Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby — Chương 18: Tập II — Nữ chủ Husaby · Phần III — Erlend Nikulaussøn · Chương IV

Chương 18 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby

Suốt mùa xuân và mùa hạ năm ấy, người ta hiếm khi thấy ông chủ ở nhà tại Husaby. Những lần chàng có mặt ở gia trang, chàng và bà chủ đối đãi với nhau bằng sự nhã nhặn và thân thiện. Erlend không tìm cách nào phá vỡ bức tường nàng đang dựng lên giữa họ, mặc dù chàng thường nhìn nàng dò xét. Ngoài ra, dường như chàng có rất nhiều việc phải lo bên ngoài gia đình. Chuyện cai quản gia trang, chàng không bao giờ hỏi đến một lời.

Bà chủ cũng nhắc đến điều ấy khi, ngay sau lễ Thánh Giá, chàng muốn nàng cùng đi Raumsdalen. Chàng có công việc ở miền Opland — nàng không muốn đưa các con theo, lưu lại Jørundgaard một thời gian, thăm nom họ hàng và bạn hữu trong thung lũng hay sao? Nhưng Kristin nhất quyết không chịu.

Chàng ở Nidaros trong kỳ hội nghị pháp đình, rồi sang Orkedalen; sau đó chàng trở về Husaby, nhưng lập tức bận rộn sửa soạn cho chuyến đi Bjørgvin. Chiếc Margygren đang neo ngoài Nidarholm, và chàng chỉ còn chờ Haftor Graut, người sẽ cùng đi thuyền với chàng.

Ba ngày trước lễ Thánh Margret, họ bắt đầu vụ cắt cỏ ở Husaby. Trời đẹp vô cùng, và khi mọi người trở lại đồng cỏ sau giờ nghỉ bữa sáng, Olav, người quản việc, muốn cả lũ trẻ cũng đi theo.

Kristin đang ở kho y phục, nằm trên tầng hai của gác hiệp sĩ. Tòa nhà được dựng sao cho một cầu thang bên ngoài dẫn lên căn phòng ấy, phía trước có một hành lang mở; nhưng tầng ba nhô ra ngoài, và muốn lên đó chỉ có một chiếc thang rời cùng một cửa sập thông từ kho y phục. Cửa đang mở, vì Erlend ở trên kho vũ khí.

Kristin mang chiếc áo choàng lông mà Erlend muốn đem theo trong chuyến đi biển ra hành lang giũ. Bấy giờ nàng nghe tiếng vó ngựa rền lên của một đoàn kỵ mã đông đảo, và cùng lúc trông thấy người ngựa từ trong rừng trên đường Gauldalen tiến ra. Ngay sau đó Erlend đã đứng bên nàng:

“Có phải em nói sáng nay lửa trong nhà bếp đã tắt rồi không, Kristin?”

“Phải, Gudrid làm đổ nồi canh, chúng ta phải sang xin lửa của cha Eiliv—”

Erlend nhìn sang nhà vị linh mục:

“Không, không được để ông ấy dính vào chuyện này. Gaute,” chàng khẽ gọi xuống cậu bé đang lần lữa dưới hành lang kho lương, nhấc hết chiếc cào này đến chiếc khác, chẳng muốn đi gom cỏ. “Lên đây, đến cầu thang thôi — đừng lên cao hơn, kẻo họ nhìn thấy con.”

Kristin nhìn chằm chằm vào chồng. Nàng chưa từng thấy chàng như thế — vẻ bình tĩnh căng thẳng, tỉnh táo trong giọng nói và trên khuôn mặt chàng khi chàng dò xét con đường phía nam — vẻ ấy trùm lên toàn thân hình cao, dẻo dai khi chàng chạy vào trong gác rồi lập tức trở ra với một gói dẹt khâu kín trong vải gai. Chàng trao nó cho cậu bé:

“Giấu nó sát vào ngực con — và nhớ kỹ những gì cha dặn. Con phải cứu những bức thư này — việc ấy hệ trọng hơn điều con có thể hiểu, Gaute của cha. Vác cào lên vai và thong thả đi xuống cánh đồng cho đến bụi trăn. Men giữa các bụi cây xuống rừng — cha biết con thông thạo nơi ấy — rồi lẻn qua những chỗ rậm rạp nhất, đi suốt sang Skjoldvirkstad. Hãy dò xét cẩn thận xem gia trang có yên ổn không. Nếu thấy dấu hiệu bất thường hoặc có người lạ quanh đó, con phải ẩn đi. Nhưng nếu chắc chắn không có nguy hiểm, hãy xuống trao gói này cho Ulf, nếu ông ấy ở nhà. Còn nếu con không thể đặt những lá thư vào tận tay ông ấy mà biết chắc không có ai ở gần, thì phải đốt chúng ngay khi có thể. Nhưng phải liệu sao cho cả chữ viết lẫn dấu niêm đều bị hủy sạch, và chúng không rơi vào tay bất cứ ai ngoài Ulf. Xin Chúa phù hộ chúng ta, con trai của cha — những việc lớn lao quá phải đặt vào tay một cậu bé mười tuổi, sinh mạng và cơ nghiệp của biết bao người lương thiện — con có hiểu việc này hệ trọng đến đâu không, Gaute?”

“Vâng, thưa cha. Con đã hiểu hết những điều cha dặn.” Gaute ngước khuôn mặt nhỏ nhắn, sáng sủa và nghiêm nghị lên từ cầu thang.

“Nếu Ulf không có nhà, hãy bảo Isak phải cưỡi thẳng đến Hevne và đi suốt đêm nay — bảo những người mà ông ấy biết rằng cha tin chuyện này đã gặp gió ngược, và cha e có kẻ dùng tà thuật cản chuyến đi của cha. Con hiểu chứ?”

“Vâng, thưa cha. Con nhớ hết những điều cha đã dặn.”

“Vậy đi đi. Xin Chúa che chở con, con trai của cha.”

Erlend chạy lên gác hiệp sĩ, định hạ cửa sập xuống, nhưng Kristin đã chui được nửa người qua lỗ. Chàng đợi nàng lên hẳn rồi mới đóng cửa, sau đó chạy đến một chiếc rương, lấy ra mấy văn thư. Chàng giật các dấu niêm, giẫm nát chúng trên sàn, xé những tấm da thành từng mảnh rồi vò quanh chiếc chìa khóa, ném tất cả qua ô cửa phía cánh đồng, xuống đám tầm ma mọc cao sau kho lương. Hai tay bám khung cửa, chàng đứng nhìn theo cậu bé nhỏ đang đi dọc bờ ruộng lúa về phía đồng cỏ, nơi những người cắt cỏ tiến thành hàng với liềm và cào. Khi Gaute khuất trong lùm cây nhỏ giữa ruộng lúa và đồng cỏ, chàng đóng ô cửa lại. Tiếng vó ngựa lúc này đã vang lớn ngay sát gia trang.

Erlend quay lại phía vợ:

“Em có thể tìm cách dọn những thứ anh vừa ném xuống không — bảo Skule làm, nó khôn ngoan — bảo nó ném tất cả xuống hố sau chuồng bò. Hẳn họ sẽ để mắt đến em, có lẽ cả mấy đứa con trai lớn nữa. Nhưng chắc họ không khám người em đâu—” Chàng nhét những mảnh dấu niêm vào ngực áo nàng. “Có lẽ chẳng còn nhận ra được nữa, nhưng—”

“Anh đang gặp nguy hiểm sao, Erlend?” nàng khẽ hỏi. Khi chàng cúi nhìn khuôn mặt nàng, chàng đón lấy đôi tay nàng đang dang ra. Trong khoảnh khắc chàng ghì chặt nàng vào mình:

“Anh không biết, Kristin. Chắc chẳng bao lâu nữa sẽ rõ. Tore Eindridessøn cưỡi dẫn đầu đám tùy tùng, và anh trông thấy cả ngài Baard đi cùng. Anh không mong Tore đến đây với ý lành—”

Bấy giờ đoàn kỵ mã đã vào sân. Erlend đứng yên một thoáng. Rồi chàng hôn vợ dữ dội, mở cửa sập và chạy xuống. Khi Kristin bước ra hành lang, Erlend đã đứng giữa sân giúp viên quan quản khố, một người cao tuổi và nặng nề, xuống khỏi yên. Cùng ngài Baard và quan cai quản Gauldølafylke có ít nhất ba mươi tùy tùng mang vũ khí.

Khi Kristin đi qua sân, nàng nghe người sau cùng nói:

“Ta mang lời chào của các anh em đồng hao đến cho ngươi, Erlend. Borgar và Guttorm đang hưởng lòng hiếu khách của nhà vua tại Veøy; còn ta đoán rằng giờ này Haftor Toressøn cũng đã đến thăm Ivar và thằng bé ở nhà tại Sundbu rồi. Ngài Baard bắt được Graut trong phố chợ sáng hôm qua.”

“Và giờ ông đến đây để mời tôi dự cùng cuộc hội họp của các cận thần ấy, tôi hiểu rồi,” Erlend mỉm cười nói.

“Đúng là thế, Erlend.”

“Rồi các ông hẳn cũng sẽ lục soát gia trang này? Chà, tôi đã dự vào những việc như thế nhiều lần đến nỗi chắc cũng biết lề lối tiến hành—”

“Nhưng trước nay ngươi chưa từng phải xử lý một vụ lớn như tội phản quốc,” Tore nói.

“Phải, mãi đến bây giờ mới có,” Erlend đáp. “Và xem ra tôi cầm quân đen, Tore, còn ông đã chiếu bí tôi — có phải thế không, bà con?”

“Chúng ta phải tìm những bức thư ngươi nhận được từ phu nhân Ingebjørg Haakonsdatter,” Tore Eindridessøn nói.

“Chúng nằm trong chiếc rương bọc da đỏ trên gác hiệp sĩ — nhưng trong đó chẳng có gì ngoài những lời thăm hỏi mà họ hàng thân thiết vẫn thường gửi cho nhau — và tất cả đều đã cũ. Stein đây có thể đưa các ông lên—”

Những tùy tùng lạ mặt đã xuống ngựa, còn người trong gia trang lúc này ùn cả vào sân.

“Trong những thư chúng ta lấy được của Borgar Trondssøn có nhiều điều hơn thế,” Tore nói. Erlend khẽ huýt sáo.

“Có lẽ chúng ta nên vào trong nhà,” chàng nói, “ở đây bắt đầu đông người rồi.”

Kristin theo những người đàn ông vào đại sảnh. Theo hiệu của Tore, hai tùy tùng lạ mặt cũng đi cùng.

“Ngươi phải giao kiếm ra, Erlend,” Tore xứ Gimsar nói khi họ đã đứng bên trong, “để làm dấu rằng ngươi là tù nhân của chúng ta.”

Erlend vỗ hai bên hông để cho thấy chàng không mang vũ khí nào ngoài con dao găm ở thắt lưng. Nhưng Tore nhắc lại:

“Ngươi phải trao kiếm cho chúng ta để làm dấu—”

“À, nếu mọi việc phải đúng nghi thức đến thế thì—” Erlend nói và bật cười khẽ. Chàng bước đến lấy thanh kiếm trên móc, nắm vỏ kiếm rồi hơi cúi mình, đưa chuôi kiếm cho Tore Eindridessøn.

Ông già xứ Gimsar tháo dây đeo, rút hẳn kiếm ra và đưa một ngón tay miết dọc rãnh máu.

“Có phải thanh kiếm này không, Erlend, mà ngươi đã—?”

Đôi mắt xanh của Erlend lóe lên như thép, miệng chàng mím thành một đường mảnh:

“Phải. Chính bằng thanh kiếm này tôi đã trừng trị cháu nội ông khi bắt gặp nó bên con gái tôi.”

Tore cầm thanh kiếm, cúi nhìn nó rồi cất giọng đe dọa:

“Ngươi, kẻ lẽ ra phải bảo vệ luật pháp, Erlend — hẳn ngươi phải biết lần ấy ngươi đã đi xa hơn một chút so với giới hạn luật pháp cho phép—”

Erlend hất đầu ra sau, mặt đỏ bừng vì kích động: “Có một luật lệ, Tore, mà không vua chúa hay dân chúng nào tại hội nghị pháp đình có thể phá bỏ — ấy là người đàn ông phải dùng kiếm bảo vệ danh dự của những người phụ nữ thuộc về mình—”

“May cho ngươi, Erlend Nikulaussøn, là chưa người đàn ông nào áp dụng luật ấy với ngươi,” Tore xứ Gimsar đáp đầy căm ghét. “Nếu không, ngươi đã cần đến nhiều mạng như loài mèo—”

Erlend chậm rãi nói bằng giọng khiêu khích:

“Chẳng lẽ vụ này không đủ nghiêm trọng để các ông thấy việc lôi những chuyện cũ thời trai trẻ của tôi vào là không hợp lúc sao—?”

“Ta không biết Baard ở Lensviken có cho rằng đó là chuyện đã cũ hay không.” Erlend giật phắt mình, định đáp lại, nhưng Tore quát át đi: “Lần sau ngươi nên thử xem các ả nhân tình của mình có đủ khôn để đọc được chữ hay không, Erlend, trước khi mò đến nhà chúng trong đêm với thư mật giấu trong cạp quần.— Hỏi Baard kia xem ai đã báo cho chúng ta biết rằng ngươi đang mưu phản vua mình, người mà ngươi đã thề trung thành và nhận lãnh địa để cai quản—”

Theo bản năng, Erlend đưa một tay lên ngực — trong khoảnh khắc chàng nhìn vợ, và sắc máu đỏ sẫm tràn khắp mặt chàng. Kristin liền lao tới, quàng hai tay quanh cổ chàng. Erlend cúi nhìn khuôn mặt nàng — trong đó chàng không thấy gì ngoài tình yêu.

“Erlend — chồng em!”

Từ đầu đến giờ viên quan quản khố hầu như hoàn toàn im lặng. Bấy giờ ông bước đến bên hai người và khẽ nói:

“Thưa bà chủ thân mến — có lẽ tốt nhất là bà đưa các con cùng những nữ tỳ vào phòng riêng của bà và ở đó chừng nào chúng tôi còn có mặt tại gia trang.”

Erlend buông vợ ra sau lần cuối siết cánh tay quanh vai nàng:

“Như thế là tốt nhất, Kristin của anh — em hãy làm theo lời ngài Baard khuyên.”

Kristin nhón chân, đưa môi cho chàng hôn. Rồi nàng bước ra sân. Từ giữa đám người hỗn loạn, nàng gom các con cùng những nữ tỳ lại, đưa họ vào căn phòng nhỏ — ở Husaby chẳng có phòng riêng nào khác dành cho bà chủ.

Họ ngồi ở đó nhiều giờ, và vẻ bình tĩnh, tự chủ của bà chủ phần nào giữ được đám người sợ hãi khỏi rối loạn. Rồi Erlend bước vào, không mang vũ khí và đã mặc đồ lên đường. Hai tùy tùng lạ mặt đứng lại phía dưới, cạnh cửa.

Chàng nắm tay những đứa con trai lớn và bế những đứa nhỏ nhất lên, trong khi hỏi Gaute đang ở đâu: “— nhưng con hãy gửi lời của cha cho em, Naakkve. Chắc nó lại mang cung trốn vào rừng như mọi khi. Bảo nó rằng dù sao nó cũng được lấy chiếc nỏ đạp kiểu Anh của cha, thứ cha đã không cho nó hôm Chủ nhật.”

Kristin ghì chàng vào mình mà không nói một lời.

“Bao giờ anh trở về, Erlend, anh yêu?” nàng thì thầm van vỉ.

“Khi nào Chúa muốn, vợ của anh.”

Nàng lùi lại, cố sức để khỏi suy sụp. Trước nay chàng chưa bao giờ gọi nàng bằng gì khác ngoài tên thánh tẩy của nàng, và những lời cuối ấy của chàng khiến nàng chấn động đến tận gốc rễ trái tim. Dường như mãi đến lúc này nàng mới hiểu trọn vẹn chuyện gì đã xảy ra.

Vào lúc mặt trời lặn, Kristin ngồi trên gò đất phía bắc những ngôi nhà.

Nàng chưa bao giờ thấy bầu trời đỏ và vàng đến thế. Trên ngọn đồi đối diện có một đám mây lớn; nó mang hình một cánh chim, bên trong rực lên như sắt trong lò rèn, sáng trong như hổ phách. Những mảnh vàng nhỏ như lông vũ tách ra, trôi vào không trung. Và dưới sâu, trên mặt hồ nơi đáy thung lũng, trải bóng phản chiếu của bầu trời, đám mây và ngọn đồi phía trên — tưởng như chính từ vực sâu dưới ấy, ánh lửa đang cuồn cuộn dâng lên, phủ khắp mọi vật nàng trông thấy.

Cỏ trên các đồng cỏ đã mọc hết tầm, những đuôi tơ trên ngọn cỏ ánh màu đỏ mỗi lúc một sẫm dưới sắc đỏ của trời; lúa mạch đã trổ bông và hứng lấy ánh sáng trên những chiếc râu non óng như tơ. Mái cỏ của các ngôi nhà trong gia trang phồng lên bởi những bụi chút chít và hoa mao lương, nắng trải thành những dải rộng trên đó; những tấm ván lợp đen sẫm trên mái nhà thờ âm thầm rực sáng, còn đá sáng màu của bức tường dịu dàng ánh lên sắc vàng.

Mặt trời ló ra dưới đám mây, đậu trên vành đồi và soi qua hết dãy đồi rừng này đến dãy đồi rừng khác. Buổi chiều trong đến lạ lùng — ánh sáng mở ra tầm nhìn tới những xóm nhỏ nằm sâu giữa các sườn đồi phủ vân sam; nàng có thể phân biệt những trại chăn nuôi mùa hè và các gia trang nhỏ trong rừng mà trước đây nàng không hề biết là có thể nhìn thấy từ Husaby. Những khối núi đồ sộ hiện ra ở phía nam về hướng Dovre, đỏ pha tím, tại nơi mọi khi sương mù và mây vẫn phủ kín.

Quả chuông nhỏ nhất dưới nhà thờ bắt đầu ngân, và chuông nhà thờ Vinjar đáp lại. Kristin ngồi cúi trên đôi tay chắp lại cho đến khi tiếng cuối cùng của ba hồi, mỗi hồi ba tiếng, tan vào không trung.

Bấy giờ mặt trời đã khuất dưới ngọn đồi — ánh vàng nhạt dần, sắc đỏ chuyển sang màu hồng dịu dàng hơn. Khi tiếng chuông đã lặng, tiếng rì rào từ khu rừng lại dâng lên và lan rộng; con suối nhỏ chảy xuyên rừng cây lá rộng dưới thung lũng vọng lên rõ hơn. Từ bãi quây gần đó truyền đến tiếng leng keng quen thuộc của chuông đeo trên đàn gia súc nhà; một con bọ cánh cứng bay vo ve nửa vòng quanh nàng rồi biến mất.

Nàng buông một tiếng thở dài cuối cùng sau lời kinh—một lời xin tha thứ, vì trong lúc cầu nguyện, tâm trí nàng đã chẳng đặt vào lời kinh—.

Gia trang rộng lớn, đẹp đẽ nằm dưới chân nàng trên triền dốc—như một món trang sức trên lồng ngực rộng của sườn đồi. Nàng nhìn khắp đất đai nàng cùng chồng sở hữu. Những ý nghĩ về cơ nghiệp này, nỗi chăm lo cho nó, đã lấp đầy tâm hồn nàng đến tận bờ. Nàng đã lao lực và tranh đấu—trước buổi tối hôm nay, chính nàng cũng chưa từng biết mình đã tranh đấu đến thế nào để gây dựng lại cơ nghiệp này và giữ nó đứng vững—nàng đã gánh vác được những gì và đã làm nên được bao nhiêu.

Nàng đã nhận đó là số phận mình, một số phận nàng phải nhẫn nại gánh chịu với lưng thẳng—rằng mọi việc ấy đè lên vai nàng. Cũng như nàng đã gắng sức nhẫn nại và giữ mình đứng thẳng trước cảnh ngộ của đời mình, mỗi lần cảm thấy giờ đây nàng lại có một đứa con phải mang dưới ngực—hết lần này đến lần khác. Với mỗi người con trai làm đàn con thêm đông, nàng lại cảm thấy trách nhiệm của mình đối với sự hưng thịnh và địa vị vững vàng của dòng họ cũng tăng lên—tối nay nàng thấy rằng khả năng trông nom toàn cục và sự cảnh giác của mình cũng lớn thêm theo từng đứa con mới nàng phải canh giữ. Chưa bao giờ nàng thấy rõ như buổi tối này số phận đã đòi hỏi gì ở nàng và đã ban cho nàng những gì cùng bảy người con trai. Hết lần này đến lần khác, niềm vui vì chúng đã khiến tim nàng đập mạnh trở lại, nỗi sợ vì chúng đã xé nát trái tim ấy—chúng vẫn là con nàng, những cậu bé lớn xác với thân hình gầy gò, góc cạnh, cũng như khi còn nhỏ và bụ bẫm đến nỗi hầu như chẳng thể đau khi lăn ngã trong những chuyến đi giữa ghế dài và đầu gối nàng. Chúng vẫn thuộc về nàng như thuở nàng bế chúng từ nôi lên bầu vú có sữa của mình và phải đỡ lấy đầu chúng, bởi cái đầu ấy gật gù trên chiếc cổ non như một đóa chuông xanh gật trên cuống. Dù chúng có bước đi nơi đâu trên thế gian, có đi đến chốn nào rồi quên mẹ—nàng vẫn thấy đời chúng đối với nàng ắt phải là một chuyển động trong chính đời nàng, chúng ắt phải là một với nàng như thuở chỉ mình nàng trên cõi đời biết đến sinh mệnh mới đang ẩn náu, uống máu nàng và làm đôi má nàng tái nhợt. Hết lần này đến lần khác nàng đã trải qua nỗi kinh hãi khiến người lả đi, mồ hôi tuôn đầm đìa, khi cảm thấy giờ của mình lại đến, nàng lại sắp bị cuốn chìm trong cơn sóng vỡ tận đáy của cuộc sinh nở—cho đến khi được nâng trở lên với một đứa con mới trong vòng tay; mãi đến tối nay nàng mới hiểu mỗi đứa con đã làm nàng giàu có hơn, mạnh mẽ hơn và can đảm hơn biết bao.

Vậy mà tối nay nàng thấy mình vẫn là Kristin của Jørundgaard, người chưa từng học cách chịu đựng một lời lạnh lùng, bởi suốt đời nàng đã được chở che bằng một tình yêu mạnh mẽ và hiền dịu đến thế. Trong tay Erlend, nàng vẫn là con người ấy—.

Phải. Phải. Phải. Quả thật năm này qua năm khác nàng vẫn ghi nhớ từng vết thương chàng đã gây cho mình—dẫu nàng luôn biết chàng không làm nàng đau như một người trưởng thành cố ý hại người kia, mà như đứa trẻ đánh bạn chơi giữa cuộc vui. Nàng đã chăm chút ký ức về mỗi lần chàng xúc phạm mình như người ta chăm một vết thương đang mưng độc. Và mỗi nỗi nhục nhã chàng tự chuốc lấy vì chạy theo từng ý nghĩ chợt nảy—đều quất vào da thịt nàng như một ngọn roi và gây nên những vết thương rỉ nước. Không phải nàng cố tình nuôi oán hận chồng mình; nàng biết trong những việc khác mình không phải kẻ nhỏ nhen, nhưng hễ liên quan đến chàng, nàng lại trở nên như thế. Khi có Erlend can dự, nàng không thể quên được điều gì—và mỗi vết xước nhỏ nhất trong lòng nàng vẫn cứ bỏng rát, chảy máu, sưng lên và đau nhức, nếu chính chàng đã gây ra nó.

Đối với chàng, nàng chẳng bao giờ khôn ngoan hơn, chẳng bao giờ mạnh mẽ hơn. Nàng có thể vật lộn để tỏ ra tháo vát, gan dạ, mộ đạo và mạnh mẽ cả trong cuộc sống chung với chàng—nhưng sự thật nàng không phải thế. Luôn luôn, luôn luôn trong nàng vẫn có tiếng than khóc vì khao khát; nàng muốn được là Kristin của chàng nơi những khu rừng gần Gerdarud.

Thuở ấy, nàng thà làm mọi điều mình biết là sai trái và tội lỗi còn hơn mất chàng. Để ràng buộc Erlend với mình, nàng đã trao cho chàng tất cả những gì nàng có: tình yêu và thân thể, danh dự cùng quyền thừa hưởng ơn cứu độ của Thiên Chúa. Và nàng đã trao cả những gì mình có thể tìm thấy để trao mà vốn không thuộc về mình: thanh danh của cha nàng và lòng tin ông đặt vào con gái; mọi thứ những người đàn ông trưởng thành và khôn ngoan đã gây dựng để bảo toàn cho một thiếu nữ chưa có quyền tự định đoạt, nàng đều xô đổ; chống lại những dự liệu của họ về phúc lợi và sự hưng thịnh của dòng họ, chống lại niềm hy vọng của họ vào hoa trái công lao mình sau khi chính họ đã nằm dưới đất, nàng đặt tình yêu mê đắm của mình. Nàng đã đem đánh cược nhiều hơn cả mạng sống của chính mình trong ván bài mà phần thắng duy nhất là tình yêu của Erlend Nikulaussøn.

Và nàng đã thắng. Từ lần đầu chàng hôn nàng trong khu vườn ở Hofvin cho đến hôm nay, khi chàng hôn nàng trong căn phòng nhỏ trước lúc bị giải đi khỏi nhà như một tù nhân, nàng vẫn luôn biết—Erlend yêu nàng ngang với chính mạng sống mình. Và nếu chàng không biết lo liệu tốt cho nàng, thì gần như ngay từ giây phút đầu gặp chàng, nàng đã biết chàng lo liệu cho chính mình ra sao. Nếu chàng không phải lúc nào cũng đối xử tốt với nàng—thì dẫu sao chàng vẫn đối xử với nàng tốt hơn với bản thân.

Lạy Chúa Jesus, nàng đã giành được chàng biết bao! Tối nay nàng thú nhận với chính mình—chính nàng đã đẩy chàng đến chỗ thất tín trong hôn nhân bằng sự lạnh lùng và những lời độc địa của mình. Giờ đây nàng thú nhận điều ấy—ngay cả trong những năm nàng không ngừng chứng kiến sự ve vãn bất nhã của chàng với người đàn bà Sunniva này và nổi giận vì nó, giữa cơn giận nàng vẫn cảm thấy một niềm vui kiêu hãnh, thách thức—không ai biết một vết nhơ công khai nào trong thanh danh của Sunniva Olavsdatter, vậy mà Erlend trò chuyện và đùa cợt với cô ta như một gã làm thuê với ả hầu bia. Còn về chính nàng, chàng biết nàng có thể nói dối và phản bội những người tin nàng nhất, biết nàng sẵn lòng để mình bị dụ đến những nơi tồi tệ nhất—nhưng chàng vẫn tin nàng, vẫn tôn trọng nàng hết mức chàng biết. Dẫu chàng dễ dàng quên nỗi sợ tội lỗi đến thế, dẫu cuối cùng chàng dễ dàng phá bỏ lời thề với Thiên Chúa trước cửa nhà thờ đến thế—chàng vẫn đau buồn vì những tội lỗi đã phạm với nàng, vẫn tranh đấu suốt nhiều năm để giữ được những lời hứa với nàng.

Chính nàng đã chọn chàng. Nàng đã chọn chàng trong cơn say tình ái, rồi lại chọn chàng mỗi ngày suốt những năm khắc nghiệt ở quê nhà Jørundgaard. Tình yêu liều lĩnh của chàng thay cho tình thương của người cha không nỡ để một ngọn gió lạnh lùng thổi lên nàng. Nàng đã khước từ số phận cha nàng muốn dành cho mình, khi ông định đặt nàng vào vòng tay một người đàn ông chắc chắn sẽ dẫn nàng đi trên những con đường an toàn nhất, lại còn cúi xuống dẹp đi từng hòn đá nhỏ có thể khiến chân nàng vấp phải. Nàng đã chọn đi theo người kia, kẻ nàng biết vẫn lang thang trên những nẻo lạc. Các tu sĩ và linh mục đã chỉ cho nàng con đường hối cải và đền tội để trở về với bình an—nàng đã chọn bất an còn hơn buông bỏ tội lỗi quý giá của mình.

Vậy đối với nàng chỉ còn một điều—không rên rỉ hay than trách, bất kể điều gì từ nay sẽ giáng xuống nàng bên cạnh người đàn ông này. Giờ đây nàng thấy thời khắc mình rời bỏ cha đã lùi xa đến chóng mặt. Nhưng nàng trông thấy gương mặt yêu dấu của ông, nhớ những lời ông nói ngày ấy trong lò rèn, khi nàng đâm nhát dao cuối cùng vào tim ông, nhớ cuộc trò chuyện của hai cha con trên núi vào giờ phút nàng hiểu rằng cánh cửa tử thần đã hé mở sau lưng cha mình. Thật bất xứng khi than trách số phận do chính mình lựa chọn—. Thánh Olav, xin giúp con, để giờ đây con khỏi tỏ ra hoàn toàn không xứng đáng với tình yêu của cha con—.

Erlend, Erlend—. Khi gặp chàng thời son trẻ, cuộc đời đối với nàng hóa thành một dòng sông xiết lao qua vực dốc và ghềnh đá. Những năm ở Husaby, cuộc đời đã trải rộng ra, mênh mang và khoáng đạt như một mặt hồ phản chiếu mọi vật chung quanh. Nàng nhớ ở quê nhà, mỗi mùa xuân khi sông Laagen tràn bờ, dòng sông nằm rộng, xám và hùng hậu dưới đáy thung lũng, mang theo những súc gỗ trôi nổi, còn những vòm lá của cây cối bám rễ dưới đáy thì dập dềnh trên mặt nước. Ngoài xa hiện lên những xoáy nước nhỏ, tối màu và đe dọa, nơi dòng chảy cuộn xiết, hoang dại và nguy hiểm bên dưới bề mặt sáng bóng. Giờ đây nàng biết tình yêu của mình dành cho Erlend cũng đã chảy như một dòng nước xiết và hiểm nguy bên dưới cuộc đời nàng trong suốt những năm ấy. Giờ dòng nước đang cuốn nàng qua thác—nàng không biết tới đâu.

Erlend, người yêu dấu của em—!

Một lần nữa, Kristin đọc một kinh Kính Mừng hướng ra buổi chiều đỏ thắm. Kính mừng Maria, đầy ơn phúc! Giờ đây con thấy mình không dám cầu xin Mẹ điều gì ngoài một điều: Cứu Erlend, cứu lấy mạng sống của chồng con—!

Nàng nhìn xuống Husaby và nghĩ đến các con trai. Giờ đây, khi gia trang nằm trong ánh chiều như một cảnh mộng có thể tan biến, khi nỗi sợ trước số phận bất định của các con làm tim nàng run rẩy, nàng chợt nhớ: nàng chưa bao giờ cảm tạ Thiên Chúa cho đủ vì những hoa trái dồi dào mà công khó của mình đã sinh ra trong những năm này, chưa bao giờ cảm tạ cho đủ vì bảy lần nàng đã được ban cho một người con trai.

Từ vòm trời chiều, từ những xóm làng nằm dưới tầm mắt nàng, cung giọng thánh lễ nàng từng nghe hàng nghìn lần rì rầm vọng đến, cùng giọng cha nàng giảng nghĩa những lời ấy khi nàng còn bé và đứng bên đầu gối ông: cha Eirik hát như thế trong phần Tiền tụng, khi ngài quay về phía bàn thờ, và bằng tiếng Na Uy lời ấy có nghĩa là:

«Quả thật là xứng đáng và phải lẽ, hợp đạo và đem lại ơn cứu độ, khi chúng con luôn luôn và khắp mọi nơi cảm tạ Ngài, lạy Chúa chí thánh, Cha toàn năng, Thiên Chúa hằng hữu—»

Khi ngẩng mặt lên khỏi hai bàn tay, nàng thấy Gaute đang đi lên triền dốc. Kristin ngồi yên chờ cho đến khi cậu bé đứng trước mặt mình, rồi nàng chìa tay ra nắm lấy tay con. Quanh tảng đá nàng ngồi là một quãng đất cỏ trống khá rộng, không có nơi nào để ẩn nấp.

«Con đã lo liệu việc cha giao ra sao, con trai của mẹ?» nàng khẽ hỏi.

«Đúng như cha dặn con, mẹ ạ. Con đến gia trang mà không ai trông thấy. Ulf không có nhà, nên con đốt thứ cha giao cho con trên bếp lửa giữa nhà. Con lấy nó ra khỏi tấm vải.» Cậu ngập ngừng một lát. «Mẹ—trên đó có chín con dấu—»

«Gaute của mẹ.» Người mẹ đặt hai tay lên vai con và nhìn vào mặt cậu bé. «Cha con đã buộc phải đặt những việc hệ trọng vào tay con. Nếu con không tin mình có thể giữ kín, nếu con thấy nhất định phải nói với ai—thì hãy nói với mẹ điều đang đè nặng lòng con. Nhưng mẹ sẽ vui lòng nhất nếu con có thể tuyệt nhiên im lặng, con trai!»

Gương mặt sáng dưới mái tóc thẳng màu vàng lanh, đôi mắt lớn, khuôn miệng đỏ đầy đặn và rắn rỏi—giờ nó giống cha nàng biết bao. Gaute gật đầu. Rồi cậu vòng một cánh tay quanh vai mẹ. Với một nỗi ngọt ngào đau đớn, Kristin cảm thấy mình có thể tựa đầu vào lồng ngực còn mảnh của con; giờ cậu đã cao đến nỗi khi cậu đứng còn nàng ngồi, đầu nàng vừa ngang phía trên tim cậu. Đây là lần đầu tiên chính nàng tựa vào đứa con.

Gaute nói:

«Isak ở nhà một mình. Con không cho ông ấy xem thứ con mang theo, chỉ nói con có một vật phải đốt. Thế là ông ấy nhóm một ngọn lửa lớn trên bếp trước khi đi thắng yên ngựa.»

Người mẹ gật đầu. Khi ấy cậu buông nàng ra, quay về phía nàng và hỏi, trong giọng nói có vẻ sợ hãi và ngỡ ngàng của trẻ thơ:

«Mẹ có biết người ta nói gì không—họ nói cha—muốn làm _vua_—»

«Nghe chẳng có lý mấy đâu, con trai—» nàng mỉm cười đáp.

«Nhưng cha có dòng dõi để lên ngôi, mẹ ạ,» cậu bé nói, giọng nghiêm trang và kiêu hãnh. «Và con thấy cha có thể làm việc ấy giỏi hơn phần đông những người khác—»

«Suỵt.» Nàng lại nắm tay con. «Gaute của mẹ—con phải hiểu rằng sau khi cha đã tin cậy con đến thế—con và tất cả chúng ta đều không nên nói năng hay phán đoán gì, mà phải giữ miệng thật kỹ cho đến khi biết chắc điều gì đó, để có thể xét xem chúng ta có nên nói hay không và phải nói thế nào. Ngày mai mẹ sẽ cưỡi ngựa vào Nidaros—và nếu được nói riêng với cha con một lúc, mẹ nhất định sẽ bảo cha rằng con đã lo liệu chu toàn việc cha giao—»

«Cho con đi cùng mẹ!» cậu bé nài nỉ gấp gáp.

«Chúng ta không được khiến bất kỳ ai nảy ra ý nghĩ rằng con là một đứa trẻ khác ngoài một đứa trẻ vô tâm, Gaute. Con trai bé nhỏ, con hãy gắng chơi đùa và vui vẻ hết mức có thể ở nhà—làm như thế là con giúp cha tốt nhất.»

Naakkve và Bjørgulf chậm rãi đi lên triền dốc. Họ bước đến bên mẹ, đứng đó trẻ măng, căng thẳng và xúc động. Kristin thấy họ vẫn còn trẻ con đến mức tìm đến mẹ trong cơn lo sợ này—mà cũng đã gần tuổi đàn ông đến mức mong muốn an ủi hoặc làm nàng yên lòng, nếu có thể tìm ra cách. Nàng đưa mỗi tay cho một người con. Nhưng họ không nói với nhau bao nhiêu.

Một lát sau họ đi xuống, Kristin đặt hai tay lên vai hai người con trai lớn nhất.

«Sao con cứ nhìn mẹ thế, Naakkve?» Nhưng cậu bé đỏ mặt, quay đầu đi và không đáp.

Trước đây cậu chưa bao giờ nghĩ đến dáng vẻ của mẹ mình. Đã từ lâu cậu bắt đầu đem cha so với những người đàn ông khác—cha là người đẹp nhất và có phong thái thủ lĩnh hơn cả. Mẹ là mẹ, người cứ sinh thêm những đứa con mới; chúng lớn khỏi vòng tay đàn bà để bước vào đời sống, tình đoàn kết, những cuộc tranh giành và tình bạn của đàn anh em; mẹ có đôi bàn tay rộng mở, mọi thứ chúng cần đều tuôn qua đó; mẹ biết cách giải quyết phần lớn những điều khốn khó; mẹ hiện diện trong gia trang như ngọn lửa trên bếp, mẹ mang đời sống trong nhà như ruộng đất quanh Husaby mang những mùa màng qua năm tháng, sự sống và hơi ấm tỏa ra từ mẹ như từ đàn gia súc trong chuồng bò và những con ngựa trong chuồng. Cậu bé chưa bao giờ nghĩ đến chuyện đem mẹ so với những người đàn bà khác—.

Tối nay, cậu bỗng nhìn thấy điều ấy: nàng là một phu nhân kiêu hãnh và đẹp đẽ. Với vầng trán rộng, trắng dưới khăn lanh, ánh nhìn thẳng của đôi mắt xám thép dưới những vòng cung bình thản của chân mày, với bộ ngực nặng và tay chân dài, cân đối. Nàng giữ thân hình cao lớn thẳng như một lưỡi kiếm. Nhưng cậu không thể nói ra điều ấy, chỉ đỏ mặt, im lặng bước đi với bàn tay nàng đặt sau gáy mình.

Gaute đi sau Bjørgulf và nắm vào đai lưng phía sau lưng mẹ. Người anh bắt đầu càu nhàu vì cậu em cứ giẫm lên gót mình—rồi hai đứa khẽ xô đẩy, huých nhau. Người mẹ bắt chúng im và dẹp cuộc cãi cọ—gương mặt nghiêm nghị của nàng dịu thành một nụ cười vì chuyện ấy. Dẫu sao chúng cũng chỉ là trẻ con, những đứa con trai của nàng—.

Đêm ấy nàng nằm thức—Munan ngủ bên ngực nàng, còn Lavrans nằm giữa nàng và vách.

Kristin cố tự mình cân nhắc vụ việc của chồng.

Nàng không thể tin rằng sự việc lại nguy hiểm đến thế; Erling Vidkunssøn và những người anh em họ của nhà vua ở Sudrheim từng bị truy tố về tội phản quốc và phản vua—họ vẫn sống an toàn và giàu có trong nước, dẫu nay không còn được nhà vua sủng ái như trước.

Có lẽ Erlend đã dính vào một vài việc trái luật để giúp phu nhân Ingebjørg. Suốt những năm qua, chàng vẫn duy trì tình thân với người bà con cao quý của mình; nàng biết năm mùa đông trước, khi đến thăm bà ở Đan Mạch, chàng đã trợ giúp bà một việc trái phép nào đó cần phải giữ kín. Giờ đây Erling Vidkunssøn đã đứng ra lo liệu việc của phu nhân và muốn giành cho bà quyền quản lĩnh cơ nghiệp bà sở hữu tại Na Uy—rất có thể Erling đã chỉ bà tìm đến Erlend, hoặc chính bà đã tìm đến người anh em họ đời thứ hai của cha mình sau khi quan hệ giữa Erling và nhà vua trở nên lạnh nhạt. Và Erlend đã xử sự khinh suất trong việc ấy—.

Nhưng nếu vậy thì thật khó hiểu vì sao bà con của nàng ở Sundbu lại có thể bị lôi vào chuyện này—.

Nhưng chuyện này không thể kết thúc theo cách nào khác ngoài việc Erlend sẽ đi đến một cuộc giảng hòa hoàn toàn với nhà vua, nếu chàng chẳng làm gì ngoài việc quá sốt sắng phụng sự mẫu hậu của nhà vua.

Án phản quốc. Nàng từng nghe chuyện Audun Hugleikssøn sụp đổ—việc ấy xảy ra thuở cha nàng còn trẻ. Nhưng người ta đã buộc cho ngài Audun những tội ác khủng khiếp. Cha nàng bảo đó là lời dối trá—cô Margret Eiriksdatter đã chết trong vòng tay giám mục Bjørgvin, còn Audun không có mặt trong chuyến đi ấy, vậy thì làm sao ông có thể bán cô cho dân ngoại đạo được. Cô Isabel mới mười ba tuổi, còn Audun đã hơn năm mươi, khi ông đưa cô về làm cô dâu của vua Eirik—một tín hữu Kitô chỉ nghe những lời đồn như thế về chuyến rước dâu ấy thôi cũng đã là có tội. Cha nàng không cho ai hát những khúc ca về Audun trong gia trang của mình. Dẫu vậy, người ta còn kể những chuyện chưa từng nghe thấy về Audun Hestakorn—rằng ông đã bán toàn bộ binh lực của vua Haakon cho vua Pháp và hứa sẽ đem một nghìn hai trăm chiến thuyền binh dịch vượt biển đến trợ chiến—đổi lại, ông đã nhận bảy thùng vàng. Nhưng dân chúng trong nước chưa bao giờ được biết tỏ tường vì sao Audun Hugleikssøn phải chết trên giá treo cổ ở Nordnes—.

Con trai ông bỏ ra nước ngoài—người ta nói anh ta đã vào phục vụ trong quân đội của vua Pháp. Hai cháu gái nội của vị hiệp sĩ Aalhus, Gyrid và Signe, đã được người coi ngựa của ông đưa rời khỏi pháp trường nơi ông nội bị hành hình. Họ được cho là đang sống như những bà vợ nông dân nghèo ở một miền núi nào đó trong Haddingjadal.

Dẫu sao, cũng may là nàng và Erlend không có con gái với nhau. Không, nàng không muốn nghĩ những điều như thế. Hầu như không thể nào vụ án của Erlend lại có kết cục tệ hơn—hơn vụ của Erling Vidkunssøn và anh em Haftorssøn chẳng hạn—.

Nikulaus Erlendssøn xứ Husaby. Ôi, lúc này chính nàng cũng thấy—Husaby là điền trang đẹp nhất trên đất Na Uy.

Nàng sẽ đến gặp ngài Baard để biết rõ mọi sự. Quan giữ quốc khố vẫn luôn là bạn của nàng. Pháp quan Olav cũng vậy—thuở trước. Nhưng Erlend đã nổi giận dữ dội khi phán quyết của vị pháp quan chống lại chàng trong vụ điền trang ở thành phố. Và Olav đau lòng biết bao trước tai họa giáng xuống chồng cô con gái đỡ đầu của ông.

Dẫu cả hai đều có họ hàng đông đúc đến thế, Erlend cũng như nàng chẳng có lấy một người thân quyến gần gũi. Munan Baardssøn giờ cũng chẳng còn đáng kể. Ông đã hành xử trái luật khi giữ chức cai quản Ringerike; ông quá nóng lòng tìm đường gây dựng địa vị cho đám con đông đúc của mình—bốn người trong giá thú và năm người ngoài giá thú. Và nghe đâu ông đã sa sút rất nhiều từ khi phu nhân Katrin qua đời. Inge ở Ryfylke, Julitta cùng chồng, Ragnrid lấy chồng bên Thụy Điển—Erlend hầu như không quen biết họ; đó là những người con của ngài Baard và phu nhân Aashild. Giữa người nhà Hestnes và Erlend đã không còn tình thân hữu từ khi ngài Baard Peterssøn qua đời; Tormod ở Raasvold đã lú lẫn như trẻ nhỏ, con cái của ông và phu nhân Gunna đều đã chết, còn các cháu thì chưa đến tuổi trưởng thành.

Về phần nàng, ở đất nước này, bên họ cha nàng không còn thân quyến nào ngoài Ketil Aasmundssøn ở Skog và Sigurd Kyrning, người đã lấy con gái cả của bác nàng. Người con gái thứ hai góa chồng, còn người thứ ba là nữ tu. Cả bốn người đàn ông ở Sundbu xem ra đều dính líu vào vụ này. Lavrans và Erlend Eldjarn đã trở mặt với nhau dữ dội trong cuộc chia gia sản của Ivar Gjesling đến nỗi từ đó họ không muốn nhìn mặt nhau nữa—bởi vậy nàng không quen biết dượng mình và con trai ông.

Vị tu sĩ đau yếu thuộc Dòng Thuyết giáo là người thân gần duy nhất của Erlend. Còn người gần gũi nàng nhất trên đời là Simon Darre, bởi chàng đã lấy người em gái duy nhất của nàng.

Munan thức giấc và khóc rấm rứt. Kristin trở mình trên giường, cho đứa bé bú bên vú kia. Nàng không thể đem nó theo đến Nidaros khi mọi sự còn bấp bênh như thế. Có lẽ đây sẽ là lần cuối cùng đứa bé này được bú nơi ngực mẹ ruột. Có lẽ đây là lần cuối cùng trên đời nàng nằm như thế, ôm sát vào mình một đứa con nhỏ, thật êm ái, thật êm ái—. Nếu vụ án chống lại Erlend là án sinh tử—. Lạy Đức Maria diễm phúc, Mẹ Thiên Chúa, có ngày nào, giờ nào nàng từng thiếu kiên nhẫn với những đứa con mà Thiên Chúa đã thương ban cho nàng chăng—. Liệu đây có phải nụ hôn cuối cùng nàng nhận được từ một cái miệng bé xíu ngọt mùi sữa như thế này—.