Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby — Chương 19: Tập II — Nữ chủ Husaby · Phần III — Erlend Nikulaussøn · Chương V
Chương 19 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby
Ngay tối hôm sau, vừa tới phố chợ, Kristin liền đi đến vương trang. Không biết trong cơ ngơi này họ giam Erlend ở đâu, nàng nghĩ, đưa mắt nhìn những tòa nhà đá san sát. Nàng thấy mình bận tâm đến cảnh ngộ của Erlend hơn là điều nàng sắp được biết. Nhưng người ta bảo nàng rằng quan quản khố đã rời thành.
Mắt nàng bỏng rát sau chuyến đi thuyền dài giữa ánh mặt trời loang trên sóng, sữa căng tức trong đôi vú đầy ứ. Khi những gia nhân ngủ trong gian nhà lớn đã thiếp đi, nàng trở dậy và đi đi lại lại trên sàn suốt đêm.
Hôm sau nàng sai Haldor, người hầu cận riêng của mình, đến vương trang. Chàng trai trở về, kinh hãi và khốn khổ—Ulf Haldorssøn, chú ruột chàng, đã bị bắt trên vịnh khi tìm cách sang tu viện ở Holm. Quan quản khố vẫn chưa trở lại.
Tin ấy cũng khiến Kristin kinh hoàng. Năm vừa qua Ulf không ở Husaby mà làm người coi lãnh địa cho quan cai quản hạt, phần lớn cư ngụ tại Skjoldvirkstad, nơi giờ đây phần lớn cơ nghiệp đã thuộc về ông. Đây có thể là việc gì mà dường như nhiều người đến thế đều can dự vào? Trong lúc đau yếu và mất ngủ như vậy, nàng không sao chống nổi nỗi sợ hãi tột cùng.
Đến sáng ngày thứ ba, ngài Baard vẫn chưa về. Một người đưa tin mà Kristin đã cố sai đến chỗ chồng nàng cũng không tới được. Nàng nghĩ đến chuyện tìm Gunnulf trong tu viện, nhưng không còn sức. Nàng cứ đi, đi mãi trên sàn căn phòng, đôi mắt bỏng rát khép hờ. Có lúc tưởng như nàng đang bước trong cơn nửa tỉnh nửa mê, nhưng hễ vừa nằm xuống, nỗi sợ và những cơn đau lại ập đến, khiến nàng phải vùng dậy, tỉnh như sáo, tiếp tục đi để chịu đựng cho qua.
Không bao lâu sau giờ Kinh Chín, Gunnulf Nikulaussøn đến gặp nàng. Kristin vội bước tới trước mặt vị tu sĩ:
“Anh đã gặp Erlend chưa—Gunnulf, họ buộc tội anh ấy về chuyện gì—?”
“Tin dữ lắm, Kristin. Không, họ không cho bất cứ ai đến gần Erlend—nhất là người của tu viện chúng tôi. Họ cho rằng viện phụ Olav đã biết việc anh ấy định làm. Erlend vay tiền ở đó, nhưng tất cả các tu huynh đều thề rằng khi đóng ấn của tu viện vào văn thư, họ không hề biết anh ấy dùng tiền vào việc gì. Còn ngài Olav thì từ chối giải trình bất cứ điều gì—”
“Vâng. Nhưng chuyện ấy là gì—có phải nữ công tước đã dụ Erlend vào việc này không—”
Gunnulf đáp:
“Có lẽ đúng hơn là họ đã phải thúc ép bà ấy rất gắt gao rồi bà ấy mới chịu thuận theo. Lá thư mà—một người nào đó—đã trông thấy các bản thảo, lá thư Erlend cùng những người bạn gửi cho bà ấy mùa xuân này, hẳn họ sẽ không thể lấy được, trừ phi đe dọa được phu nhân, buộc bà giao nó ra. Họ cũng không tìm thấy bản thảo nào. Nhưng căn cứ vào thư hồi đáp ấy và thư của ngài Aage Laurisen mà họ lấy được từ Borgar Trondssøn tại Veøy, thì xem ra quả thật bà ấy đã nhận một bức thư như vậy từ Erlend và những người đã cam kết cùng anh ấy thực hiện kế hoạch này. Có vẻ rõ ràng là suốt một thời gian dài bà ấy sợ không dám đưa công tử Haakon sang Na Uy—nhưng họ đã nói với bà rằng dù sự việc kết thúc thế nào, vua Magnus cũng không thể làm hại đứa trẻ, bởi đó là em trai nhà vua. Nếu Haakon Knutssøn không giành được vương quyền ở Na Uy, địa vị của cậu cũng chẳng khác trước là bao—còn những người này sẵn lòng đem tính mạng và tài sản ra đánh cược để đưa cậu lên ngai vàng.”
Kristin ngồi hoàn toàn bất động hồi lâu.
“Tôi hiểu rồi. Việc này lớn hơn chuyện giữa ngài Erling hay anh em nhà Haftorssøn với nhà vua.”
“Phải,” Gunnulf nói khẽ. “Người ta sẽ bảo Haftor Olavssøn và Erlend đi thuyền đến Bjørgvin. Nhưng đích đến thật sự là Kalundborg, và họ sẽ đưa công tử Haakon về Na Uy trong lúc vua Magnus đang ở nước ngoài cầu hôn—.”
Một lát sau, vị tu sĩ lại nói:
“Có lẽ đã—gần một trăm năm rồi, kể từ khi một đại quý tộc Na Uy dám làm chuyện như thế, mưu lật đổ người làm vua theo thứ tự kế vị và dựng lên một đối vương—”
Kristin ngồi nhìn trân trân về phía trước; Gunnulf không trông thấy mặt nàng:
“Vâng. Những người cuối cùng dám bước vào cuộc chơi ấy là tổ tiên của Erlend và của anh.—Thuở đó những người thân đã khuất của tôi thuộc dòng Gjesling cũng đứng về phía vua Skule,” một lát sau nàng trầm ngâm nói.
Nàng bắt gặp ánh mắt dò hỏi của Gunnulf, liền bừng bừng nóng nảy thốt lên:
“Tôi chỉ là một người đàn bà ngu muội, Gunnulf—tôi chẳng mấy để tâm khi chồng tôi bàn những việc như thế với các người đàn ông khác—tôi không muốn nghe cả khi anh ấy định nói với tôi—xin Chúa giúp tôi, tôi không đủ trí hiểu những chuyện hệ trọng đến vậy. Nhưng dù chỉ là một người đàn bà khờ dại, ngoài việc cai quản nhà cửa và nuôi nấng con cái thì chẳng hiểu gì—tôi cũng biết công lý phải đi một con đường quá dài trước khi một vụ việc đến được với vị vua này rồi quay về các miền quê; tôi cũng nhận ra dân chúng trong nước nay sống kém yên ổn và khốn khó hơn thuở tôi còn nhỏ, khi đức vua Haakon quá cố là quân chủ của chúng ta. Chồng tôi”—nàng thở gấp và run rẩy mấy lượt—“chồng tôi đã đứng ra gánh lấy một việc lớn đến nỗi không một thủ lĩnh nào khác trong nước dám nhấc lên, giờ tôi đã hiểu—”
“Đúng thế.” Vị tu sĩ siết hai bàn tay vào nhau, giọng chỉ còn là tiếng thì thầm. “Một việc lớn đến nỗi nhiều người sẽ thấy thật tệ hại khi chính anh ấy lại gây nên sự sụp đổ của nó—bằng cách như thế này—”
Kristin thét lên và bật dậy. Cử động dữ dội ấy khiến cơn đau từ ngực và hai cánh tay ép mồ hôi túa khắp người nàng. Cuồng loạn trong cơn sốt, nàng quay sang người kia và lớn tiếng kêu:
“Không phải Erlend gây nên chuyện ấy—số phận đã an bài như vậy—đó là tai họa của anh ấy—”
Nàng quỳ sụp xuống, hai tay chống vào ghế dài, ngước khuôn mặt đỏ bừng, tuyệt vọng lên nhìn vị tu sĩ:
“Anh và tôi, Gunnulf, anh là em trai Erlend, còn tôi đã làm vợ anh ấy mười ba năm, chúng ta không nên trách cứ Erlend khi giờ đây anh ấy là một tù nhân khốn khổ, có lẽ tính mạng đang lâm nguy—”
Gương mặt Gunnulf run giật. Ông cúi nhìn người đàn bà đang quỳ:
“Xin Chúa ban thưởng cho em, Kristin, vì em có thể đón nhận việc này như thế.” Ông lại vặn hai bàn tay gầy mòn vào nhau. “Xin Chúa—xin Chúa cho Erlend được sống và gặp cảnh ngộ để anh ấy có thể đền đáp lòng trung thành của em. Xin Chúa xua tai họa này khỏi em và các con, Kristin—”
“Đừng nói như vậy!” Nàng nhổm lên, quỳ thẳng người và nhìn vào mặt ông. “Chưa từng có điều gì tốt lành khi anh nhúng tay vào chuyện của tôi và Erlend. Không ai xét đoán anh ấy khắc nghiệt bằng anh—em trai anh ấy và tôi tớ của Chúa!”
“Anh chưa bao giờ muốn xét đoán Erlend khắc nghiệt hơn—hơn mức buộc phải làm.” Gương mặt trắng bệch càng trắng hơn. “Trên đời này không ai anh yêu quý hơn anh trai mình. Có lẽ vì thế—mỗi khi Erlend đối xử tệ với em, nó lại thiêu đốt trong anh như thể đó là tội lỗi của chính anh, chính anh phải đền tội. Rồi còn Husaby—chỉ một mình Erlend phải nối tiếp dòng họ cũng là dòng họ của anh. Phần lớn gia sản anh thừa kế từ cha, anh cũng đã trao vào tay Erlend. Các con trai của em là những người gần gũi nhất với anh về huyết thống—”
“Erlend _đã_ không đối xử tệ với tôi! Tôi cũng đâu tốt hơn anh ấy! Tại sao anh lại nói với tôi như thế, Gunnulf—anh chưa bao giờ là cha giải tội của tôi. Cha Eiliv không trách chồng tôi trước mặt tôi—ngài quở trách _tôi_ về những tội lỗi của tôi khi tôi than thở với ngài về cảnh khốn khó của mình. Ngài là một linh mục tốt hơn anh—và chính ngài là người Chúa đặt trên tôi để tôi nghe lời—ngài chưa từng nói rằng tôi phải chịu điều bất công. Tôi sẽ nghe lời ngài!”
Gunnulf đã đứng lên khi nàng đứng dậy. Mặt tái nhợt, người run rẩy, ông lẩm bẩm:
“Em nói đúng. Em phải nghe lời Cha Eiliv—”
Ông quay đi định rời khỏi đó, nhưng nàng chộp lấy tay ông:
“Không, đừng bỏ tôi mà đi như thế! Tôi nhớ, Gunnulf—tôi nhớ đã từng làm khách của anh trong cơ ngơi này, khi nó còn thuộc về anh; anh đã đối xử tốt với tôi. Tôi nhớ lần đầu gặp anh—khi ấy tôi đang lâm cảnh khốn cùng và sợ hãi; tôi nhớ anh đã nói để biện hộ cho Erlend, anh đâu thể biết—. Anh đã cầu nguyện mãi cho tính mạng tôi và đứa con. Tôi biết anh mong điều lành cho chúng tôi, anh yêu quý Erlend—”
“Ôi, đừng nói nặng lời về Erlend, Gunnulf—ai trong chúng ta thanh sạch trước mặt Chúa? Cha tôi đã đem lòng quý mến anh ấy, các con chúng tôi yêu cha chúng. Hãy nhớ, anh ấy gặp tôi khi tôi còn yếu đuối và dễ bị dụ dỗ, rồi đưa tôi đến một cuộc sống tốt đẹp và danh giá. Ôi, Husaby đẹp biết bao—tối cuối cùng trước khi tôi rời nhà, nơi ấy đẹp biết bao, hoàng hôn tối hôm ấy thật đẹp. Erlend và tôi đã sống ở đó biết bao ngày tốt lành.—Dù chuyện gì xảy ra, dù chuyện gì xảy ra, anh ấy vẫn là chồng tôi, người chồng mà tôi yêu—”
Gunnulf chống cả hai tay lên cây gậy mà giờ đây ông luôn dùng mỗi khi ra khỏi tu viện:
“Kristin—. Đừng cậy vào sắc đỏ của hoàng hôn và thứ—tình yêu—mà em nhớ lại lúc này, khi em đang lo sợ cho tính mạng anh ấy.”
“Thuở còn trẻ—khi anh mới chỉ là phó trợ tế—Gudbjørg, người sau này lấy Alf ở Uvaasen, bấy giờ hầu việc tại Siheim; cô ấy bị buộc tội ăn cắp một chiếc nhẫn vàng. Sau đó sự vô tội của cô được phơi bày, nhưng nỗi nhục và kinh hoàng đã làm tâm trí cô chấn động đến mức kẻ thù chiếm được quyền lực trên cô; cô đi xuống biển, định nằm mình vào nước. Về sau cô thường làm chứng với chúng tôi rằng khi ấy thế gian hiện ra trước mắt cô đẹp đẽ, đỏ rực và óng vàng, nước biển sáng lên, có vẻ ấm áp và dịu êm; nhưng khi đã lội sâu đến ngang lưng, cô chợt xướng danh Chúa Jesus và làm dấu thánh giá—thế là cả thế gian hóa xám, nước trở nên lạnh buốt, và cô nhìn thấy nơi mình đã định đi đến—”
“Vậy thì tôi sẽ không nhắc đến điều ấy nữa.” Kristin nói khẽ; nàng đứng cứng đờ, lưng thẳng tắp. “Nếu tôi tin rằng vì nó mà mình có thể bị cám dỗ phản bội chủ mình lúc anh ấy lâm nạn. Nhưng tôi không nghĩ danh Chúa Kitô có thể gây ra điều ấy, mà đúng hơn phải là kẻ thù—”
“Anh không có ý ấy, ý anh là—. Xin Chúa ban sức mạnh cho em, Kristin, để em có thể làm được việc này, lấy lòng yêu thương mà gánh chịu những lỗi lầm của chồng—”
“Anh thấy tôi đang làm thế rồi,” người đàn bà vẫn bằng giọng ấy đáp.
Gunnulf quay mặt khỏi nàng, trắng bệch và run rẩy. Ông đưa tay lên che mặt:
“Anh sẽ về. Anh có thể dễ dàng hơn—ở nhà anh có thể dễ dàng trấn tĩnh mình—để làm những gì anh có thể cho Erlend và em. Xin Chúa—xin Chúa cùng toàn thể các thánh gìn giữ anh trai con được sống và được cứu rỗi. Ôi Kristin—đừng nghĩ rằng anh không yêu quý anh trai mình—”
Nhưng sau khi ông đi, Kristin cảm thấy mọi sự càng trở nên tồi tệ. Nàng không muốn gia nhân vào phòng, chỉ đi đi lại lại, vặn hai tay và khe khẽ rên rỉ. Trời đã tối muộn khi có người cưỡi ngựa vào sân. Ngay sau đó cửa gian nhà lớn mở ra; trong bóng nhập nhoạng phía dưới hiện lên một người đàn ông cao lớn, vạm vỡ khoác áo choàng đi đường, ông vội vã tiến về phía nàng, đinh thúc ngựa leng keng, thanh kiếm kéo lê. Nhận ra Simon Andressøn, nàng bật khóc nức nở, dang tay chạy đến, nhưng lại thét lên vì đau khi ông ôm nàng vào lòng.
Simon buông nàng ra. Nàng vẫn đứng đó, hai tay đặt trên vai ông, trán cúi xuống ngực ông, khóc nức nở trong tuyệt vọng. Ông khẽ đỡ lấy hông nàng:
“Nhân danh Chúa, Kristin!” Chỉ giọng nói khô và ấm của ông, cùng mùi của một người đàn ông sống động—mồ hôi, bụi đường, ngựa và đồ da—đã như mang theo sự cứu giúp. “Nhân danh Chúa, lúc này còn quá sớm để mất hết can đảm và hy vọng—. Hẳn phải có cách nào đó, cô cũng biết mà—”
Một lát sau nàng đã trấn tĩnh đủ để xin ông thứ lỗi. Nàng kiệt quệ hoàn toàn vì đã phải cai sữa đứa con út quá đột ngột.
Simon hỏi rõ nàng đã trải qua ba ngày ấy thế nào. Ông gọi nữ tì của nàng đến, giận dữ hỏi chẳng lẽ trong cơ ngơi này không có lấy một người đàn bà đủ hiểu biết để nhận ra bà chủ mắc chứng gì. Nhưng nữ tì chỉ là một cô gái trẻ chưa từng trải, còn viên quản sự của Erlend trong thành là một người góa vợ có hai cô con gái chưa chồng. Simon sai một người vào thành tìm bà lang, rồi bảo Kristin lên giường nằm. Khi nàng đã đỡ đau, ông sẽ vào nói chuyện với nàng.
Trong lúc chờ bà lang, Simon và người hầu cận được dọn thức ăn trong gian nhà lớn. Ông vừa ăn vừa nói chuyện với Kristin khi nàng đang thay đồ trong buồng. Phải, ông đã cưỡi ngựa lên phương bắc ngay khi nghe chuyện xảy ra tại Sundbu—ông đến đây, còn Ramborg tới chỗ kia để ở bên vợ của Ivar và Borgar. Ivar đã bị giải đến thành Mjøsa, còn Haavard được để tự do, tuy ông ấy phải hứa ở lại trong vùng. Người ta nói Borgar và Guttorm đã may mắn trốn thoát—Jon ở Laugarbru đã cưỡi ngựa đến Raumsdal dò hỏi tin tức và sẽ sai người báo về đây. Trưa nay Simon đã ghé Husaby, nhưng không ở lại lâu. Các cậu bé đều khỏe, song Naakkve và Bjørgulf đã nài nỉ mãi xin được theo ông vào thành.
Kristin đã lấy lại được bình tĩnh và can đảm khi Simon ngồi bên mép giường nàng vào lúc đêm khuya. Nàng nằm trong trạng thái rã rời dễ chịu thường đến sau những cơn đau dữ dội, nhìn gương mặt nặng nề rám nắng và đôi mắt nhỏ cương nghị của người anh rể. Việc ông đến là một chỗ dựa lớn lao. Simon trở nên rất nghiêm nghị khi nghe rõ hơn về sự việc, nhưng ông vẫn nói bằng giọng đầy hy vọng.
Kristin nằm nhìn chiếc thắt lưng da nai sừng tấm quanh vòng eo đồ sộ của ông. Chiếc khóa lớn bằng đồng, dẹt, phủ một lớp bạc mỏng, không trang trí gì ngoài hai chữ A và M chạm thủng, mang nghĩa Ave Maria; con dao găm dài với những miếng nạm bạc mạ vàng và các viên pha lê núi lớn trên chuôi; con dao ăn nhỏ bé, xấu xí, cán sừng nứt đã được nẹp lại bằng những đai đồng thau—tất cả những thứ ấy đã thuộc về bộ y phục thường ngày của cha nàng từ khi nàng còn bé. Nàng nhớ lúc Simon nhận chúng—ngay trước khi qua đời, cha nàng đã định trao cho Simon chiếc thắt lưng lễ phục mạ vàng của mình cùng số bạc để làm thêm đủ những phiến trang trí cho vừa vòng bụng người con rể. Nhưng Simon xin lấy chiếc thắt lưng này—và khi Lavrans bảo như vậy là ông tự làm mình thiệt, Simon nói dẫu sao con dao găm cũng là một vật quý giá. “Phải, còn cả con dao nữa,” Ragnfrid vừa nói vừa khẽ mỉm cười; mấy người đàn ông cười lên, bảo phải rồi, cả con dao nữa. Vì con dao ấy mà cha mẹ nàng đã cãi nhau biết bao lần; ngày nào Ragnfrid cũng bực mình khi nhìn thấy con dao xấu xí, tồi tàn bên thắt lưng chồng. Nhưng Lavrans thề rằng bà sẽ chẳng bao giờ chia lìa được ông với nó. “Dẫu sao tôi chưa từng rút nó ra đối phó với bà, Ragnfrid—vả lại, trong khắp nước Na Uy chẳng có con dao nào tốt hơn để xắn bơ—miễn là nó được hơ nóng.”
Nàng xin được xem con dao, rồi nằm cầm nó trong tay một lúc.
“Em ước gì con dao này thuộc về em,” nàng khẽ nói bằng giọng van nài.
“Phải, tôi tin ngay—tôi mừng vì nó thuộc về tôi, và dẫu hai mươi mark tôi cũng không bán.” Ông cười, nắm lấy cổ tay nàng và lấy lại con dao. Đôi bàn tay nhỏ nhắn, đầy đặn của Simon bao giờ cũng dễ chịu như thế, vừa đủ ấm và khô.
Một lát sau, chàng chúc nàng ngủ ngon, cầm lấy đèn rồi đi vào phòng. Nàng nghe tiếng chàng quỳ gối trước cây thập giá trong đó, đứng dậy, thả đôi ủng xuống sàn — lát sau chàng nặng nề trèo lên chiếc giường kê sát vách phía bắc. Rồi Kristin chìm xuống một giấc ngủ sâu không đáy và ngọt ngào.
Mãi đến quá trưa hôm sau nàng mới tỉnh giấc. Simon Andressøn đã ra ngoài từ nhiều giờ trước, và dặn người trong nhà nhắn nàng cứ bình tâm ở yên trong gia trang.
Mãi gần giờ kinh Chín chàng mới trở về, và vừa vào đã nói:
“Tôi mang lời Erlend về cho em đây, Kristin — tôi đã được nói chuyện với anh ấy.”
Chàng thấy gương mặt nàng trẻ hẳn ra, dịu mềm, âu lo và chan chứa trìu mến. Rồi chàng cầm tay nàng trong tay mình mà kể. Chàng và Erlend không nói được với nhau bao nhiêu, vì người dẫn Simon lên gặp tù nhân vẫn ở lại trong phòng suốt lúc ấy. Luật quan Olav đã thu xếp cuộc gặp này cho Simon vì mối thông gia từng có giữa họ khi Halfrid còn sống. Erlend gửi lời thương yêu đến nàng và các con; chàng đã hỏi rất nhiều về tất cả mọi người, nhưng hỏi Gaute nhiều nhất. Simon cho rằng chỉ vài ngày nữa Kristin hẳn sẽ được phép vào gặp chồng. Erlend có vẻ bình tĩnh và tinh thần vẫn vững vàng.
“Nếu hôm nay em đi cùng anh, thì bây giờ em cũng đã được gặp chàng rồi,” người vợ khẽ nói.
Simon bảo không phải vậy; chàng được vào chính vì đã đến một mình. “Nhưng trên nhiều phương diện, em sẽ dễ mở được đường hơn, Kristin, khi có một người đàn ông đi trước em.”
Erlend bị giam trong một căn phòng ở tháp phía đông trông xuống sông — một trong những phòng dành cho các vị quyền quý, dù phòng ấy nhỏ. Ulf Haldorssøn bị giam trong ngục tối, còn Haftor ở một phòng khác.
Thận trọng và dò xét, luôn để ý xem nàng đủ sức chịu đựng đến đâu, Simon kể lại những điều chàng đã dò hỏi được trong thành. Khi thấy chính nàng cũng hiểu rõ toàn bộ sự việc, chàng không giấu rằng mình cũng cho đây là một vụ nguy hiểm. Nhưng tất cả những người chàng đã nói chuyện đều bảo rằng Erlend không thể nào dám mưu tính một việc như thế và đưa nó đi xa đến vậy nếu không biết chắc mình có một phần lớn các hiệp sĩ và gia thần quý tộc đứng sau. Mà nếu hàng ngũ các đại quý tộc bất mãn đông và sâu đến thế, thì khó lòng vua dám thẳng tay với người cầm đầu họ; vua ắt phải để Erlend tìm cách giảng hòa với mình.
Kristin hỏi nhỏ:
“Erling Vidkunssøn đứng về phía nào trong việc này?”
“Theo chỗ tôi hiểu thì khối người sẵn lòng bỏ ra không ít để biết điều đó,” Simon nói.
Chàng không nói điều ấy với Kristin, cũng chưa nói với những người đã cùng chàng bàn về chuyện này. Nhưng chàng thấy khó có thể tin rằng sau lưng Erlend thật sự có một nhóm người đã ràng buộc mình phải lấy cả tính mạng và của cải nâng đỡ một việc nguy hiểm đến thế; nếu vậy, hẳn họ khó lòng chọn Erlend làm thủ lĩnh — bởi tất cả những người ngang hàng với chàng đều biết Erlend là kẻ không đáng tin cậy. Đúng là chàng có họ với phu nhân Ingebjørg và người được đưa ra tranh ngôi; mấy năm gần đây chàng đã có đôi chút quyền thế và danh vọng, cũng không hoàn toàn thiếu kinh nghiệm chiến trận như phần lớn những người cùng tuổi, lại nổi tiếng là có tài thu phục và chỉ huy quân dịch — và mặc dù bao lần hành xử thiếu khôn ngoan, chàng vẫn biết sắp xếp lời lẽ mạch lạc và sáng suốt, khiến người ta dễ tin rằng đến tận bây giờ, sau bao thiệt hại, cuối cùng chàng đã học được sự thận trọng. Simon nghĩ, rất có thể có những kẻ biết rõ ý định của Erlend và đã đẩy chàng tiến lên, nhưng chàng sẽ lấy làm lạ nếu họ tự trói mình chặt đến mức không thể rút lui lúc này, để mặc Erlend đứng trơ lưng không ai che chở.
Simon cho rằng mình đã hiểu: bản thân Erlend cũng chẳng mong đợi điều gì khác, và chàng dường như đã chuẩn bị tinh thần phải trả giá đắt cho canh bạc liều lĩnh của mình. “Bò đã sa lầy thì chủ nó phải túm đuôi mà kéo,” chàng nói rồi cười khẽ. Vả lại, trước mặt người thứ ba, Erlend cũng không thể nói được nhiều.
Chính Simon cũng ngạc nhiên vì cuộc gặp lại người anh em đồng hao đã làm mình xúc động đến thế. Nhưng căn phòng nhỏ hẹp trong tháp, nơi Erlend mời chàng ngồi xuống giường — chiếc giường kéo từ vách này sang vách kia, chiếm mất nửa gian phòng — vóc người thon gọn, thẳng cao của Erlend khi chàng đứng bên ô lấy sáng nhỏ trên tường — Erlend hoàn toàn không sợ hãi, mắt sáng trong, chẳng bận lòng vì sợ hãi cũng chẳng vì hy vọng — giờ đây, khi toàn bộ đám mạng nhện oi nồng của trò đùa cợt ái tình và những chuyện dại dột vì đàn bà đã bị thổi sạch khỏi chàng, chàng hiện ra là một người đàn ông tươi tỉnh, lạnh lùng và rắn rỏi. Dẫu chính đàn bà và những chuyện tình ái đã đưa chàng đến đây cùng tất cả những kế hoạch táo bạo, vốn đã tan vỡ trước cả khi chàng đem chúng thực hiện. Nhưng bản thân Erlend dường như không nghĩ đến điều đó. Chàng đứng như một người đã đánh canh bạc liều lĩnh nhất, đã thua, và biết gánh lấy thất bại một cách đường hoàng, cứng cỏi.
Và vẻ biết ơn vừa kinh ngạc vừa vui mừng khi nhìn thấy người đồng hao khiến chàng hiện ra thật đẹp. Bấy giờ Simon nói:
“Anh không nhớ sao, Erlend, cái đêm chúng ta cùng thức bên cha vợ? Chúng ta đã trao tay nhau, rồi Lavrans đặt tay ông lên trên — chúng ta đã hứa với nhau và với ông rằng suốt đời sẽ sát cánh như anh em.”
“Có.” Gương mặt Erlend bừng sáng trong nụ cười. “Có, hẳn Lavrans không nghĩ sẽ có ngày chính anh phải cần đến sự giúp đỡ của tôi.”
“Điều hợp lẽ hơn,” Simon nói, không hề nao núng, “là ông nghĩ rằng với địa vị của anh, chính anh có thể trở thành chỗ dựa cho tôi, chứ không phải anh sẽ cần tôi giúp.”
Erlend vẫn mỉm cười như trước: “Lavrans là một người khôn ngoan, Simon. Và dẫu nghe lạ lùng đến đâu — tôi biết ông thương tôi!”
Simon nghĩ, phải, có Chúa biết chuyện ấy lạ lùng đến đâu; nhưng chính chàng — bất chấp mọi điều chàng biết về Erlend và mọi điều người kia đã làm với chàng — vẫn không sao ngăn mình lúc này cảm thấy một thứ dịu dàng như tình anh em đối với chồng của Kristin. Khi ấy Erlend hỏi thăm nàng.
Simon kể mình đã thấy nàng ra sao, đau ốm và đầy lo sợ cho chồng. Olav Hermanssøn đã hứa sẽ tìm cách cho nàng được vào gặp chàng ngay khi ngài Baard trở về.
“Đừng để nàng đến trước khi khỏe lại!” Erlend vội vã van xin, đầy sợ hãi. Một màu đỏ kỳ lạ như của thiếu nữ tràn qua gương mặt nâu sạm, chưa cạo râu của chàng. “Đó là điều duy nhất tôi sợ, Simon — rằng khi gặp nàng, tôi sẽ không giữ mình cho vững được!”
Nhưng một lát sau, chàng lại bình tĩnh như trước và nói:
“Tôi biết anh sẽ trung thành đứng bên nàng nếu năm nay nàng thành góa phụ. Dẫu sao nàng và các con cũng không đến nỗi nghèo, nhờ phần gia sản nàng thừa hưởng từ Lavrans. Và khi nàng về sống ở Jørundgaard, nàng sẽ có anh ở gần.”
Ngày sau lễ Sinh nhật Đức Maria, quan Tổng quản, ngài Ivar Ogmundssøn, đến Nidaros. Một pháp đình gồm mười hai người đã tuyên thệ phụng sự nhà vua ở miền bắc dãy núi được chỉ định để xét xử vụ án của Erlend Nikulaussøn. Ngài Finn Ogmundssøn, em trai quan Tổng quản, được chọn làm người đưa lời buộc tội chống lại chàng.
Trong lúc ấy, vào quãng mùa hè, Haftor Olavssøn ở Godøy đã tự sát bằng con dao găm nhỏ mà mỗi tù nhân được phép giữ lại để cắt thức ăn. Việc giam cầm hẳn đã tác động đến Haftor dữ dội đến mức ông không còn hoàn toàn tỉnh trí. Khi nghe tin ấy, Erlend nói với Simon rằng vậy thì chàng không còn phải lo lắng về miệng lưỡi của Haftor nữa. Nhưng chàng vẫn chấn động sâu sắc.
Dần dần, mọi việc thành ra đôi khi lính canh đi làm một việc vặt nào đó trong lúc Simon hoặc Kristin ở bên Erlend. Cả hai đều hiểu, và đã nói với nhau, rằng ý nghĩ trước tiên cũng như sau cùng của Erlend là làm sao vượt qua vụ này mà không để những người đồng mưu bị lộ. Một hôm chàng nói thẳng điều ấy với Simon. Chàng đã hứa với tất cả những người từng bàn bạc cùng mình rằng chàng sẽ giữ chặt sợi dây, dẫu đến lúc chính hai bàn tay mình bị chém đứt, nếu sự thể phải đi đến đó; “và từ trước đến nay tôi chưa từng phụ một ai đã đặt lòng tin ở tôi.” Simon nhìn chàng — mắt Erlend xanh và trong; rõ ràng chàng nói điều ấy về bản thân với một niềm tin hoàn toàn chân thành.
Các quan chức của nhà vua cũng không lần ra được một ai khác có phần trong âm mưu phản nghịch của Erlend, ngoài hai anh em Greip và Torvard Toressøn ở Møre; mà họ không chịu thừa nhận mình biết kế hoạch của Erlend nhằm điều gì khác ngoài việc chàng cùng một số người nữa đã thuyết phục nữ Công tước cho công tử Haakon Knutssøn được nuôi dạy tại Na Uy. Sau đó các thủ lĩnh sẽ trình bày với vua Magnus rằng sẽ có lợi cho cả hai vương quốc của ngài nếu ngài ban vương hiệu tại Na Uy cho người em cùng mẹ khác cha.
Hai anh em Borgar và Guttorm Trondssøn đã may mắn trốn thoát khỏi vương trang ở Veøy — không ai hiểu bằng cách nào, nhưng người ta đoán Borgar đã được một phụ nữ giúp đỡ; chàng rất đẹp trai và có phần phóng túng. Ivar ở Sundbu vẫn bị giam trong thành Mjøsa; dường như hai người anh đã gạt Haavard trẻ tuổi ra ngoài các cuộc bàn bạc của họ.
Cùng lúc hội nghị cận thần được tổ chức tại vương trang, Tổng giám mục triệu tập công đồng trong thành của mình. Simon là người có nhiều bạn bè và quen biết, bởi vậy chàng có thể báo tin mới cho Kristin. Ai nấy đều cho rằng Erlend rất có thể sẽ bị xử lưu vong và phải nộp các điền sản của mình cho nhà vua. Chính Erlend cũng nói sự thể hẳn sẽ đi đến đó; tinh thần chàng vẫn tốt — chàng định chạy sang Đan Mạch. Với tình hình đất nước ấy lúc này, luôn có đường rộng mở cho một người gan dạ và giỏi vũ khí, và phu nhân Ingebjørg chắc chắn sẽ đón tiếp vợ chàng như một nữ quyến trong họ, cho nàng được lưu lại bên mình với danh dự xứng đáng. Các con thì Simon hãy nhận lấy, nhưng hai người con trai lớn nhất, Erlend vẫn muốn đưa theo mình hơn—
Suốt thời gian ấy, Kristin không một ngày nào ra khỏi thành và cũng không gặp các con — ngoại trừ Naakkve và Bjørgulf; một buổi tối, hai đứa tự cưỡi ngựa đến gia trang. Người mẹ giữ chúng bên mình vài ngày, nhưng rồi gửi chúng đến Raasvold, nơi phu nhân Gunna đã đón những đứa nhỏ về chăm nom.
Erlend muốn như vậy. Và nàng sợ những ý nghĩ có thể trỗi dậy trong mình nếu phải nhìn các con trai quanh quẩn bên cạnh, nghe những câu hỏi của chúng và cố giúp chúng hiểu rõ sự việc. Nàng vật lộn để đẩy ra xa mọi ý nghĩ và ký ức về những năm tháng mình đã làm vợ ở Husaby. Những năm ấy đầy đặn đến nỗi giờ đây đối với nàng, chúng dường như là một sự yên tĩnh lớn lao duy nhất — giống như có một thứ yên tĩnh phủ trên biển giữa cơn sóng động, nếu người ta nhìn từ một mỏm đá đủ cao. Những con sóng rượt đuổi nhau trông như bất tận và giống hệt nhau; đời sống cũng đã cuộn sóng qua tâm hồn nàng như thế trong những năm tháng rộng dài ấy.
Giờ đây mọi sự lại giống như những năm nàng còn trẻ, khi nàng đã quyết lấy Erlend, bất chấp mọi điều và tất cả mọi người. Giờ đây một lần nữa, đời nàng chỉ còn là một niềm mong đợi duy nhất, từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, giữa những lần nàng được gặp chồng, ngồi bên chàng trên giường trong căn phòng ở tháp của vương trang, trò chuyện với chàng bình thản và đều giọng — cho đến khi đôi lúc họ được ở riêng với nhau trong một thoáng ngắn ngủi, và lao vào vòng tay nhau trong những nụ hôn nóng bỏng, bất tận cùng những cái ôm cuồng dại.
Ngoài những lúc ấy, nàng ngồi hàng giờ trong Nhà thờ Chúa Kitô. Nàng quỳ gối, ngước nhìn hòm thánh tích bằng vàng của Thánh Olav sau những cánh cửa song sắt của cung thánh. Lạy Chúa, con là vợ chàng. Lạy Chúa, con đã bám lấy chàng khi con thuộc về chàng trong tội lỗi và bất chính. Nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa, hai kẻ bất xứng chúng con đã được thánh hóa cùng nhau trong phép hôn phối thánh. Mang dấu nung từ vết bỏng của tội lỗi, oằn dưới gánh nặng tội lỗi, chúng con đã cùng đến ngưỡng cửa nhà Thiên Chúa, cùng đón nhận Mình Đấng Cứu Thế từ tay linh mục. Lẽ nào giờ đây con lại than van nếu Thiên Chúa thử lòng chung thủy của con; lẽ nào giờ đây con lại nghĩ đến điều gì khác ngoài việc con là vợ chàng và chàng là chồng con chừng nào cả hai chúng con còn sống—
Ngày thứ Năm trước lễ Thánh Micae, hội nghị cận thần được triệu tập và bản án dành cho Erlend Nikulaussøn ở Husaby được tuyên. Chàng bị kết tội đã mưu làm cho đất nước và thần dân lìa bỏ vua Magnus, mưu gây loạn chống nhà vua trong nước và đưa một đạo quân thuê mướn vào Na Uy. Sau khi tra cứu những vụ tương tự trong quá khứ, các quan tòa phán rằng Erlend Nikulaussøn đã để tính mạng và tài sản của mình rơi vào tay vua Magnus.
Arne Gjavvaldssøn đến gặp Simon Darre và Kristin Lavransdatter tại Nikulausgaarden. Ông đã có mặt trong buổi nghị án.
Erlend không hề tìm cách biện hộ cho mình. Rõ ràng và cứng cỏi, chàng thừa nhận ý định của mình: bằng những hành động ấy, chàng muốn buộc vua Magnus Eirikssøn trao vương quốc Na Uy cho người em cùng mẹ khác cha còn trẻ tuổi, công tử Haakon Knutssøn Porse. Arne cho rằng Erlend đã nói hết sức xuất sắc. Chàng trình bày những khó khăn lớn lao giáng xuống dân chúng trong nước bởi mấy năm gần đây nhà vua hầu như không hề ở trong biên giới Na Uy, lại luôn tỏ ra không muốn bổ nhiệm những người thay mặt có thể phân xử công lý và thực thi vương quyền. Vì những công cuộc của nhà vua tại Skaane, vì sự hoang phí cùng thói quản lý tiền bạc thiếu khôn ngoan của những kẻ được ngài nghe theo nhiều nhất, dân chúng phải chịu áp bức và kiệt quệ, chẳng bao giờ biết mình có được yên khỏi những đợt kêu gọi đóng góp cùng các thứ thuế vượt quá lệ thường hay không. Vì các hiệp sĩ và võ sĩ Na Uy có ít quyền lợi và tự do hơn nhiều so với giới hiệp sĩ Thụy Điển, những người trước khó lòng ganh đua với những người sau; và cũng chỉ là lẽ tự nhiên khi ngài Magnus Eirikssøn, một người còn trẻ và thiếu từng trải, nghe theo các lãnh chúa Thụy Điển nhiều hơn, yêu quý họ hơn, bởi những người này giàu có hơn nhiều và do đó có khả năng trợ giúp ngài bằng những binh sĩ có vũ trang, dày dạn chiến trận.
Chàng cùng những người bạn liên minh với mình tin rằng họ đã biết chắc lòng dạ của phần lớn dân chúng trong nước — các gia thần quý tộc, nông dân và thị dân ở miền bắc và miền tây Na Uy — đến mức họ không hề nghi ngờ rằng mình sẽ nhận được sự hưởng ứng hoàn toàn tại đó, một khi có thể đưa ra một người tranh ngôi có quan hệ huyết thống gần gũi với đức vua Haakon quá cố kính yêu của chúng ta chẳng kém gì vị vua hiện nay. Khi ấy chàng mong dân chúng cả nước sẽ cùng quy tụ quanh việc này, để chúng ta có thể thuyết phục vua Magnus cho em trai ngài lên ngôi vua tại đây; còn công tử Haakon sẽ thề giữ hòa bình và tình anh em với ngài Magnus, bảo vệ vương quyền Na Uy trong những biên giới cũ, duy trì quyền của Hội Thánh, luật pháp và phong tục của đất nước theo lệ xưa, cùng quyền lợi và tự do của nông dân và thị dân, đồng thời ngăn chặn người ngoại quốc lấn sâu vào vương quốc. Chàng và các bạn mình đã định trình bày kế sách này với vua Magnus bằng đường lối hòa bình. Dẫu từ thuở xưa, nông dân và các thủ lĩnh Na Uy vẫn luôn có quyền phế bỏ một vị vua toan trị vì trái pháp luật.
Về chuyến đi của Ulf Saksesøn đến Anh và Scotland, chàng nói rằng mục đích duy nhất của Ulf là giành thiện cảm tại đó cho ngài Haakon, nếu Thiên Chúa đoái thương ban ngài làm quân vương của chúng ta. Trong việc này, không một người Na Uy nào tham dự cùng chàng ngoài Haftor Olavssøn ở Godøy — xin Thiên Chúa thương xót linh hồn ông — ba người anh em rể của chàng là các con trai của Trond Gjesling ở Sundbu, cùng Greip và Torvard Toressøn thuộc dòng họ Hatteberg.
Arne Gjavvaldssøn nói những lời của Erlend đã gây ấn tượng rất mạnh. Nhưng cuối cùng, khi nhắc đến việc họ đã mong được những người của Hội Thánh trợ giúp, chàng lại ám chỉ những lời đồn cũ từ thuở vua Magnus còn đang tuổi lớn; Arne cho đó là điều thiếu khôn ngoan. Quan đại diện tư pháp của Tổng giám mục đã lên tiếng gay gắt phản đối việc ấy — bởi Tổng giám mục Paal Baardssøn, cả khi còn làm Chưởng ấn lẫn hiện nay, vẫn dành tình yêu mến lớn lao cho vua Magnus vì lòng sùng đạo của ngài; hơn nữa, người ta đều muốn quên rằng những lời đồn ấy từng lưu truyền về đức vua của họ. Giờ đây ngài lại sắp thành hôn với một trinh nữ, con gái Bá tước Namur — nếu chuyện ấy từng có chút sự thật nào, thì hẳn giờ đây Magnus Eirikssøn đã hoàn toàn lìa bỏ những điều như thế.
– Arne Gjavvaldssøn đã đối đãi với Simon Andressøn bằng tình thân hữu hết sức nồng hậu trong thời gian ông ở Nidaros. Cũng chính Arne nhắc Simon rằng Erlend hẳn có thể kháng cáo bản án này, vì nó đã được tuyên trái luật. Theo lời sách luật, vụ kiện Erlend phải do một người ngang hàng với ông đứng ra đệ trình, nhưng ngài Finn xứ Hestbø là hiệp sĩ, còn Erlend chỉ là võ quan hầu cận. Vì thế, Arne cho rằng rất có thể một phiên xử mới sẽ phán rằng Erlend không thể chịu hình phạt nào nặng hơn lưu đày.
Còn những điều Erlend đã trình bày về một nền trị quốc mà ông cho là sẽ có ích cho đất nước – phải, nghe thật đẹp đẽ. Và ai nấy đều biết người nào có thể tìm đến, một người hẳn rất sẵn lòng đứng cầm lái, giữ con thuyền đi theo hướng ấy trong khi nhà vua còn vị thành niên – Arne cào cào chân bộ râu hoa râm, liếc sang Simon.
“Suốt mùa hè này không ai nghe tin tức hay dò hỏi được gì về người ấy sao?” Simon cũng hạ giọng hỏi.
“Không. À, ta nghe nói ông ấy bảo mình đang thất sủng trước nhà vua và không còn can dự vào những chuyện như thế nữa. Đã tròn một năm một ngày ông ấy chịu ngồi yên ở nhà lâu đến vậy mà nghe phu nhân Elin chuyện trò. Người ta bảo các cô con gái cũng xinh đẹp và ngu ngốc chẳng kém gì mẹ.”
Erlend nghe tuyên án với vẻ mặt bình thản không gì lay chuyển nổi; khi bị dẫn ra, ông chào các vị trong hội nghị cận thần cũng lễ độ, đường hoàng và đẹp đẽ như lúc bước vào. Hôm sau, khi Kristin và Simon được phép nói chuyện với ông, ông vẫn điềm nhiên và vui vẻ. Arne Gjavvaldssøn đi cùng họ, và Erlend nói ông sẽ nghe theo lời khuyên của Arne:
“Trước đây có bao giờ tôi đưa được Kristin sang Đan Mạch cùng mình đâu,” ông nói, vòng một cánh tay quanh eo vợ. “Mà tôi vẫn luôn khao khát được cùng nàng đi đây đó ngoài thế gian –.” Một cơn run thoáng qua đường nét trên mặt ông – rồi đột ngột ông hôn mãnh liệt lên má nàng tái nhợt, chẳng để tâm đến hai người đang nhìn.
Simon Andressøn đi ra Husaby để thu xếp chuyển tài sản riêng của Kristin về Jørundgaard. Ông cũng khuyên nàng nhân dịp này gửi các con đến Gudbrandsdalen. Kristin nói:
“Các con trai tôi sẽ không rời khỏi điền trang của cha chúng, chừng nào chưa bị người ta đuổi đi.”
“Nếu là cô, tôi sẽ không đợi đến lúc ấy,” Simon nói. “Chúng còn quá nhỏ, chưa thể hiểu đúng chuyện này. Tốt hơn hết cô nên để chúng rời Husaby mà cứ tưởng rằng chúng chỉ sang thăm dì và trông nom phần gia sản bên ngoại của mình trong thung lũng.”
Erlend đồng ý với Simon về việc ấy. Tuy vậy, cuối cùng chỉ có Ivar và Skule theo dượng đi về phương nam. Kristin không đành lòng gửi hai đứa nhỏ đi xa mình đến thế. Khi Lavrans và Munan được đưa tới chỗ nàng trong ngôi nhà ở thị trấn, và nàng nhận ra đứa út không còn nhận ra mẹ, nàng suy sụp. Simon chưa thấy nàng nhỏ một giọt lệ nào kể từ buổi tối đầu tiên ông đến Nidaros – giờ nàng khóc mãi, khóc mãi vì Munan giãy giụa, quẫy đạp trong vòng tay ghì siết của mẹ, cứ đòi sang với người mẹ nuôi; nàng lại khóc vì Lavrans con bò lên lòng mẹ, ôm lấy cổ nàng rồi cũng khóc theo, bởi thấy nàng khóc. Nàng giữ hai đứa nhỏ ở lại với mình, cùng Gaute, đứa nhất định không chịu đi với Simon – nàng cũng thấy không thể nào để đứa trẻ đang mang một gánh nặng quá sức tuổi nó rời khỏi tầm mắt mình.
Cha Eiliv đã đưa bọn trẻ vào phố chợ. Ông đã xin tổng giám mục cho tạm rời nhà thờ của mình và được phép đến thăm người anh em ở Tautra; vị linh mục riêng của gia đình Erlend Nikulaussøn dễ dàng được chấp thuận. Giờ ông cho rằng Kristin không thể ở lại trong thành mà chăm nom ngần ấy đứa trẻ, nên ngỏ ý đưa Naakkve và Bjørgulf theo mình ra tu viện.
Vào buổi tối cuối cùng trước khi vị linh mục và hai cậu con trai lên đường – lúc ấy Simon đã đi cùng cặp sinh đôi – Kristin xưng tội với người đàn ông mộ đạo và tâm hồn trong sạch, người đã làm cha linh hướng của nàng suốt bao năm ấy. Họ ngồi bên nhau nhiều giờ, và cha Eiliv ân cần khuyên nàng hãy khiêm nhường, vâng phục Thiên Chúa, nhẫn nại, thủy chung và yêu thương người chồng chính thức của mình. Nàng quỳ bên chiếc ghế dài nơi ông ngồi; bấy giờ cha Eiliv đứng dậy, quỳ xuống cạnh nàng, vẫn khoác dải stola đỏ, dấu chỉ ách tình yêu của Đức Kitô, và ông cầu nguyện rất lâu, hết sức thiết tha, không thốt thành lời. Nhưng nàng biết ông đang cầu nguyện cho người cha, người mẹ, những đứa con và cả gia đình mà suốt bao năm qua ông đã tận tụy gắng công vun bồi phần rỗi linh hồn cho họ.
Hôm sau nàng đứng trên Bratøren, nhìn các tu huynh trợ sĩ từ Tautra giương buồm trên chiếc thuyền sẽ đưa vị linh mục cùng hai con trai lớn của nàng đi xa. Trên đường về, nàng ghé vào nhà thờ của các tu sĩ Dòng Anh Em Hèn Mọn và nán lại đó cho tới khi tin rằng mình đã đủ sức đánh bạo trở về ngôi nhà của chính mình. Tối đến, khi hai đứa nhỏ đã ngủ, nàng ngồi bên guồng sợi và kể chuyện cho Gaute nghe, cho tới khi cậu bé cũng đến giờ đi ngủ.