Kristin Lavransdatter III: Thập giá — Chương 15: Tập III — Thập giá · Phần III — Thập giá · Chương I

Chương 15 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter III: Thập giá

Mọi ngọn lửa rồi cũng đến lúc tàn.

Rồi có một thời, những lời ấy của Simon Darre lại vang lên trong lòng Kristin.

Ấy là vào mùa hè năm thứ tư sau cái chết của Erlend Nikulaussøn, và trong đàn con trai, chỉ còn Gaute và Lavrans ở lại với mẹ tại Jørundgaard.

Hai năm trước, lò rèn cũ đã cháy, Gaute dựng một lò mới ở phía bắc gia trang, lên gần đường cái. Lò rèn cũ từng nằm phía nam các ngôi nhà, xuôi về phía sông, trong một chỗ trũng nông giữa đồng, khoảng giữa gò Jørund và mấy đống đá khổng lồ mà người ta bảo đã được dọn từ ruộng lên vào thuở xa xưa. Hầu như năm nào, vào mùa nước lũ, nước cũng tràn vào tận lò rèn.

Giờ trên nền cũ chẳng còn gì ngoài những phiến đá lớn nứt toác vì lửa, đánh dấu nơi cửa từng mở, và cái bếp xây. Cỏ xanh non, mảnh và mềm, nay đã nhú lên từ nền than đen.

Năm ấy Kristin Lavransdatter có một khoảnh trồng lanh gần nền lò rèn cũ; Gaute muốn gieo ngũ cốc trên những thửa gần gia trang hơn, nơi từ thời xa xưa các nữ chủ Jørundgaard vẫn thường gieo lanh và trồng hành. Ngoài việc chăm nom khoảnh lanh, Kristin cũng thường có việc phải sang phía này. Tối thứ Năm, nàng mang phần bia và thức ăn dâng cho người ở trong gò; vào những buổi tối mùa hè sáng lâu, cái bếp trơ trọi giữa đồng cỏ nom như một bàn thờ ngoại giáo cổ xưa, thấp thoáng trong cỏ, xám trắng và loang lổ bồ hóng. Những ngày hè nắng nung nóng bỏng, vào khoảng giữa trưa nàng lại xách giỏ đến các đống đá hái mâm xôi hoặc gom lá cỏ chân dê, thứ lá rất tốt để pha nước giải khát trị bệnh sốt.

Những âm cuối của hồi chuông nhà thờ giữa trưa chào kính Mẹ Thiên Chúa tan dần trong không khí no ánh sáng giữa những dãy núi. Cả thung lũng dường như lắng xuống nghỉ ngơi dưới nắng trắng tuôn tràn. Từ buổi rạng đông đẫm sương, tiếng lưỡi hái hát trong đồng cỏ hoa, tiếng đá mài sột soạt trên lưỡi sắt cùng những tiếng người gọi nhau đã vang lên gần xa từ các gia trang. Giờ mọi âm thanh của công việc tất bật đều im bặt; giờ nghỉ trưa đã xuống. Kristin ngồi giữa đống đá mà lắng nghe. Chỉ còn nghe tiếng sông cuộn chảy, lá cây hơi lay trong lùm; tiếng cọ xát mảnh như tơ và tiếng ruồi khe khẽ vo ve trên đồng cỏ, tiếng chuông lẻ loi của một con bò nhà từ nơi nào rất xa. Một con chim bay vụt, nhanh và lặng, dọc theo mép bụi trăn; một con khác vụt lên khỏi những mô cỏ, ríu rít lích chích rồi sà xuống một thân kế.

Nhưng những bóng xanh trôi dọc sườn núi, những đám mây báo trời đẹp cuộn lên trên mép núi rồi tan vào bầu trời mùa hè xanh thẳm, ánh nước Laagen lấp lánh sau hàng cây, những chớp nắng trắng trên khắp lá cành—nàng cảm nhận những điều ấy như âm thanh của tĩnh lặng, nghe được bằng một đôi tai bên trong, hơn là cảnh tượng hiện ra trước mắt. Kéo khăn trùm xuống che trán khỏi nắng, Kristin ngồi lắng nghe cuộc đùa giỡn của ánh sáng và bóng râm trên thung lũng.

— Mọi ngọn lửa rồi cũng đến lúc tàn—.

Trong rừng trăn dọc bờ sông lầy lội, những vũng nước lấp lánh giữa bóng tối dưới các bụi liễu rậm. Nơi đây mọc cói và từng mô cỏ bông đầm lầy, nhưng cỏ ngũ diệp phủ dày như thảm, với những chiếc lá xám xanh xòe năm nhánh và hoa nâu đỏ. Kristin đã hái một bó lớn. Biết bao lần nàng từng tự hỏi phải chăng thứ cây này có một dược lực hữu ích nào đó: nàng đã phơi khô, sắc lên, ngâm vào bia và rượu mật ong. Nhưng xem ra nó chẳng dùng được vào việc gì. Vậy mà Kristin vẫn không sao thôi lội ra đầm, làm ướt giày để hái nó.

Giờ nàng tuốt hết lá khỏi thân cây rồi kết những đầu hoa sẫm màu thành một vòng hoa. Màu hoa vừa giống rượu vang đỏ vừa giống rượu mật ong nâu, dưới chùm chỉ nhị đỏ, tận đáy hoa ẩm ướt như đẫm mật. Đôi khi Kristin kết một vòng hoa cho tượng Đức Trinh Nữ Maria trong gian phòng trên gác—nàng từng nghe các linh mục đã đến đó kể rằng người miền nam vẫn làm như vậy.

Ngoài ra giờ nàng chẳng còn ai để kết vòng hoa cho nữa. Ở thung lũng này, các chàng trai trẻ không có tục đội vòng hoa khi đi dự hội múa trên bãi. Tại Trøndelag, ở đôi nơi, những người đàn ông trở về từ đoàn cận vệ đã đem theo phong tục ấy. Người mẹ nghĩ chiếc vòng hoa dày, đỏ sẫm gần như đen này hẳn sẽ đẹp biết bao trên gương mặt sáng và mái tóc vàng như sợi lanh của Gaute—hoặc trên bờm tóc nâu hạt dẻ của Lavrans.

— Đã lâu tưởng như vô tận kể từ những ngày nàng cùng các bà vú và cả đàn con nhỏ lên bãi chăn thả phía trên Husaby suốt những ngày hè đẹp trời. Khi ấy nàng và Frida không sao kết vòng hoa cho kịp lũ trẻ nhỏ đông đúc đang nóng lòng chờ đợi. Nàng nhớ hồi Lavrans vẫn còn bú mẹ, Ivar và Skule cho rằng đứa bé còn nằm vú cũng phải có một vòng hoa—và hai đứa trẻ lên bốn khăng khăng rằng vòng ấy phải kết bằng những bông thật nhỏ—.

Giờ nàng chỉ còn những đứa con đã lớn.

Lavrans trẻ tuổi đã mười lăm mùa đông; có lẽ vẫn chưa thể coi là trưởng thành hẳn. Nhưng dần dần người mẹ đã nhận ra rằng trong tất cả các con, người con này xa cách nàng hơn hết. Cậu không cố ý tránh nàng như Bjørgulf từng làm, cũng không khép kín hay _có vẻ_ ít lời như cậu con trai mù—. Nhưng có lẽ bản tính cậu còn lặng lẽ hơn nhiều—chỉ là chẳng ai nhận thấy khi tất cả anh em còn ở nhà: cậu sáng sủa, khỏe mạnh, lúc nào cũng có vẻ vui vẻ hiền hòa, và ai nấy đều yêu mến đứa trẻ dễ thương ấy mà không để ý rằng Lavrans hầu như lúc nào cũng đi một mình và lặng thinh.

Trong số những người con trai khôi ngô của Kristin ở Jørundgaard, cậu được coi là đẹp nhất. Người mẹ bao giờ cũng thấy đứa con mình đang nghĩ đến trong khoảnh khắc ấy gần như là đẹp nhất, nhưng chính nàng cũng nhận ra Lavrans Erlendssøn dường như tỏa sáng. Mái tóc nâu nhạt và đôi má tươi như táo của cậu nom như dát vàng, no đầy ánh nắng; cả đôi mắt lớn màu xám sẫm cũng như được gieo đầy những tia lửa vàng nhỏ—cậu rất giống chính nàng thuở trẻ, với nước da sáng của nàng như được phủ một lớp nâu rám nắng. Cậu lại cao lớn, khỏe mạnh hơn tuổi, thạo việc và khéo léo trong mọi công việc được giao, vâng lời mẹ cùng các anh, vui tính, hiền hậu và hòa nhã. Nhưng dẫu vậy, cậu bé vẫn mang một vẻ xa xôi kỳ lạ.

Những tối mùa đông, khi cả nhà tụ họp trong phòng dệt, vừa làm việc của mình vừa đùa chuyện để giết thời giờ, Lavrans ngồi đó hệt như đang mơ. Nhiều buổi tối mùa hè, khi công việc trong gia trang đã xong, Kristin đi ra ngồi bên cậu, lúc ấy đang nằm trên bãi cỏ, nhai nhựa thông hoặc ngoáy một cọng chút chít nơi khóe miệng. Trong khi nói chuyện, nàng để ý đôi mắt cậu—dường như cậu phải gọi những ý nghĩ của mình từ một nơi rất xa trở về. Rồi cậu ngước lên mỉm cười với mẹ, trả lời rành rọt và khôn ngoan; hai mẹ con thường ngồi ngoài sườn đồi hàng giờ, trò chuyện êm ấm, thân tình. Nhưng ngay khi nàng đứng lên vào nhà, Lavrans dường như lại để tâm trí mình lang thang đi mất.

Và nàng không sao dò ra được cậu bé đang suy nghĩ sâu xa về điều gì. Cậu khá giỏi các môn vận động và việc sử dụng vũ khí—nhưng kém say mê những thứ ấy hơn hẳn các con trai khác của nàng, và chẳng bao giờ một mình đi săn, dù cậu rất vui mỗi khi Gaute rủ đi cùng. Ít ra đến giờ, cậu dường như cũng không nhận thấy phụ nữ vẫn nhìn chàng trai trẻ đẹp đẽ ấy bằng đôi mắt trìu mến. Cậu hoàn toàn không ham chuyện sách vở, và dường như chẳng mấy để tâm đến những lời bàn bạc về ý định vào tu viện của các anh lớn. Kristin không nhận thấy cậu bé từng nghĩ gì khác về tương lai ngoài chuyện sẽ ở nhà suốt đời, giúp Gaute trông nom cơ nghiệp như hiện giờ—.

Đôi khi Kristin thấy Lavrans hơi giống cha ở vẻ lơ đãng kỳ lạ ấy—nhưng vẻ mềm mại, uể oải của Erlend vẫn xen kẽ với những cơn vui cuồng phóng túng, còn Lavrans hoàn toàn không có chút nào tính khí bột phát, dữ dội của cha. Erlend chưa bao giờ cách xa đến _thế_ những gì đang diễn ra chung quanh mình—.

Giờ Lavrans là con út. Munan đã nằm ngủ khá lâu trên gò mộ bên cha và người em trai nhỏ. Cậu chết vào đầu mùa xuân năm sau khi Erlend bị giết.

Từ khi chồng chết, người góa phụ cứ đi lại như kẻ không nghe không thấy. Hơn cả đau đớn và buồn thương, nàng cảm thấy một cái lạnh tê dại, một sự bất lực vô cảm trùm lên cả thể xác lẫn tâm hồn, như thể chính nàng đang mất máu mà chết từ vết thương đã giết chồng.

Cả đời nàng đã nằm trong vòng tay chàng kể từ giờ ngọ nặng trĩu sấm giông ấy trong kho thóc ngoài ở Skog, khi nàng lần đầu trao thân cho Erlend Nikulaussøn. Khi ấy nàng còn quá trẻ và quá non nớt, nên những gì nàng hiểu về việc mình đang làm chẳng nhiều hơn những điều nàng cố giấu đi; nàng chỉ muốn khóc vì chàng làm nàng đau, nhưng nàng vẫn mỉm cười, bởi nàng tin mình đang dâng cho người yêu món quà quý giá nhất. Và dù đó có phải một món quà tốt đẹp hay không—nàng đã trao cho chàng chính mình, trọn vẹn và vĩnh viễn. Đời con gái mà Thiên Chúa nhân từ đã trang điểm bằng sắc đẹp và sức khỏe, khi Người cho nàng sinh ra trong cảnh ngộ yên ổn, danh giá, được cha mẹ gìn giữ suốt bao năm nuôi dạy bằng một tình yêu nghiêm khắc nhất—nàng đã dùng cả hai tay trao hết cho Erlend, và từ đó sống trong vòng ôm của chàng.

Biết bao lần trong những năm sau đó nàng đã đón nhận những âu yếm của chàng với lòng cứng lạnh vì giận dữ, ngoan ngoãn thuận theo ý chồng trong khi cảm thấy mình hẳn phải kiệt quệ mà chết vì mỏi mệt. Nhìn gương mặt đẹp và thân thể lành mạnh, cân đối của Erlend, nàng từng nghĩ với một niềm vui pha oán hận rằng _những thứ ấy_ không còn có thể làm nàng mù mắt trước những khiếm khuyết của chàng. Phải, chàng vẫn trẻ, vẫn đẹp như xưa; chàng vẫn có thể cuốn lấy nàng bằng những âu yếm nóng bỏng như thời nàng cũng còn trẻ. Nhưng _nàng_ đã già đi, nàng nghĩ thế và cảm thấy một cơn say vì kiêu hãnh và tự hào chiến thắng. Giữ được tuổi trẻ thì dễ lắm đối với kẻ chẳng bao giờ chịu học lấy điều gì, chẳng buồn uốn mình theo cảnh ngộ của đời sống, cũng chẳng buồn chiến đấu để ép cảnh ngộ phải thuận theo ý mình.

Nhưng ngay cả khi đón những nụ hôn của chàng bằng đôi môi mím chặt, đem toàn thể con người mình quay khỏi chàng để hướng vào cuộc tranh đấu cho tương lai các con, nàng vẫn lờ mờ biết rằng mình đã dâng hiến cho công việc ấy bằng chính ngọn lửa nóng bỏng chàng từng nhóm trong máu nàng. Nàng tưởng năm tháng đã làm mình nguội lạnh, vì nàng không còn bừng nóng khi Erlend lại có ánh lóe xưa trong mắt và âm sắc trầm trong giọng nói, những điều thuở mới quen chàng từng khiến nàng khuỵu xuống, mất hết ý chí và sức lực vì hạnh phúc. Nhưng cũng như khi ấy nàng từng khát khao làm dịu nỗi nặng nề và kinh hãi trong tim vì phải xa cách bằng cuộc gặp gỡ với Erlend, giờ đây nàng lại khát khao âm thầm mà cháy bỏng một đích đến sẽ thành tựu khi một ngày kia, sau bao năm dài, nàng ngồi đó như một bà lão tóc bạc và thấy các con trai mình đều đã được bảo toàn, yên ổn. Giờ chính vì những người con trai của Erlend mà nàng phải chịu nỗi lo âu cũ trước tương lai bất định. Nàng vẫn bị giày vò bởi một niềm khao khát giống như cơn đói và cơn khát cháy bỏng—nàng phải được nhìn thấy các con mình lớn mạnh.

Và như thuở đầu nàng đã trao mình cho Erlend, giờ nàng lại trao mình cho cái thế giới đã mọc lên quanh cuộc sống chung của họ—; lao vào đáp ứng mọi đòi hỏi xuất hiện cần phải được thỏa mãn, hiến mình cho mọi công việc cần làm để bảo đảm phúc lợi của Erlend và các con chàng. Người đàn bà cũng hiểu được phần nào rằng mình đang sống cùng Erlend khi nàng ngồi ở Husaby, cùng linh mục của họ nghiền ngẫm những văn thư trong rương của chồng, khi nàng nói chuyện với các tá điền và người làm của chàng, cùng các tì nữ lui tới kho lương và nhà bếp, ngồi trên bãi chăn ngựa với các bà vú, trông nom các con trong những ngày hè đẹp trời. Chính nàng cũng cảm thấy mình trút giận lên Erlend mỗi khi trong nhà có việc hỏng hay lũ trẻ làm trái ý mẹ, và niềm vui trong tim nàng cũng tuôn về phía chàng khi cỏ khô được thu vào nguyên vẹn trong mùa hè và ngũ cốc được mùa vào mùa thu, khi đàn bê của nàng lớn khỏe và nàng nghe các con trai ré lên cười đùa ngoài sân. Việc nàng thuộc về chàng vẫn âm ỉ bừng cháy trong lòng khi nàng đặt xuống bộ lễ phục cuối cùng vừa may xong cho bảy người con trai, đứng đó hân hoan ngắm chồng quần áo đẹp đẽ, chỉn chu do chính tay mình làm suốt mùa đông. Chính _chàng_ là người khiến nàng chán ngán và mỏi mệt, khi một tối mùa xuân nàng cùng các nữ tì từ bờ sông trở về—họ vừa giặt số len của lần xén lông cuối, đun nước trong một cái vạc bên bờ rồi xả len dưới dòng nước—và bản thân nữ chủ cảm thấy thắt lưng như bị chém ngang, hai cánh tay đen kịt vì mỡ cừu lên tận phía trên, mùi cừu cùng chất bẩn nhờn béo thấm xuyên quần áo, đến nỗi nàng tưởng thân thể mình có qua ba lần xông tắm cũng không sao sạch nổi.

Và giờ đây, khi chàng đã mất, người góa phụ thấy mọi tất bật không ngơi nghỉ trong đời mình chẳng còn ý nghĩa gì. _Chàng_ đã bị đốn ngã, vậy thì nàng cũng phải chết như một thân cây có rễ bị chặt đứt. Những chồi non mọc lên quanh lòng nàng giờ phải tự lớn bằng rễ của chính mình. Chúng đã đủ tuổi để mỗi đứa tự định đoạt số phận. Một ý nghĩ thoáng qua tâm trí Kristin—giá nàng hiểu được điều này sớm hơn, vào hồi Erlend nói ra. Những hình ảnh mờ như bóng về một cuộc đời cùng Erlend trên gia trang miền núi của chàng lướt qua tâm trí—hai người trẻ lại, đứa con nhỏ ở giữa. Nhưng nàng không hề hối tiếc hay đau buồn. Chính nàng đã không thể tách đời mình khỏi đời các con; giờ cái chết sẽ sớm chia lìa họ, bởi không có Erlend nàng chẳng còn sinh lực. Mọi điều đã xảy ra và mọi điều sẽ xảy ra đều là số mệnh—mọi việc diễn ra như đã được định.

Tóc nàng bạc đi, da nàng xám lại; nàng hầu như chẳng buồn chải chuốt hay mặc quần áo cho ngay ngắn. Ban đêm nàng nằm nghĩ về cuộc đời mình với Erlend, ban ngày nàng đi lại như trong mộng, không ai hỏi thì chẳng nói với ai một lời, dường như đến cả những lúc các con trai nhỏ nói với mình nàng cũng không nghe thấy. Người đàn bà từng đảm đang và tỉnh thức ấy không còn động tay vào bất cứ công việc gì. Tình ái từng nằm dưới mọi nhọc nhằn của nàng vì những sự thế gian—Erlend chẳng mấy biết ơn nàng về điều ấy; đó không phải cách chàng muốn được yêu. Nhưng nàng không thể làm khác; bản tính nàng là phải yêu bằng ngần ấy nhọc nhằn và chăm lo.

Nàng dường như đang trượt dần vào cơn mê ngủ của cái chết. Bấy giờ dịch bệnh tràn đến thung lũng, quật các con trai nàng xuống giường bệnh, và người mẹ tỉnh dậy.

Bệnh ấy nguy hiểm với người lớn hơn với trẻ con. Nó quật Ivar dữ dội đến nỗi chẳng ai mong cậu sống nổi. Trong cơn sốt, chàng trai trẻ bỗng có sức mạnh như người khổng lồ, gầm thét, đòi đứng dậy lấy vũ khí—cái chết của cha dường như đang ám lấy tâm trí cậu. Naakkve và Bjørgulf phải khó nhọc lắm mới giữ được cậu nằm yên. Rồi Bjørgulf cũng ngã bệnh. Lavrans nằm đó, mặt sưng phồng vì ban đỏ đến không còn nhận ra, đôi mắt lấp loáng vô hồn trong hai khe hẹp—cậu tưởng như sắp cháy kiệt trong cơn sốt rực lửa.

Người mẹ thức canh ba đứa trong căn gác. Naakkve và Gaute đã mắc bệnh ấy hồi nhỏ, còn Skule nhẹ hơn các anh em nhiều; Frida chăm sóc cậu và Munan ở gian phòng bên dưới. Không ai nghĩ Munan gặp nguy hiểm, nhưng cậu vốn chưa bao giờ khỏe mạnh, và một buổi tối, sau khi mọi người đều tưởng cậu đã gần khỏi, cậu đột ngột lịm hẳn đi. Frida chỉ vừa kịp báo cho người mẹ—Kristin chạy xuống, và ngay sau đó Munan tắt thở trong vòng tay nàng.

Cái chết của đứa con đánh thức nàng vào một nỗi tuyệt vọng mới, tỉnh táo đến cùng cực. Nỗi đau cuồng dại của nàng vì đứa con thơ đã chết lìa vú mẹ từng như nhuốm đỏ bởi ký ức về tất cả những giấc mộng hạnh phúc bị giết chết. Chính cơn bão trong tim đã nâng đỡ Kristin khi ấy. Còn sự căng thẳng tột cùng kết thúc bằng cảnh nàng tận mắt nhìn chồng mình bị giết đã để lại một nỗi mỏi mệt trong tâm hồn, đến mức chính Kristin tin chắc mình sẽ sớm chết vì đau buồn cho Erlend. Nhưng niềm xác tín ấy đã làm cùn lưỡi sắc của nỗi đau. Nàng đi lại, cảm thấy hoàng hôn và bóng tối mỗi lúc một dày quanh mình, trong khi chờ đợi cánh cửa cũng sẽ mở ra cho nàng—.

Bên thi hài bé nhỏ của Munan, người mẹ thức canh, mặt xám ngắt. Cậu bé xinh xắn, ngọt ngào ấy đã là đứa con út của nàng suốt bao năm, đứa nhỏ cuối cùng nàng còn dám nâng niu và bật cười trước những trò của nó, ngay cả khi lẽ ra nàng phải nghiêm mặt, răn dạy con vì những lỗi lầm và nông nổi vụn vặt. Và nó yêu mẹ, quấn quýt với mẹ biết bao. Nỗi đau cứa vào tận thịt da đang sống của nàng — nàng vẫn còn bị ràng buộc với sự sống đến thế; một người đàn bà, sau khi đã rót máu sống của mình vào bao trái tim non trẻ mới sinh, không thể chết dễ dàng như nàng từng tưởng.

Trong nỗi tuyệt vọng lạnh lẽo, tỉnh táo, nàng đi lại giữa đứa con nằm trên ổ rơm liệm và những người con trai đang bệnh. Munan nằm trong buồng kho cũ, nơi trước đó đứa con thơ rồi đến người cha đã từng nằm — ba thi hài trong gia trang của nàng chưa đầy một năm. Tim héo quắt vì kinh hãi, nhưng cứng đờ và câm lặng, nàng chờ người kế tiếp chết đi — nàng đợi điều ấy như một định mệnh không sao tránh nổi. Nàng chưa bao giờ biết quý cho đủ những gì mình nhận được khi Thiên Chúa ban cho nàng ngần ấy con. Và tệ nhất là, theo một cách nào đó, nàng _đã_ biết quý. Nhưng nàng đã nghĩ nhiều hơn đến nhọc nhằn, đau đớn, sợ hãi và tranh chấp — dẫu hết lần này đến lần khác nàng vẫn học lại được, qua nỗi trống vắng mỗi khi một đứa con lớn khỏi vòng tay mình, qua niềm hoan hỉ mỗi khi một đứa trẻ mới lại nằm bên vú mình, rằng niềm vui lớn hơn khôn xiết mọi gian lao và đau đớn. Nàng từng oán trách vì cha của các con nàng là một người đàn ông quá bất định, chẳng mấy nghĩ đến dòng họ sẽ tiếp nối sau mình. Nàng luôn quên rằng chàng vốn đã như thế vào thuở nàng phá giới răn của Thiên Chúa và tự giẫm lên gia tộc mình để có được chàng.

Giờ chàng đã bị đốn ngã khỏi bên nàng. Và giờ nàng chờ phải nhìn các con trai mình chết, đứa này tiếp đứa khác. Có lẽ cuối cùng nàng sẽ còn ngồi lại một mình, một người mẹ không con.

— Có biết bao điều trước kia nàng hẳn cũng đã nhìn thấy, nhưng chẳng nghĩ ngợi nhiều, trong những ngày nàng nhìn thế gian như qua màn sương tình yêu giữa nàng và Erlend. Nàng vẫn hiểu Naakkve rất coi trọng việc mình là con đầu lòng, phải làm đầu, làm thủ lĩnh của bầy em. Nàng cũng vẫn thấy cậu hết sức yêu thương Munan. Thế mà nàng vẫn bàng hoàng như gặp một điều không ngờ khi chứng kiến nỗi đau dữ dội của cậu trước cái chết của em út.

Nhưng rồi những người con trai khác cũng bình phục, dẫu phải mất rất lâu. Đến Chúa nhật Phục Sinh, nàng đã có thể cùng bốn con trai đi nhà thờ, nhưng Bjørgulf vẫn còn nằm giường, còn Ivar quá yếu, chưa thể bước ra khỏi nhà. Trong thời gian nằm liệt vì bệnh, Lavrans đã cao lên rất nhiều; và cả ở những mặt khác, dường như những biến cố của nửa năm ấy đã đưa cậu vượt xa tuổi mình.

Bấy giờ Kristin cảm thấy mình đã là một bà già. Nàng nghĩ một người đàn bà còn trẻ chừng nào vẫn còn những đứa con nhỏ ngủ trong tay mình ban đêm, chơi quanh mẹ ban ngày và đòi nàng chăm nom suốt cả ngày đêm. Khi đàn con nhỏ đã lớn khỏi vòng tay mẹ, người mẹ đã thành bà già.

Người em rể mới của nàng, Jammælt Halvardssøn, nói rằng các con trai của Erlend còn rất trẻ, mà bản thân nàng cũng chỉ mới ngoài bốn mươi; hẳn chẳng bao lâu nàng sẽ nhận ra mình phải tái giá; nàng cần một người chồng giúp cai quản gia sản và nuôi dạy những đứa con trai nhỏ hơn. Ông nêu tên mấy người đàn ông tử tế mà ông cho là những mối hôn nhân thích hợp với Kristin — mùa thu nàng hãy đến Ælin làm khách, ông sẽ liệu cho nàng gặp họ, rồi sau đó họ có thể bàn kỹ hơn những chuyện này.

Kristin mỉm cười nhợt nhạt. Phải — nàng _chưa_ quá bốn mươi. Nếu nghe nói về một người đàn bà khác góa chồng khi còn trẻ như thế, lại có một đàn con đang lớn, nàng hẳn cũng sẽ nói như Jammælt — người ấy phải tái giá, tìm chỗ nương tựa nơi một người đàn ông mới, thậm chí còn có thể sinh thêm con cho ông ta. Nhưng chính nàng thì không muốn —.

Ấy là ngay sau kỳ lễ Phục Sinh, khi Jammælt xứ Ælin đến Jørundgaard, và cũng là lần thứ hai Kristin gặp người chồng mới của em gái mình. Nàng và các con trai đã không dự tiệc đính hôn ở Dyfrin, cũng không dự lễ cưới ở Ælin. Hai bữa tiệc được tổ chức cách nhau không lâu vào mùa xuân nàng mang thai đứa con cuối cùng. Ngay khi hay tin Erlend Nikulaussøn bị giết, Jammælt đã vội đến Sil; bằng cả lời khuyên lẫn hành động, ông giúp chị vợ và các cháu trai, thu xếp hết sức mình mọi việc cần làm sau cái chết của chủ gia trang, rồi đứng ra lo vụ kiện những kẻ sát nhân, vì chưa người con trai nào của Erlend đến tuổi trưởng thành. Nhưng khi ấy Kristin không nhận biết gì về những việc diễn ra quanh mình. Ngay cả bản án dành cho Gudmund Toressøn, kẻ bị xác định là người đã giết Erlend, dường như cũng chẳng làm nàng lay động bao nhiêu.

Lần này nàng chuyện trò với em rể nhiều hơn và thấy ông là một người đáng mến. Ông không còn trẻ, trạc tuổi Simon Darre — một người vững vàng, điềm tĩnh, cao lớn, lực lưỡng và nước da rất sẫm; đường nét gương mặt khá đẹp, nhưng lưng đã hơi còng. Ông và Gaute lập tức trở nên thân thiết. Từ sau cái chết của cha, Naakkve và Bjørgulf càng gắn bó với nhau hơn nữa và lánh xa tất cả mọi người. Nhưng Ivar và Skule bảo mẹ rằng họ thích Jammælt, «— tuy vậy, chúng con vẫn thấy Ramborg lẽ ra nên tỏ lòng kính trọng Simon bằng cách ở góa lâu hơn một chút — người chồng mới này của dì đâu sánh được với ông ấy.» Kristin nhận ra hai đứa ngỗ nghịch ấy vẫn nhớ Simon Andressøn: chúng từng chịu để ông uốn nắn bằng cả lời nghiêm khắc lẫn những câu đùa hiền hòa, trong khi hai đứa con trai nóng nảy ấy không chịu nổi một lời quở trách của chính cha mẹ mình mà mắt không tóe giận và tay không nắm chặt.

Trong thời gian Jammælt ở Jørundgaard, Munan Baardssøn cũng đến thăm Kristin. Giờ đây chẳng còn lại bao nhiêu dáng vẻ hiệp sĩ Dans thuở trước. Ngày xưa ông từng cao lớn, vạm vỡ; ông mang tấm thân đồ sộ của mình không phải không có vẻ đường bệ, khiến người ta tưởng ông cao và uy nghi hơn thực tế. Giờ chứng thống phong đã làm ông còng xuống, da nhăn nhúm quanh thân thể gầy mòn; trông ông gần như một lão yêu tinh nhỏ bé, đầu hói bóng, quanh gáy chỉ còn một vành nghèo nàn những túm tóc trắng mềm oặt. Thuở nào, chân râu rậm xanh đen từng phủ tối phần dưới gương mặt căng đầy thịt, nhưng giờ những sợi râu xám lởm chởm mọc sum suê trong mọi nếp da chảy xệ ở cằm và cổ, những chỗ lưỡi dao cạo khó lòng chạm tới. Mắt ông đã kèm nhèm, miệng hơi chảy dãi — lại còn khổ sở vì bụng dạ rất yếu.

Ông đưa theo người con trai Inge, được thiên hạ gọi là Fluga theo tên mẹ; người này cũng đã đứng tuổi. Người cha đã giúp con trai mình tiến thân rất thuận lợi: kiếm cho anh một cuộc hôn nhân giàu có và khiến giám mục Halvard nhận bảo trợ Inge — Munan từng kết hôn với một người chị em họ của giám mục, nên ngài Halvard sẵn lòng giúp Inge trở nên sung túc, để anh không lấn chiếm phần của các con phu nhân Katrin. Giám mục được giao cai quản địa hạt Hedemarken, và ngài đã đặt Inge Munanssøn làm người quản sự của mình; bởi vậy giờ anh sở hữu không ít đất đai ở Skaun và Ridabu. Mẹ anh cũng đã mua một gia trang ở vùng ấy; nay bà là một người đàn bà hết sức mộ đạo và hay làm phúc, đã nguyện sống thanh sạch cho đến chết. «Phải, bà ấy chưa đến nỗi quá già hay tàn tạ đâu,» ngài Munan luôn nói khi thấy Kristin khẽ cười. Hẳn ông rất muốn thu xếp để Brynhild dọn đến sống với mình và quán xuyến gia trang của ông gần Hamar, nhưng bà không chịu.

Ngài Munan than rằng những năm cuối đời ông có quá ít niềm vui. Con cái ông chẳng hòa thuận chút nào — những anh chị em cùng mẹ bất hòa với nhau, lại cãi cọ, gây gổ với các anh chị em khác mẹ. Tệ nhất là cô con gái út; ông có cô ta với một người tình khi đang có vợ, nên không thể để lại cho cô phần thừa kế nào, bởi thế lúc cha còn sống cô ra sức moi lấy của ông mọi thứ có thể. Cô đã góa chồng và đến ở hẳn tại Skogheim, gia trang vốn là cơ nghiệp chính của ngài Munan; cả cha lẫn anh chị em đều không sao đuổi cô đi được. Munan sợ cô khiếp vía, nhưng mỗi lần ông thử trốn đến nhà một trong những người con khác, ở đó ông lại bị hành hạ bởi những lời kêu ca về lòng tham và thói gian trá của những người kia. Ông được yên ổn nhất khi ở với cô con gái chính thất út, một nữ tu tại Gimsøy; ông thích lưu lại một thời gian trong nhà khách của tu viện, và khi ấy hết sức chuyên cần sửa sang linh hồn bằng việc đền tội và cầu nguyện dưới sự chỉ dẫn của con gái, nhưng ông không chịu nổi lối sống ấy lâu mỗi lần. Kristin không tin các con trai của Brynhild đối xử với cha tử tế hơn những người con khác bao nhiêu, nhưng Munan Baardssøn không chịu thừa nhận điều ấy; trong tất cả con cái, ông yêu họ nhất.

Nhưng dẫu người em rể họ hàng này của nàng giờ thảm hại đến thế, chính trong những ngày ở bên ông, nỗi đau hóa đá của Kristin mới dường như bắt đầu tan ra đôi chút. Ngài Munan nói về Erlend từ sáng đến tối — khi không than vãn những thử thách của chính mình, ông chỉ nói về người cháu đã khuất và khoe khoang những chiến tích của Erlend — nhưng thích nhất vẫn là kể về thời tuổi trẻ liều lĩnh của chàng: sự ngông cuồng dữ dội của Erlend khi vừa thoát ra thế giới, rời khỏi mái nhà Husaby, nơi phu nhân Magnhild đi đi lại lại mà giận cha chàng, còn người cha thì giận đứa con trai cả, và rời khỏi Hestnæs cùng người cha nuôi mộ đạo, nghiêm nghị là ngài Baard. Người ta hẳn phải thấy những câu chuyện huyên thuyên của ngài Munan là một niềm an ủi kỳ quặc đối với người góa phụ đang đau đớn vì Erlend. Nhưng theo cách của mình, vị hiệp sĩ đã yêu thương người thân trẻ tuổi ấy, và suốt đời vẫn cho rằng Erlend vượt hơn mọi người đàn ông khác về vẻ đẹp, lòng can đảm — phải, cả trí khôn nữa, chỉ có điều chàng chẳng buồn dùng đến nó, Munan hăng hái nói. Và mặc dù Kristin không thể không nghĩ rằng việc Erlend vào đoàn tùy tùng của nhà vua khi mới mười sáu tuổi, có người anh họ này làm thầy và dẫn đường, hẳn chẳng đem lại điều lành cho chàng, nàng vẫn phải mỉm cười, buồn bã mà dịu dàng, khi Munan Baardssøn kể, nước bọt bắn ra từ hai khóe miệng, nước mắt ứa khỏi đôi mắt già viền đỏ — kể về sức sống rạng rỡ, hân hoan của Erlend trong những năm còn rất trẻ, trước khi chàng tự quấn mình vào tai họa với Eline Ormsdatter và bị thiêu đốt suốt phần đời còn lại.

Jammælt Halvardssøn, đang ngồi nghiêm trang bàn chuyện với Gaute và Naakkve, kinh ngạc nhìn sang người chị vợ. Nàng đã ngồi xuống chiếc ghế dài ngang bên lão già gớm ghiếc ấy và Ulf Haldorssøn, người mà Jammælt thấy có vẻ hơi u ám đáng ngại; thế nhưng nàng mỉm cười khi trò chuyện và rót rượu cho họ — ông chưa từng thấy nàng cười, nhưng nụ cười khiến nàng đẹp hẳn lên, còn tiếng cười khẽ, trầm thấp của nàng tựa tiếng cười của một thiếu nữ còn son trẻ.

Jammælt nói rằng không thể nào cả sáu anh em cứ ở mãi tại gia trang của mẹ. Khó mong một người đàn ông giàu có, ngang hàng nào chịu gả nữ quyến của mình cho Nikulaus, nếu năm người em trai đều dựng nhà sống cùng cậu và có lẽ còn phải nhờ gia trang nuôi sống khi họ lấy vợ. Và giờ họ nên tìm một người vợ cho chàng trai ấy — cậu đã hai mươi tuổi và xem ra có thể chất cường tráng. Vì thế, khi trở về miền nam, Jammælt muốn đưa Ivar và Skule đi cùng; ông nhất định sẽ tìm được con đường tiến thân cho họ. Sau khi Erlend Nikulaussøn chết thảm, người ta mới thấy rằng giờ đây các đại lãnh chúa trong nước đều nhớ ra người bị giết vốn là một kẻ ngang hàng với họ, bởi dòng dõi và huyết thống đã được định sẵn đứng trước phần đông bọn họ, được nhiều người yêu mến, hào hiệp về nhiều mặt, một thủ lĩnh chiến trận gan dạ, dũng mãnh với binh khí — chỉ là vận may không ở bên chàng. Những kẻ can dự vào việc giết người chủ ngay trong gia trang của chính ông đã bị trừng trị nghiêm khắc đến cùng cực. Và Jammælt kể rằng nhiều người đã hỏi ông về các con trai của Erlend. Dịp Giáng Sinh ông gặp những người nhà Sudrheim, và họ đã nhắc rằng các chàng trai trẻ ấy là thân tộc của chính họ; ngài Jon nhờ ông chuyển lời chào và nói rằng, với tư cách người thân, ông sẽ đón nhận và nâng đỡ các con trai của Erlend Nikulaussøn nếu có ai muốn đến phụng sự mình. Jon Haftorssøn sắp kết hôn với tiểu thư Elin, con gái cả của Erling Vidkunssøn, và cô dâu trẻ đã hỏi các chàng trai có giống cha không: nàng nhớ rõ Erlend từng đến làm khách nhà họ ở Bjørgvin khi nàng còn nhỏ, và nàng thấy chàng là người đẹp nhất trong tất cả đàn ông. Còn anh trai nàng, Bjarne Erlingssøn, đã nói rằng mọi điều mình có thể làm cho các con trai của Erlend Nikulaussøn, chàng sẽ hết lòng vui sướng mà làm.

Kristin ngồi nhìn hai con trai sinh đôi trong lúc Jammælt nói. Chúng càng lớn càng giống cha: mái tóc đen như muội, mịn như tơ, ôm sát hộp sọ, nhưng hơi quăn nơi mớ tóc trước trán và trên những chiếc gáy nâu thon thả. Chúng có gương mặt hẹp, sống mũi cao, thẳng và nhô rõ, khuôn miệng nhỏ thanh tú với một nút cơ ở mỗi khóe. Nhưng cằm chúng ngắn và rộng hơn, mắt cũng sẫm màu hơn mắt Erlend. Và giờ người vợ thấy rằng điều khiến Erlend đẹp lạ lùng hơn hết chính là, mỗi khi chàng ngước mắt lên trong gương mặt gầy, ngăm sẫm dưới mái tóc đen như quạ, đôi mắt ấy lại bất ngờ đến thế — xanh nhạt và trong veo.

Nhưng giờ ánh xanh thép lóe lên trong mắt hai chàng trai trẻ khi Skule đáp lời dượng — cậu thường thay mặt cả hai anh em sinh đôi mà lên tiếng:

«Chúng cháu xin cảm tạ dượng vì lời đề nghị tốt lành này. Nhưng chúng cháu đã nói chuyện với ngài Munan và Inge, cũng đã bàn với các anh lớn — chúng cháu đã thỏa thuận với Inge và cha anh ấy rồi. Họ là những người thân cận của chúng cháu bên họ cha, và chúng cháu sẽ theo Inge về miền nam, định ở gia trang của anh ấy suốt mùa hè và thêm một thời gian sau đó —»

Tối ấy, sau khi nàng đã lên giường, hai cậu con trai xuống buồng gặp nàng:

«Vâng, chúng con mong mẹ hiểu chuyện này,» Ivar Erlendssøn nói.

«Chúng con không cầu xin sự nâng đỡ và tình thân của những kẻ đã ngồi im, câm lặng nhìn cha chúng con chịu bất công,» Skule nói thêm.

Người mẹ gật đầu.

Nàng thấy các con mình hành động phải lẽ. Nàng hiểu Jammælt là một người khôn ngoan, ngay thẳng, và lời đề nghị của ông xuất phát từ thiện ý — nhưng nàng mừng vì các chàng trai trung thành với cha. Dẫu trước đây nàng chưa bao giờ nghĩ một ngày kia các con trai mình lại đi phụng sự con trai của Brynhild Fluga.

Hai anh em sinh đôi ra đi cùng Inge Fluga ngay khi Ivar đủ khỏe để cưỡi ngựa. Sau khi họ đi, gia trang trở nên vô cùng vắng lặng. Người mẹ nhớ lại — năm ngoái vào quãng này nàng còn nằm trong phòng dệt với một đứa trẻ sơ sinh — nàng thấy chuyện ấy như một giấc mơ. Mới cách đây một thời gian ngắn biết bao, nàng còn cảm thấy mình trẻ, tâm hồn xao động bởi những khát khao và đau khổ của một người đàn bà trẻ, bởi hy vọng, căm hận và tình yêu. — Giờ đàn con nàng đã vơi còn bốn người con trai, và trong lòng nàng không còn gì lay động ngoài nỗi lo cho những chàng trai trẻ đã trưởng thành. Trong sự tĩnh lặng phủ xuống Jørundgaard sau khi hai anh em sinh đôi ra đi, nỗi sợ hãi của nàng cho Bjørgulf bùng lên như những ngọn lửa sáng.

Khi nàng có khách, cậu và Naakkve chuyển sang gian nhà bếp lửa cũ. Ban ngày cậu đã dậy khỏi giường, nhưng vẫn chưa từng bước qua ngưỡng cửa. Với nỗi sợ thắt lòng, Kristin nhận thấy Bjørgulf luôn ngồi im ở cùng một chỗ, không bao giờ bước ra giữa sàn, và nói chung rất ít cử động mỗi khi nàng vào thăm. Nàng biết thị lực của cậu đã trở nặng sau trận bệnh vừa rồi. Naakkve im lặng khác thường — nhưng cậu vốn đã như thế từ khi cha chết, và dường như còn tránh mẹ mình hết mức có thể.

Cuối cùng, một ngày nọ, nàng lấy hết can đảm hỏi kỹ người con cả xem giờ thị lực của Bjørgulf ra sao. Hồi lâu Naakkve chỉ trả lời quanh co. Nhưng sau cùng nàng buộc con phải nói thật với mẹ.

Naakkve nói:

«Em ấy vẫn còn nhận ra được ánh sáng mạnh —» ngay lúc ấy mặt chàng trai trẻ trắng bệch, cậu đột ngột quay đi và bước ra khỏi phòng.

Mãi về sau trong ngày, khi người mẹ đã khóc đến kiệt sức, đến nỗi nàng tưởng giờ mình đã có thể tự trấn tĩnh để nói chuyện bình thản với con, nàng mới sang gian nhà cũ.

Bjørgulf nằm trên giường. Ngay khi nàng bước vào ngồi xuống bên con trên mép giường, nàng đã nhìn ra trên mặt cậu rằng cậu biết nàng vừa nói chuyện với Naakkve:

«Mẹ. Mẹ đừng khóc, mẹ,» cậu sợ hãi van xin.

Nàng chỉ muốn gieo mình xuống bên con trai, ôm lấy cậu, khóc trên mình cậu và than van cho số phận nghiệt ngã của cậu. Nhưng nàng chỉ luồn bàn tay mình vào tay con dưới tấm chăn phủ:

“Đức Chúa thử thách lòng can đảm của con thật nặng nề, con trai của mẹ,” bà khàn giọng nói.

Nét mặt Bjørgulf đổi khác, trở nên cứng cỏi và quả quyết. Nhưng phải một lúc sau chàng mới thốt nên lời:

“Con đã biết từ lâu, mẹ ạ, rằng con được chọn để mang lấy điều này. Suốt thời gian chúng con ở Tautra – thầy Aslak đã nói với con về chuyện ấy, rằng nếu rồi con quả phải chịu thế này thì –

– như Đức Chúa Giêsu đã chịu cám dỗ trong hoang địa, thầy nói –. Thầy nói, hoang địa đích thực đối với linh hồn một người Kitô hữu là khi mắt nhìn và mọi giác quan đều bị khép lại – bấy giờ người ấy theo dấu chân Chúa mình đi vào hoang địa, dẫu thân xác vẫn ở giữa anh em hoặc bà con. Thầy đã đọc cho con nghe từ những sách của Thánh Bernard về những điều ấy. Và rằng nếu một linh hồn hiểu được mình đã được Đức Chúa đặc biệt chọn cho một thử thách khắc nghiệt đến thế về lòng can đảm, thì không được sợ mình không đủ sức chịu đựng. Đức Chúa biết linh hồn con hơn chính linh hồn con biết mình –”

Chàng cứ nói với mẹ như thế, an ủi bà bằng một sự sáng suốt và sức mạnh tinh thần tưởng chừng vượt xa tuổi tác của chàng.

Buổi tối, Naakkve đến gặp Kristin và xin được nói riêng với bà. Bấy giờ chàng nói rằng chàng và Bjørgulf đã quyết định gia nhập một hội huynh đệ tu trì và khấn dòng tại Tautra.

Kristin đứng sững, nhưng Naakkve vẫn nói tiếp, hết sức bình thản. Họ sẽ chờ đến khi Gaute trưởng thành, có thể thay mẹ lo liệu mọi việc cho bà và các em. Họ sẽ vào tu viện cùng một số tài sản xứng với thân phận những người con trai của Erlend Nikulaussøn xứ Husaby, nhưng cũng sẽ liệu sao cho các em trai được hưởng phần lợi. Từ cha mình, các Erlendssøn chẳng được thừa kế gì đáng kể, nhưng ba người sinh ra trước khi Gunnulf Nikulaussøn vào tu viện có sở hữu một số phần đất ở miền bắc – khi phân chia tài sản, ông đã tặng quà cho các cháu trai, tuy phần lớn những gì không hiến cho Giáo hội và việc đạo, ông đều để lại cho em mình. Và nếu Naakkve cùng Bjørgulf không đòi trọn phần thừa kế, thì đó cũng là một sự nhẹ gánh cho Gaute, người nay sẽ trở thành người đứng đầu dòng họ và nối tiếp dòng giống, khi hai anh đã chết đối với thế gian, Naakkve nói.

Kristin như bị đánh ngất. Bà chưa từng mơ rằng Naakkve lại nghĩ tới đời tu sĩ. Nhưng bà không nói lời nào phản đối – bà quá đỗi choáng váng. Và bà không dám thử khuyên các con từ bỏ một ý nguyện cao đẹp và hữu ích đến thế.

“Ngay từ khi còn là những đứa trẻ sống cùng các tu sĩ ngoài miền bắc, hai chúng con đã hứa với nhau rằng sẽ không bao giờ lìa nhau,” Naakkve nói.

Người mẹ gật đầu; bà biết điều ấy. Nhưng bà vẫn tưởng lời hứa ấy có nghĩa là Bjørgulf sẽ tiếp tục sống cùng Naakkve, kể cả sau khi người anh cả lấy vợ.

Kristin gần như coi đó là một dấu lạ, khi Bjørgulf, còn trẻ đến thế, lại có thể gánh chịu tai họa của mình can trường như một người đàn ông. Mỗi lần nói chuyện với chàng về việc ấy trong suốt mùa xuân, bà chỉ nghe từ miệng chàng những lời thành kính và dũng cảm. Bà thấy thật không sao hiểu nổi – nhưng hẳn là bởi chàng đã biết từ nhiều năm rằng chứng thị lực suy yếu rồi sẽ dẫn đến kết cục này, và hẳn chàng đã chuẩn bị linh hồn mình ngay từ thuở sống giữa các tu sĩ –.

Nhưng rồi bà buộc phải nghĩ đến những đau đớn nặng nề mà đứa con bất hạnh này đã phải chịu – còn bà thì hiểu quá ít về điều ấy, trong khi cứ sống ở đây, lòng đầy ắp những nỗi riêng của mình. Giờ đây, mỗi khi chỉ có một mình, Kristin Lavransdatter lại lén quỳ xuống trước tượng Đức Mẹ Maria trong căn phòng trên gác, và trước bàn thờ Đức Mẹ ở phía bắc nhà thờ mỗi khi nhà thờ được mở. Bằng cả trái tim than khóc, bà khiêm nhường rơi lệ cầu xin Mẹ nhân từ của Đấng Cứu Chuộc thay mình làm mẹ của Bjørgulf và bù đắp cho chàng những gì người mẹ trần thế đã bỏ sót.

Một đêm mùa hè, Kristin nằm thao thức. Khi ấy Naakkve và Bjørgulf đã dọn trở lại căn phòng trên gác cao, còn Gaute nằm dưới nhà với Lavrans, bởi hai người anh cả muốn tập thức đêm cầu nguyện, Naakkve đã nói vậy. Cuối cùng, bà vừa chợp mắt thì bừng tỉnh vì nghe có người rón rén ngoài hành lang gác. Người ấy dò dẫm bước xuống cầu thang – bà nhận ra cách đi của người mù.

Chắc nó chỉ ra ngoài có việc, bà nghĩ – tuy vậy bà vẫn ngồi dậy, lần tìm quần áo. Rồi bà nghe cánh cửa trên gác bị hất tung – có người lao xuống cầu thang chỉ bằng hai ba bước nhảy.

Người mẹ chạy ra gian tiền sảnh rồi tới cửa. Sương mù bên ngoài dày đến nỗi chỉ vừa đủ nhìn thấy những kho lẫm phía bên kia sân. Gần cổng gia trang, Bjørgulf đang điên cuồng vật lộn để thoát khỏi tay người anh:

“Anh có mất gì đâu,” người mù gào lên, “nếu thoát được khỏi em – khi ấy anh được giải khỏi mọi lời thề – chẳng phải rời bỏ mái nhà này mà đi chết –”

Kristin không nghe được Naakkve đáp gì. Bà chạy chân trần ra lớp cỏ đẫm nước. Bjørgulf lúc ấy đã giằng ra được – rồi chàng đổ sấp xuống tảng đá lớn như bị chém quật, lấy hai nắm tay nện vào đá.

Naakkve trông thấy mẹ, vội bước mấy bước tới đón bà:

“Mẹ vào nhà đi – việc này con tự lo thì hơn – mẹ _phải_ vào nhà, con bảo vậy,” chàng khẩn khoản thì thầm, rồi quay lại cúi xuống bên người em.

Người mẹ đứng lại cách đó một quãng. Bãi cỏ sũng nước, mọi mái nhà đều nhỏ giọt, nước lăn xuống từ từng chiếc lá – trời đã mưa suốt ngày, nhưng lúc này mây sà xuống thành một màn sương trắng đặc. Một lúc sau, khi hai người con đi xuống – Naakkve đã nắm cánh tay Bjørgulf và dìu chàng như thế – Kristin lùi vào bên trong cửa tiền sảnh.

Bà thấy Bjørgulf chảy máu trên mặt, hẳn chàng đã va vào tảng đá. Không tự chủ được, Kristin nhét bàn tay vào miệng, cắn ngập răng vào chính da thịt mình.

Trên cầu thang, Bjørgulf lại một lần nữa cố giằng khỏi Naakkve – chàng ngã dúi vào vách và gào lên:

“Tôi nguyền rủa, tôi nguyền rủa ngày mình sinh ra –!”

Sau khi nghe Naakkve cài cửa gác lại sau lưng họ, người mẹ rón rén đi theo và đứng ngoài hành lang. Suốt một hồi lâu bà nghe tiếng Bjørgulf bên trong – chàng cuồng nộ, gào thét và nguyền rủa – bà còn phân biệt được đôi câu trong những lời điên dại ấy. Xen giữa, bà hiểu rằng Naakkve đang nói với chàng, nhưng giọng người anh chỉ vọng ra như tiếng rì rầm khe khẽ. Cuối cùng Bjørgulf nức nở, lớn tiếng và xé lòng.

Người mẹ đứng run lên vì lạnh và đau đớn. Bà chỉ kịp khoác một tấm áo choàng bên ngoài áo lót; bà đứng đó lâu đến nỗi mái tóc xõa ướt đẫm trong khí đêm ẩm lạnh. Cuối cùng trên gác im bặt.

Trở vào căn phòng dưới nhà, bà đi đến chiếc giường nơi Gaute và Lavrans đang ngủ. Hai đứa chẳng hay biết gì. Nước mắt tuôn trào, bà đưa tay vào bóng tối, sờ hai khuôn mặt ấm áp và lắng nghe hơi thở đều đặn, khỏe mạnh của các con. Bà cảm thấy giờ đây hai đứa này là tất cả của cải mình còn lại.

Rét run, bà bò lên giường mình. Một con chó nằm trước giường Gaute lững thững bước qua sàn rồi nhảy lên với bà; nó cuộn tròn trên chân bà. Đêm nào nó cũng thường làm vậy, và bà không nỡ đuổi nó xuống, dù nó nặng, đè chân bà đến tê dại; nhưng nó từng thuộc về Erlend, là con chó ông yêu quý nhất, một con chó săn gấu già lông đen tuyền, thô cứng. Đêm ấy Kristin thấy thật dễ chịu khi nó nằm đó, sưởi ấm đôi chân lạnh cóng của bà.

– Sáng hôm sau, mãi đến bữa ăn sớm Kristin mới trông thấy Naakkve. Chàng bước vào ngồi trên ghế danh dự; chỗ ấy đã thuộc về chàng từ ngày cha mất.

Chàng không nói một lời nào suốt bữa ăn, dưới mắt hằn những quầng thâm đen. Người mẹ đi theo khi chàng lại bước ra ngoài.

“Bjørgulf bây giờ thế nào rồi?” bà khẽ hỏi.

Naakkve vẫn tránh ánh mắt bà, nhưng cũng khẽ đáp rằng lúc này Bjørgulf đang ngủ.

“Nó – nó đã từng như thế trước đây chưa?” bà sợ hãi thì thầm.

Naakkve gật đầu, quay lưng lại với bà rồi lên gác với em.

Naakkve trông nom Bjørgulf từ sớm đến khuya và cố hết sức ngăn mẹ đến gần chàng. Nhưng Kristin hiểu rằng hai người trẻ tuổi ấy đã trải qua nhiều lúc giằng co dữ dội với nhau.

Giờ đây Nikulaus Erlendssøn lẽ ra phải là chủ nhân Jørundgaard, nhưng chàng chẳng còn lúc nào để đoái hoài dù chỉ đôi chút tới việc làm ăn. Dường như chàng cũng có ít hứng thú và năng lực hơn cha mình trước kia. Bởi vậy Kristin và Gaute phải quán xuyến mọi việc, vì mùa hè ấy Ulf Haldorssøn cũng rời bà mà đi.

Sau những biến cố bất hạnh kết thúc bằng cái chết của Erlend Nikulaussøn, vợ Ulf đã theo các anh em mình trở về nhà. Ulf vẫn ở lại Jørundgaard – ông nói sẽ cho thiên hạ thấy rằng mình không để lời đồn đại và dối trá xua đuổi. Tuy nhiên, ông cũng bóng gió rằng có lẽ mình đã sống ở đây đủ lâu; ông định khi nào thời gian trôi qua đủ để không ai có thể nói rằng ông chạy trốn lời đồn, có lẽ sẽ đi về miền bắc, tới gia trang riêng ở Skaun.

Nhưng rồi viên đại diện của giám mục bắt đầu điều tra xem Ulf Haldorssøn có trái luật mà ruồng bỏ vợ mình hay không. Ulf bèn sửa soạn lên đường, đón Jardtrud về và định đi lên miền bắc trước khi thời tiết mùa thu khiến đường vượt núi trở nên khó đi. Ông nói với Gaute rằng mình sẽ chung vốn với chồng người em gái cùng cha khác mẹ, vốn là thợ rèn vũ khí ở Nidaros, và sống tại đó, còn Jardtrud sẽ ở Skjoldvirkstad, nơi người cháu trai sẽ tiếp tục cai quản gia trang thay ông.

Tối cuối cùng, Kristin nâng chiếc cốc bạc mạ vàng mời ông uống tiễn; đó là chiếc cốc cha bà từng nhận từ ông nội mình, ngài Ketil Svenske. Bà xin ông cầm lấy chiếc cốc, giữ làm kỷ vật về bà, rồi đeo vào ngón tay ông một chiếc nhẫn vàng từng thuộc về Erlend; ông hãy mang nó để tưởng nhớ người bà con của mình.

Ulf hôn bà để tạ ơn: “Lễ nghĩa họ hàng vốn phải thế,” ông cười nói. “Hẳn ngày đầu chúng ta quen nhau, Kristin, khi ta chỉ là người hầu đến đón rồi đưa cô tới chỗ chủ nhân của ta, cô đâu ngờ rồi chúng ta sẽ chia tay nhau thế này?”

Kristin đỏ bừng mặt, vì ông đang mỉm cười với bà bằng nụ cười giễu cợt thuở trước, nhưng nhìn vào mắt ông, bà tin rằng ông đang buồn. Rồi bà nói:

“Dù vậy, Ulf, anh không mong trở về Trøndelag sao, khi anh sinh ra và lớn lên ngoài miền bắc? Tôi chỉ sống ở đó vài năm mà nhiều lúc vẫn nhớ miền vịnh ấy.” Ulf lại cười như xưa, bấy giờ bà khẽ nói: “Nếu thuở trẻ có lúc nào tôi làm anh tổn thương vì kiêu ngạo hay – tôi không biết anh và Erlend là họ hàng gần – thì giờ anh hãy tha thứ cho tôi!”

“Không – và cũng chẳng phải Erlend không muốn nhìn nhận tình họ hàng ấy. Nhưng thuở trẻ ta quá kiêu hãnh – nếu cha ta đã gạt ta khỏi dòng họ mình thì ta quyết không van xin –” ông đột ngột đứng dậy, đi tới chỗ Bjørgulf đang ngồi trên ghế dài: “Con hiểu chứ, Bjørgulf, con nuôi của ta – cha con – và Gunnulf – ngay từ khi chúng ta gặp nhau lúc còn là những đứa trẻ, họ đã đối đãi với ta như người thân – trái hẳn các anh chị em của ta ở Hestnæs. Về sau – ta không bao giờ đứng ra nhận mình là bà con của Erlend, trừ khi thấy nhờ thế ta có thể phụng sự ông ấy tốt hơn – cùng vợ ông ấy – và các con, những đứa con nuôi của ta. Con hiểu không?” ông nói gay gắt, đặt bàn tay lên mặt Bjørgulf, che kín đôi mắt đã tắt.

“Con hiểu.” Lời đáp của Bjørgulf nghẹn lại dưới những ngón tay người kia; chàng gật đầu vào lòng bàn tay Ulf.

“Chúng con hiểu, cha nuôi,” Nikulaus đặt bàn tay nặng trĩu lên vai Ulf, còn Gaute bước lại gần nhóm người.

Kristin bỗng thấy lòng khác lạ – dường như họ sắp nói tới những chuyện bà không hề hay biết. Bà cũng bước tới chỗ những người đàn ông và nói:

“Anh cứ tin chắc điều ấy, Ulf, người bà con của tôi, tất cả chúng tôi đều hiểu – Erlend và cả nhà chúng tôi chưa từng có một người bạn nào trung thành như anh. Xin Đức Chúa ban phúc cho anh!”

Ngày hôm sau Ulf Haldorssøn lên đường về miền bắc.

Trong suốt mùa đông, Bjørgulf dần bình tâm lại, ít nhất theo những gì Kristin có thể nhận thấy. Chàng lại dùng bữa cùng người trong nhà, theo họ đi dự thánh lễ, và vui vẻ, hòa nhã nhận sự giúp đỡ cùng những chăm sóc mà người mẹ hết lòng muốn dành cho chàng.

Và thời gian càng trôi, Kristin càng không nghe các con nhắc tới tu viện, bà càng nhận ra mình không sao đành lòng trao người con cả cho đời tu sĩ.

Bà không thể không thấy rằng trong tu viện chắc chắn Bjørgulf sẽ được chăm nom tốt nhất. Nhưng bà không hiểu mình sẽ lấy đâu ra sức để mất Naakkve theo cách ấy. Xét cho cùng, quả thật người con đầu lòng bằng một cách nào đó vẫn gắn với trái tim người mẹ sâu hơn cả những người con trai khác.

Bà cũng không thể hiểu nổi Naakkve có thích hợp để làm tu sĩ hay không. Quả thật chàng có trí tuệ xuất chúng trong việc học hành và lòng yêu thích những phép thực hành đạo đức; nhưng người mẹ vẫn không thấy tâm trí chàng hướng nhiều về đời sống thiêng liêng. Chàng không đến nhà thờ trong làng với lòng sốt sắng nào, thường bỏ lễ chỉ vì những lý do rất yếu ớt, và bà biết cả chàng lẫn Bjørgulf đều không xưng tội với linh mục xứ đạo ngoài lời thú tội chung. Vị linh mục mới, cha Dag Rolfssøn, là con trai của Rolf ở Blakarsarv, người từng kết hôn với một người chị em họ của Ragnfrid Ivarsdatter, vì vậy cha thường đến gia trang của người nữ họ hàng; cha là một người trẻ tuổi chừng ba mươi, học thức uyên bác và là một giáo sĩ giỏi; nhưng hai người con cả vẫn giữ thái độ lạnh nhạt với cha. Trái lại, cha chẳng bao lâu đã trở thành bạn thân của Gaute.

Gaute là người duy nhất trong các Erlendssøn kết bạn được với dân chúng ở Sil. Nhưng không người nào trong số những anh em còn lại mãi xa lạ với dân làng như Nikulaus. Chàng chẳng bao giờ hòa mình với những người trẻ khác – nếu đến nơi trai gái tụ họp để nhảy múa hoặc dự hội, chàng thường chỉ đứng ngoài rìa bãi vui mà nhìn – với vẻ như tự cho mình quá cao để nhập cuộc. Nhưng hễ nổi hứng, chàng lại xông vào trò chơi dù không ai mời – và khi ấy thiên hạ bảo chàng chỉ muốn phô trương: chàng nhanh nhẹn, khỏe mạnh và khéo léo, lại dễ bị khích đến đánh nhau – sau khi chàng thắng hai ba tay đấu lừng danh nhất trong làng, người ta đành phải chịu đựng tính khí ấy. Và nếu chàng muốn nhảy với một thiếu nữ, chàng chẳng coi anh em hay họ hàng nàng ra gì, cứ nhảy rồi đi dạo và ngồi riêng với cô gái – mà chưa từng có người đàn bà nào từ chối khi Nikulaus Erlendssøn ngỏ ý muốn bầu bạn. Điều ấy càng khiến chàng không được ưa thích.

Từ khi người em bị mù, Naakkve hiếm khi rời Bjørgulf, nhưng nếu có một tối nào chàng ra ngoài, chàng vẫn chẳng khác trước kia. Những chuyến săn dài ngày giờ chàng cũng gần như bỏ hẳn, tuy vậy chính mùa thu ấy chàng lại mua từ quan cai hạt một con chim ưng trắng đắt giá khôn cùng, và vẫn say mê luyện bắn cung cùng những môn vận động khác. Bjørgulf đã tập chơi cờ mà không cần nhìn, và hai anh em thường tiêu khiển suốt ngày bên bàn cờ; cả hai đều là những tay chơi say mê nhất.

Rồi Kristin nghe người ta kháo nhau về chàng và một cô gái trẻ, Tordis Gunnarsdatter ở Skjenne. Mùa hè năm sau, cô lên trại chăn trên núi. Bấy giờ Naakkve nhiều lần vắng nhà ban đêm. Kristin biết được chàng đã đến với Tordis.

Trái tim người mẹ run rẩy, chao qua chao lại như chiếc lá dương trên cuống. Tordis thuộc một dòng họ lâu đời và đáng trọng, bản thân cô là một đứa trẻ ngoan ngoãn, trong trắng; Naakkve không thể nào nhẫn tâm làm nhục cô. Nếu đôi trẻ quên mình, chàng ắt phải lấy cô gái ấy làm vợ. Quặn lòng vì lo sợ và hổ thẹn, Kristin cảm thấy chắc mình cũng chẳng đau buồn quá đỗi nếu sự thể thành ra như vậy. Chỉ hai năm trước, bà hẳn không đời nào chịu nghe chuyện Tordis Gunnarsdatter sẽ kế bà làm nữ chủ nhân Jørundgaard. Ông nội cô còn sống và ở tại điền trang cùng bốn người con trai đã có vợ, còn cô lại đông anh chị em; cô sẽ là một cô dâu nghèo. Và người đàn bà nào trong dòng họ ấy cũng sinh ít nhất một đứa con mất trí. Giống người khuất mặt vẫn đánh tráo con cái của họ hoặc bỏ bùa chúng—dù họ cố hết sức bảo vệ những sản phụ, cả phép rửa lẫn các phép lành dường như đều chẳng ích gì. Hiện ở Skjenne có hai ông già mà cha Eirik đã đoán là những đứa trẻ bị đánh tráo, lại có hai đứa trẻ câm điếc—và anh cả của Tordis đã bị yêu nữ rừng làm cho hóa dại khi mới mười bảy tuổi. Ngoài chuyện ấy ra, dòng họ Skjenne là một giống người đẹp đẽ, nuôi gia súc mát tay và làm ăn thịnh vượng, nhưng họ đông quá nên của cải không thể tích tụ trong dòng họ.

—Chỉ có Chúa mới biết Naakkve có thể từ bỏ ý định ấy mà không phạm tội hay không, nếu chàng đã hiến mình phụng sự Đức Trinh Nữ Maria. Nhưng một người bao giờ cũng phải trải qua một năm làm tập sinh trong tu viện trước khi được thụ phong—và ngay khi ấy vẫn có thể lui bước, nếu nhận ra mình không được sinh ra để phụng sự Chúa theo cách này. Bà từng nghe kể rằng vị nữ bá tước phương nam, mẹ của nhà thần học và tu sĩ thuyết giáo vĩ đại, ngài Tomas Akvinas, đã nhốt con trai mình chung với một người đàn bà đẹp đẽ mà phóng đãng để khiến ông từ bỏ ý định, khi ông muốn lìa bỏ thế gian. Kristin thấy đó là điều ghê tởm nhất bà từng nghe—song người đàn bà ấy rốt cuộc vẫn qua đời trong sự hòa giải với Chúa. Vậy thì chắc cũng chẳng phải tội lỗi khủng khiếp lắm nếu bà nghĩ rằng giờ đây mình sẽ dang rộng vòng tay đón Tordis ở Skjenne làm con dâu.

Mùa thu, Jammælt Halvardssøn đến Formo, và ông xác nhận những lời đồn về các biến cố lớn lao cũng đã truyền tới tận thung lũng này. Sau khi bàn bạc với những bậc thầy cao nhất của Giáo hội, cùng các hiệp sĩ và tùy tướng trong hội đồng vương quốc Na Uy, ngài Magnus Eirikssøn đã quyết định chia các vương quốc của mình cho hai người con trai sinh với hoàng hậu, phu nhân Blanche. Tại đại hội quý tộc ở Vardberg, ngài đã trao vương hiệu Na Uy cho người con út, vương tử Haakon; các đại thần thuộc hàng giáo sĩ và thế tục đã thề trên thánh tích sẽ bảo vệ đất nước dưới quyền cậu. Nghe nói đó là một đứa trẻ ba tuổi xinh xắn và đầy triển vọng, và cậu sẽ được nuôi dạy tại đất nước này, với bốn phu nhân hiệp sĩ cao quý nhất Na Uy làm mẹ nuôi, hai thủ lĩnh giáo sĩ và hai thủ lĩnh thế tục làm cha nuôi, trong những thời gian vua Magnus và hoàng hậu Blanche ở Thụy Điển. Người ta nói ngài Erling Vidkunssøn cùng các giám mục Bjørgvin và Oslo đã nghĩ ra việc chọn vua này, còn Bjarne Erlingssøn là người hết sức thúc đẩy việc ấy bên nhà vua; vua yêu quý Bjarne hơn tất cả những người Na Uy khác của mình. Và mọi người đều trông đợi việc này sẽ đem lại lợi ích lớn lao nhất cho vương quốc Na Uy, vì giờ đây chúng ta lại có một vị vua dựng nhà và sống giữa chúng ta, bảo vệ luật pháp, công lý cùng quyền lợi của đất nước, thay vì phung phí thời gian, công sức và sự thịnh vượng của vương quốc vào những mưu đồ ở các xứ khác.

Kristin đã nghe chuyện chọn vua, cũng như bà đã nghe về cuộc xung đột với các thương nhân Đức ở Bjørgvin và những cuộc chiến của nhà vua tại Thụy Điển và Đan Mạch. Nhưng những chuyện ấy tác động đến bà thật ít—chẳng khác nào tiếng sấm vọng giữa núi non khi giông bão đi qua những miền xa xôi. Các con trai bà hẳn đã bàn những việc ấy với nhau. Nghe Jammælt kể, những người con trai của Erlend kích động dữ dội. Bjørgulf ngồi chống trán trong tay, che kín đôi mắt mù; Gaute lắng nghe, môi hé mở, các ngón tay siết quanh chuôi dao găm; Lavrans thở gấp và thành tiếng, hết lần này đến lần khác nhìn từ dượng mình sang Naakkve trên ghế gia chủ. Người con cả mặt tái nhợt, đôi mắt rực cháy.

“Đó từng là số phận của nhiều người,” Naakkve nói, “rằng những kẻ chống lại họ quyết liệt nhất lúc họ còn sống lại tiến đến thành công trên chính con đường họ đã chỉ ra—sau khi đã quẳng họ cho giòi bọ rỉa. Khi miệng người ấy đã đầy đất, những kẻ kém hơn mới không còn ngần ngại thừa nhận lời người ấy là đúng.”

“Ừ, có lẽ vậy, cháu ạ,” Jammælt nói bằng giọng xoa dịu, “điều cháu nói cũng có phần đúng; cha cháu là người đầu tiên nghĩ ra con đường thoát khỏi chốn hiểm nghèo này—để hai anh em cùng ngồi trên ngai vua, một ở đây và một ở Thụy Điển. Erlend Nikulaussøn quả là một vị chủ tướng sâu sắc, sáng suốt và cao cả, ta hiểu điều đó. Nhưng hãy cẩn trọng lời ăn tiếng nói, Nikulaus, chắc cháu không muốn người ta truyền đi những lời của cháu có thể gây hại cho Skule—”

“Skule không hỏi phép con về việc này,” Naakkve nói sắc lạnh.

“Không, chắc nó không nhớ rằng giờ cháu đã đến tuổi tự quyết,” Jammælt vẫn điềm đạm đáp, “mà ta cũng không nghĩ đến chuyện ấy—bởi vậy chính ta đã đồng tình và thuận cho nó đặt tay lên kiếm của Bjarne mà thề—”

“Con nghĩ nó có nhớ—nhưng thằng nhãi ấy biết con sẽ không đời nào ưng thuận. Và chắc người nhà Giske đang rất cần thứ thuốc xoa dịu lương tâm đau nhức này—”

—Skule Erlendssøn giờ đã trở thành người tuyên thệ trung thành với Bjarne Erlingssøn. Cậu gặp vị đại thủ lĩnh trẻ tuổi khi đến thăm dì mình ở Ælin vào dịp Giáng sinh, và Bjarne đã làm cho cậu hiểu rằng chủ yếu nhờ lời cầu xin của ngài Erling và chính chàng mà Erlend năm xưa được tha mạng—không có sự nâng đỡ của họ, Simon Andressøn chẳng bao giờ có thể hoàn thành sứ mạng bên vua Magnus.—Ivar vẫn còn ở với Inge Fluga.

Kristin biết những điều Bjarne Erlingssøn nói không hoàn toàn sai—chúng khá ăn khớp với lời Simon kể về chuyến đi Tunsberg của ông. Tuy vậy, suốt bao năm qua bà vẫn nghĩ đến Erling Vidkunssøn với nỗi cay đắng sâu sắc; bà cảm thấy nếu ông muốn, ông hẳn đã có thể giúp chồng bà được hưởng những điều kiện tốt hơn. Bjarne khi ấy chắc chẳng làm được bao nhiêu, vì còn quá trẻ. Dẫu vậy bà vẫn không thật vừa lòng khi Skule quy phục người này—và bà bỗng thấy nghẹt thở một cách lạ lùng trước việc hai anh em sinh đôi đã hoàn toàn tự ý hành động và dấn thân vào cõi đời mênh mông như thế—xét tuổi tác, chúng vẫn chỉ là những đứa trẻ, bà cảm thấy vậy—.

Sau chuyến viếng thăm của Jammælt, nỗi bất an trong lòng bà tăng lên đến mức bà hầu như không chịu nổi việc suy nghĩ. Nếu quả đúng như những người đàn ông nói, rằng cuộc sống sung túc và yên ổn của dân trong nước sẽ tăng lên không sao kể xiết khi đứa bé ở thành Tunsberg giờ mang danh vua Na Uy, thì dân chúng lẽ ra đã có thể hưởng lợi ấy gần mười năm rồi, nếu Erlend không—. Không! Bà không muốn nghĩ đến _điều ấy_ khi tưởng nhớ người đã chết. Nhưng bà không sao ngăn được, chính bởi bà hiểu rằng trong mắt các con trai, người cha hiện lên huy hoàng và toàn vẹn, là chiến binh và thủ lĩnh ưu tú nhất, không một sai lầm hay tì vết. Và chính bà suốt những năm qua hẳn cũng từng cho rằng Erlend đã bị những người ngang hàng cùng đám họ hàng quyền quý phản bội; chồng bà đã phải chịu một nỗi bất công lớn lao—nhưng Naakkve đã đi quá xa khi nói _họ_ quẳng ông cho giòi bọ rỉa. Bà cũng mang phần tội lỗi nặng nề của mình—song trên hết vẫn là sự khinh suất và tính bướng bỉnh tuyệt vọng của Erlend đã gây nên cái chết thảm khốc cho ông.

Nhưng không—dẫu vậy bà vẫn không thích chuyện Skule giờ đang ở với Bjarne Erlingssøn.

Vậy chẳng lẽ bà sẽ không bao giờ sống được đến ngày thoát khỏi sự giày vò không ngừng của nỗi lo âu và bất an—. Ôi Jesus, xin hãy nhớ đến nỗi kinh hãi và sầu đau mà người mẹ diễm phúc của Ngài đã chịu vì Ngài; xin thương xót con, một người mẹ, và an ủi con—!

Ngay cả Gaute cũng khiến bà lo lắng. Cậu trai ấy có đủ tư chất để trở thành một gia chủ tài giỏi, nhưng lại quá nóng vội trong lòng hăng hái khôi phục sự thịnh vượng của dòng họ. Naakkve để cậu toàn quyền hành động—và hai tay Gaute đang bận đầy những công việc. Giờ cậu cùng một số người khác trong thung lũng đã cho hoạt động lại những lò luyện sắt cũ trong núi. Và cậu bán đi quá nhiều, không chỉ những sản vật thu từ địa tô mà cả hoa lợi của chính điền trang. Suốt đời Kristin vẫn quen nhìn những kho lẫm và nhà chứa trong điền trang chất đầy ắp, nên bà không ít lần nổi giận khi Gaute nhăn mũi trước món bơ đã ôi và giễu cợt miếng thịt muối mười năm tuổi bà còn treo đó. Nhưng bà muốn chắc rằng trong điền trang của mình không bao giờ được thiếu thức ăn; nếu năm đói kém giáng xuống thung lũng, không người nghèo nào phải ra về mà không được bà cứu giúp. Và nơi đây cũng không được thiếu thốn khi những ngày cưới xin, tiệc rửa tội và yến tiệc lại trở về với điền trang cổ này.

Những hy vọng đầy tham vọng của bà dành cho các con trai dần co lại. Bà sẽ mãn nguyện nếu chúng chịu an cư ngay trong thung lũng của bà. Bà có thể gom và đổi chác các sản nghiệp sao cho ba đứa được ngồi trên điền trang riêng. Còn Jørundgaard, cùng phần Laugarbru nằm bên này sông, có thể nuôi sống ba hộ chủ. Có thể đó không phải cuộc sống của những tùy tướng quý tộc—nhưng ít ra chúng cũng không thành người nghèo. Trong thung lũng này vẫn có hòa bình—mọi cảnh nhiễu nhương giữa các thủ lĩnh trong nước chỉ vọng tới đây rất ít. Dẫu điều ấy có thể bị coi là sự suy giảm quyền thế và danh vọng của dòng họ—Chúa vẫn có thể đưa con cháu chúng tiến xa hơn, nếu Người thấy như vậy có lợi cho chúng. Nhưng có lẽ thật hão huyền khi bà hy vọng được thấy chúng quây quần bên mình theo cách ấy—những người con có Erlend Nikulaussøn làm cha hẳn sẽ không dễ dàng chịu yên phận.

Chính trong thời gian này, tâm hồn bà tìm được bình an và khuây khỏa khi để ý nghĩ quanh quẩn bên hai đứa con nhỏ bà đã gửi lại trên nghĩa địa.

Mỗi ngày trong suốt những năm ấy, bà vẫn nghĩ đến chúng—và khi nhìn những đứa trẻ đồng tuổi với chúng lớn lên khỏe mạnh, bà lại tự hỏi—những đứa con _của bà_ giờ hẳn sẽ ra sao—.

Giờ đây, trong khi vẫn đảm đang và cần mẫn với công việc hằng ngày nhưng trở nên khép kín, trầm tư, bà luôn có những đứa con đã chết ở bên; trong những giấc mơ của bà, chúng lớn lên khỏe mạnh và về mọi mặt đều thành người đúng như bà mong muốn: Munan trung thành với người thân như Naakkve, nhưng lại vui vẻ, cởi mở với mẹ như Gaute và không bao giờ khiến bà lo sợ vì những ý định bất trắc; cậu hiền hòa, sâu sắc như Lavrans, nhưng mọi điều lạ lùng Munan thường suy ngẫm đều được cậu kể cho mẹ nghe. Cậu thông minh như Bjørgulf, nhưng không tai họa nào phủ bóng lên con đường đời phía trước, nên trí tuệ ấy không hề nhuốm vị cay đắng; cậu tự lập, mạnh mẽ và gan dạ như hai anh em sinh đôi, nhưng không ngang ngạnh và tự tung tự tác đến thế—.

Và mỗi khi nghĩ đến Erlend bé nhỏ, bà lại nhớ về tất cả những kỷ niệm ngọt ngào, vui tươi của vẻ đáng yêu nơi các con khi chúng còn bé. Thằng bé đứng trên lòng bà để được mặc quần áo: bà ôm hai tay quanh thân mình trần trụi, bụ bẫm của nó, còn nó vươn đôi tay nhỏ, ngửa mặt và dướn cả tấm thân quý báu lên phía mặt bà, tìm những cái vuốt ve của bà. Bà dạy nó tập đi—bà gấp một tấm vải, vòng ngang ngực và luồn dưới nách nó—thằng bé treo nặng trĩu trong chiếc đai ấy như một cái bao, hai chân quẫy lóng ngóng đến là thương, rồi tự bật cười đến nỗi cả người quằn lại như một con sâu. Bà bế nó trên tay ra sân gia súc xem bê con và cừu non; nó reo lên sung sướng trước con lợn nái cùng cả đàn lợn con, ngửa đầu, há miệng nhìn đàn bồ câu trên gác chuồng ngựa. Nó chạy theo bà giữa đám cỏ cao bên những đống đá, nhìn thấy quả nào cũng reo lên, rồi tham lam ăn từ tay bà đến nỗi lòng bàn tay bà ướt đẫm vì cái miệng nhỏ háu ăn của nó.

Bà nhớ lại mọi niềm vui mình từng có từ các con và sống lại chúng trong cuộc đời mộng tưởng với hai đứa trẻ nhỏ, còn mọi nỗi buồn thì bà quên hết—.

Mùa xuân đến lần thứ ba kể từ khi Erlend được đặt xuống mồ. Kristin không còn nghe gì về Tordis và Naakkve nữa. Nhưng bà cũng không nghe nhắc gì thêm đến tu viện. Và hy vọng trong bà lớn dần—bà không thể ngăn nổi: bà không nỡ chút nào khi phải hiến người con trai cả cho đời tu sĩ.

Ngay trước lễ Thánh Hans, Ivar Erlendssøn trở về Jørundgaard. Hai anh em sinh đôi đã là những chàng trai phổng phao ở năm mười sáu tuổi khi rời nhà. Giờ Ivar đã là một người đàn ông trưởng thành, gần mười tám tuổi, và người mẹ thấy cậu đã trở nên đẹp đẽ, nam tính đến mức bà nhìn mãi không chán.

Sáng đầu tiên, người mẹ mang bữa lót dạ lên cho Ivar khi cậu còn nằm trên giường. Một ổ bánh lúa mì nướng mật ong, bánh mỏng và bia bà rót từ thùng bia Giáng sinh cuối cùng. Bà ngồi bên mép giường trong khi cậu ăn uống, mỉm cười trước mọi điều cậu nói, rồi đứng dậy xem quần áo của cậu, lật đi lật lại và sờ từng món, lục lọi túi hành trang, nhấc thử chiếc trâm cài mới trong bàn tay thon màu nâu đỏ, rút dao găm của cậu khỏi vỏ, khen nó và tất cả những vật sở hữu của cậu. Rồi bà lại ngồi xuống giường, nhìn con trai và lắng nghe mọi chuyện chàng trai trẻ kể, nụ cười ánh lên trong mắt và quanh miệng.

Bấy giờ Ivar nói:

“Dẫu sao, mẹ ạ, con cũng nên nói với mẹ việc đã đưa con về nhà—con về để xin Naakkve chấp thuận cho cuộc hôn nhân của con.”

Quá đỗi kinh ngạc, Kristin chắp hai tay lại:

“Ivar của mẹ! Con còn trẻ đến thế—hẳn con chưa làm chuyện dại dột nào chứ!”

Ivar xin mẹ cứ nghe cậu nói. Người ấy là một góa phụ còn trẻ, Signe Gamalsdatter ở Rognheim thuộc Fauskar. Điền trang chịu mức định tô sáu mark, mà phần lớn là tài sản riêng của nàng; nàng đã thừa kế phần của đứa con duy nhất. Nhưng nàng vướng vào kiện tụng với họ hàng bên chồng, và Inge Fluga đã tìm đủ cách kiếm lợi bất chính cho mình nếu hắn giúp góa phụ đòi được quyền lợi. Ivar nổi giận, đứng ra bênh vực người đàn bà và đưa nàng đến tận chỗ giám mục, bởi ngài Halvard luôn tỏ lòng ưu ái như cha với Ivar trong những lần gặp cậu. Cách hành xử của Inge Munanssøn trong địa hạt không chịu nổi một cuộc điều tra nghiêm ngặt—nhưng hắn biết cách giữ giao hảo với những kẻ quyền thế trong vùng, dọa dân thường phải chui rúc như chuột—còn với giám mục, hắn hết sức khéo léo che mắt ngài; chắc vì Munan nên ngài Halvard cũng không muốn quá nghiêm khắc. Nhưng giờ tình thế xem ra không còn tốt đẹp cho hắn nữa—bởi vậy hai người anh em họ đã chia tay trong cảnh hoàn toàn thù nghịch, khi Ivar lấy ngựa rời điền trang của Inge Fluga. Nhưng rồi cậu nảy ý nên ghé xuống phía nam thăm Rognheim trước khi rời khỏi miền ấy. Khi đó vào khoảng lễ Phục sinh, và từ bấy đến nay cậu vẫn ở với Signe—giúp nàng trông nom điền trang suốt mùa xuân này—rồi hai người đồng ý rằng cậu sẽ lấy nàng. _Nàng_ không cho rằng Ivar Erlendssøn quá trẻ để trở thành chồng mình và bảo vệ quyền lợi cho mình. Mà giám mục, như cậu đã nói, vốn quý mến cậu—dẫu cậu còn quá trẻ và ít học để ngài Halvard có thể giao cho một chức vụ nào, Ivar tin mình sẽ sống khá giả nếu kết hôn và ở lại Rognheim.

Kristin ngồi mân mê chùm chìa khóa trong lòng. Những lời ấy quả là có lý. Và Inge Fluga hẳn cũng đáng phải chịu như vậy. Nhưng bà tự hỏi ông già tội nghiệp Munan Baardssøn sẽ nói gì về chuyện này.

Về cô dâu, bà được biết Signe đã ba mươi tuổi, xuất thân từ một dòng họ thấp kém và nghèo khó, nhưng người chồng đầu tiên của nàng đã làm nên cơ nghiệp, nên giờ nàng sống trong cảnh sung túc, còn bản thân nàng là một người đàn bà đứng đắn, hiền hậu và đảm đang.

Nikulaus và Gaute theo Ivar xuống miền nam để xem mặt góa phụ, còn Kristin muốn ở lại với Bjørgulf. Khi các con trai trở về, Naakkve báo với mẹ rằng Ivar giờ đã đính hôn với Signe Gamalsdatter. Đám cưới sẽ được tổ chức tại Rognheim vào mùa thu.

Không lâu sau khi trở về, Naakkve vào gặp mẹ vào một buổi tối khi bà đang ngồi may trong phòng dệt. Chàng cài thanh chắn ngang cửa. Rồi chàng nói rằng giờ Gaute đã hai mươi tuổi, còn Ivar cũng sẽ thành người tự chủ sau khi kết hôn, chàng và Bjørgulf muốn ngay mùa thu này đi về phương bắc, xin được nhận làm tập sinh trong tu viện. Kristin không đáp mấy lời, và khi ấy họ chỉ bàn xem phải thu xếp thế nào với phần tài sản mà hai người con trai cả giờ muốn được chia từ gia sản.

Nhưng mấy ngày sau, những người đi mời cưới đến Jørundgaard — Aasmund ở Skjenne sắp làm lễ đính hôn cho cháu nội gái Tordis với một chàng trai nông gia tử tế ở Dovre.

Tối ấy Naakkve cũng vào gặp mẹ trong phòng dệt, và lại cài cửa sau lưng. Chàng ngồi xuống mép bếp lửa, cầm một cành cây khều than — Kristin đã nhóm một ngọn lửa nhỏ, vì mùa hè năm ấy đêm lạnh.

“Chẳng có gì ngoài tiệc tùng với chè chén, mẹ ạ,” chàng nói và khẽ cười. “Lễ đính hôn ở Rognheim rồi lễ đính hôn ở Skjenne, sau đó lại đến đám cưới của Ivar — khi Tordis lên đường về nhà chồng, chắc con không dự đâu — lúc ấy có lẽ con đã mặc áo tu rồi —”

Kristin không đáp ngay. Rồi không ngẩng mắt khỏi đường kim — bà đang may một chiếc áo đẹp cho Ivar — bà nói:

“Hẳn nhiều người đã tưởng Tordis Gunnarsdatter sẽ đau buồn nếu con đi tu.”

“Chính con cũng từng tưởng thế,” Naakkve đáp.

Kristin để đường may rơi xuống lòng. Bà nhìn con trai — gương mặt chàng khép kín và bình thản. Và chàng đẹp biết bao — mái tóc sẫm chải ngược khỏi vầng trán trắng, mềm mại uốn lọn sau tai và trên chiếc cổ thon màu nâu. Đường nét của chàng cân đối hơn cha — khuôn mặt rộng và rắn rỏi hơn, mũi không lớn đến thế, miệng cũng không nhỏ đến thế; đôi mắt xanh trong nằm đẹp dưới hàng mày đen thẳng — vậy mà trông chàng vẫn không đẹp bằng Erlend thuở trước. Chàng không có vẻ mềm mại như loài vật và nét duyên lười biếng của cha, không có cái phong vị của một tuổi trẻ tưởng chừng chẳng bao giờ hao mòn.

Người mẹ lại cầm công việc lên, nhưng không may. Một lát sau, bà cúi nhìn, dùng kim miết một mép vải vào trong và nói:

“Hãy nhớ, Naakkve, đến giờ mẹ chưa nói một lời nào chống lại chí nguyện phụng sự Chúa của các con. Mẹ không dám làm thế. Nhưng con còn trẻ — và con học rộng hơn mẹ nhiều, hẳn con biết — trong bài đọc ở đâu đó có chép rằng, một khi người ta đã đặt tay lên cày, ngoảnh đầu nhìn lại sau vai là điều chẳng xứng.”

Gương mặt người con không động một nét.

“Mẹ biết các con đã ấp ủ việc này từ rất lâu,” người mẹ nói tiếp. “Ngay từ khi các con còn bé. Khi ấy chính các con cũng chưa hiểu mình muốn từ bỏ những gì. Nay con đã đến tuổi trưởng thành — con không nghĩ sẽ khôn ngoan hơn nếu các con thử đợi thêm một thời gian, xem mình có thật được Chúa gọi hay không sao? Con sinh ra để tiếp quản gia trang này và làm người đứng đầu dòng họ —”

“Bây giờ mẹ dám khuyên bảo con ư?” Naakkve thở nặng mấy lượt. Chàng đứng dậy — thình lình giật mạnh áo trước ngực, tách áo ngoài và áo trong ra để mẹ nhìn thấy bộ ngực trần, nơi dấu bớt hình năm đốm lửa nhỏ đỏ như máu rực lên giữa đám lông đen quăn:

“Hẳn mẹ tưởng con còn quá nhỏ để hiểu mẹ đã vừa khóc than vừa thở dài điều gì, mỗi khi mẹ hôn con vào đây thuở con còn là một thằng bé —. Khi ấy con không hiểu, nhưng những lời mẹ nói con không bao giờ quên được —.

Mẹ, mẹ — mẹ đã quên cha chết một cái chết khốn khổ nhất, không được xưng tội, không được chịu Mình Thánh sao! — Vậy mà mẹ còn dám khuyên chúng con từ bỏ!”

— Con nghĩ anh em con biết mình đang quay lưng lại với những gì —. Với con, mất gia trang này và việc cưới vợ chẳng phải hy sinh gì lớn — cùng thứ bình an và hạnh phúc mà mẹ với cha đã có bên nhau trong suốt những năm con còn nhớ được —”

Kristin buông rơi đường may. Tất cả những gì bà và Erlend đã sống qua — điều dữ cùng điều lành — sự phong phú của ký ức tràn ngập lấy bà. Đứa trẻ này biết ít ỏi làm sao về điều nó đang từ bỏ. Với mọi trận ẩu đả, cuộc đỏ đen liều lĩnh, những vụ làm ăn phóng túng và trò ái tình của tuổi trẻ — chàng vẫn chẳng là gì khác ngoài một đứa trẻ vô tội.

Naakkve thấy nước mắt dâng lên trong mắt mẹ; chàng kêu lớn:

“Quid mihi et tibi est, mulier —” Kristin giật mình, nhưng người con đang nói trong cơn xúc động dữ dội: “Hẳn Chúa không nói những lời ấy vì Người khinh rẻ mẹ mình —. Nhưng chính Người đã quở trách bà, viên ngọc tinh tuyền không một vết xước hay tì ố, khi bà muốn khuyên Người phải dùng thế nào quyền năng Người nhận từ Cha trên trời, chứ không phải từ người mẹ phần xác. — Mẹ, mẹ không được khuyên con trong việc này — xin mẹ đừng dám làm thế —”

Kristin cúi mặt xuống ngực.

Một lát sau, Naakkve nói rất khẽ:

“Mẹ đã quên rằng mẹ từng đuổi con khỏi bên mẹ sao —” chàng im bặt, như không dám tin vào chính giọng mình. Nhưng rồi chàng lại nói: “Con muốn quỳ bên mẹ cạnh giường cha hấp hối — nhưng mẹ bảo con đi đi —. Mẹ không nghĩ rằng lòng con đau quặn trong ngực mỗi lần nhớ lại việc ấy sao —”

Kristin thì thầm gần như không nghe thấy:

“Có phải vì thế mà suốt những năm từ khi mẹ góa bụa, con đã — lạnh lùng — với mẹ đến vậy không?”

Người con im lặng.

“Mẹ bắt đầu hiểu rồi — con chưa bao giờ tha thứ cho mẹ chuyện ấy, Naakkve —”

Naakkve ngoảnh nhìn sang bên.

“Đôi khi — con cũng đã tha thứ cho mẹ,” chàng nói, giọng yếu ớt.

“Hẳn chẳng được mấy khi — Naakkve, Naakkve,” bà kêu lên trong nỗi đau đắng ngắt, “— con tưởng mẹ yêu Bjørgulf ít hơn con sao — mẹ là mẹ của nó — mẹ là mẹ của cả hai đứa! Con thật tàn nhẫn, khi luôn đóng cánh cửa ngăn nó với mẹ —!”

Gương mặt nhợt nhạt của Naakkve càng trắng hơn:

“Phải, mẹ, con đã đóng cửa không cho mẹ vào. — Mẹ bảo là tàn nhẫn —. Xin Chúa Jesus an ủi mẹ, mẹ không biết đâu —” Giọng chàng tắt dần thành tiếng thì thầm, như thể sức lực của chàng trai đã cạn: “Con nghĩ mẹ không nên — ít ra chúng con phải tránh cho mẹ —”

Chàng quay phắt lại, đi đến cửa và rút then. Nhưng rồi chàng đứng nguyên ở đó, quay lưng về phía Kristin. Cuối cùng bà khẽ gọi tên chàng. Bấy giờ chàng trở lại, đứng trước mặt bà, đầu cúi xuống:

“Mẹ —. Con hiểu việc này không — dễ dàng — đối với mẹ —”

Bà đặt hai tay lên vai chàng. Chàng giấu mặt khỏi ánh nhìn của bà, nhưng cúi đầu hôn lên một cổ tay bà. Kristin nhớ cha chàng từng làm thế một lần — bà không thể nhớ là khi nào —.

Bà vuốt dọc tay áo chàng; chàng liền giơ tay vỗ nhẹ lên má bà. Sau đó hai mẹ con ngồi xuống, im lặng một lúc.

“Mẹ,” một lát sau Naakkve nói, giọng đều và yên tĩnh. “Mẹ còn giữ cây thánh giá mẹ nhận lại từ anh Orm của con không?”

“Còn,” Kristin đáp, “anh con đã xin mẹ đừng bao giờ rời nó.”

“Con tin nếu Orm biết chuyện này, anh ấy sẽ bằng lòng để con nhận lại vật ấy. Nay con cũng sẽ từ bỏ phần thừa kế và không nối dõi nữa —”

Kristin lần dưới áo lót, lấy ra cây thánh giá bạc nhỏ. Naakkve đón lấy; nó còn ấm hơi ngực mẹ. Chàng thành kính hôn hộp đựng thánh tích ở giữa cây thánh giá, cài sợi dây mảnh quanh cổ rồi giấu món trang sức vào dưới áo.

“Con có nhớ anh Orm không?” người mẹ hỏi.

“Con không biết nữa. Con ngỡ như mình nhớ — nhưng có lẽ chỉ vì hồi con còn bé, mẹ kể về anh ấy quá nhiều —”

Naakkve còn ngồi trước mặt mẹ thêm một lát. Rồi chàng đứng lên:

“Chúc mẹ ngủ ngon!”

“Xin Chúa ban phúc cho con, Naakkve, ngủ ngon!”

Chàng đi khỏi. Kristin gấp chiếc áo chú rể của Ivar cùng đồ khâu vá, rồi dập lửa trong bếp.

“Xin Chúa ban phúc cho con, xin Chúa ban phúc cho con, Naakkve của mẹ —”. Rồi bà thổi tắt đèn và bước ra khỏi ngôi nhà cũ.

Ít lâu sau, Kristin gặp Tordis tại một gia trang ngoài thung lũng. Người nhà ở đó đều lâm bệnh nên chưa thu được cỏ khô; anh chị em trong hội Thánh Olav bèn đến chung sức làm giúp họ. Chiều xuống, Kristin đi cùng cô gái một quãng. Bà bước chậm chạp, dáng già nua, vừa đi vừa chuyện trò đôi câu, rồi dần dần khéo đưa đẩy câu chuyện để chính Tordis kể cho mẹ Naakkve nghe tất cả những gì đã có giữa chàng và cô.

Phải, cô đã gặp chàng trong đồng cỏ sát nhà họ, và mùa hè năm ngoái, khi cô ở trên trại núi của gia đình, chàng đã đến với cô ban đêm mấy lần. Nhưng chàng chưa bao giờ định quá sỗ sàng với cô. Cô biết rõ thiên hạ nói gì về Naakkve trong những chuyện khác — nhưng với cô, chàng chưa từng xúc phạm, dù bằng lời nói hay hành vi. Có đôi lần chàng nằm bên cô trên tấm da phủ giường và hai người trò chuyện với nhau —. Một lần cô hỏi chàng có định đến cầu hôn mình không. Chàng đáp rằng chàng không thể; chàng đã nguyện hiến mình phụng sự Đức Trinh Nữ Maria. Mùa xuân này, trong một lần hai người nói chuyện, chàng cũng nói như thế. Bởi vậy cô không muốn chống lại ý ông nội và cha mình thêm nữa.

“Một tai họa hẳn đã giáng xuống cả hai đứa, nếu chàng bội lời nguyện còn con cưỡng lại thân tộc,” Kristin nói. Bà chống mình vào chiếc cào và nhìn cô gái trẻ — đứa trẻ này có gương mặt tròn dịu dàng, xinh đẹp, cùng một bím tóc vàng nặng trĩu, màu tóc đẹp hiếm thấy. “Chắc chắn Chúa sẽ ban hạnh phúc cho con, Tordis của ta — vị hôn phu của con xem ra là một chàng trai can đảm, tử tế.”

“Vâng, con rất quý Haavard,” cô gái nói — rồi bật khóc cay đắng.

Kristin an ủi cô bằng những lời thích hợp trong miệng một người đàn bà già dặn, khôn ngoan. Nhưng trong lòng bà, nỗi khát khao đang than khóc — bà mong biết bao được gọi đứa trẻ tươi tắn, tốt lành này là con gái mình.

Sau đám cưới của Ivar, bà ở lại Rognheim một thời gian. Signe Gamalsdatter không đẹp, trông rất hao mòn và già nua, nhưng hiền hòa, đoan trang. Nàng dường như yêu người chồng trẻ bằng một tình yêu sâu nặng, và đón tiếp mẹ cùng các em chồng như thể nàng cho rằng họ cao quý hơn mình đến mức nàng không sao kính trọng và phụng dưỡng họ cho đủ. Đối với Kristin, việc có một người chịu khó đoán trước mong muốn và chăm nom chu đáo cho bà là điều hoàn toàn mới mẻ. Ngay cả khi còn là vị nữ chủ giàu có ở Husaby, sai khiến cả một đoàn tôi tớ, chưa từng có ai hầu hạ bà theo cách biết nghĩ đến sự nhàn nhã hay sức khỏe của bà chủ. Bà chưa bao giờ tiếc sức mình khi cai quản mọi việc vì lợi ích của cả gia quyến, và cũng chưa ai nghĩ rằng bà cần được giữ gìn. Bởi thế, sự săn sóc tận tụy của Signe đối với mẹ chồng trong suốt thời gian bà ở Rognheim khiến Kristin rất ấm lòng; chẳng bao lâu bà đã quý Signe đến mức, gần như ngang với lời cầu xin Chúa ban hạnh phúc cho Ivar trong cuộc hôn nhân này, bà còn cầu xin Signe đừng bao giờ có lý do hối hận vì đã trao bản thân cùng toàn bộ sản nghiệp cho một người chồng trẻ đến thế.

Ngay sau lễ Thánh Mikael, Naakkve và Bjørgulf lên đường về phía bắc đến Trøndelagen. Từ đó đến nay, tất cả những gì Kristin nghe được về họ là hai chàng đã bình an khỏe mạnh tới Nidaros và được nhận làm tập sinh trong tu viện Tautra.

Và nay Kristin đã sống gần một năm ở Jørundgaard với chỉ hai người con trai bên mình. Nhưng chính bà cũng ngạc nhiên — sao bà lại cảm thấy chuyện ấy mới xảy ra chưa lâu. Bởi vào ngày mùa thu năm ngoái, khi bà cưỡi ngựa qua nhà thờ rồi nhìn xuống thung lũng, nơi những cánh đồng nằm dưới tấm chăn sương lạnh khiến bà không sao nhận ra những ngôi nhà thuộc gia trang mình — bà đã tiễn hai con lên tận Dovre — khi ấy bà nghĩ, hẳn đây là cảm giác của người cưỡi ngựa trở về nhà mà biết nơi đó chỉ còn cánh đồng phủ tro và những than tàn nguội lạnh —.

— Bây giờ, mỗi khi đi theo con đường mòn cũ về nhà ngang qua nền lò rèn — năm nay nó gần như đã bị cây cỏ phủ kín, những bụi dương xỉ vàng, hoa chuông xanh và đậu chuột từ mép đồng cỏ rậm rạp tràn ra — bà thấy cảnh ấy gần như một hình ảnh của chính đời mình: cái bếp lò cũ sạm nắng mưa và ám muội than, nơi sẽ không bao giờ còn được nhóm lửa; mặt đất chung quanh rải đầy những mảnh than vụn, nhưng cỏ non mịn màng, ngắn và óng mượt đang nhú lên khắp nền cháy. Và trong những kẽ nứt của bếp lò cũ, hoa liễu lan mọc nở — loài cây gieo mình khắp mọi nơi — với những chùm dài đỏ thắm.