Kristin Lavransdatter III: Thập giá — Chương 17: Tập III — Thập giá · Phần III — Thập giá · Chương III

Chương 17 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter III: Thập giá

Kristin hết lòng thừa nhận Jofrid là một người đàn bà khéo tay, làm đâu ra đấy. Nếu mọi sự êm xuôi, thì Gaute quả đã gặp may — chàng sẽ có một người vợ vừa cần cù đảm đang, vừa giàu có đẹp người. Chính nàng cũng không thể tìm đâu ra một người đàn bà giỏi giang hơn để kế nghiệp mình ở Jørundgaard — dẫu có tìm khắp cả Na Uy cũng chưa chắc. Một hôm nàng nói rằng, đến ngày Jofrid Helgesdatter trở thành vợ chính thức của Gaute, nàng sẽ trao chìa khóa cho người thiếu phụ rồi cùng Lavrans dọn sang ngôi nhà cũ; và sau đó nàng không hiểu sao những lời ấy lại có thể vụt ra khỏi miệng mình như vậy.

Sau đó nàng cũng nghĩ lẽ ra mình phải cân nhắc kỹ hơn trước khi nói ra. Đã nhiều lần nàng ăn nói quá vội vàng với Jofrid —.

Nhưng còn chuyện Jofrid đang mang thai. Kristin đã nhận ra gần như ngay khi cô gái trẻ vừa đến gia trang. Và Kristin nhớ tới mùa đông đầu tiên mình ở Husaby — nàng đã thành hôn, chồng nàng và cha nàng lúc ấy đã buộc vào nhau bằng quan hệ thông gia, mặc cho tình thân giữa họ rồi sẽ ra sao khi điều trái đạo kia bị phơi bày. Vậy mà nàng vẫn khổ sở biết bao vì hối hận và hổ thẹn, vẫn cay đắng trong lòng với Erlend — khi ấy nàng đã tròn mười chín tuổi; Jofrid mới vừa mười bảy. Giờ cô gái phải sống ở đây, bị bắt đi bằng vũ lực, không được luật pháp che chở, xa nhà và giữa những người xa lạ, mang đứa con của Gaute dưới lòng. Kristin không thể không tự nhận rằng Jofrid xem ra mạnh mẽ và can đảm hơn nàng thuở ấy rất nhiều.

Nhưng nàng đã không xúc phạm sự thiêng liêng của tu viện, không phá bỏ lời hứa và hôn ước, không lừa dối, nói láo và lén lút cướp đi danh dự của cha mẹ. Cho dẫu đôi trẻ này đã liều lĩnh phạm vào luật nước, đạo vâng lời và luân thường, lương tâm họ cũng không cần phải đau đớn đến thế. Kristin cầu nguyện rất nhiều cho hành động điên rồ của Gaute có được kết cục tốt đẹp — và nàng tự an ủi rằng đức công chính của Thiên Chúa không thể nào dành cho Gaute và Jofrid một số phận nghiệt ngã hơn số phận nàng cùng Erlend đã nhận — vậy mà họ vẫn được thành vợ chồng, đứa con sinh ra từ tội lỗi của họ vẫn được sinh ra để hưởng quyền thừa kế hợp pháp từ tất cả thân tộc.

Vì cả Gaute lẫn Jofrid đều không nhắc đến chuyện ấy, Kristin cũng không muốn khơi ra, dù nàng rất mong được nói chuyện với người đàn bà non nớt kia: giờ Jofrid cần phải giữ sức, nên hưởng giấc nghỉ buổi sớm thay vì bao giờ cũng dậy trước tất cả mọi người trong gia trang — Kristin nhận thấy Jofrid nhất quyết phải thức dậy trước mẹ chồng và làm được nhiều việc hơn bà. Nhưng Jofrid không phải người để Kristin có thể tỏ ý thương hại ra mặt. Nàng chỉ có thể lặng lẽ gánh bớt những công việc nặng nhọc nhất cho cô gái, và cả khi riêng tư lẫn trước mặt người nhà, đều đối đãi với cô đúng như với người vợ trẻ đáng lẽ phải có địa vị chính thức trong gia trang.

Frida nổi cơn thịnh nộ vì phải nhường vị trí sát sau bà chủ cho người đàn bà của Gaute — một hôm, khi ở cùng Kristin trong nhà bếp, mụ dùng một lời tục tĩu để gọi Jofrid. Lần ấy, hiếm hoi thay, Kristin đánh người hầu gái của mình:

“— Nghe từ miệng mụ chó già mê đàn ông như ngươi thốt ra những lời ấy, thật đẹp đẽ làm sao!”

Frida lau máu nơi mũi và miệng:

“Những đứa con gái của các đại hào trưởng như bà với con Jofrid ấy chẳng phải nên giữ mình hơn con gái bọn tá điền nghèo hèn sao —. Các người biết chắc mình đã có giường cưới trải lụa chờ sẵn — thế mà vẫn mê đàn ông và trơ trẽn đến mức chẳng chịu đợi, lại lẻn vào rừng với những gã trai trẻ rồi đẻ ra lũ con hoang bụi rậm — ta nhổ vào hạng đàn bà như thế!”

“Im đi — ra ngoài rửa ráy — ngươi đứng đó để máu nhỏ cả vào bột rồi,” bà chủ nói khá điềm tĩnh.

Ngoài cửa, Frida chạm mặt Jofrid. Nhìn người thiếu nữ, Kristin biết cô hẳn đã nghe cuộc đối đáp giữa nàng và người hầu.

“Mụ khốn khổ ấy chỉ biết đến đâu thì nói đến đó. Ta không thể đuổi mụ đi — mụ chẳng còn nơi nào để trở về.” Jofrid cười nhạt, bấy giờ Kristin nói: “Mụ đã nuôi hai đứa con trai của ta khôn lớn.”

“Mụ đâu có nuôi Gaute,” Jofrid đáp. “Cứ chốc chốc mụ lại nhắc cả anh ấy lẫn con nhớ điều đó. Mẹ không thể gả mụ đi được sao?” cô hỏi gay gắt.

Kristin phải bật cười:

“Con tưởng ta chưa từng cố hết sức sao. Nhưng chưa lần nào chuyện đi xa hơn lúc người đàn ông định cưới chịu ngồi nói chuyện với mụ —”

Kristin nghĩ không biết mình có nên nhân cơ hội này nói chuyện với Jofrid hay không — để cô hiểu rằng ở đây cô sẽ chỉ gặp lòng thương yêu của một người mẹ. Nhưng Jofrid trông vừa giận dữ vừa lạnh lùng —.

Trong khi ấy, ai cũng đã thấy rõ Jofrid không còn chỉ có một mình. Rồi một hôm, cô phải nhặt lông để làm những tấm đệm mới. Kristin khuyên cô trùm tóc lại, kẻo lông tơ bay dính đầy tóc. Jofrid buộc một tấm khăn vải lanh lên đầu:

“Giờ thế này hẳn cũng hợp hơn để đầu tóc trần,” cô nói và khẽ cười.

“Có lẽ vậy,” Kristin đáp cụt lủn.

Dẫu vậy, nàng không hiểu Jofrid định nói đùa điều gì.

Vài ngày sau, Kristin bước vào nhà bếp và thấy Jofrid đang làm thịt mấy con gà gô đen — máu đã bắn lên khắp hai cánh tay cô. Kinh hãi, Kristin giật cô sang bên:

“Con ơi, lúc này con không được đụng vào những thứ đẫm máu — đến điều ấy mà con cũng không biết sao —!”

“Ôi, mẹ tin tất cả những điều các bà vẫn nói như thế đều là thật sao?” Jofrid hoài nghi hỏi.

Bấy giờ Kristin kể về những dấu lửa Naakkve mang trên ngực. Nàng cố ý kể sao cho Jofrid hiểu rằng khi đứng nhìn nhà thờ cháy, nàng vẫn chưa thành hôn.

“Con không nghĩ về ta như vậy chứ?” nàng khẽ hỏi.

“Có chứ, Gaute đã kể với con tất cả — cha mẹ đã hứa gả mẹ cho Simon Andressøn, nhưng mẹ bỏ trốn cùng Erlend Nikulaussøn đến nhà dì ruột của ông ấy, rồi Lavrans buộc phải thuận tình —”

“Chuyện không hẳn như vậy — chúng ta không bỏ trốn. Simon giải phóng ta khỏi hôn ước ngay khi hiểu rằng ta yêu Erlend hơn, rồi cha ta mới ưng thuận — miễn cưỡng, nhưng ông vẫn đặt tay ta vào tay Erlend — ta đã sống trong cảnh đính hôn suốt một năm —. Con thấy như thế còn tệ hơn sao?” nàng hỏi, bởi Jofrid đã đỏ bừng mặt và nhìn người kia đầy kinh hãi.

Cô gái dùng dao cạo một ít máu và những mảnh thịt vụn khỏi cánh tay trắng trẻo.

“Vâng,” cô nói nhỏ nhưng hết sức cương quyết. “Con sẽ không phí phạm thanh danh và danh dự khi chẳng có gì buộc mình phải làm thế. — Vâng, con sẽ không kể điều này với Gaute,” cô nói nhanh. “Anh ấy tin rằng cha mình đã dùng vũ lực mang mẹ đi, vì không thể cầu xin mà khiến mẹ thuận theo —”

Có lẽ cô nói đúng, Kristin nghĩ.

Thời gian trôi qua, Kristin càng nghĩ mãi về chuyện này thì càng thấy cách danh chính ngôn thuận nhất là Gaute phải gửi tin cho Helge ở Hovland, giao việc này vào tay ông và xin được cưới Jofrid theo những điều kiện nào mà Helge xét thấy có thể dành cho họ. Nhưng mỗi khi nàng nói chuyện ấy với Gaute, chàng lại cáu kỉnh rồi lảng tránh. Sau cùng, chàng nóng nảy hỏi mẹ có thể làm sao đưa được một bức thư vượt núi giữa mùa đông. Không, nhưng Sira Dag chắc chắn có thể chuyển thư đến Neset rồi từ đó đi tiếp dọc bờ biển, người mẹ nói; các linh mục lúc nào cũng có thể chuyển thư, ngay cả trong mùa đông. Gaute bảo như thế tốn kém quá.

“Vậy thì đứa con con có vào mùa xuân này sẽ không phải do vợ con sinh ra,” người mẹ phẫn nộ nói.

“Dù sao chuyện cũng không thể thu xếp nhanh đến thế,” Gaute đáp. Kristin nhận ra chàng vô cùng giận dữ.

Theo thời gian, một nỗi sợ hãi đen tối và ghê gớm xâm chiếm người mẹ. Nàng không thể không nhận thấy niềm vui nồng nhiệt thuở đầu của Gaute đối với Jofrid đã hoàn toàn biến mất; chàng đi lại với vẻ ủ ê, cau có. Ngay từ đầu, chuyện Gaute cướp cô dâu đã có vẻ tệ hại hết mức — nhưng người mẹ thấy nó sẽ còn tệ hơn nhiều nếu sau đó người đàn ông lại tỏ ra hèn nhát. Nếu đôi trẻ hối hận về tội lỗi của mình thì ấy là điều tốt — nhưng ở đây, mọi sự lại có vẻ xuất phát từ nỗi sợ hèn yếu trước người đàn ông chàng đã xúc phạm nhiều hơn là từ lòng hối cải kính sợ Thiên Chúa. Gaute, đứa con trai mà nàng vẫn luôn cho là tốt nhất — không thể nào những điều người ta nói lại là thật, rằng chàng không đáng tin cậy và nhẹ dạ với đàn bà, rằng giờ đây chàng đã chán Jofrid, khi chính cô dâu đã tàn sắc, nặng nề, và thời khắc chàng phải trả lời với thân tộc nàng về hành vi bạo ngược của mình đang đến gần.

Nàng tìm lời bào chữa cho con trai — chính nàng còn dễ dàng để mình bị quyến rũ đến thế, dù suốt thời niên thiếu chẳng nhìn thấy gì ngoài nếp sống đoan chính của những người mộ đạo —. Các con trai nàng từ thuở nhỏ đã biết mẹ mình từng phạm điều trái đạo, cha chúng thời trai trẻ đã có con với vợ người khác, rồi lại phạm tội cùng một người đàn bà có chồng khi chúng đã là những thiếu niên lớn. Lại còn Ulf Haldorssøn, người cha nuôi của chúng, những lời lẽ phóng đãng của Frida — ôi, chẳng có gì lạ nếu những người trẻ tuổi ấy cũng yếu đuối như vậy —. Gaute phải cưới Jofrid, nếu có thể được thân tộc cô chấp thuận, và còn phải biết ơn vì điều ấy — nhưng thật tội nghiệp cho cô nếu giờ đây cô phải thấy Gaute cưới mình do bị ép buộc, chẳng có chút thiện ý nào.

Một ngày trong mùa Chay, Kristin và Jofrid đang chuẩn bị các túi lương thực cho những người đốn gỗ. Họ đập cá khô cho mỏng và phẳng, ép bơ vào những chiếc hộp, đổ bia và sữa đầy các bình gỗ. Kristin thấy giờ đây việc phải đi đứng suốt như thế khiến Jofrid khổ sở vô cùng, nhưng cô chỉ bực tức khi Kristin bảo ngồi xuống nghỉ. Muốn làm cô vui đôi chút, Kristin chợt nhớ ra và hỏi — chuyện con ngựa giống mà Gaute được cho là đã thuần hóa bằng dải ruy băng tết tóc của một trinh nữ: “Thứ ấy là của con, phải không?”

“Không,” Jofrid giận dữ đáp và đỏ bừng mặt. Nhưng rồi cô đổi giọng:

“Là của Aasa — chị con,” cô vừa nói vừa cười. “Thoạt đầu Gaute ve vãn chị ấy, nhưng khi con trở về nhà, anh ấy không còn biết mình thích ai trong hai chị em hơn. Nhưng chính Aasa mới là người anh ấy chờ sẽ đến ở với Dagrun vào mùa hè ấy, khi anh xuống Sogn. Rồi anh ấy tức giận khi con trêu về chị — thề trước Thiên Chúa và mọi người rằng anh ấy không phải hạng người xâm phạm con gái nhà tử tế, và giữa anh ấy với Aasa chưa hề có chuyện gì khiến đêm đó anh ấy không thể nằm trên cánh tay con mà không phạm tội, anh ấy nói vậy. Con bắt anh ấy giữ đúng lời —” cô lại cười. Thấy vẻ mặt Kristin, cô bướng bỉnh gật đầu.

“Vâng, con muốn Gaute làm chồng, và mẹ cứ tin đi, con sẽ có được anh ấy. Phần lớn mọi chuyện rồi đều diễn ra theo ý con —.”

Kristin tỉnh giấc giữa bóng tối đen đặc. Giá lạnh cắn vào má và mũi nàng — khi nàng kéo tấm chăn da lên cao hơn, nàng cảm thấy nó đã phủ sương giá vì hơi thở của mình. Chắc trời đã gần sáng — nhưng nàng ngại phải ngồi dậy nhìn ra các vì sao. Nàng cuộn tròn cả người dưới tấm chăn da để sưởi ấm thêm một lúc. Ngay khi ấy nàng nhớ lại giấc mơ.

Nàng thấy mình nằm trên giường trong căn nhà nhỏ dưới Husaby và vừa sinh một đứa trẻ. Nó nằm trên cánh tay nàng, quấn trong tấm da cừu đã tuột ra, há rộng để lộ thân hình bé nhỏ đỏ sẫm — hai bàn tay bé xíu nắm chặt trước mặt, hai đầu gối co lên sát bụng dưới và hai bàn chân bắt chéo — thỉnh thoảng nó lại khẽ cựa mình. Nàng không hề nghĩ đến chuyện lấy làm lạ vì đứa bé chưa được quấn tã và không có người đàn bà nào ở trong phòng với họ. Hơi ấm của nàng vẫn bao bọc đứa trẻ khi nó nằm sát bên nàng như thế; qua cánh tay mình, nàng vẫn cảm nhận tận sâu trong cội rễ trái tim mỗi lần đứa trẻ cựa quậy. Mệt mỏi và đau đớn vẫn phủ bóng lên nàng như một màn tối đang dần tan, trong khi nàng nằm nhìn con trai và cảm thấy niềm vui vì đứa trẻ cùng tình yêu dành cho nó không ngừng lớn lên, như ánh rạng đông lan dần theo triền núi —.

Nhưng đồng thời với lúc nằm trên giường, nàng cũng đang đứng ngoài kia, sau vách nhà. Bên dưới nàng, thung lũng bừng sáng trong nắng mai. Đó là một ngày đầu xuân vẫn còn hơi đông — nàng uống đầy lồng ngực luồng không khí sắc lạnh và tươi mới — gió rét buốt, nhưng trong đó có vị của biển ngoài xa và của tuyết đang tan: những dãy đồi nằm ngang thung lũng dưới nắng sớm, quanh các gia trang đã có những khoảng đất sạch tuyết, còn lớp tuyết đóng váng trắng lên, sáng bạc trong mọi khoảng quang giữa những cánh rừng xanh thẫm. Bầu trời như vừa được quét sạch, vàng trong và xanh nhợt, chỉ có vài đám mây tối bị gió cuốn trôi ngoài xa — nhưng trời lạnh; nơi nàng đứng, đụn tuyết vẫn cứng như đá sau đêm băng giá, và giữa những ngôi nhà còn đọng bóng râm lạnh lẽo, bởi mặt trời vừa nhô khỏi dãy đồi phía đông gia trang. Ngay trước mặt nàng, nơi bóng râm chấm dứt, gió sớm lay động lớp cỏ nhợt nhạt từ năm trước, khiến nó rung rinh và lấp lánh, nhưng một lớp băng sáng như thép vẫn khóa chặt lấy rễ cỏ.

Ôi — ôi. Tiếng than bật ra khỏi ngực nàng trái với ý muốn. Nàng vẫn còn Lavrans bên mình — nàng nghe hơi thở đều đặn của cậu bé từ chiếc giường bên kia. Và Gaute — chàng nằm trên căn gác này với nhân tình của mình. Người mẹ lại thở dài, bồn chồn cựa mình, và con chó già của Erlend dịch đến sát đôi chân co lại của nàng dưới chăn đệm.

Giờ nàng nghe thấy Jofrid đã dậy và đang đi lại trên sàn. Kristin vội bò ra khỏi giường, xỏ chân vào đôi ủng lót lông, mặc chiếc váy vải thô và áo da lên người. Trong bóng tối, nàng lần đến lò sưởi, ngồi xổm xuống thổi và bới tro, nhưng chẳng còn lấy một tia lửa nhỏ — mồi lửa đã tắt trong đêm.

Nàng moi thanh thép đánh lửa khỏi túi đeo thắt lưng, nhưng bùi nhùi hẳn đã bị ẩm rồi đóng băng. Cuối cùng nàng không buồn vật lộn thêm nữa, bèn cầm chảo than lên gác xin lửa chỗ Jofrid.

Một ngọn lửa tốt đang cháy trong chiếc lò nhỏ, soi sáng khắp gian phòng. Dưới ánh lửa chập chờn, Jofrid ngồi khâu chiếc khóa đồng cho chắc hơn vào áo da tuần lộc của Gaute. Phía bên kia, trong khoảng tranh tối tranh sáng quanh giường, nàng trông thấy phần thân trên để trần của người đàn ông — Gaute ngủ không mặc áo lót ngay cả khi trời rét nứt da. Chàng đã ngồi dậy và được mang bữa sáng đến tận giường.

Jofrid đứng dậy, nặng nề mà đường bệ như một bà chủ nhà — mẹ có muốn uống một ngụm bia không? Cô đã hâm nóng thức uống buổi sáng cho Gaute. Và mẹ hãy mang bình này xuống cho Lavrans — hôm nay cậu sẽ cùng Gaute vào rừng đốn gỗ. Trời sẽ lạnh lắm đối với cánh đàn ông —.

Kristin bất mãn mím môi khi đứng dưới phòng mình và nhóm lửa trong lò. Dáng Jofrid thạo việc nhà, Gaute nằm đó công khai để nhân tình hầu hạ — sự chăm sóc của người đàn bà không hôn thú dành cho người thân thuộc bất hợp pháp của mình — tất cả đều khiến nàng thấy trơ trẽn và ghê tởm —.

Lavrans ở lại trong rừng, còn Gaute trở về nhà lúc chiều tối, mệt lả và đói ngấu. Sau khi đám gia nhân đi ra, những người đàn bà còn ngồi lại một lúc để chuyện trò cùng chủ nhà trong khi chàng uống.

Kristin thấy tối nay Jofrid không được khỏe. Cứ chốc chốc cô lại để món đồ đang khâu rơi xuống lòng, những cơn co thắt đau đớn lướt qua mặt.

“Con đau sao, Jofrid?” Kristin khẽ hỏi.

À, hơi đau một chút — ở bàn chân và hai cẳng chân, cô gái đáp. Suốt ngày cô vẫn làm lụng như thường lệ và không chịu giữ sức. Giờ cô đã lên cơn đau thắt, hai chân lại sưng phù.

Bỗng những giọt lệ nhỏ ứa ra dưới hàng mi Jofrid. Kristin chưa từng thấy một người đàn bà nào khóc lạ lùng đến thế—không một tiếng động, nàng ngồi nghiến chặt răng, những giọt lệ tròn, trong veo—Kristin thấy chúng trông _cứng_ như ngọc trai—nhảy xuống khuôn mặt hốc hác, lốm đốm nâu. Jofrid có vẻ giận dữ vì đã phải chịu thua; nàng miễn cưỡng để Kristin dìu về giường.

Gaute đi theo vào:

“Em đau lắm sao, Jofrid của anh?” chàng hỏi một cách vụng về. Mặt chàng đỏ rực vì giá lạnh, và chàng nhìn khổ sở thật lòng khi thấy mẹ đặt Jofrid nằm cho dễ chịu, cởi giày, cởi tất cho nàng rồi bắt đầu chăm sóc đôi bàn chân và bắp chân sưng phù. “Em đau lắm sao, Jofrid của anh?” chàng cứ hỏi mãi.

“Phải,” Jofrid nói khẽ, giận dữ đến nghiến răng. “Anh tưởng nếu không đau thì em lại ra thế này sao?”

“Em đau lắm sao, Jofrid của anh—” chàng lại hỏi.

“Con thấy rồi còn gì—đừng đứng đó há miệng như thằng mất trí nữa!” Kristin quay phắt lại phía con trai, mắt bà tóe lửa. Cái khối nặng nề kết bằng nỗi lo sợ cho kết cục của mọi chuyện, bằng sự sốt ruột vì phải chịu đựng cuộc sống vô phép tắc của bọn trẻ ngay tại gia trang mình, bằng nỗi hoài nghi gặm nhấm đối với khí phách của con trai—tất cả bùng vỡ thành cơn thịnh nộ: “Mày là giống súc vật đến nỗi tưởng cô ấy có thể đang _dễ chịu_ hay sao—cô ấy thấy mày chẳng đáng mặt đàn ông đến mức không dám vượt núi chỉ vì trời nổi gió, đổ tuyết—. Mày biết chẳng bao lâu nữa người đàn bà khốn khổ này sẽ phải bò trên đầu gối, quằn quại trong những cơn đau dữ dội nhất—và con cô ấy sẽ bị gọi là con hoang, bởi mày không dám đi gặp cha cô ấy—mày chỉ ngồi sưởi ghế trong phòng, không dám động một ngón tay để bảo vệ người đàn bà của mày và đứa con mày sắp có—. Cha _mày_ chẳng sợ cha ta đến mức không dám tìm đến nói chuyện với ông, cũng chẳng sợ rét đến mức không dám mang ván trượt vượt núi giữa mùa đông. Nhục cho mày, Gaute—và khốn cho ta phải sống đến ngày gọi một trong những đứa con trai Erlend đã sinh với ta là kẻ hèn nhát!”

Gaute túm lấy chiếc ghế đẽo từ khúc gỗ bằng cả hai tay, nện nó xuống sàn, lao đến bàn và quét sạch mọi thứ trên đó. Rồi chàng xăm xăm ra cửa, còn đá chiếc ghế một cú từ biệt—họ nghe chàng vừa chạy lên cầu thang gác vừa chửi rủa.

“Không, mẹ ạ—vừa rồi mẹ quá nghiệt với Gaute—” Jofrid chống khuỷu tay nhổm dậy. “Mẹ không thể nào đòi hỏi anh ấy liều mạng vượt núi giữa mùa đông—chỉ để tìm cha con và hỏi xem ông sẽ gả cô dâu bị quyến rũ này cho anh ấy với đúng chiếc áo lót nàng mặc khi bị bắt đi làm của hồi môn, hay sẽ buộc anh ấy thành kẻ ngoài vòng pháp luật phải rời khỏi xứ—”

Những đợt sóng phẫn nộ vẫn dâng trào trong lòng Kristin. Bà kiêu hãnh đáp:

“Dù sao ta cũng không tin _con trai ta_ lại có thể nghĩ như thế!”

“Không,” Jofrid nói, “—nếu anh ấy không có con nghĩ hộ như thế—” Thấy vẻ mặt Kristin, tiếng cười rỉ vào giọng nàng:

“Mẹ thân yêu—con đã vất vả đủ để ghìm Gaute lại rồi—giờ con không muốn anh ấy vì con mà làm thêm những chuyện điên rồ, khiến con cái chúng con mất phần của cải con có thể được thừa hưởng từ họ hàng, nếu Gaute đạt được một cuộc hòa giải tốt đẹp và danh giá nhất cho tất cả chúng ta—”

“Ý con là sao?” Kristin hỏi.

“Ý con là khi họ hàng con tìm đến Gaute, ngài Sigurd sẽ ra gặp họ để họ hiểu rằng Gaute không phải người không thân thích. Anh ấy phải chịu nộp đủ tiền bồi thường, nhưng sau đó cha con sẽ phải hứa gả con cho Gaute, để con lại được quyền cùng các chị em gái thừa kế gia sản của ông—”

“Vậy chính con cũng không phải vô can,” Kristin hỏi, “trong việc con sẽ không thành hôn trước khi đứa trẻ chào đời hay sao?”

“Con đã bỏ nhà trốn theo Gaute như thế—. Chắc chẳng ai tin đêm đêm anh ấy đặt một thanh gươm tuốt trần trên giường giữa hai chúng con—.”

“Cậu ấy hoàn toàn không dò hỏi ý họ hàng con về chuyện cưới con sao?” Kristin hỏi.

“Không, chúng con biết việc ấy sẽ vô ích, dù Gaute có giàu hơn bây giờ nhiều đi nữa.” Jofrid lại bật cười. “Mẹ xem, cha con tưởng ông hiểu chuyện mua bán ngựa hơn hết thảy đàn ông trên đời. Nhưng kẻ nào định lừa Gaute Erlendssøn trong một vụ đổi ngựa thì phải tinh ranh hơn cha con nhiều—”

Dù lòng nặng trĩu, Kristin cũng không thể không mỉm cười.

“Ta không biết thật tường tận luật lệ trong những vụ thế này,” bà nghiêm nghị nói, “nhưng ta không chắc Gaute sẽ dễ dàng đạt được một cuộc hòa giải mà con cho là tốt đâu, Jofrid. Nếu Gaute bị tuyên là kẻ ngoài vòng pháp luật—còn cha con đưa con về nhà, bắt con nếm cơn thịnh nộ của ông—hoặc ông đòi con phải vào tu viện mà đền tội—”

“Ông không thể đưa con vào tu viện nếu không ban cho con những lễ vật hậu hĩnh đến mức hòa giải với Gaute và nhận tiền bồi thường sẽ ít tốn kém, lại danh giá hơn: mẹ hiểu đấy, khi gả con đi ông sẽ không phải bỏ của cải ra. Còn chuyện con được cùng các chị em gái hưởng thừa kế, con nghĩ cha muốn để phần ấy cho Olav, anh rể con. Nếu không thì họ hàng con cũng sẽ phải nhận nuôi cả đứa trẻ này. Và con nghĩ cha sẽ cân nhắc hai lần trước khi thử đưa con về Hovland cùng một đứa con ngoài giá thú—để bắt con nếm cơn thịnh nộ của ông—ông biết _con_ mà—

—Con cũng chẳng biết luật lệ bao nhiêu, nhưng con biết cha con và con biết Gaute. Giờ đã qua lâu đến mức vụ này khó lòng được đưa ra phân xử trước khi chính con lại nhẹ nhõm, khỏe khoắn; đến lúc ấy, mẹ sẽ không thấy con khóc đâu! Không, Gaute nhất định sẽ hòa giải được với những điều kiện như—.

Không đâu, mẹ—Gaute là hậu duệ của cả hành khất lẫn vua chúa—còn mẹ xuất thân từ những dòng họ cao quý nhất trong xứ: nếu mẹ đã phải chịu cảnh các con trai mình tụt khỏi địa vị mà họ sinh ra vốn phải đứng vào, thì mẹ sẽ lại được thấy con cháu mình hưng thịnh nơi những đứa con của Gaute và con—”

Kristin ngồi im lặng. Rất có thể mọi chuyện sẽ diễn ra đúng như Jofrid muốn—bà hiểu mình chẳng cần phải lo lắng cho nàng nhiều đến thế. Giờ mặt Jofrid đã gầy rộc—nét tròn mềm mại nơi má hoàn toàn tiêu biến, bởi vậy càng lộ rõ bộ hàm dưới to lớn, khỏe mạnh của nàng.

Jofrid ngáp, gượng ngồi dậy rồi nhìn quanh tìm giày tất. Kristin giúp nàng mang vào. Jofrid cảm ơn bà:

“Và giờ mẹ đừng chọc giận Gaute thêm nữa. Chính anh ấy cũng chẳng nhẹ lòng gì vì chúng con không thể thành hôn trước khi đứa trẻ ra đời—nhưng con không muốn làm con mình nghèo đi ngay cả trước lúc nó được sinh ra—”

Mười bốn ngày sau, Jofrid sinh một bé trai lớn và đẹp đẽ; ngay hôm ấy Gaute sai người đưa tin đến Sundbu. Ngài Sigurd lập tức tới Jørundgaard và đỡ đầu Erlend Gautessøn trong lễ rửa tội. Nhưng dù Kristin Lavransdatter vui mừng biết bao vì đứa cháu nội, bà vẫn đau lòng vì cái tên Erlend lần đầu được đặt lại cho một đứa trẻ ngoài giá thú.

“Cha con đã liều lĩnh hơn để giành quyền chính đáng cho con trai mình,” một tối bà nói với Gaute, khi chàng ngồi dưới phòng dệt nhìn bà sửa soạn cho đứa trẻ ngủ đêm. Jofrid đã ngủ say trên giường. “Tình yêu của cha con đối với ngài Nikulaus già cũng có giới hạn, nhưng hẳn ông ấy chẳng bao giờ coi nhẹ cha mình đến mức lấy tên ông đặt cho một đứa con trai không sinh trong hôn phối.”

“Không phải Orm—tên ấy lấy theo ông ngoại sao?” Gaute hỏi. “—Thôi được, mẹ, có lẽ con nói thế không được hiếu thuận lắm. Nhưng mẹ cũng phải hiểu rằng khi cha chúng con còn sống, anh em chúng con đều nhận thấy lúc ấy mẹ đâu cho rằng cha có thể làm gương cho chúng con trong mọi việc—còn bây giờ sớm tối mẹ đều nhắc đến cha, gần như thể ông là một vị thánh thực sự—. Mẹ phải biết chúng con biết cha không phải như vậy. Tất cả chúng con sẽ tự hào vào ngày mình lớn đạt đến tầm vóc của cha—đến ngang vai người—chúng con nhớ cha từng là một thủ lĩnh, một trang nam nhi vượt trên mọi người về những đức tính tô điểm cho đàn ông hơn cả—nhưng mẹ không thể khiến chúng con tin cha là chàng trai hiền lành, đoan chính nhất trong phòng các phu nhân, hay là người nông dân giỏi giang nhất—

—Dẫu vậy, chẳng ai cần cầu mong điều gì tốt hơn cho con, Erlend của cha, ngoài việc con sẽ noi giống ông!” Chàng bế đứa trẻ vừa được quấn tã xong lên, ghé cằm sát khuôn mặt nhỏ đỏ hồng trong lớp len sáng màu: “Chàng trai tài giỏi và đầy hứa hẹn này, Erlend Gautessøn ở Jørundgaard—con hãy nói lại với bà nội rằng _con_ không sợ cha con sẽ phụ bạc con—” Chàng làm dấu thánh giá trên mình đứa trẻ rồi đặt nó trở lại lòng Kristin, sau đó đến bên giường nhìn người mẹ trẻ đang ngủ:

“Jofrid của con khỏe hết mức có thể rồi, mẹ bảo thế phải không? Nàng trông xanh xao—nhưng mẹ hẳn hiểu những chuyện này hơn—hãy ngủ ngon trong bình an của Thiên Chúa!”

Đúng một tháng sau ngày đứa trẻ chào đời, Gaute mở một tiệc rửa tội lớn, họ hàng chàng từ những miền xa xôi đều tụ hội về. Kristin đoán Gaute đã triệu họ đến đây để bàn bạc về hoàn cảnh của mình—giờ đã sang xuân, hẳn chàng sắp phải chờ tin từ họ hàng Jofrid.

Kristin được hưởng niềm vui thấy Ivar và Skule cùng nhau trở về nhà. Các anh em họ của bà cũng tới: Sigurd Kyrning, người đã cưới con gái bác bên nội của bà ở Skog, Ivar Gjesling ở Ringheim và Haavard Trondssøn. Bà chưa gặp những người con trai nhà Trond kể từ khi Erlend kéo người Sundbu theo mình vào tai họa. Giờ họ đã là những người đàn ông đứng tuổi: xưa nay họ vẫn vô tư, nông nổi, nhưng dũng cảm và hào hiệp, và họ chẳng thay đổi mấy—họ gặp các con trai Erlend cùng người anh em họ và người kế nghiệp mình ở Sundbu, hiệp sĩ Sigurd, với thái độ thân tộc cởi mở, quang minh. Giờ bia và rượu mật tuôn thành dòng để tôn vinh Erlend bé nhỏ; Gaute và Jofrid đón tiếp khách khứa hiên ngang như thể họ đã thành hôn và chính nhà vua từng lo liệu lễ cưới cho họ—ai nấy đều vui vẻ, dường như không một người nào nghĩ rằng danh dự và phúc lợi của đôi trẻ vẫn đang bị đặt cược. Nhưng Kristin biết Jofrid không quên điều ấy:

“Họ gặp cha con càng vui vẻ và đường bệ bao nhiêu, ông càng dễ nhượng bộ bấy nhiêu,” nàng nói. “Mà Olav Piper thì chẳng bao giờ giấu nổi rằng ông ta thích được ngồi cùng ghế với những người thuộc các dòng họ lâu đời.”

Người duy nhất dường như không thật sự thoải mái trong cuộc tụ họp thân tộc này là ngài Jammælt Halvardssøn. Vào lễ Giáng sinh vừa rồi, vua Magnus đã phong ông làm hiệp sĩ; Ramborg Lavransdatter nay đã được gọi là phu nhân.

Lần này ngài Jammælt đưa theo Andres Simonssøn, người con riêng lớn nhất của vợ. Kristin đã xin ông làm vậy trong chuyến ông lên miền bắc lần trước, bởi bà nghe lời đồn rằng cậu bé có điều khác thường. Bấy giờ bà sợ hãi khủng khiếp—biết đâu tâm hồn hay thân thể cậu đã chịu tổn hại bởi việc bà từng làm với cậu khi cậu còn nhỏ. Nhưng cha dượng cậu bảo không, cậu bé khỏe mạnh, cường tráng, tốt như vàng—và có lẽ còn sáng trí hơn phần đông người đời—chỉ có điều cậu nhìn thấy những việc người khác không thấy: đôi lúc cậu như bị cuốn khỏi thế gian, và sau đó thường làm những chuyện kỳ lạ—như năm ngoái: một hôm cậu lấy chiếc thìa bạc của mình—chính là chiếc Kristin đã tặng làm quà mừng sinh—cùng một chiếc khuy áo sơ mi thừa hưởng từ cha, rồi rời gia trang, đi xuống cây cầu bắc qua sông trên đường cái gần Ælin. Cậu ngồi đó nhiều giờ chờ đợi—rồi ba người nghèo đi qua cầu, một ông lão hành khất và một phụ nữ trẻ bế theo đứa con thơ. Andres đến gặp họ, trao những vật quý ấy cho họ rồi xin được bế đứa trẻ giúp người phụ nữ. Ở nhà, mọi người cuống cuồng lo sợ khi Andres không về vào bữa ăn, đến tối cũng vẫn bặt tăm—họ đổ đi tìm, cuối cùng Jammælt dò hỏi được rằng Andres đã bị trông thấy ở rất xa về phía bắc, trong vùng lân cận, đi cùng mấy người được gọi là Krepp và Kraaka; cậu đang bế con cho họ. Cuối cùng, đến hôm sau, khi Jammælt tìm được cậu, Andres mới kể rằng Chủ nhật trước, trong thánh lễ, lúc đứng ngắm bức họa trên tấm bảng trước bàn thờ, cậu đã nghe thấy một giọng nói. Bức họa vẽ Đức Mẹ và Thánh Giuse đem Hài nhi trốn sang đất Ai Cập, và cậu đã ước mình được sống vào thời ấy, vì khi đó cậu sẽ xin đi theo họ và bế Hài nhi giúp Đức Trinh Nữ Maria. Bấy giờ cậu nghe một giọng nói, dịu dàng và ngọt ngào nhất thế gian, hứa sẽ cho cậu thấy một dấu chỉ nếu cậu đến cầu Bjerkheim vào một ngày đã định—.

Ngoài ra Andres không thích nói về những thị kiến của mình—bởi linh mục xứ đạo bảo đó hẳn một phần là chuyện bịa, một phần là mê sảng và rối loạn tâm trí; còn mẹ cậu thì bị lối cư xử khác thường ấy dọa cho kinh hãi hơn hết. Nhưng cậu trò chuyện với một bà lão tôi tớ rất mộ đạo và với một tu sĩ giảng thuyết thường đi qua vùng này vào Mùa Chay và Mùa Vọng. Có lẽ cậu bé rồi sẽ chọn đời tu trì—vậy hẳn về sau Simon Simonssøn sẽ là người đến lập nghiệp ở Formo. Simon là một đứa trẻ khỏe mạnh, hoạt bát, rất giống cha và là con cưng của Ramborg.

Ramborg và Jammælt vẫn chưa có con chung; Kristin nghe những người từng gặp em gái bà ở Raumarike nói rằng nàng đã trở nên rất béo và lười nhác. Nàng giao du với những người giàu sang, quyền thế nhất miền nam, nhưng tuyệt nhiên không chịu trở về quê nhà phía bắc, và Kristin chưa gặp người em gái duy nhất kể từ ngày họ chia tay ở Formo. Nhưng Kristin tin rằng mối oán giận Ramborg dành cho bà vẫn không hề đổi khác. Nàng sống thuận hòa với Jammælt, và ông chăm lo cho phúc lợi của các con riêng của vợ bằng tình thương trìu mến. Ông đã thỏa thuận rằng con trai trưởng của người sẽ trở thành kẻ thừa kế chính của ông nếu ông chết mà không có con phải đính hôn với Ulvhild Simonsdatter; như vậy ít nhất con gái Simon Darre cũng sẽ được hưởng gia sản của ông sau khi ông mất. Arngjerd đã kết hôn với Grunde ở Eiken vào năm sau khi cha nàng qua đời; Gyrd Darre và Jammælt đã ban cho nàng của hồi môn hậu hĩnh đúng như họ biết Simon từng mong dành cho đứa con này, và nàng sống sung sướng, Jammælt nói—Grunde để vợ dẫn dắt trong mọi việc, và họ đã có ba đứa con xinh đẹp.

Kristin xúc động một cách lạ lùng khi gặp lại người con trai lớn của Simon và Ramborg. _Cậu_ là hình bóng sống của Lavrans Bjørgulfssøn—còn giống hơn cả Gaute. Và trong những năm gần đây, Kristin đã buộc phải từ bỏ niềm tin rằng tính khí Gaute sẽ giống cha bà đến thế.

Andres Darre giờ chừng mười hai tuổi, cao và mảnh dẻ, tóc sáng, đẹp trai, tính tình hơi trầm lặng, dù cậu có vẻ khỏe mạnh, vui tươi, thân thể cường tráng và ăn uống ngon miệng, chỉ có điều cậu không chịu ăn thịt. Ở cậu có điều gì đó khiến cậu khác biệt với những đứa con trai khác, nhưng Kristin không thể nói được đó là _điều gì_, dù bà quan sát cậu rất kỹ. Andres trở nên thân thiết với người dì, nhưng cậu không bao giờ nhắc đến những thị kiến của mình và cũng không rơi vào trạng thái xuất thần trong thời gian ở Sil.

Bốn người con trai của Erlend dường như đều vui thích với những ngày sum họp tại gia trang của mẹ, nhưng Kristin không nói chuyện được bao nhiêu với các con. Khi họ trò chuyện với nhau, bà cảm thấy cuộc sống và phúc lợi của họ giờ đã trôi ra ngoài tầm mắt mình—hai người từ nơi khác trở về đã tách khỏi mái nhà, còn hai người ở lại gia trang hẳn đang dần giành quyền cai quản khỏi tay bà. Cuộc tụ họp rơi đúng vào thời kỳ khan hiếm đầu xuân, và giờ bà thấy Gaute hẳn đã chuẩn bị đón khách bằng cách dè sẻn thức ăn gia súc suốt mùa đông hơn mọi năm; chàng cũng đã vay thêm thức ăn từ ngài Sigurd—nhưng chàng thu xếp tất cả mà không hỏi ý bà. Và mọi cuộc bàn bạc về vụ việc của Gaute dường như đều diễn ra ngay trên đầu bà, dù bà ngồi trong phòng cùng những người đàn ông.

Vì vậy bà không lấy làm ngạc nhiên lắm khi một hôm Ivar đến nói rằng Lavrans sẽ theo chàng về Rognheim.

Song một hôm Ivar Erlendssøn nói với mẹ rằng chàng cho là khi Gaute lấy vợ, bà nên dọn đến ở với chàng tại Rognheim: “Con tin Signe là nàng dâu dễ chung nhà hơn — mà bảo mẹ trao quyền cai quản nơi đây, nơi mẹ đã quen định đoạt mọi việc, thì không thể nào là chuyện dễ dàng.” Nhưng ngoài điều ấy ra, chàng xem ra cũng ưa Jofrid, cũng như tất cả những người đàn ông khác. Chỉ có ngài Jammælt dường như nhìn nàng lạnh nhạt hơn đôi chút.

Kristin ngồi ôm đứa cháu nội bé bỏng trong lòng và nghĩ rằng ở nơi nào hẳn cũng chẳng dễ dàng. Già đi thật khó. Mới đây thôi, nàng còn tưởng chính mình là người đàn bà trẻ — chính quanh số phận nàng mà những cuộc tranh chấp và bàn định của đàn ông dậy sóng. Giờ nàng đã bị dạt vào một vùng nước quẩn bên bờ. Và cách đây chưa bao lâu, những đứa con trai của nàng cũng từng như đứa bé này. Nàng nhớ lại giấc mơ về đứa trẻ sơ sinh —. Trong những ngày ấy, ý nghĩ về mẹ mình thường trỗi dậy trong nàng — nàng không nhớ gì về mẹ ngoài hình ảnh một người đàn bà đã luống tuổi, nặng sầu. Nhưng mẹ nàng cũng từng trẻ, khi bà nằm ủ ấm nàng bằng hơi ấm thân thể mình; mẹ nàng cũng đã bị việc mang nặng đẻ đau ghi dấu lên cả thể xác lẫn tâm hồn từ thuở thanh xuân, và chắc khi ngồi ôm sinh linh non trẻ ngọt ngào bên ngực, bà cũng chẳng nghĩ hơn Kristin rằng chừng nào hai mẹ con còn sống, mỗi ngày trôi qua sẽ đưa đứa con xa dần, xa dần khỏi lòng bà.

“Khi nào chính con đã sinh con, Kristin, mẹ cứ ngỡ con sẽ hiểu,” có lần mẹ nàng đã nói. Giờ nàng hiểu rằng tâm hồn mẹ mình đã kín những vết khắc của ký ức về con gái, ký ức về bao ý nghĩ dành cho đứa con từ khi nó còn chưa chào đời và suốt những năm tháng mà chính đứa trẻ chẳng nhớ được gì, ký ức về những nỗi sợ, niềm hy vọng và giấc mơ mà con cái không bao giờ biết đã từng có người sợ hãi, hy vọng và mơ ước cho mình, cho đến khi chính thời của chúng đến, và chúng cũng âm thầm sợ hãi, hy vọng, mơ ước —.

Sau cùng, họ hàng tản ra, một số đến ở với Jammælt tại Formo, một số theo Sigurd sang Vaagaa. Nhưng rồi một hôm, hai tá điền của Gaute từ phía nam thung lũng thúc ngựa phi vào gia trang: quan cai hạt đang trên đường lên phía bắc để tìm Gaute tại nhà, và cha cùng họ hàng của cô gái đều đi theo ông ta. Lavrans trẻ tuổi chạy thẳng ra chuồng ngựa —. Tối hôm sau, Jørundgaard trông như nơi tụ quân: tất cả họ hàng của Gaute đều có mặt cùng những gia nhân mang vũ khí, và bạn hữu chàng trong vùng cũng đã kéo đến.

Thế rồi Helge ở Hovland dẫn theo một đoàn đông người tới đòi công lý đối với kẻ cướp con gái mình. Kristin thoáng thấy Helge Duk khi ông cưỡi ngựa vào sân, sóng hàng với ngài Paal Sørkvessøn, chính viên quan cai hạt. Cha Jofrid là một người trông già trước tuổi, cao, lưng còng, nom ốm yếu — lúc xuống ngựa ông bước khập khiễng. Chồng của chị nàng, Olav Piper, thấp, bè ngang và chắc nịch, da cùng tóc đều đỏ.

Gaute bước ra đón họ, chàng đứng thẳng, dáng đẹp đẽ — và sau lưng chàng là cả đội ngũ họ hàng, bè bạn; họ đứng thành nửa vòng tròn trước bậc thang lên nhà gác cao, ở giữa là hai vị lớn tuổi mang hàng hiệp sĩ, ngài Sigurd và ngài Jammælt. Kristin và Jofrid nhìn cuộc gặp từ chái gian dệt, nhưng họ không nghe được những lời đôi bên nói với nhau.

Những người đàn ông lên nhà gác, còn hai người đàn bà quay vào gian dệt. Họ không sao nói chuyện với nhau được. Kristin ngồi bên bếp lửa; Jofrid đi đi lại lại trên sàn, bế con trong tay. Một lúc lâu trôi qua như thế — rồi Jofrid quấn một tấm chăn quanh thằng bé và bế nó ra ngoài. Khoảng một giờ sau, Jammælt Halvardssøn vào gặp chị vợ đang ngồi một mình và báo cho nàng biết kết quả.

Gaute đã đề nghị trả Helge Duk mười sáu mác vàng cho danh dự của Jofrid và hành vi dùng vũ lực của chàng sau đó — cũng đúng bằng khoản bồi thường mà anh trai Helge đã nhận cho mạng sống của con mình. Chàng sẽ hỏi cưới Jofrid từ tay cha nàng, trao phần tặng cưới và quà sáng tân hôn cho xứng đáng; đổi lại, Helge phải hoàn toàn giảng hòa với chàng và con gái, để nàng được nhận phần của hồi môn như các chị em mình và được cùng họ hưởng quyền thừa kế. Thay mặt họ hàng Gaute, ngài Sigurd đứng ra bảo đảm chàng sẽ giữ đúng thỏa thuận. Helge Duk thoạt tiên có vẻ sẵn lòng chấp nhận đề nghị ấy, nhưng hai người con rể của ông, Olav Piper và Nerid Kaaressøn — người đã đính hôn với Aasa — lên tiếng phản đối, cho rằng Gaute hẳn là kẻ trơ tráo nhất trong thiên hạ mới dám tự mình đặt điều kiện cho cuộc hôn nhân với một thiếu nữ mà chàng đã làm nhục khi nàng đang ở nhà anh rể, rồi sau đó lại cưỡng bắt đem đi — lại còn đòi cho nàng được cùng các chị em hưởng quyền thừa kế.

Jammælt nói, ai cũng dễ dàng nhận ra rằng chính Gaute chẳng thích thú gì việc phải mặc cả cái giá để cưới một thiếu nữ danh giá mà chàng đã dụ dỗ và nay đã sinh cho chàng một đứa con trai. Nhưng chàng đã thuộc cả bài học lẫn bài diễn từ, nên không cần phải đọc chúng từ sách; điều ấy cũng chẳng khó nhận ra.

Ngay giữa lúc họ đang bàn chuyện, còn bạn hữu đôi bên cố sức hòa giải, Jofrid bế đứa trẻ bước vào. Khi ấy cha nàng suy sụp, không sao cầm được nước mắt. Và rồi mọi việc được định đoạt theo ý nàng.

Rõ ràng Gaute không bao giờ có thể trả nổi khoản bồi thường ấy, nhưng phần hồi môn của Jofrid được ấn định sao cho hai bên vừa khít bù trừ cho nhau. Bởi vậy, kết quả thực sự của cuộc dàn xếp là Gaute lấy Jofrid mà chẳng nhận thêm cùng nàng bao nhiêu ngoài những thứ nàng đã mang trong các bao khi tới gia trang; còn chàng lập văn thư trao cho nàng phần lớn những gì mình sở hữu làm quà cưới và quà sáng tân hôn, và các anh em chàng đều thuận theo. Nhưng một ngày kia chàng sẽ nhận được của cải lớn nhờ nàng — dĩ nhiên nếu cuộc hôn nhân không hóa ra son sẻ, Ivar Gjesling cười nói, và những người đàn ông cùng cười theo; nhưng Kristin đỏ bừng mặt, vì Jammælt đang ngồi đó nghe hết những lời đùa cợt thô tục lúc bấy giờ.

Ngày hôm sau, Gaute Erlendssøn làm lễ đính hôn với Jofrid Helgesdatter, rồi nàng làm lễ vào nhà thờ với mọi danh dự như thể nàng đã là một người vợ — cha Dag nói giờ đây nàng có quyền được như vậy. Sau đó nàng cùng đứa trẻ đến Sundbu và ở dưới sự che chở của ngài Sigurd cho tới ngày cưới.

Hôn lễ được cử hành đúng một tháng sau, ngay sau lễ Thánh Gioan; vừa đẹp đẽ vừa trọng thể. Sáng hôm sau, Kristin Lavransdatter long trọng trao chùm chìa khóa cho con trai, và Gaute cài chùm chìa khóa ấy vào thắt lưng vợ mình.

Sau đó ngài Sigurd Eldjarn mở một đại tiệc tại Sundbu, và tình thân hữu giữa ông với những người anh em họ, vốn là các chủ cũ của Sundbu, được long trọng thề nguyền và đóng ấn. Ngài Sigurd rộng tay phân phát những vật quý trong gia trang, cho cả gia tộc Gjesling lẫn mọi khách khứa, tùy theo quan hệ họ hàng và tình thân sơ — sừng uống rượu, đồ dùng trên bàn, trang sức, vũ khí, da lông và ngựa. Bấy giờ người ta đều cho rằng Gaute Erlendssøn đã đưa vụ cướp dâu của mình đến một kết cục danh giá nhất.