ nhiều người trong nước tin rằng bằng cách nào đó ông đã đứng sau mưu đồ của Erlend. Simon tin ông hay không tùy ý — cả ông lẫn bạn hữu của ông đều không hề biết chuyện ấy đang được nung nấu. Nhưng nếu việc này bị phát giác theo một cách khác, hoặc nếu những kẻ trẻ tuổi ham chuyện phiêu lưu kia tiến hành việc liều lĩnh của họ rồi thất bại — ông hẳn đã bước ra, thử đứng giữa hòa giải. Song sự việc đã diễn ra như vậy, thì theo ông, không ai có thể hợp lẽ mà đòi ông phải đứng lên, khiến thiên hạ càng thêm ngờ vực rằng ông đã chơi trò hai mặt.

Nhưng ông khuyên Simon nên tìm đến anh em Haftorssøn. Họ là anh em họ bên mẹ của nhà vua, và những khi không thực sự ở trong cảnh thù địch với ngài thì đôi bên vẫn duy trì một thứ tình bằng hữu. Và theo chỗ Erling nhận thấy, những người mà Erlend đã che chở nhiều khả năng thuộc phe cánh của anh em Haftorssøn — và nằm trong số những đại quý tộc trẻ tuổi nhất.

Vả lại, hôn lễ của nhà vua sẽ được cử hành tại nước này vào mùa hè. Khi ấy có thể là một dịp thích hợp để ngài Magnus tỏ lòng khoan dung và nhân hậu với những kẻ thù của mình. Mẹ nhà vua và phu nhân Isabel hẳn sẽ tới dự các yến tiệc. Mẹ Simon thuở trẻ từng là thị nữ của hoàng hậu Isabel; Simon có thể tìm đến phu nhân, hoặc vợ Erlend có thể quỳ xuống trước tân nương của nhà vua và phu nhân Ingebjørg Haakonsdatter, cầu xin hai bà nói giúp.

Simon nghĩ rằng để Kristin quỳ trước phu nhân Ingebjørg phải là đường cùng cuối cùng. Nếu vị nữ công tước ấy hiểu danh dự là gì thì hẳn từ lâu bà đã đứng ra giải thoát Erlend khỏi cảnh khó khăn. Nhưng lần Simon nhắc chuyện này với Erlend, ông chỉ cười mà nói — phu nhân ấy lúc nào cũng có quá nhiều việc và quá nhiều nỗi khó khăn của riêng mình, mà hẳn bà còn giận dữ vì giờ đây xem ra đứa con bà yêu quý nhất chẳng mấy hy vọng có ngày được mang danh vua.