Kristin Lavransdatter III: Thập giá — Chương 18: Tập III — Thập giá · Phần III — Thập giá · Chương IV
Chương 18 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter III: Thập giá
Một buổi sáng mùa hè năm sau, Kristin ra hành lang trước gian nhà lửa cũ, thu xếp mấy hòm dụng cụ đặt ở đó. Nghe tiếng người dắt ngựa ra sân, bà bước tới nhìn qua những cây cột nhỏ của hành lang. Một gia nhân dẫn ra hai con ngựa, và Gaute xuất hiện nơi cửa chuồng; bé Erlend ngồi dạng chân trên vai cha. Khuôn mặt nhỏ sáng sủa nhô lên trên đỉnh đầu tóc vàng của người đàn ông, còn Gaute gom hai bàn tay bé xíu của con trong bàn tay to nâu sạm của mình, giữ ngay dưới cằm. Anh trao đứa trẻ cho một thị nữ đang đi ngang sân rồi lên ngựa. Nhưng khi Erlend khóc ré, vươn tay đòi cha, Gaute lại đón lấy nó, đặt ngồi trước mình trên núm yên. Đúng lúc ấy Jofrid từ nhà chính bước ra.
“Anh định mang Erlend theo đấy à—anh cưỡi đi đâu?”
Gaute đáp rằng anh phải lên cối xay—nó sắp bị dòng sông cuốn mất “—và Erlend bảo nó muốn đi với cha.”
“Anh mất trí rồi sao—” nàng vội giằng lấy đứa bé, còn Gaute phá lên cười:
“Anh tin là em tưởng anh thật sự định mang nó theo!”
“Phải—” người vợ cũng cười: “anh lôi sinh linh tội nghiệp này đi hết chỗ nọ đến chỗ kia—em tin anh sẽ làm như linh miêu, ăn thịt con mình trước khi để kẻ khác giành lấy nó—”
Nàng cầm một tay đứa bé vẫy Gaute khi anh cưỡi ngựa ra khỏi gia trang. Rồi nàng đặt con xuống thảm cỏ, cúi khom trên nó một lát, nói với nó mấy câu, sau đó chạy sang kho mới và lên tầng gác.
Kristin vẫn đứng đó nhìn cháu nội—nắng sớm rọi thật đẹp lên đứa bé mặc áo đỏ. Erlend con lảo đảo đi thành từng vòng, mắt dán xuống cỏ. Bấy giờ nó trông thấy một đống dăm bào và lập tức bắt tay vào một công việc nặng nhọc là hất tung chúng ra khắp nơi. Kristin bật cười.
Nó mới mười lăm tháng, nhưng cha mẹ cho rằng nó vượt xa tuổi, vì nó đã biết đi, biết chạy và còn nói được đôi ba tiếng. Bây giờ nó cắm đầu đi thẳng về phía rãnh nước nhỏ chảy dưới cuối sân, mỗi khi trên núi có mưa lại biến thành một con suối róc rách. Kristin chạy ra bế nó lên:
“Không được—mẹ con sẽ giận nếu con làm ướt mình—”
Thằng bé bĩu môi—hẳn nó đang cân nhắc nên khóc vì không được nghịch nước dưới suối, hay đành chịu thôi—với nó, làm ướt mình bị kể là tội nặng nhất—Jofrid nghiêm khắc với nó quá về chuyện ấy. Nhưng trông nó khôn ngoan làm sao—Kristin vừa cười vừa hôn nó, đặt nó xuống rồi trở lại hành lang. Song công việc tiến rất chậm trong tay bà—phần lớn thời gian bà chỉ đứng nhìn ra sân.
Nắng sớm dịu dàng rọi đẹp trên ba kho lương phía đối diện—Kristin có cảm tưởng đã lâu mình không thật sự nhìn ngắm chúng—những ngôi nhà ấy uy nghi biết bao, với hành lang tầng trên trang hoàng bằng cột và những nét chạm trổ phong phú. Cánh chong chóng mạ vàng nơi hai tấm ván diềm mái giao nhau trên kho mới lấp lánh trước làn sương xanh phủ ngọn núi phía sau. Năm nay, sau đầu mùa hè ẩm ướt, cỏ trên mái xanh tươi lạ thường.
Kristin khẽ thở dài, lại nhìn bé Erlend một lần nữa rồi quay về với những chiếc hòm.
Bỗng một tiếng trẻ con khóc thét đau đớn từ ngoài sân cứa vào tai bà—bà quăng mọi thứ đang cầm xuống và lao ra. Erlend đứng khóc, hết nhìn ngón tay mình lại nhìn xuống con ong vò vẽ dở sống dở chết nằm trong cỏ. Khi bà nội bế lên và xuýt xoa thương nó, nó càng gào to hơn; đến lúc bà vừa than thở vừa xót xa hơn nữa, đắp đất ướt cùng một chiếc lá xanh lạnh lên vết đốt, tiếng than khóc của nó trở nên khủng khiếp.
Bà vừa dỗ dành vuốt ve vừa bế nó vào phòng mình, còn nó gào như đang hấp hối—rồi ngừng bặt giữa một tiếng rú: nó nhận ra chiếc hộp và cái thìa bằng sừng bà nội lấy xuống khỏi khung cửa. Kristin nhúng những mẩu bánh dẹt vào mật ong rồi đút cho nó, vẫn không ngừng xuýt xoa, áp má mình vào gáy sáng màu của nó, nơi mái tóc còn ngắn và xoăn lăn tăn từ thuở nó nằm yên trong nôi, cọ rụng tóc trên gối. Giờ Erlend đã quên nỗi đau, ngẩng mặt lên nhìn bà, chìa đôi tay và cái miệng lem dính ra, đòi vỗ về và hôn bà.
Họ đang ngồi như thế thì Jofrid xuất hiện nơi cửa:
“Mẹ đã bế nó vào nhà rồi sao—đâu cần phải thế, mẹ—con chỉ lên tầng gác thôi mà.”
Kristin kể lại tai họa Erlend vừa gặp: “Con không nghe thấy nó khóc sao?”
Jofrid cảm ơn mẹ chồng “—nhưng giờ mẹ con con không quấy rầy mẹ nữa—” nàng đón lấy đứa bé lúc này đang vươn về phía mẹ, đòi sang với nàng, rồi đi ra.
Kristin cất hộp mật ong đi. Rồi bà ngồi yên, chẳng có việc gì làm. Những chiếc hòm ngoài hành lang có thể đợi đến khi Ingrid vào.
Ban đầu bà định giữ Frida Styrkaarsdatter lại hầu hạ mình khi bà dọn ra gian nhà cũ. Nhưng rồi cô lấy một trong những tùy tùng đến đây cùng Helge Duk—một chàng trai trẻ đáng tuổi con cô.
“Ở quê con, chúng con đã quen với việc kẻ dưới nghe lời chủ nhân khi chủ nhân khuyên điều có lợi cho họ,” Jofrid nói khi Kristin tỏ ý ngạc nhiên vì cuộc hôn nhân ấy đã thành.
“Còn ở vùng này,” Kristin nói, “dân thường không quen vâng lời chúng ta lâu hơn mức chúng ta còn phải lẽ, cũng không nghe theo lời khuyên nếu điều ấy không có lợi cho họ ngang với cho ta. Ta khuyên con một điều có ích đấy, Jofrid: hãy nhớ lấy chuyện này.”
“Mẹ nói đúng đấy, Jofrid,” Gaute lên tiếng, nhưng rất rụt rè.
— Ngay từ trước khi Gaute cưới nàng, Kristin đã hiểu rằng anh hết sức miễn cưỡng khi phải trái ý Jofrid. Và anh đã trở thành một người chồng dễ chiều hơn ai hết.
Người mẹ chồng không phủ nhận rằng trong nhiều việc, Gaute nghe vợ thật nhiều thì có lợi cho anh—nàng sáng suốt, đảm đang và cần mẫn, ít phụ nữ nào sánh được. Mà nàng cũng chẳng nhẹ dạ buông mình hơn chính Kristin thuở trước—nàng cũng đã giẫm lên bổn phận làm con gái và bán danh dự mình, bởi không thể giành được người đàn ông nàng đem lòng khao khát với một cái giá rẻ hơn. Một khi đã đạt được ý nguyện, nàng là người vợ đoan chính và chung thủy nhất. Kristin hiểu Jofrid yêu chồng vô cùng—nàng kiêu hãnh vì vẻ tuấn tú và dòng dõi cao sang của anh; các chị em nàng đều lấy chồng giàu có, nhưng chồng họ thì tốt nhất chỉ nên nhìn vào ban đêm khi không có trăng, còn tổ tiên của họ thì chẳng đáng nhắc tới, Jofrid thường nói với giọng khinh miệt. Nàng hết lòng lo cho sự thịnh vượng và danh giá của anh theo cách nàng hiểu, và ở nhà nàng chiều chuộng anh hết mức có thể—nhưng hễ Gaute định có ý kiến khác vợ dù chỉ trong một việc nhỏ nhặt nhất, trước tiên Jofrid sẽ tán thành với một vẻ mặt khiến Gaute lập tức dao động—rồi nàng bắt đầu nói cho đến khi xoay được ý anh.
Nhưng Gaute sống như thế lại thấy dễ chịu. Không ai có thể ngờ rằng đôi vợ chồng trẻ không hòa thuận. Gaute vui vẻ bên vợ, và cả hai đều hết sức hãnh diện về con trai, yêu nó quá mọi chừng mực.
Vậy nên giờ đây mọi sự lẽ ra đã tốt đẹp cả. Giá như Jofrid Helgesdatter không—phải, nàng keo kiệt; Kristin không thể gọi bằng từ nào khác. Nếu không có thói ấy, bà đã chẳng buồn phiền vì con dâu ham nắm quyền.
Ngay trong mùa gặt đầu tiên, liền sau khi Jofrid về làm dâu trong gia trang, Kristin đã hiểu đám người làm không hài lòng—dẫu họ hầu như chẳng nói gì. Nhưng bà chủ cũ vẫn nhận ra.
Vào thời Kristin, cũng từng có lúc người trong nhà phải ăn cá trích đã chua, thịt lợn vàng khè và dai như dăm thông, hay thịt đã ôi. Nhưng khi ấy ai cũng biết bà chủ coi sóc bếp núc sẽ bù lại bằng món gì đặc biệt ngon ở một bữa khác, cháo sữa hay pho mát tươi, hoặc một mẻ bia ngon được mang ra không đúng lệ thường. Và khi phải ăn cho hết những thức đã nhiễm mùi, mọi người đều hiểu đó chẳng qua như phần tràn ra từ những kho lương đầy ắp của Kristin—còn khi dân chúng lâm cảnh thiếu thốn, của cải dư dật ở Jørundgaard là chỗ nương tựa cho cả vùng. Giờ đây người ta đã ít tin chắc rằng Jofrid sẽ rộng rãi ban phát thức ăn khi dân nghèo gặp cảnh khan hiếm.
Chính điều ấy khiến người mẹ chồng tức giận—bởi bà thấy nó làm tổn giảm danh giá của gia trang và người chủ đất.
Còn chuyện chỉ trong một năm bà đã phải tự cảm thấy con dâu ưu tiên người nhà mình hơn thì thôi, đành chịu vậy. Ngay đến lễ Thánh Bartolomeus, bà chỉ nhận được hai thân dê đực thay vì bốn như đáng lẽ phải có. Đúng là mùa hè trước chồn gulô đã tàn phá đàn gia súc nhỏ trên núi—dẫu vậy Kristin vẫn cho rằng tính toán so đo hai con dê thịt trong một gia trang lớn đến thế là điều đáng hổ thẹn; nhưng bà im lặng. Mọi thứ bà được nhận từ gia trang cũng đều như vậy—thịt giết mùa thu, ngũ cốc và bột mì, thức ăn cho bốn con bò cái cùng hai con ngựa cưỡi—hoặc bà nhận quá ít, hoặc nhận thứ phẩm chất tồi. Bà nhận thấy Gaute buồn và xấu hổ vì chuyện ấy—nhưng anh không dám làm gì trái ý vợ, nên giả vờ như không trông thấy.
Gaute rộng tay chẳng khác gì mọi người con trai của Erlend Nikulaussøn. Với các anh em anh, người mẹ từng gọi đó là thói hoang phí. Nhưng Gaute làm lụng không biết mệt, bản thân anh lại sống đạm bạc—chỉ cần có những con ngựa, con chó tốt nhất cùng vài con chim ưng giỏi, còn ngoài ra anh không muốn sống khác những tiểu nông trong thung lũng. Nhưng hễ có người đến gia trang, anh là chủ nhà niềm nở với mọi khách khứa và rộng rãi với kẻ hành khất—và ở điểm ấy, anh là một chủ đất đúng như lòng mẹ mong muốn: theo bà, những người thuộc dòng dõi lớn sống trên cơ nghiệp tổ tiên tại quê nhà phải sống như thế: gây dựng của cải, không phung phí vô ích, song cũng không tiếc của khi lòng kính yêu Thiên Chúa và những người nghèo của Người, cùng bổn phận gìn giữ danh dự dòng họ, đòi hỏi phải đem của cải ra ban phát.
Giờ bà thấy Jofrid ưa nhất những người bạn giàu có và họ hàng danh giá của Gaute. Song chính trong chuyện này Gaute lại ít chịu chiều theo vợ nhất—anh cố giữ những bạn hữu cũ từ thuở thanh niên—lũ bạn chè chén, Jofrid gọi họ như thế, và bấy giờ Kristin cũng biết rằng Gaute hẳn từng sống ngông cuồng hơn điều bà hay. Nhưng từ khi anh thành người có vợ, những bạn ấy không còn tự tiện đến gia trang của anh nữa. Và hẳn chưa một người nghèo nào rời khỏi Gaute mà không được giúp đỡ. Có điều anh tặng ít hơn nhiều khi Jofrid nhìn thấy. Sau lưng nàng, anh lén cho nhiều hơn. Nhưng sau lưng nàng thì chẳng thể làm được bao nhiêu.
Và Kristin hiểu Jofrid ghen với bà. Suốt bao năm, người mẹ đã có trọn vẹn tình bạn và lòng tin cậy của Gaute, từ thuở anh còn là đứa con khốn khổ của bà, không đủ sức sống mà cũng chẳng đủ sức chết. Giờ bà nhận thấy Jofrid không thích mỗi khi Gaute ngồi xuống bên mẹ, hỏi ý bà hoặc gợi cho bà kể chuyện như những ngày xưa. Nếu người chồng quên cả thời gian dưới gian nhà cũ với mẹ, Jofrid thế nào cũng tìm ra một việc để xuống đó—
Và nàng cũng ghen nếu bà nội săn sóc bé Erlend quá nhiều.
— Ngoài sân, giữa lớp cỏ ngắn bị giẫm nát, mọc lên vài thứ cây có lá sẫm màu, thô dày như da thuộc. Nhưng giờ đây, dưới những ngày nắng quanh tiết giữa hè, từ chính giữa mỗi hoa thị lá bị giẫm bẹp lại vươn lên một cuống nhỏ với những bông hoa li ti trong trẻo, xanh nhạt. Kristin nghĩ rằng những chiếc lá già bên ngoài, mang đầy sẹo vì hết lần này đến lần khác bị chân người và móng súc vật giày nát, hẳn phải yêu chồi non sáng trong, dịu ngọt đang nở hoa ở tâm mình như bà yêu đứa con của con trai bà.
Bà cảm thấy nó là sự sống từ sự sống mình, là thịt từ thịt mình, thân thiết không kém mà còn ngọt ngào hơn chính những đứa con bà đã sinh ra. Mỗi khi được ôm nó trong lòng và thấy mẹ ruột của thằng bé cứ keo kiệt canh chừng hai bà cháu, giành nó lại ngay khi còn có thể làm thế mà khỏi quá trơ trẽn, rồi với vẻ yên tâm của người có quyền sở hữu, đặt nó vào vú và tham lam ghì sát nó vào mình—khi ấy Kristin Lavransdatter mới dần hiểu theo một cách khác rằng những người diễn giải lời Thiên Chúa quả có lý. Sự sống xác thịt đã bị mối bất hòa nhiễm vào vô phương cứu chữa; trong cõi đời nơi con người hòa trộn máu thịt, sinh ra những thế hệ mới, bị tình yêu xác thịt thúc đẩy tìm đến nhau và yêu chính máu thịt mình, ở đó nỗi đau lòng và những hy vọng tan vỡ sẽ đến chắc chắn như sương giá sa xuống mùa thu; sau cùng, cả sự sống lẫn cái chết đều chia lìa những người thương yêu, chắc chắn như mùa đông lìa cây khỏi lá.
Rồi vào một buổi tối, trước lễ Thánh Olav mười bốn ngày, một đoàn hành khất đến Jørundgaard xin chỗ trú qua đêm. Kristin đang đứng trên hành lang kho cũ—nay nơi ấy thuộc quyền bà—bà nghe Jofrid bước ra đáp với những kẻ hành khất rằng họ sẽ được cho ăn, nhưng nàng không thể cho họ ngủ lại: “nhà chúng tôi vốn đã đông người, lại có mẹ chồng ở trong gia trang—bà cai quản một nửa số nhà cửa—”
Cơn giận bùng lên trong lòng bà chủ cũ—trước đây chưa từng có khách bộ hành nào bị từ chối chỗ ngủ qua đêm tại Jørundgaard, mà mặt trời đã chạm rìa đồi. Bà chạy xuống, bước tới chỗ Jofrid và những người hành khất:
“Họ có thể ngủ trong nhà của ta, Jofrid, và như thế ta cũng sẽ cho họ thức ăn. Ở gia trang này, trước nay chúng ta chưa từng từ chối cho một người đồng đạo trú ngụ khi họ cầu xin nhân danh Thiên Chúa.”
“Mẹ cứ làm theo ý mẹ,” Jofrid đáp, mặt đỏ bừng.
Khi nhìn kỹ những kẻ hành khất, Kristin suýt hối hận vì lời đề nghị của mình—việc người vợ trẻ không muốn giữ đám người này lại gia trang qua đêm không phải hoàn toàn vô cớ. Gaute cùng gia nhân đang ở những đồng cỏ xa trên hồ Silsvandet và tối ấy sẽ không về; ở nhà Jofrid chỉ có những người nghèo phụ thuộc, hai ông bà già và hai đứa trẻ, còn trong gian nhà cũ là Kristin cùng thị nữ của bà. Trong đủ hạng người Kristin từng quen thấy ở những đoàn hành khất lang thang—bà đặc biệt không ưa đám này. Bốn người trong bọn là những gã trai trẻ cao lớn, khỏe mạnh, ba tên tóc đỏ với đôi mắt nhỏ hoang dại; chúng có vẻ là anh em, còn tên thứ tư, từng bị rạch toạc cả hai lỗ mũi và không còn tai, nói giọng lơ lớ như người ngoại quốc. Ngoài ra còn có hai người già: một lão nhỏ thó, còng lưng, mặt vàng xanh, tóc râu đóng bẩn và bạc vì tuổi tác, bụng trướng lên như mắc bệnh gì đó; lão chống nạng, còn bà già quấn trên đầu một tấm khăn thấm đẫm máu mủ, cổ và hai tay đầy lở loét. Kristin rùng mình khi nghĩ nếu người đàn bà này đến gần Erlend. Nhưng vì hai kẻ già nua khốn khổ ấy, việc đoàn người không phải lang thang trong Hammeraas đêm nay vẫn là điều tốt.
Nhưng đám hành khất cư xử khá yên ổn. Có lần tên mất tai định sờ mó Ingrid khi cô đang dọn thức ăn lên bàn, Bjørn lập tức dựng lông và gầm gừ. Ngoài chuyện đó, họ có vẻ rã rời và mệt mỏi—họ đáp lời bà chủ rằng mình đã trải bao cơ cực mà xin được chẳng bao nhiêu—có lẽ đến Nidaros sẽ khá hơn. Bà già mừng rỡ khi Kristin cho một chiếc sừng dê đựng thứ thuốc mỡ tốt làm bằng mỡ cừu non tinh khiết nhất và nước tiểu trẻ nhỏ—nhưng bà ta không chịu khi Kristin ngỏ ý dùng nước ấm ngâm mềm chiếc khăn trùm đầu và cho bà ta một tấm vải gai sạch—có điều tấm vải thì bà ta vẫn nhận.
Dẫu vậy, bà vẫn để Ingrid, cô thị nữ trẻ, nằm phía trong cùng của giường. Trong đêm Bjørn gầm gừ đôi lần, còn ngoài ra mọi sự đều yên tĩnh. Quá nửa đêm một chút, con chó lao về phía cửa, sủa hai tiếng ngắn—Kristin nghe tiếng ngựa vào sân và hiểu rằng Gaute đã về. Bà đoán Jofrid đã sai người báo tin cho anh.
Sáng hôm sau Kristin chất đầy thức ăn vào bao cho họ, và đoàn hành khất mới đi khỏi cổng gia trang chưa bao xa thì bà trông thấy Jofrid cùng Gaute đang đi thẳng về phía gian nhà của mình.
Kristin ngồi xuống, cầm con suốt lên, dịu dàng chào các con khi họ bước vào, rồi hỏi Gaute chuyện cắt cỏ. Jofrid khịt mũi—đám khách đã để lại trong căn nhà một mùi hôi nồng nặc. Nhưng mẹ chồng cô làm như không thấy. Gaute cứ vặn vẹo, xem chừng khó lòng nói ra điều mình đến để nói. Bấy giờ Jofrid mới lên tiếng:
“Có một chuyện, thưa mẹ, mà con nghĩ giờ đây tốt nhất chúng ta nên nói với nhau. Con hiểu mẹ cho rằng con tằn tiện hơn mức thích hợp với nữ chủ nhân Jørundgaard. Con biết mẹ nghĩ thế, và mẹ cho rằng vì vậy con làm tổn hại danh giá của Gaute. Con không định nói chuyện tối nay con đã sợ không dám cho đoàn người này vào nhà, bởi con chỉ có một mình ở gia trang với đứa con còn ẵm ngửa và mấy người sống nhờ; vì ngay khi nhìn rõ khách của mẹ, con đã thấy mẹ hiểu điều ấy. Nhưng trước đây con cũng nhận ra rằng mẹ cho con là kẻ bủn xỉn chuyện miếng ăn và khắc nghiệt với người nghèo.”
“Con không phải thế, thưa mẹ, nhưng Jørundgaard không còn là dinh cơ của một võ quan quyền thế và giàu có như vào thời ông bà ngoại của Gaute. Mẹ sinh ra trong nhà giàu, giao du giữa những thân tộc giàu sang quyền thế, lấy được người chồng giàu có, rồi chồng mẹ lại đưa mẹ đến một cuộc sống còn quyền quý và huy hoàng hơn cả thuở mẹ lớn lên. Không ai có thể mong đến tuổi già mẹ hiểu thấu được hoàn cảnh Gaute khác đến nhường nào, khi chàng đã mất phần gia tài bên cha và phải chia một nửa sản nghiệp của cha mẹ cho bao nhiêu anh em. Nhưng con không dám quên rằng khi về nhà chàng, con chẳng mang theo được gì nhiều ngoài đứa con đang cưu mang dưới ngực và một món nợ bồi thường nặng nề vì người bạn đời của con, bởi con đã thuận theo cuộc bạo hành của chàng đối với họ hàng con. Theo thời gian, việc ấy có thể khá hơn—nhưng bởi vậy con có bổn phận phải cầu Chúa ban cho cha con được sống lâu. Gaute và con đều còn trẻ, chẳng biết chúng con được định sẽ có bao nhiêu con cái—. Mẹ phải tin điều này, thưa mẹ chồng: trong mọi việc quán xuyến, con không có ý gì khác ngoài điều tốt nhất cho chồng con và các con chúng con—”
“Mẹ tin điều đó, Jofrid.” Kristin nghiêm nghị nhìn vào gương mặt đỏ bừng của con dâu. “Và chưa bao giờ mẹ xen vào việc con cai quản, cũng chưa bao giờ phủ nhận con là một người đàn bà đảm đang, một người vợ tốt và chung thủy với con trai mẹ. Nhưng hãy để mẹ tự định đoạt phần của mẹ, theo cách mẹ đã quen. Như con nói đấy, mẹ là một bà già, không còn học được điều mới nữa.”
Hai người trẻ hiểu rằng mẹ không còn gì để nói với họ nữa, và chẳng bao lâu sau liền cáo từ.
Như mọi khi, thoạt tiên Kristin buộc phải nhận Jofrid nói đúng. Nhưng khi ngẫm lại, bà thấy—không, dẫu sao đem của bố thí của Gaute so với những gì cha bà từng làm thì thật vô lý. Những lễ vật cầu hồn cho người nghèo và khách lạ chết trong vùng, tiền giúp những thiếu nữ mồ côi cha lấy chồng, những tiệc bia vào ngày kính các vị thánh cha bà yêu quý nhất, lộ phí cho người bệnh và kẻ có tội muốn tìm đến Thánh Olav—dẫu Gaute có giàu hơn bây giờ rất nhiều, cũng chẳng ai trông đợi chàng bỏ ra những khoản như thế; Gaute không nghĩ đến Đấng Tạo hóa nhiều hơn mức chàng buộc phải nghĩ. Chàng rộng rãi và tốt bụng, nhưng Kristin đã hiểu rằng cha bà kính sợ những người nghèo mà ông giúp đỡ, bởi Jesus đã chọn thân phận của một người nghèo khi Người nhập thể. Và cha bà yêu lao động nặng nhọc, cho rằng mọi nghề thủ công đều được tôn quý bởi Đức Mẹ Maria đã bằng lòng làm một phụ nữ lao động, kéo sợi để nuôi mình và gia đình, mặc dù Người là con gái nhà giàu, dòng dõi các vua và thượng tế xứ Judea.
Hai ngày sau, từ sáng sớm, khi Jofrid còn đang mặc dở quần áo và Gaute vẫn nằm trên giường, Kristin bước vào phòng họ. Bà mặc áo dài và áo choàng bằng dạ thô màu xám, đội bên ngoài khăn trùm đầu một chiếc mũ phớt đen vành rộng, chân đi đôi giày chắc chắn. Gaute đỏ bừng mặt khi thấy mẹ trong trang phục ấy. Kristin nói bà muốn đi Nidaros dự lễ Thánh Olav, và nhờ con trai trông nom mọi việc của bà trong thời gian bà vắng nhà.
Gaute vội vàng phản đối; chàng muốn ít nhất bà cũng phải mượn ngựa và có người tháp tùng, lại đem theo tỳ nữ—nhưng lời lẽ của chàng, như người ta có thể chờ ở một người đàn ông đang nằm trần truồng trên giường trước mắt mẹ mình, chẳng có bao nhiêu uy lực. Kristin thương sự lúng túng của chàng đến mức bà chợt nghĩ ra và nói rằng mình đã nằm mộng.
“Mẹ cũng mong mỏi được gặp lại các anh con—” nhưng nói đến đó bà phải quay mặt đi; đến tận lúc này bà hầu như vẫn chưa dám tự thú trong lòng rằng bà vừa bị lôi cuốn, vừa lo sợ biết bao trước cuộc gặp lại hai người con trai lớn—.
Gaute nhất quyết muốn tiễn mẹ một quãng. Trong khi chàng mặc quần áo và ăn chút gì đó, Kristin ngồi cười đùa với Erlend bé bỏng—đứa trẻ vừa thức giấc, ríu rít và rộn ràng trong buổi sớm. Lúc từ biệt, bà hôn Jofrid, điều trước đây bà chưa từng làm. Ngoài sân, cả gia nhân đã tụ tập—Ingrid kể cho họ hay nữ chủ Kristin sắp hành hương đến Nidaros.
Kristin cầm cây gậy hành hương nặng nề, đầu bịt sắt; vì bà không chịu cưỡi ngựa, Gaute đặt chiếc túi hai ngăn của bà lên lưng ngựa rồi dắt nó đi trước mình.
Lên đến gò nhà thờ, Kristin quay lại nhìn xuống gia trang của mình—nó nằm đó đẹp biết bao trong buổi sớm đẫm sương và chan hòa ánh nắng. Dòng sông sáng trắng. Mọi người vẫn còn đứng đó—bà có thể nhận ra quần áo sáng màu và chiếc khăn trùm đầu của Jofrid, cùng đứa trẻ như một đốm đỏ trên cánh tay cô. Gaute thấy mặt mẹ tái đi vì xúc động.
Con đường dẫn ngược lên qua rừng dưới bóng Hammeraas. Kristin bước nhẹ nhàng như một thiếu nữ. Bà và con trai chẳng nói với nhau bao nhiêu. Sau hai giờ đi đường, họ đến nơi con đường vòng về phía bắc dưới chân Rostkampen, và toàn thể thung lũng Dovre trải dài về phía bắc dưới chân họ. Bấy giờ Kristin nói Gaute không nên tiễn bà xa hơn nữa, nhưng trước hết bà muốn ngồi nghỉ một lát.
Bên dưới họ là thung lũng với dải sông trắng xanh chạy xuyên qua, những gia trang trông như các mảnh vá xanh nhỏ trên sườn rừng. Nhưng cao hơn nữa, các bãi rêu lầy, nâu sẫm và vàng địa y, phồng lên lan về phía những bãi đá vụn xám cùng các đỉnh núi trọc lốm đốm tuyết đọng. Bóng mây trôi trên thung lũng và cao nguyên, nhưng về phía bắc, giữa miền núi non, trời trong đến thế; hết khối núi này đến khối núi khác đã thoát khỏi tấm áo sương mù, xanh lam dần, lớp nọ sau lớp kia. Nỗi khát khao của Kristin theo những đàn mây dời về phía bắc, trên con đường dài trước mặt bà, lao qua thung lũng, lách vào giữa những núi lớn chắn ngang, qua các lối mòn hoang vu cheo leo trên cao nguyên. Vài ngày nữa, bà sẽ xuôi qua những thung lũng xanh tươi xinh đẹp của Trondheim, men theo các dòng sông tiến về phía vịnh lớn. Bà rùng mình trước ký ức về những miền đất quen thuộc bên biển, nơi bà từng đi lại trong thời son trẻ. Dáng hình đẹp đẽ của Erlend lay động trước mắt bà với những tư thế và nét mặt liên tục thay đổi, mau lẹ, mơ hồ, như thể bà nhìn thấy chàng phản chiếu trong dòng nước chảy. Cuối cùng bà sẽ đến Feginsbrekka, bên cây thánh giá bằng đá cẩm thạch—và thành thị sẽ hiện ra nơi cửa sông, giữa vịnh xanh và miền Strind xanh biếc; trên triền bờ sông là ngôi nhà thờ đồ sộ, sáng ngời, với những ngọn tháp khiến người ta choáng váng và các chong chóng dát vàng, ánh hoàng hôn bừng cháy trong cửa sổ hoa hồng giữa ngực nhà thờ. Và xa tít trong vịnh, dưới những vách núi xanh của Frosta, đảo Tautra nằm thấp và tối như lưng cá voi, với tháp nhà thờ như một chiếc vây lái. Ôi Bjørgulf của mẹ, ôi Naakkve—.
Nhưng khi ngoảnh nhìn qua vai, bà vẫn còn thấy được một phần núi quê nhà dưới Høvringen. Nó nằm trong bóng tối, song con mắt quen thuộc của bà vẫn nhận ra đường lên bãi chăn hè chạy qua rừng ở đâu. Bà biết những mỏm núi xám nhô lên khỏi tấm thảm rừng kia—chúng quây quanh bãi chăn hè xưa của người Sil.
Tiếng tù và gọi đàn vọng từ trên núi—vài âm thanh cao, mảnh, tắt đi rồi lại cất lên—nghe như trẻ con đang tập thổi. Tiếng chuông gia súc xa xăm—tiếng nước sông rền trầm và tiếng rừng sâu thở dài trong ngày nóng lặng gió. Tim Kristin run lên vì bất an giữa sự tĩnh lặng.
Một nỗi nhớ nhà kéo bà về phía trước, một nỗi nhớ nhà khác kéo bà trở lại thôn làng và gia trang. Hình ảnh chen chúc trước mắt bà—những sự việc thường ngày: bà thấy mình chạy cùng những người chăn súc vật trên con đường mòn xuyên qua khu rừng thưa phía nam bãi chăn hè của họ—một con bò đã sa xuống đầm—mặt trời chiếu sáng trong trẻo; khi đứng lại một thoáng lắng nghe, bà cảm thấy mồ hôi mình cắn rát trên da. Bà thấy khoảng sân ở nhà mịt mùng trong tuyết—một ngày bão tố xám trắng đang tối dần về phía đêm đông cuồng dữ—bà gần như bị thổi giật trở vào tiền sảnh khi mở cửa, cơn bão chặn mất hơi thở; nhưng rồi họ hiện ra, hai bọc người méo mó, phủ kín tuyết trong những chiếc áo da: Ivar và Skule đã về nhà. Mũi ván trượt tuyết của họ lún sâu trong đụn tuyết lớn vẫn luôn vun ngang qua sân mỗi khi gió thổi từ tây bắc. Khi ấy bao giờ tuyết cũng dồn thành hai đụn lớn ở hai chỗ trong sân—và đột nhiên bà thấy mình buộc phải nghĩ với nỗi nhớ thương trìu mến về hai đụn tuyết mà bà cùng tất cả người trong gia trang vẫn nguyền rủa mỗi mùa đông—như thể bà đã bị định rằng sẽ chẳng bao giờ còn được thấy chúng nữa.
Dường như những nỗi khát khao sắp làm vỡ tung trái tim bà—chúng chảy khắp nơi như những dòng máu, tự tìm đường đến mọi chốn trong đất nước rộng lớn nơi bà từng sống, đến tất cả những người con trai đang phiêu bạt giữa đời, đến tất cả những người đã chết mà bà chôn dưới đất—. Bà tự hỏi—hay mình đang hèn nhát? Trước đây bà chưa từng cảm thấy như thế—.
Bấy giờ bà thấy Gaute đang ngồi nhìn mình chằm chằm. Bà vội mỉm cười như để xin lỗi—đã đến lúc họ phải từ biệt và bà tiếp tục lên đường.
Gaute gọi con ngựa đang vừa gặm cỏ vừa đi lên phía trước theo vệt đường xanh. Chàng chạy theo nó, quay lại, rồi hai mẹ con từ biệt nhau. Kristin đã khoác túi lên vai, người con trai đặt chân vào bàn đạp—nhưng rồi chàng quay lại và bước tới một bước:
“Mẹ!” Trong một thoáng, bà nhìn thấu tận đáy đôi mắt bối rối, hổ thẹn của chàng. “Hẳn là mẹ đã không—hẳn là mẹ đã không được vui vẻ gì trong năm vừa rồi—mẹ, Jofrid có ý tốt, nàng hết sức kính trọng mẹ—nhưng lẽ ra con vẫn phải nói với nàng nhiều hơn về mẹ, rằng mẹ là người đàn bà thế nào và suốt đời vẫn luôn là người thế nào—”
“Sao con lại nảy ra những ý nghĩ như vậy, Gaute của mẹ?” Người mẹ nói bằng giọng dịu dàng, kinh ngạc. “Mẹ biết rõ mình không còn trẻ, mà người già thì vẫn bị xem là khó chiều; nhưng dẫu sao mẹ cũng chưa già lụ khụ đến nỗi không còn đủ trí khôn để biết quý con và vợ con. Mẹ sẽ rất buồn nếu Jofrid cứ nghĩ mọi việc nó làm để đỡ cho mẹ khỏi lao lực và lo toan chỉ là công sức vô ơn. Con đừng nghĩ về mẹ như thế, con trai, đừng cho rằng mẹ không biết quý đức hạnh của vợ con hay tình yêu trung thành, hiếu thảo của con—nếu mẹ chưa tỏ ra được nhiều như hai con có quyền mong đợi, thì con hãy lượng thứ cho mẹ và nhớ rằng người già vốn thế—”
Gaute há miệng nhìn mẹ chằm chằm—“Mẹ—.” Rồi chàng òa khóc, tựa vào con ngựa và đứng đó run lên vì những cơn nức nở.
Nhưng Kristin vẫn giữ vững mình; giọng bà không để lộ gì ngoài sự kinh ngạc và lòng nhân từ của một người mẹ.
“Gaute của mẹ, con còn trẻ tuổi, và quả thật con vẫn luôn là con cừu non nuôi tay của mẹ, như cha con thường nói. Nhưng dẫu vậy con cũng không được đón nhận chuyện này như thế, con trai, giờ con đã là người chủ trong nhà và là một người đàn ông có quyền tự quyết. Nếu mẹ định đi Roma hay Jerusalem thì còn đáng nói—nhưng trên chuyến đi này mẹ khó lòng gặp nguy hiểm lớn lao gì—mẹ sẽ tìm được bạn đồng hành, con biết đấy, nếu chưa gặp sớm hơn thì khi đến Toftar cũng sẽ gặp. Vào mùa này, từ đó sáng nào cũng có những đoàn hành hương tiếp tục lên đường—”
“Mẹ, mẹ—xin mẹ tha thứ cho chúng con! Chúng con đã tước hết quyền hành khỏi tay mẹ, đẩy mẹ vào một góc—”
Kristin lắc đầu, thoáng mỉm cười: “Mẹ e rằng các con của mẹ đều cho mẹ là một người đàn bà rất ham nắm quyền—”
Gaute quay lại phía bà; bà cầm tay chàng bằng một tay, đặt tay kia lên vai chàng, và một lần nữa bảo chàng hãy tin rằng bà không hề vô ơn với chàng hay Jofrid; cầu Chúa ở cùng chàng. Rồi bà xoay chàng về phía con ngựa và bật cười, đấm một cái giữa hai vai chàng để lấy may.
Bà đứng nhìn theo cho đến khi chàng khuất dưới triền dốc. Chàng trông đẹp biết bao trên lưng con ngựa xanh xám lớn.
Một cảm giác lạ lùng đến với bà—mọi vật bên ngoài được bà cảm nhận sắc bén đến phi lý: bầu không khí ngấm đầy ánh nắng, mùi nóng hổi của rừng thông, tiếng cựa quậy sột soạt của những sinh vật nhỏ trong cỏ. Đồng thời bà nhìn vào bên trong mình bằng những hình ảnh, như người đang lên cơn sốt dữ có thể ngỡ mình nhìn thấy những hình bóng ở trong thân thể—bên trong bà là một ngôi nhà trống, hoàn toàn không tiếng động, tối mờ và phảng phất mùi hoang phế. Cảnh tượng đổi khác—một bãi triều nơi biển đã rút ra xa, những viên đá sáng màu mòn nhẵn, những đống rong tối sẫm không còn sự sống, đủ mọi thứ dạt bờ—.
Rồi bà sửa chiếc túi cho ngay ngắn hơn, nắm lấy cây gậy và lên đường xuống thung lũng.—Nếu bà không được định sẽ trở lại nơi này nữa, thì đó là ý Chúa, sợ hãi cũng vô ích. Nhưng có lẽ chẳng qua chỉ vì bà đang già đi—. Bà làm dấu thánh giá và bước mạnh hơn—dẫu vậy vẫn mong mỏi sớm xuống tới sườn rừng, nơi con đường chạy giữa các gia trang.
Chỉ trên một quãng đường ngắn duy nhất, từ đường cái người ta mới nhìn thấy những ngôi nhà ở Haugen nằm cao nhất trên dải sườn núi. Tim bà bắt đầu đập dồn khi nghĩ đến nơi ấy.
Đúng như bà đã nghĩ, bà gặp thêm nhiều người hành hương khi đến Toftar vào cuối ngày. Sáng hôm sau, họ hợp thành một đoàn nhỏ cùng đi lên núi.
Một linh mục cùng người hầu và hai phụ nữ là mẹ và em gái ông đều cưỡi ngựa, nên chẳng bao lâu đã vượt xa những người đi bộ. Kristin cảm thấy một mũi nhói trong tim khi nhìn theo người phụ nữ kia cưỡi ngựa giữa hai người con của mình.
Trong đoàn của bà có hai nông dân lớn tuổi đến từ một gia trang nhỏ tại Dovre. Lại có hai người đàn ông trẻ từ Oslo, làm nghề buôn gỗ trong thành thị, cùng một nông dân đi với con gái và chồng cô, đôi vợ chồng còn rất trẻ; họ đem theo đứa con của hai người trẻ tuổi, một bé gái chừng một tuổi rưỡi, và có một con ngựa để thay nhau cưỡi. Ba người này đến từ một vùng rất xa về phía nam đất nước, tên là Andabu—Kristin không biết nơi ấy ở đâu. Tối đầu tiên, Kristin xin được xem đứa trẻ, vì nó khóc lóc rên rỉ không ngừng—trông nó thật đáng thương, cái đầu hói to tướng trên thân thể nhỏ bé mềm nhũn; nó vẫn chưa biết nói, cũng chưa thể ngồi thẳng. Người mẹ có vẻ xấu hổ vì đứa con—và sáng hôm sau, khi Kristin ngỏ ý bế giúp con gái cô một lúc, bà được phép bế luôn—cô kia mau chóng đi vượt lên rất xa phía trước; cô có vẻ như một con thỏ mẹ bỏ con. Nhưng cả cô lẫn chồng đều còn rất trẻ, chưa chắc đã được mười tám tuổi, và có lẽ cô đã mệt mỏi vì phải bế đứa trẻ nặng nề lúc nào cũng rên khóc ấy. Người ông ngoại là một người đàn ông trung niên xấu xí, lầm lì và cáu kỉnh, nhưng chính ông là người muốn đưa cháu ngoại đến Nidaros, vậy hẳn ông cũng có lòng thương yêu nó. Kristin đi cuối đoàn cùng ông và hai tu sĩ dòng Francis—và bà bực mình vì người đàn ông Andabu kia không bao giờ mời các tu sĩ mượn ngựa—ai cũng có thể thấy vị tu sĩ trẻ đang bệnh nặng khủng khiếp.
Người lớn tuổi hơn, tu huynh Arngrim, là một người thấp bé tròn trĩnh, khuôn mặt tròn, đỏ và lấm tàn nhang, đôi mắt nâu lanh lợi, quanh sọ là một vành tóc đỏ như lông cáo. Ông nói không ngừng, phần nhiều về cảnh túng quẫn của các tu sĩ chân đất ở Skidan — gần đây dòng tu đã được cấp một điền trang trong thành ấy, nhưng họ nghèo xác xơ đến nỗi hầu như không đủ sức duy trì việc phụng vụ, còn ngôi nhà thờ họ định xây thì e rằng chẳng bao giờ dựng nổi. Ông đổ lỗi cho những nữ tu giàu có ở Gimsøy, bảo họ vì ganh ghét và thù hằn mà bức hại các tu huynh hành khất nghèo khó, lại còn đang kiện tụng với họ; miệng lưỡi trơn tru, ông kể hết mọi điều xấu xa nhất về các nữ tu ấy. Kristin không thích nghe vị tu sĩ nói như vậy, và những chuyện ông kể rằng viện mẫu của họ được bầu trái giáo luật, rằng các nữ tu ngủ quên giờ kinh, ngồi lê đôi mách và nói chuyện dâm ô bên bàn ăn trong trai phòng, nàng thấy khó tin — thậm chí về một nữ tu, ông còn nói thẳng rằng người ta không tin bà ấy đã giữ trọn đức khiết tịnh. Nhưng nàng nhận thấy ngoài chuyện đó ra, tu huynh Arngrim là một người tốt bụng và hay giúp đỡ. Ông bế đứa trẻ đau yếu đi những quãng dài khi nhận ra tay Kristin đã mỏi, và khi nó khóc thét quá dữ, ông liền chạy băng qua miền hoang địa, vén áo dòng lên cao, để cành bách xù quất vào đôi cẳng chân đen sì, đầy lông, bùn từ những hố lầy bắn tung tóe, vừa chạy vừa gọi oang oang bảo người mẹ phải đợi lại, đứa bé đang khát. Rồi ông lại tất tả trở về bên người bệnh là tu huynh Torgils; đối với người ấy, ông dịu dàng và âu yếm như một người cha hết mực thương con.
Với vị tu sĩ đau yếu, đêm ấy không sao đến được Hjerdkinn, nhưng hai người Dovre biết một căn lều đá bên hồ, hơi chếch về phía nam trong vùng hoang địa, nên đoàn hành hương đi tới đó. Trong lúc ấy trời chiều đã trở lạnh. Ven hồ là vùng đất trũng, sương trắng bốc lên từ các đầm lầy khiến rừng bạch dương nhỏ nước đẫm sương. Một vành trăng non treo phía tây trên những đỉnh núi, vàng nhợt và mờ mịt gần như bầu không khí. Tu huynh Torgils càng lúc càng phải dừng lại nhiều hơn; ông ho đến nghe mà thương. Tu huynh Arngrim đỡ ông, sau đó lau mặt và miệng cho ông rồi lắc đầu chìa bàn tay ra cho Kristin xem — tay ông nhuốm máu trong đờm của người kia.
Họ tìm thấy căn lều, nhưng nó đã sụp. Vì vậy họ tìm một nơi khuất gió rồi nhóm lửa. Nhưng những người khốn khổ từ miền nam tới không ngờ đêm trên núi lại lạnh buốt đến thế. Kristin lấy khỏi túi chiếc áo choàng Gaute đã ép nàng mang theo vì nó đặc biệt nhẹ và ấm — may bằng vải mua, lót da hải ly. Khi nàng quấn áo quanh tu huynh Torgils, ông thì thào — ông khản giọng đến gần như không còn tiếng — rằng cứ để đứa trẻ nằm chung bên trong áo với ông. Vậy là ông ôm nó vào lòng; đứa bé rên rỉ, vị tu sĩ ho, nhưng giữa những cơn ấy cả hai vẫn ngủ được đôi lúc.
Một phần đêm, Kristin thức cùng một người Dovre và tu huynh Arngrim để trông lửa. Vầng sáng vàng trắng dịch dần về phía bắc — mặt hồ trên núi trải ra trắng và yên, cá nổi lên đớp mặt nước, tạo thành những vòng tròn — nhưng dưới đỉnh núi bên kia, hồ phản chiếu một khoảng tối đen. Có lần một tiếng kêu ghê rợn như tiếng chó sủa vọng từ phía ấy sang — vị tu sĩ giật bắn mình, nắm chặt cánh tay hai người kia. Kristin và người nông dân cho rằng đó là một con thú nào đó — rồi họ nghe đá lăn như thể có người đang đi trên bãi đá vụn bên ấy, tiếp đến là một tiếng kêu nữa, giống giọng đàn ông khàn đục. Vị tu sĩ bắt đầu đọc lớn: «Jesus Kristus, Soter», nàng nghe ra như vậy, rồi «vicit leo de tribu Juda» — bấy giờ họ nghe tiếng một cánh cửa đóng sầm đâu đó dưới vách núi.
Trời bắt đầu rạng xám, bãi đá vụn bên kia cùng những lùm bạch dương hiện dần ra — lúc ấy người Dovre còn lại và người đàn ông Oslo đến thay phiên cho họ. Ý nghĩ cuối cùng của Kristin trước khi thiếp đi bên đống lửa là nếu cứ mỗi ngày đi được những quãng ngắn thế này — mà khi chia tay nàng lại phải tặng tiền cho các tu sĩ hành khất — thì đến lúc xuống Gauldalen, hẳn nàng sẽ buộc phải ghé các điền trang xin cái ăn.
Mặt trời đã lên khá cao và gió sớm làm mặt hồ sẫm lại từng đợt gợn nhỏ, khi những người hành hương rét cóng tụ quanh tu huynh Arngrim trong lúc ông đọc kinh sáng. Tu huynh Torgils ngồi co ro, răng va lập cập, cố nén cơn ho trong khi vẫn lẩm nhẩm đọc theo. Nhìn hai chiếc áo dòng xám tro được nắng sớm chiếu vào, Kristin nhớ rằng nàng đã mơ thấy tu huynh Edvin — nàng không thể nhớ mình đã mơ điều gì, nhưng nàng quỳ xuống hôn tay hai vị tu sĩ và xin họ ban phép lành cho cả đoàn.
Qua chiếc áo choàng lót da hải ly, những người hành hương khác đã hiểu Kristin không thuộc hạng dân thường nghèo khó. Rồi khi nàng tình cờ nói rằng mình đã hai lần đi con đường vua vượt Dovrefjeld, nàng trở thành một thứ người dẫn đường cho cả đoàn. Hai người Dovre chưa bao giờ đi sâu vào núi quá Hjerdkinn, còn những người Viken thì dĩ nhiên hoàn toàn xa lạ với vùng này.
Họ đến Hjerdkinn trước cả giờ kinh Chiều, và sau buổi lễ trong nhà nguyện, Kristin một mình đi ra miền núi. Nàng muốn tìm lại con đường mòn mình từng đi cùng cha, và chỗ bên dòng suối nơi nàng đã ngồi với ông. Nàng không tìm thấy chỗ ấy, nhưng tin rằng mình đã tìm được gò đất từng trèo lên để trông theo cha khi ông cưỡi ngựa rời xa nàng. Dẫu vậy, những gò thấp dọc vùng đất trũng này rất giống nhau.
Nàng quỳ giữa những bụi thạch nam quả đen trên đỉnh gò. Chiều hè bắt đầu xám lại — những sườn bạch dương chạy lên các ngọn đồi thấp, những bãi đá vụn màu xám và các dải đầm lầy nâu hòa lẫn vào nhau, nhưng trên miền núi hoang vu trải rộng, trời chiều uốn thành một vòm sâu thẳm không đáy và trong veo. Trời phản chiếu trắng trong mọi vũng nước; ánh trời vỡ vụn và nhợt hơn trong một con suối nhỏ trên núi, đang cuồn cuộn, bồn chồn lao qua những tảng đá rồi chảy ra giữa các bờ sỏi sáng màu quanh một hồ nhỏ ngoài đầm lầy.
Cái nhìn thấu lạ lùng như cơn sốt lại ập đến với nàng — dòng suối dường như bày ra trước mắt nàng hình ảnh đời mình, cách nàng đã không ngừng nghỉ lao qua miền hoang vu của cõi thời gian hữu hạn, cuộn lên thành dòng nước sôi động mỗi khi gặp một tảng đá phải vượt qua — ánh sáng vĩnh cửu chỉ có thể phản chiếu yếu ớt, vỡ vụn và nhợt nhạt trong đời nàng. — Nhưng người mẹ lờ mờ hiểu ra rằng chính trong nỗi sợ hãi, đau buồn và tình yêu — mỗi lần quả của tội lỗi chín thành khổ đau — linh hồn bị trói buộc vào trần thế và chỉ biết theo ý mình của nàng mới có thể bắt lấy một ánh hồi quang của ánh sáng thiên quốc —.
Kính mừng Maria, đầy ân sủng. Bà có phúc giữa mọi người nữ, và Jesus, con lòng bà, gồm phúc lạ, Đấng đã đổ mồ hôi máu vì chúng con —.
Trong khi đọc năm kinh Kính Mừng để tưởng niệm những mầu nhiệm đau thương của công cuộc cứu chuộc, nàng cảm thấy chính với những nỗi đau của mình, nàng có thể tìm nơi nương náu dưới áo choàng của Mẹ Thiên Chúa. Với nỗi đau vì những đứa con nàng đã mất, với những nỗi đau nặng nề hơn trước mỗi tai họa giáng xuống các con trai nàng mà nàng không đủ sức che đỡ cho chúng. Maria, Đấng hoàn hảo trong sự tinh tuyền, lòng khiêm nhường và sự vâng phục ý muốn của Chúa Cha, đã chịu đau khổ hơn mọi người mẹ, và lòng thương xót của Mẹ sẽ hiểu ánh phản chiếu yếu ớt, nhợt nhạt ấy trong trái tim một người đàn bà tội lỗi, trái tim từng cháy trong ái tình nóng bỏng, tàn phá, cùng mọi tội lỗi vốn có trong bản tính của ái tình — sự chống đối và bất tuân, lòng không khoan thứ đã hóa chai lì, tính ương ngạnh và kiêu hãnh — dẫu sao đó vẫn là trái tim của một người mẹ —.
Kristin vùi mặt vào hai bàn tay. Trong một khoảnh khắc, nàng tưởng mình không sao chịu nổi việc giờ đây nàng đã lìa xa tất cả họ — tất cả các con trai của nàng.
Rồi nàng đọc kinh Pater noster cuối cùng. Nàng nhớ cuộc chia tay với cha tại nơi này bao nhiêu năm về trước, nhớ cuộc chia tay với Gaute hai ngày trước. Vì sự vô tâm trẻ dại, các con trai nàng đã làm tổn thương nàng — nhưng chẳng hề gì, nàng biết rằng ngay cả nếu chúng làm tổn thương nàng như nàng từng làm tổn thương cha mình, với ý chí cố tình phạm tội — điều đó cũng không bao giờ có thể thay đổi tình cảm trong lòng nàng dành cho chúng. Tha thứ cho con mình thật dễ dàng —.
Gloria patri et filio et spiritui sancto, nàng đọc rồi hôn cây thánh giá cha nàng đã trao cho nàng thuở trước, lòng khiêm nhường biết ơn vì nhận ra rằng bất chấp tất cả, bất chấp tâm tính cuồng loạn của nàng, trái tim không yên ấy vẫn được phép bắt lấy một tia sáng nhợt nhạt của tình yêu nàng từng thấy phản chiếu trong linh hồn cha mình, trong và tĩnh lặng như bầu trời sáng đang ánh lên từ mặt hồ lớn ngoài miền hoang địa.
Ngày hôm sau, thời tiết xám xịt, gió lạnh, sương mù và mưa rào đến nỗi Kristin không dám đi tiếp cùng đứa trẻ đau yếu và tu huynh Torgils. Nhưng chính vị tu sĩ lại là người nôn nóng nhất — nàng hiểu ông sợ mình sẽ chết trước khi đến được Nidaros. Vì thế họ lên đường đi sâu vào miền hoang địa, nhưng có lúc sương mù dày đặc đến nỗi Kristin không dám men xuống những lối mòn dốc dựng đứng, với vách đá cả phía trên lẫn phía dưới, mà nàng nhớ là dẫn xuống nhà trọ ở Drivdalen. Bởi vậy, khi lên đến chỗ cao nhất của khe núi, họ nhóm lửa và thu xếp nghỉ đêm. Sau kinh tối, tu huynh Arngrim kể cho họ một truyện tích đẹp về con tàu gặp nạn ngoài biển được cứu nhờ lời cầu bầu của một viện mẫu với Đức Trinh Nữ Maria; Mẹ đã cho sao Mai hiện lên trên mặt biển.
Vị tu sĩ dường như đã có cảm tình đặc biệt với Kristin. Khi nàng ngồi bên đống lửa đung đưa đứa trẻ để những người khác ngủ, ông dịch lại gần nàng và bắt đầu thì thầm kể về mình. Ông là con một người đánh cá nghèo, và năm mười bốn tuổi, ông mất cha cùng anh trai ngoài biển trong một đêm mùa đông, còn bản thân được một toán thuyền khác cứu sống. Ông thấy việc ấy giống như một dấu lạ, hơn nữa từ đó ông lại sợ biển; bởi vậy ông nảy ra ý định trở thành tu sĩ. Nhưng suốt ba năm sau ông vẫn phải ở nhà với mẹ; họ đói khổ, lao lực vô cùng, còn ông lúc nào xuống thuyền cũng sợ — rồi em gái ông lấy chồng, người chồng tiếp quản căn nhà cùng phần sở hữu chiếc thuyền, và ông có thể gia nhập Dòng Anh Em Hèn Mọn ở Tunsberg. Ban đầu tại đó ông từng bị chế giễu vì xuất thân thấp hèn — nhưng vị giám viện nhân từ đã che chở cho ông. Từ khi tu huynh Torgils Olavssøn gia nhập cộng đoàn, mọi tu sĩ đều trở nên sùng tín và hòa thuận hơn nhiều, bởi ông ấy hết sức mộ đạo và hiền lành, mặc dù có dòng dõi cao quý nhất trong số họ, thuộc một gia đình nông dân giàu có ở tận Slagn — mẹ và các chị em gái của ông ấy cũng rất rộng rãi với tu viện. Nhưng từ khi họ đến Skidan và từ khi tu huynh Torgils lâm bệnh, mọi sự lại trở nên nặng nhọc hơn nhiều. Tu huynh Arngrim để Kristin hiểu rằng ông không sao hiểu nổi vì sao Đấng Kitô và Đức Maria lại để con đường của những tu huynh nghèo khó đầy sỏi đá đến thế.
«Chính các Đấng đã chọn sự nghèo khó khi còn sống trên trần thế,» Kristin nói.
«Một người đàn bà giàu có như bà hẳn là thế thì nói điều ấy thật dễ,» vị tu sĩ giận dữ đáp. «Chắc bà chưa từng phải nhịn đói —» và Kristin đành trả lời rằng quả là nàng chưa từng —.
Khi xuống đến những miền có dân cư và đi qua Updal cùng Soknadalen, tu huynh Torgils được cưỡi ngựa hoặc ngồi xe từng quãng đường, nhưng ông càng lúc càng yếu, còn những người đồng hành với Kristin liên tục thay đổi, vì người này rời đoàn, người hành hương khác lại theo vào. Khi nàng đến Staurin, trong đoàn chẳng còn ai từng vượt núi cùng nàng ngoài hai vị tu sĩ. Sáng hôm ấy, tu huynh Arngrim khóc lóc đến gặp nàng và nói rằng đêm qua tu huynh Torgils đã thổ ra rất nhiều máu; ông không thể đi tiếp — giờ đây chắc họ sẽ đến Nidaros quá muộn và không được dự đại lễ.
Kristin cảm tạ hai tu huynh vì đã đồng hành, dẫn dắt nàng về phần thiêng liêng và giúp đỡ nàng dọc đường. Tu huynh Arngrim dường như kinh ngạc trước món quà chia tay hậu hĩnh của nàng, bởi khuôn mặt ông bừng sáng — giờ ông cũng sẽ tặng nàng một món đáp lễ: ông lấy trong túi ra một chiếc hộp đựng mấy tờ giấy. Trên đó viết một lời cầu nguyện đẹp, cuối bài là mọi danh xưng của Thiên Chúa; trên tấm da thuộc có chừa một khoảng trống để ghi tên người cầu nguyện.
Kristin tự hiểu rằng vị tu sĩ không thể biết gì về nàng, về người nàng từng kết hôn hay số phận của chồng nàng, ngay cả khi nàng nói tên phụ hệ của mình. Dẫu vậy, nàng chỉ xin ông viết: Kristin, góa phụ.
Trên đường xuống Gauldalen, nàng chọn những lối mòn ngoài rìa các làng, vì nàng nghĩ nếu gặp người từ các điền trang lớn, rất có thể sẽ có kẻ nhận ra vị nữ chủ nhân năm xưa của Husaby, mà chính nàng cũng không rõ vì sao mình lại không muốn điều ấy đến thế. Ngày hôm sau, nàng theo những lối mòn trong rừng đi lên sườn đồi đến ngôi nhà thờ nhỏ trên Vatsfjeldet, được cung hiến cho Thánh Gioan Tẩy Giả, nhưng dân quanh vùng gọi là nhà thờ Thánh Edvin.
Nhà nguyện đứng trong một khoảng quang giữa rừng rậm; nó cùng quả đồi phía sau soi bóng xuống một cái ao được dòng suối chữa lành chảy vào. Một cây thánh giá bằng gỗ đứng bên dòng nước, chung quanh vương vãi mấy chiếc nạng và gậy, còn trên những bụi cây gần đó treo những mảnh giẻ từ các băng bó cũ.
Quanh nhà thờ có một hàng rào nhỏ, nhưng cánh cổng đã đóng. Kristin quỳ bên ngoài và nhớ lại lần nàng ngồi trong kia, ôm Gaute trên lòng. Khi ấy nàng mặc lụa, là một người trong đoàn các bậc quyền quý và phụ nữ quanh vùng, tất cả đều vận y phục lộng lẫy. Cha Eiliv đứng sát bên, giữ chặt Naakkve và Bjørgulf; giữa đám đông bên ngoài có những hầu gái và gia nhân của nàng. Khi ấy nàng đã cầu nguyện cháy bỏng biết bao: giá đứa trẻ khốn khổ này có được trí khôn của con người và tay chân lành lặn, nàng sẽ chẳng mong gì hơn nữa — thậm chí cũng không mong bản thân được thoát khỏi di chứng đau đớn nơi lưng đã hành hạ nàng từ sau lần sinh đôi.
Nàng nghĩ đến Gaute, đẹp đẽ và vững chãi biết bao khi ngồi trên con ngựa xanh xám khổng lồ. Còn chính nàng — không nhiều phụ nữ ở tuổi nàng, đã gần năm mươi, có được sức khỏe như thế; nàng đã nhận ra điều ấy trong chuyến vượt núi. Lạy Chúa, xin chỉ ban cho con điều này, điều này và điều này — rồi con sẽ tạ ơn Người và chẳng xin gì hơn ngoài điều này, điều này và điều này —.
Có lẽ nàng chưa bao giờ cầu xin Thiên Chúa điều gì ngoài việc Người để nàng được làm theo ý mình. Và bao giờ nàng cũng đạt được điều mình muốn — phần lớn là thế. Giờ đây nàng ngồi đây với trái tim tan nát — không phải vì nàng đã phạm tội với Thiên Chúa, mà vì nàng bất mãn khi đã được theo ý mình cho đến tận cuối đường.
Nàng đã không đến với Thiên Chúa cùng vòng hoa của mình, cũng không cùng tội lỗi và nỗi đau — chưa từng đến, chừng nào thế gian vẫn còn một giọt ngọt ngào để pha vào chén của nàng. Nhưng giờ đây nàng đến, sau khi đã học được rằng thế gian giống như một quán rượu — kẻ không còn gì để trả sẽ bị tống ra ngoài cửa.
Nàng không cảm thấy chút vui mừng nào trước quyết định của mình — nhưng Kristin thấy dường như không phải chính nàng đã quyết định. Những người nghèo khổ bước vào căn phòng của nàng đã đến để gọi nàng ra đi. Một ý chí khác với ý chí của nàng đã đặt nàng vào đoàn người nghèo khó và bệnh tật, truyền cho nàng đi cùng họ, rời khỏi mái nhà nơi nàng từng cai quản như một nữ chủ nhân và định đoạt như mẹ của những người đàn ông. Và nếu giờ đây nàng thuận theo mà không quá miễn cưỡng, nàng biết mình làm vậy vì đã hiểu Gaute sẽ sống dễ chịu hơn khi nàng rời khỏi điền trang. Nàng đã uốn số phận theo ý mình, đã có được cảnh ngộ mình mong muốn — nhưng nàng không thể tạo ra các con trai theo ý mình; chúng là như Thiên Chúa đã tạo nên, tính ương ngạnh dẫn dắt chúng, và trước chúng nàng đành bất lực. Gaute là một nông dân giỏi, một người chồng tốt, một người cha tận tụy, có năng lực và đứng đắn như phần đông người đời — nhưng chàng không có cốt cách thủ lĩnh, cũng không có khát vọng mong mỏi điều nàng từng khao khát cho chàng. Nhưng chàng yêu thương nàng đủ để cảm thấy khổ tâm khi biết nàng trông đợi ở chàng một điều khác. Bởi vậy giờ đây nàng sẽ xin một mái nhà và chốn nương thân, dẫu lòng kiêu hãnh của nàng thấy cay đắng khi phải đến trong cảnh nghèo kiệt thế này, chẳng có gì để dâng hiến.
Nhưng nàng hiểu rằng _nàng phải_ đến. Rừng vân sam trên sườn đồi đứng uống ánh nắng đang rót xuống và rì rào thật khẽ; ngôi nhà thờ nhỏ nằm im, đóng kín, toát ra mùi nhựa thông. Với niềm khắc khoải, Kristin nghĩ đến vị tu sĩ đã chết, người từng nắm tay nàng và dẫn nàng vào dưới ánh sáng từ áo choàng tình yêu của Thiên Chúa khi nàng còn là một đứa trẻ vô tội, từng chìa tay ra để hết lần này đến lần khác dẫn nàng về nhà khỏi những nẻo đường hoang dại, cả khi ông còn sống trên trần thế lẫn về sau —. Và chợt nàng nhớ rõ mồn một giấc mơ về ông đêm hôm trước trên núi:
Nàng đã mơ thấy mình đứng dưới nắng giữa sân một điền trang lớn nào đó, và thầy Edvin từ cửa nhà bước xuống. Hai tay thầy đầy bánh; khi đến bên nàng, thầy bẻ một miếng lớn trao cho nàng — nàng hiểu rằng mình đã phải làm như dự định, đi xin bố thí khi xuống các miền dân cư, nhưng rồi chẳng hiểu bằng cách nào nàng lại đồng hành cùng thầy Edvin, hai người cùng đi xin bố thí —. Song đồng thời nàng biết giấc mơ mang hai tầng ý nghĩa: điền trang ấy không chỉ là một điền trang lớn, mà dường như còn chỉ một nơi thánh, và thầy Edvin thuộc về gia đình ở đó; còn chiếc bánh thầy mang đến trao cho nàng không chỉ là bánh dẹt như vẻ ngoài của nó — nó chỉ bánh thánh, panis angelorum, và nàng đón nhận lương thực của các thiên thần từ tay thầy. Và giờ đây nàng trao lời khấn của mình vào tay thầy Edvin.