Kristin Lavransdatter III: Thập giá — Chương 5: Tập III — Thập giá · Phần I — Tình thân tộc · Chương V
Chương 5 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter III: Thập giá
Ngày hôm sau lễ Thánh Katarina, Erlend Nikulaussøn tổ chức hôn lễ cho người bà con của mình, rất đẹp đẽ và trọng thể. Nhiều người tử tế đã tụ họp về — Simon Darre lo liệu việc ấy; chàng và vợ rất được lòng dân các vùng chung quanh. Cả hai linh mục ở nhà thờ Thánh Olav đều có mặt, và cha Eirik làm phép cho ngôi nhà cùng giường cưới — việc này được coi là một vinh dự, bởi giờ đây cha Eirik chỉ hát lễ vào những ngày đại lễ và làm việc mục vụ cho một ít người đã là con chiên xưng tội của cha suốt nhiều năm. Simon Darre đọc lớn văn thư ghi sính lễ và quà sáng hôm sau Ulf dành cho cô dâu, Erlend nói với người bà con của mình những lời rất đẹp trong bữa tiệc, còn Ramborg Lavransdatter cùng chị lo việc khoản đãi và cũng lên căn phòng trên gác giúp cô dâu cởi xiêm áo.
Dẫu vậy, đó vẫn không thành một đám cưới thật sự vui vẻ. Cô dâu thuộc một dòng hào nông lâu đời và có danh vọng trong thung lũng; họ hàng và người đồng hương của nàng không thể nào cho rằng nàng đã kết được một đôi xứng lứa, khi giờ đây phải bằng lòng lấy một kẻ từ nơi khác đến, lại làm công trong gia trang của người khác, dù người ấy là bà con. Cả xuất thân của Ulf — con trai một hiệp sĩ và đại quý tộc, dẫu mang vết nhơ của mình — lẫn quan hệ họ hàng giữa ông với Erlend Nikulaussøn, anh em con trai Herbrand đều chẳng xem là vinh dự gì lớn —.
Chính cô dâu xem ra cũng chẳng hài lòng với cảnh ngộ mình đã tự chuốc lấy. Kristin nghe thật rụt rè khi nàng nói chuyện này với Simon — chàng có việc phải đến Jørundgaard ít tuần sau đám cưới. Jardtrud cứ thúc ép chồng dọn đến điền sản của ông ở Skaun — nàng vừa khóc vừa nói, để Kristin nghe thấy, rằng điều nàng thấy khổ tâm nhất là đứa con của nàng rồi sẽ bị gọi là con một kẻ làm thuê. Ulf không đáp gì. Đôi vợ chồng mới cưới ở trong ngôi nhà gọi là nhà quản sự, vì Jon Einarssøn từng sống ở đó trước khi Lavrans mua trọn Laugarbru và dời ông sang ấy. Nhưng Jardtrud không thích cái tên này. Nàng còn tức giận vì phải để bò của mình trong chuồng nhà Kristin — hẳn nàng sợ có người tưởng nàng là đầy tớ gái của Kristin. Điều ấy cũng phải lẽ thôi, bà chủ nghĩ — nàng ta cứ cho dựng một chuồng bò bên nhà quản sự, nếu Ulf không đưa vợ dọn đến Skaun. Và có lẽ như thế là tốt nhất — ông không còn trẻ đến mức việc đổi khác nếp sống lại không khiến ông khó nhọc; có lẽ ở một nơi mới, ông sẽ dễ dàng hơn —.
Simon nghĩ điều ấy hẳn nàng nói đúng. Vả lại, Ulf bị dân trong vùng ghét. Ông khinh thường mọi thứ ở thung lũng này. Ông là một người quản lý gia trang tháo vát, đầy năng lực, nhưng không quen với nhiều việc ở miền đất này — vào mùa thu ông giữ lại nhiều gia súc hơn số mình có thể nuôi qua mùa đông — rồi khi bò chết hoặc đến đầu xuân ông vẫn phải giết bớt đám vật nuôi đã kiệt quệ, ông lại nổi giận và đổ lỗi rằng mình không quen lối chăn nuôi của dân nghèo trong vùng này, nơi người ta phải trộn cả vỏ cây cạo vào thức ăn cho súc vật ngay từ dịp lễ Thánh Phaolô.
Lại còn một chuyện khác: ở Trøndelag, tập tục giữa địa chủ và tá điền dần dà đã thành ra thế này, địa chủ đòi tô bằng thứ sản vật mình cần nhất, như cỏ khô, da thú, bột, bơ hoặc len, cho dù khi lập khế ước thuê đất đôi bên đã thỏa thuận một thứ sản vật nhất định hoặc tiền bạc. Và cũng chính địa chủ hay người đại diện của họ tự quy đổi giá trị từ món hàng này sang món hàng khác, khá tùy tiện. Nhưng khi Ulf đem những đòi hỏi ấy áp lên các tá điền của Kristin trong vùng này, người ta gọi đó là sự áp bức và phạm luật trắng trợn — mà quả đúng là thế — rồi các tá điền đến khiếu nại với bà chủ. Kristin răn bảo Ulf ngay khi nghe chuyện, nhưng Simon biết dân chúng không chỉ trách Ulf mà còn trách cả Kristin Lavransdatter. Ở đâu nghe nhắc lại chuyện này, chàng cũng cố giải thích rằng bà chủ không hề biết những đòi hỏi của Ulf và chúng vốn dựa trên tập tục ở quê ông. Nhưng Simon e rằng lời mình chẳng giúp được bao nhiêu — dù không ai thẳng thừng phản bác ngay trước mặt chàng.
Bởi vậy, chàng hầu như chẳng biết nên mong Ulf ở lại với nàng hay bỏ đi. Chàng không hiểu nàng sẽ xoay xở ra sao nếu thiếu người trợ thủ tài giỏi và trung thành này. Erlend hoàn toàn bất lực trong việc đảm đương quyền chủ gia trang, còn các con trai của họ thì quá trẻ. Nhưng Ulf đã khích cả vùng chống lại nàng đủ rồi — giờ lại thêm chuyện ông đã dụ một thiếu nữ trẻ thuộc dòng họ giàu có và danh giá trong thung lũng. Song có Chúa biết, Kristin đã phải lao lực quá sức ngay trong cảnh ngộ hiện thời —.
Người nhà Jørundgaard còn lâm vào cảnh khó khăn về nhiều mặt khác. Erlend hẳn cũng chẳng được ưa hơn Ulf chút nào. Nếu người thân tín hàng đầu kiêm bà con của Erlend tỏ ra ngạo mạn và khiêu khích, thì chính ông chủ, với cung cách dịu dàng, hơi uể oải của mình, lại càng khiến người ta khó chịu hơn. Erlend Nikulaussøn hẳn không hề nghĩ rằng mình đang khích người khác chống lại mình — dường như ông chỉ hiểu rằng dù giàu hay nghèo, ông vẫn là con người xưa nay, và chắc chẳng bao giờ ngờ có ai lại gọi ông là kiêu ngạo chỉ vì điều đó. Ông từng mưu tính dựng một đạo quân nổi loạn chống lại nhà vua, trong khi là bà con, lãnh thần và bề tôi đã tuyên thệ của ngài Magnus; chính sự khinh suất ngu xuẩn của ông lại khiến những kế hoạch ấy sụp đổ — nhưng hẳn ông chưa từng nghĩ rằng vì những việc đó, trong mắt bất kỳ ai mình có thể đã bị đóng dấu là kẻ phản trắc. Nói chung, Simon không sao hiểu nổi rằng Erlend có suy nghĩ được bao nhiêu —.
Thật khó hiểu thấu ông: khi ngồi trò chuyện với ông, Simon thấy ông hoàn toàn không ngu ngốc, nhưng dường như ông chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện đem những điều khôn ngoan và tốt đẹp mình thường nói áp vào chính bản thân. Người ta thật không thể nào nhớ nổi người đàn ông này đã gần già — lẽ ra từ lâu ông đã có thể có những đứa cháu lớn. Nhìn kỹ thì mặt ông đã hằn nếp và tóc đã điểm bạc — vậy mà khi đứng bên Nikulaus, hai người trông giống anh em hơn là cha con. Ông vẫn thẳng và mảnh dẻ như lần đầu Simon gặp, giọng nói vẫn trẻ trung và vang sáng. Giữa mọi người, ông vẫn đi lại tự do, tự tin, với một vẻ duyên dáng hơi lặng lẽ trong cung cách —. Trước những người xa lạ, ông vốn vẫn khá ít lời và thường lui về phía sau — để người khác tìm đến mình hơn là tự tìm bạn, cả khi thịnh lẫn lúc suy. Nhưng giờ đây chẳng ai tìm đến giao du, Erlend dường như cũng không nhận thấy. Còn cả vòng thân sĩ và đại điền chủ khắp trên dưới thung lũng, vốn kết hôn và liên minh chằng chịt với nhau, đều căm tức vị thủ lĩnh Trøndelag cao ngạo bị tai họa quăng xuống giữa họ mà vẫn tự cho dòng dõi mình quá cao quý, phong thái mình quá tao nhã để tìm đến làm bạn với họ.
Nhưng điều khiến người ta oán Erlend Nikulaussøn nhất vẫn là việc ông đã kéo những người nhà Sundbu cùng sa vào tai họa. Guttorm và Borgar Trondssøn bị tuyên bố là kẻ ngoài vòng pháp luật trên khắp Na Uy, còn phần của họ trong những điền sản lớn của nhà Gjesling, kể cả một nửa phần đất tổ truyền, đều bị sung vào vương quyền. Ivar ở Sundbu phải bỏ tiền cầu hòa với vua Magnus. Khi vua Magnus trao những điền sản bị tịch thu ấy — người ta nói là không phải không có đền bù — cho hiệp sĩ Sigurd Erlendssøn Eldjarn, Ivar và Haavard, người trẻ nhất trong số các con trai của Trond và không hề hay biết mưu phản của các anh mình, đã bán phần điền sản của họ ở Vaage cho ngài Sigurd, vốn là anh em họ với họ và với hai chị em Lavransdatter: mẹ ông, Gudrun Ivarsdatter, là chị em gái của Trond Gjesling và Ragnfrid ở Jørundgaard. Ivar Gjesling dọn đến Ringheim tại Toten, một gia trang ông có được nhờ vợ; con cái ông hẳn sẽ lập nghiệp tại nơi có họ ngoại và đất tổ truyền của chúng. Haavard vẫn sở hữu nhiều đất đai, nhưng phần lớn nằm ở Valdres, và qua cuộc hôn nhân mới đây ông lại nhận được những điền sản rộng lớn tại Borgesyssel. Song người Vaage và dân các thung lũng phía bắc cho rằng tai họa lớn nhất là dòng họ lãnh chúa cổ xưa đã phải lìa Sundbu, nơi họ từng ngự trị và cai quản cả vùng từ thuở xa xưa nhất mà lời truyền còn nhắc tới.
— Trong một thời gian ngắn, Sundbu từng nằm trong tay Erlend Eldjarn ở Godaland thuộc Agder, vị lãnh chúa trung thành của vua Haakon Haakonssøn — nhà Gjesling chưa bao giờ là những người bạn nhiệt thành của vua Sverre và dòng họ nhà vua, và họ đã theo công tước Skule khi ông dựng quân nổi loạn chống vua Haakon. Nhưng Ivar Trẻ đã đổi đất với Erlend Eldjarn để lấy lại Sundbu, rồi gả con gái cả Gudrun cho ông. Trond, con trai Ivar, chẳng làm vẻ vang cho dòng họ về bất cứ mặt nào, nhưng bốn người con trai của ông đều đẹp đẽ, được lòng người và gan dạ, nên dân chúng rất đau lòng khi họ mất gia trang tổ tiên.
Và trước khi Ivar rời thung lũng, một tai họa đã xảy ra khiến dân chúng càng thêm đau buồn và phẫn uất trước vận rủi của nhà Gjesling. Guttorm chưa vợ, nhưng người vợ trẻ của Borgar vẫn ở lại Sundbu sau khi chồng trốn đi. Dagny Bjarnesdatter vốn vẫn hơi yếu trí, lại luôn công khai cho thấy nàng yêu chồng đến quá mức — Borgar Trondssøn đẹp trai nhưng nết hạnh khá buông thả. Mùa đông sau khi ông trốn khỏi đất nước, Dagny bước xuống một lạch nước hở giữa băng trên hồ Vaage. Người ta gọi đó là tai nạn, nhưng ai nấy đều hiểu nỗi buồn và nhớ thương đã cướp mất chút trí khôn ít ỏi của Dagny, và mọi người hết sức xót xa cho người phụ nữ trẻ khờ khạo, hiền lành và xinh đẹp phải chịu một cái chết chẳng lành như thế. Khi ấy lòng căm giận Erlend Nikulaussøn, kẻ đã giáng tất cả những tai họa này lên những người tốt nhất trong vùng, lấn át mọi tình cảm khác. Người ta cũng bắt đầu nhắc lại ông đã hành xử ra sao khi muốn cưới con gái Lavrans Lagmandssøn — mà nàng, phải rồi, bên họ mẹ cũng thuộc nhà Gjesling —.
Ông chủ mới ở Sundbu bị ghét, dù thật ra chẳng ai có điều gì để chê trách chính Sigurd. Nhưng ông là người Agder, còn cha ông đã gây thù với tất cả những ai ở miền đất này từng có việc giao thiệp với Erlend Eldjarn. Kristin và Ramborg chưa bao giờ gặp người anh họ ấy. Simon quen ngài Sigurd từ Raumarike — ông là bà con gần với anh em Haftorssøn, mà họ lại là bà con gần với vợ Gyrd Darre. Nhưng giờ đây mọi chuyện rối rắm đến thế, Simon cố tránh gặp ngài Sigurd hết sức có thể. Chàng chẳng muốn đến Sundbu lúc này; anh em Trondssøn từng là bạn thân thiết của chàng, còn Ramborg cùng vợ của Ivar và Borgar trước kia năm nào cũng qua lại thăm viếng nhau. Ngài Sigurd Erlendssøn cũng lớn tuổi hơn Simon Andressøn rất nhiều — ông đã gần sáu mươi.
Vì thế Simon Darre thấy rằng việc Erlend và Kristin giờ đây sống ở Jørundgaard đã khiến mọi sự rối rắm đến mức, dẫu cuộc hôn nhân của viên quản sự nhà họ tự nó không thể gọi là biến cố lớn, nó vẫn đủ làm tình thế thêm khó xử. Xưa nay chàng không bao giờ làm phiền người vợ trẻ bằng những khó khăn hay nghịch cảnh của mình. Nhưng lần này chàng không thể không nói đôi chút về những chuyện ấy với Ramborg. Chàng vừa ngạc nhiên vừa vui mừng khi thấy nàng bàn luận sáng suốt đến thế, lại tận tâm tìm mọi cách trong khả năng để giúp đỡ.
Nàng đến Jørundgaard thăm chị thường xuyên hơn trước rất nhiều, và hoàn toàn dẹp bỏ thái độ lạnh lùng với Erlend; vào ngày lễ Giáng sinh, khi gặp nhau trên gò nhà thờ sau thánh lễ ban ngày, Ramborg không chỉ hôn Kristin mà còn hôn cả anh rể. Trước kia nàng vẫn thường cay nghiệt chế giễu những cử chỉ ngoại quốc ấy của ông — như thói quen hôn mẹ vợ để chào và những chuyện tương tự.
Một ý nghĩ thoáng xuyên qua Simon khi chàng thấy Ramborg quàng tay quanh cổ Erlend — vậy chàng cũng có thể làm như thế với chị vợ. Nhưng chàng cảm thấy — rốt cuộc mình không thể. Chàng cũng chưa bao giờ tập theo tục hôn những phụ nữ trong họ — thuở còn ở triều đình làm thị đồng, khi về nhà chàng đã thử làm thế và bị mẹ cùng các chị em cười nhạo đến khổ sở.
Trong tiệc Giáng sinh ở Formo, Ramborg xếp người vợ trẻ của Ulf Haldorssøn ngồi ở một chỗ cao và danh dự, đồng thời tỏ với cả ông lẫn nàng mọi sự kính trọng xứng với một đôi vợ chồng mới cưới. Và nàng đến Jørundgaard ở bên Jardtrud khi người phụ nữ ấy sinh con.
Chuyện xảy ra chừng một tháng sau lễ Giáng sinh — sớm hơn kỳ hạn hai tháng, và đứa bé trai đã chết khi lọt lòng. Bấy giờ Jardtrud than vãn dữ dội — nếu biết mọi chuyện sẽ thành ra thế này, nàng đã không lấy Ulf. Nhưng việc đã rồi, không còn cứu vãn được nữa.
Không ai biết Ulf Haldorssøn nghĩ gì về toàn bộ chuyện ấy — ông không nói một lời.
Trong tuần trước giữa Mùa Chay, Erlend Nikulaussøn và Simon Andressøn cùng cưỡi ngựa về phía nam đến Kvam. Vài năm trước khi qua đời, Lavrans cùng hai người nông dân khác đã mua một gia trang nhỏ trong vùng; giờ đây những người có quyền đất tổ muốn chuộc nó lại, nhưng thủ tục rao bán theo luật ngày trước đã được tiến hành ra sao, và họ hàng của những người bán có thực thi quyền của mình đúng phép hay không, đều có chỗ chưa rõ ràng. Khi di sản của Lavrans được phân chia, phần đất trong gia trang này cùng vài điền sản nhỏ khác có thể phát sinh tranh tụng về quyền sở hữu đã được để riêng, và hai chị em chia nhau hoa lợi từ đó. Vì vậy giờ đây cả hai chàng rể của Lavrans đều đến thay mặt vợ mình.
Khá đông người đã tụ họp, và vì vợ con người đang ở trên gia trang đều nằm bệnh trong nhà, đám đàn ông đành phải họp trong một gian sảnh cũ ở đó. Gian nhà đã hư nát và dột gió dữ dội, nên mọi người vẫn khoác nguyên áo choàng da. Ai nấy đều đặt vũ khí ngay bên tay và đeo kiếm ở thắt lưng — chẳng người nào muốn nấn ná lâu hơn mức cần thiết. Nhưng trước khi đi, họ vẫn phải ăn chút gì; bởi vậy đến giờ kinh Chín, khi việc bàn bạc đã xong, họ lấy túi lương khô ra, ngồi ăn, đặt túi bên mình trên ghế dài hoặc trước mặt dưới sàn — trong gian sảnh không có bàn.
Thay mặt cha xứ Kvam đến dự là con trai ông, Holmgeir Moisessøn. Đó là một thanh niên cẩu thả, không đáng tin, ít người ưa. Nhưng cha anh rất được kính mến, còn mẹ xuất thân từ một dòng họ có danh vọng; hơn nữa Holmgeir là một gã to lớn, khỏe mạnh, nóng nảy và sẵn sàng xông vào đánh người; bởi vậy chẳng ai muốn gây chuyện với con trai linh mục — cũng có nhiều người thấy anh ta nói năng lanh lợi và dí dỏm.
Simon ít quen biết anh ta và không ưa diện mạo ấy — anh ta có khuôn mặt dài, hẹp, tái nhợt đầy tàn nhang, môi trên ngắn đến nỗi hai chiếc răng cửa to và vàng cứ nhe ra như răng chuột. Nhưng cha Moises từng là bạn tốt của Lavrans, còn người con trai, trước khi được cha chính thức nhận vào họ, đã có một thời gian được nuôi ở Jørundgaard, nửa như đầy tớ, nửa như con nuôi. Vì vậy Simon vẫn luôn đối đãi thân thiện với Holmgeir Moisessøn.
Lúc này anh ta đã lăn một khúc gỗ đến gần bếp lửa, ngồi xiên từng miếng lương khô của mình — chim hoét quay và những miếng thịt lợn — vào con dao găm rồi hơ trên lửa. Anh ta kể với những người khác rằng mình vừa ốm và đã phải xin phép chuẩn miễn chay mười bốn ngày; họ ngồi nhai bánh mì và cá đông cứng trong khi mùi thơm từ thức ăn của Holmgeir cứ xộc vào mũi.
Simon thấy trong lòng khó chịu — không hẳn bực bội, chỉ hơi cụt hứng và ngượng ngập. Toàn bộ vụ điền sản này rất khó tìm ra đầu mối, những văn thư chàng nhận lại từ cha vợ cũng được viết hết sức mập mờ; tuy vậy, khi rời nhà lên đường, chàng vẫn tưởng mình đã hiểu đúng vấn đề — chàng đã đối chiếu chúng với những văn thư khác. Nhưng tại cuộc họp này, sau khi nghe lời khai của các nhân chứng và xem những giấy tờ khác được đưa ra, chàng hiểu rằng cách nhìn của mình về vụ việc không thể đứng vững. Song trong số những người kia cũng chẳng ai hiểu thấu đáo hơn — đặc biệt là người đại diện của quan trấn thủ, cũng đang có mặt. Có người nói có lẽ phải đưa vụ việc ra pháp đình — lúc ấy Erlend đột nhiên lên tiếng, xin được xem các văn thư.
Cho đến lúc ấy, ông vẫn ngồi nghe, gần như thể mình không phải là một bên trong vụ việc. Giờ đây dường như ông bừng tỉnh. Ông đọc kỹ tất cả giấy tờ, có tờ đọc lại nhiều lần. Rồi ông trình bày vụ việc, rõ ràng và ngắn gọn — lời trong luật thư quy định thế này thế kia, và người ta thường diễn giải như vậy; những cách diễn đạt mập mờ, vụng về trong các văn thư hẳn phải mang nghĩa này hoặc nghĩa kia; nếu vụ việc được đưa ra pháp đình thì phán quyết sẽ theo hướng này hoặc hướng kia. Sau đó ông đề xuất một giải pháp mà những người có quyền đất tổ có thể hài lòng, song cũng không đến nỗi bất lợi cho các chủ sở hữu hiện tại.
Erlend đứng dậy trong khi nói, bàn tay trái đặt hờ trên chuôi kiếm, tay phải cầm xấp thư một cách hờ hững. Chàng xử sự như thể chính mình là người chủ trì cuộc họp này—nhưng Simon hiểu rằng bản thân chàng không hề nghĩ đến điều ấy. Chàng đã quen đứng lên và nói như thế mỗi khi mở phiên xử của quan trấn tại hạt mình—khi quay sang một người nào đó mà hỏi sự việc có phải thế này không, họ có hiểu điều chàng trình bày không, thì chàng hỏi như đang thẩm vấn nhân chứng—không bất nhã, nhưng vẫn với vẻ như hỏi là việc của chàng, còn việc của những người kia là trả lời. Nói xong, chàng đưa những lá thư cho viên quản hạt, như thể người ấy có thể là thuộc hạ của mình, rồi ngồi xuống; trong khi những người khác bàn bạc và Simon cũng góp lời, Erlend vẫn nghe, nhưng theo một cách như thể bản thân chàng không phải người có phần trong vụ việc. Khi ai đó hỏi đến, chàng đáp ngắn gọn, rành mạch và chỉ dẫn cho họ—suốt lúc ấy chàng lấy móng tay cạo mấy vết mỡ dính trước ngực áo, chỉnh lại thắt lưng, kéo đôi găng qua lại giữa hai bàn tay, và có vẻ hơi sốt ruột chờ cho công việc được kết thúc.
Những người kia chấp thuận cách thu xếp Erlend đã đề nghị, và đó là một cách Simon có thể tạm hài lòng; nếu đưa ra pháp đình, chàng khó lòng giành được gì hơn.
Nhưng chàng đã đâm bực bội. Chính chàng cũng thấy thật quá trẻ con nếu mình khó chịu chỉ vì người anh em rể hiểu rõ vụ việc còn mình thì không. Erlend biết giải nghĩa lời luật và đọc những văn thư tối nghĩa giỏi hơn những người nông dân bình thường cũng là lẽ phải, bởi bao năm nay chức phận của chàng là xét xử người ta và tra cứu những điều tranh chấp. Nhưng việc ấy đến với Simon hoàn toàn bất ngờ: tối hôm qua ở Jørundgaard, khi chàng nói với Erlend và Kristin về cuộc họp này, Erlend chẳng bày tỏ ý kiến gì—hẳn chỉ nghe bằng nửa tai. Phải, rõ ràng Erlend phải thông luật hơn những người nông dân thường—nhưng khi ngồi thản nhiên và thân thiện chỉ dẫn cho những người khác, chàng có vẻ như chính mình chưa từng chịu sự ràng buộc của luật pháp; Simon mơ hồ cảm thấy rằng, bằng cách nào đó, Erlend chưa bao giờ kính trọng luật pháp như khuôn phép cho đời mình—.
Và thật kỳ lạ khi chàng có thể đứng lên như thế, hoàn toàn không chút bận tâm. Chàng hẳn phải biết việc ấy khiến mọi người nhớ đến chàng từng là ai, từng giữ địa vị nào, và nay ra sao. Simon cảm thấy những người khác đều đang nghĩ đến điều đó—có lẽ vài người tức tối trước con người dường như chẳng bao giờ thèm để ý thiên hạ nghĩ gì về mình. Nhưng không ai nói gì. Và khi viên thư lại tái xanh vì rét đi cùng quản hạt ngồi xuống, đặt bảng viết lên đùi, anh ta liên tiếp hỏi Erlend, còn Erlend đọc từng lời cho anh ta chép, trong lúc ngồi xoắn mấy cọng rơm nhặt dưới sàn quanh những ngón tay dài rám nâu rồi bện thành một chiếc vòng. Khi viên thư lại viết xong, anh ta đưa tấm da bê cho Erlend; chàng ném chiếc vòng rơm vào bếp lửa, cầm văn thư lên và đọc nửa thành tiếng:
“Gửi đến tất cả những ai nhìn thấy hoặc nghe đọc văn thư này, Simon Andressøn xứ Formo, Erlend Nikulaussøn xứ Jørundgaard, Vidar Steinssøn xứ Klaufastad, hai anh em Ingemund và Toralde Bjørnssøn, Bjørn Ingemundssøn xứ Lundar, Alf Einarssøn, Holmgeir Moisessøn xin gửi lời chào của Thiên Chúa và của chính chúng tôi—. Anh đã chuẩn bị sẵn sáp niêm phong chưa?” chàng hỏi viên thư lại đang đứng hà hơi vào những ngón tay cóng lạnh. “Xin cho mọi người được biết rằng, vào ngày thứ sáu trước Chúa nhật giữa Mùa Chay, khi đã qua một nghìn ba trăm ba mươi tám mùa đông kể từ ngày Chúa giáng sinh, chúng tôi đã hội họp tại Granheim thuộc giáo xứ Kvam———
—Chúng ta có thể lấy chiếc rương đặt ngoài buồng kia làm bàn, Alf,” chàng quay sang nói với viên quản hạt rồi trao văn thư lại cho người chép.
Simon nhớ Erlend từng như thế nào khi giao du với những người đồng vai phải lứa ở miền bắc. Chàng vẫn tự tin và táo bạo, chẳng thiếu chút nào—lắm lời, ngông nghênh—nhưng cung cách bao giờ cũng có một nét quyến rũ riêng: chàng tuyệt nhiên không hờ hững trước ý kiến của những người mình coi là ngang hàng và thân tộc. Trái lại, rõ ràng chàng rất coi trọng việc giành được tiếng tốt giữa họ.
Bỗng nhiên Simon cảm thấy mình hòa làm một với những người nông dân trong thung lũng này, bằng một nỗi cay đắng dữ dội lạ thường—những người mà Erlend không coi trọng đến mức buồn tự hỏi họ nghĩ gì về mình. Chính vì Erlend mà chàng đã trở thành một người trong số họ—vì Erlend mà chàng đã tự tách khỏi giới thủ lĩnh và hào phú. Làm người nông dân giàu có ở Formo cũng chẳng có gì không tốt—phải, nhưng chàng không thể quên mình đã quay lưng lại với những người ngang hàng, với thân tộc và bằng hữu thuở thiếu thời, bởi chàng đã phải đi cầu cạnh họ một phen nhục nhã đến nỗi không còn sức gặp lại họ—thậm chí hầu như không chịu nổi khi nhớ đến. Vì người anh em rể này, chàng gần như đã đoạn tuyệt với vua mình và bước ra khỏi hàng ngũ cận thần. Chàng đã phơi bày lòng mình trước Erlend đến mức mỗi khi chợt nhớ lại, chàng thấy cay đắng hơn cả cái chết. Vậy mà Erlend đối với chàng như thể chẳng hiểu gì, chẳng nhớ gì. Con người ấy chẳng mấy bận lòng rằng mình đã làm đảo lộn cuộc đời một người khác—.
Đúng lúc ấy Erlend nói với chàng:
“Chúng ta phải liệu mà lên đường thôi, Simon, nếu muốn về đến nhà tối nay—tôi ra xem ngựa đây—” Simon ngẩng lên, cảm thấy một nỗi ác cảm kỳ lạ, bệnh hoạn khi nhìn vóc người cao lớn đẹp đẽ của người kia. Dưới mũ trùm áo choàng, chàng đội một chiếc mũ lụa đen nhỏ ôm sát đầu và buộc dưới cằm—khuôn mặt thon, sẫm màu, với đôi mắt xanh nhạt lớn nằm sâu trong bóng dưới trán, nom càng trẻ trung và thanh tú hơn trong chiếc mũ ấy. “—Còn anh trong lúc đó buộc lại túi hành trang cho tôi nhé,” chàng nói từ cửa rồi bước ra ngoài.
Những người khác vẫn tiếp tục bàn về vụ việc. Có người cho rằng dẫu sao cũng thật lạ khi Lavrans lại có thể thu xếp chuyện này mà thiếu sự quán xuyến đến thế; bình thường người ấy vẫn biết mình làm gì—ông là người nông dân từng trải nhất trong mọi việc mua bán đất đai.
“Chắc cha tôi mới là người có lỗi trong chuyện này,” Holmgeir Prestesøn lên tiếng. “Sáng nay chính ông đã nói thế—nếu hồi ấy ông nghe Lavrans thì mọi việc hẳn đã rành rẽ, rõ ràng. Nhưng các vị biết Lavrans rồi đấy—trước các linh mục, ông ấy bao giờ cũng mềm lòng, ngoan ngoãn như cừu non—.”
Có người nói rằng Lavrans ở Jørundgaard vẫn biết lo liệu lợi ích của mình đấy thôi.
“Phải, chắc ông ấy nghĩ rằng nghe lời linh mục khuyên chính là lo liệu cho mình,” Holmgeir vừa cười vừa nói, “việc ấy cũng có thể khôn ngoan, ngay cả trong chuyện thế tục—miễn là người ta không để mắt đến đúng miếng mà Giáo hội đã nhắm vào—.”
Vidar cho rằng Lavrans quả là người sùng đạo khác thường—ông chưa bao giờ tiếc của cải hay gia súc khi có việc liên quan đến Giáo hội hoặc người nghèo.
“Không,” Holmgeir trầm ngâm nói. “Phải, nếu tôi giàu có như thế, có lẽ tôi cũng muốn bỏ ra ít nhiều để cầu sự an nghỉ cho linh hồn mình. Nhưng tôi chẳng đời nào chịu vung của cải bằng cả hai tay như ông ấy, để rồi mỗi lần đến gặp linh mục và xưng tội về lại mắt đỏ hoe, má trắng bệch—mà Lavrans thì tháng nào cũng xưng tội—”
“Nước mắt thống hối là ân huệ tốt đẹp của Chúa Thánh Thần đấy, Holmgeir,” lão Ingemund Bjørnssøn nói, “phúc cho người có thể khóc sạch tội lỗi của mình ngay tại cõi đời này, sang cõi bên kia người ấy sẽ được nhẹ gánh hơn nhiều—”
“Vậy thì hẳn Lavrans đã ở trên Thiên đàng từ lâu rồi,” người kia nói. “Ông ấy ăn chay và hành xác đến thế—tôi nghe nói ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ông khóa mình trên gác kho rồi lấy roi quất vào thân—”
“Câm miệng,” Simon Andressøn nói, run lên vì giận dữ; mặt chàng đỏ bừng như máu. Chàng không biết điều Holmgeir nói có thật hay không. Nhưng khi thu dọn những chỗ cất giữ đồ đạc của cha vợ, dưới đáy chiếc rương đựng sách chàng đã tìm thấy một hộp gỗ nhỏ dài, trong ấy có một thứ roi mà người trong các tu viện gọi là roi khổ hạnh; những dải da bện vào nhau lốm đốm vết sẫm màu; có thể là máu. Simon đã đốt nó—với một niềm kính sợ pha buồn đau: chàng hiểu mình đã chạm vào một điều trong đời người kia mà Lavrans không muốn bất cứ kẻ sống nào được biết.
“—Dù thế nào đi nữa, hẳn ông ấy cũng không đem chuyện đó kể với bọn đầy tớ trai,” Simon nói khi đã tự trấn tĩnh đủ để đáp lời.
“Không, chắc chỉ là chuyện người ta bịa ra thôi,” Holmgeir dịu giọng đáp. “Ông ấy hẳn chẳng có tội lỗi gì cần phải đền đến mức ấy—” người đàn ông cười nhăn nhở—“nếu tôi sống đoan chính và mộ đạo như Lavrans Bjørgulfssøn—lại lấy phải người vợ lúc nào cũng u sầu là Ragnfrid Ivarsdatter—thì có lẽ tôi thà khóc vì những tội mình chưa từng phạm còn hơn—”
Simon bật dậy, giáng thẳng vào miệng Holmgeir khiến gã trai lảo đảo ngã ngửa về phía bếp lửa. Con dao găm rơi khỏi tay hắn—ngay khoảnh khắc sau hắn chộp lấy nó và xông vào người kia. Simon dùng cánh tay có áo choàng phủ bên ngoài để chống đỡ, túm lấy cổ tay Holmgeir, định giằng con dao khỏi tay hắn—trong lúc ấy, con trai vị linh mục kịp nện vào mặt chàng hai cú đấm. Simon vừa ghì được cả hai cánh tay đối phương thì gã trai cắm răng vào bàn tay chàng.
“Mày cắn à, đồ chó—!” Simon buông hắn ra, lùi chạy mấy bước, giật kiếm khỏi vỏ. Chàng đâm bổ vào Holmgeir—thân hình trẻ tuổi oằn ngửa ra sau, vài tấc lưỡi thép cắm trong ngực hắn. Ngay sau đó, thân thể Holmgeir trượt khỏi mũi kiếm và đổ nặng xuống, một nửa lọt vào lửa bếp.
Simon quăng kiếm xuống, định nhấc Holmgeir ra khỏi lửa—bấy giờ chàng thấy rìu của Vidar đã giơ lên bổ xuống ngay trên đầu mình. Chàng cúi rạp, né sang bên, chộp lại thanh kiếm và vừa kịp đánh bật lưỡi kiếm của Alf Einarssøn, viên quản hạt—rồi xoay phắt lại, một lần nữa phải chống đỡ Vidar đang cầm rìu—qua khóe mắt, chàng thấy sau lưng mình, hai anh em Bjørnssøn và Bjørn xứ Lunde đang chĩa mũi giáo vào chàng từ bên kia bếp lửa. Chàng bèn dồn Alf lùi sâu vào phía bức vách đối diện, nhưng nhận ra Vidar lúc này đang tiến đến từ phía sau—Vidar đã kéo Holmgeir ra khỏi lửa, hai người là anh em con cô con cậu—còn cha con nhà Lunde vòng qua bếp lửa xông tới. Chàng hở mình tứ phía—và giữa lúc đã phải dốc hết sức để giữ mạng, chàng vẫn mơ hồ cảm thấy một nỗi kinh ngạc khốn khổ rằng tất cả bọn họ đều đang xông vào mình—.
—Ngay khoảnh khắc sau, kiếm Erlend lóe lên giữa những người nhà Lunde và chàng. Toralde lảo đảo né sang bên, cúi dựa vào vách. Nhanh như chớp, Erlend chuyển kiếm sang tay trái và đánh văng vũ khí khỏi tay Alf, khiến nó bay loảng xoảng trên sàn, đồng thời tay phải chộp lấy cán giáo của Bjørn và ghìm xuống—
—“Ra ngoài đi,” chàng nói qua hơi thở với Simon, đồng thời che chắn người anh em rể khỏi Vidar. Simon nghiến răng, lao sâu vào trong nhà để đón đánh Bjørn và Ingemund. Erlend đã ở bên cạnh chàng; giữa tiếng chân giẫm đạp và tiếng binh khí, chàng hét lên: “Ra ngoài, anh có nghe không—đồ bò! Lui về phía cửa đi—chúng ta phải chạy ra ngoài!”
Khi hiểu Erlend muốn cả hai cùng ra ngoài, Simon vừa đánh vừa lùi về phía cửa đại sảnh. Họ chạy qua tiền sảnh, rồi đã đứng giữa sân.—Simon cách ngôi nhà vài bước, Erlend đứng ngay trước cửa, kiếm giơ lên nửa chừng, mặt hướng về những người lúc này đang ùn ùn đuổi ra.
Trong chốc lát, Simon như bị lóa mắt—ngày đông bên ngoài sáng chói và trong vắt đến nhức người—dưới bầu trời xanh, ngọn núi phồng cao, ánh nắng cuối ngày dát lên một màu vàng trắng; rừng cây oằn hẳn xuống dưới tuyết và sương muối. Khắp những cánh đồng, ánh sáng lấp lánh, lóe lên như đá quý—.
Chàng nghe Erlend nói:
“Có thêm người chết cũng chẳng cứu vãn được tai họa này. Giờ chúng ta nên biết dùng lý trí, các vị, để chuyện này khỏi kéo theo đổ máu. Thế này đã đủ tệ rồi, người anh em rể của tôi đã thành kẻ giết người—.”
Simon bước lên đứng bên Erlend.
“Anh đã giết người anh em họ của tôi vô cớ, Simon Andressøn,” Vidar xứ Klaufastad nói; ông ta đứng trước nhất trong khung cửa.
“Cậu ấy cũng không hoàn toàn vô cớ mà chết. Nhưng anh biết đấy, Vidar, tôi sẽ không trốn tránh—tôi sẽ bồi thường tai họa mình đã gây cho các anh. Tất cả các anh đều biết có thể tìm tôi ở đâu—”
Erlend còn nói thêm ít lời với những người nông dân: “Alf—ông ấy ra sao rồi—” rồi chàng theo họ vào trong.
Simon đứng lại, lóng ngóng một cách kỳ lạ. Một lát sau Erlend bước ra: “Giờ ta đi thôi,” chàng nói rồi tiếp tục đi xuống phía chuồng ngựa.
“Hắn chết rồi sao?” Simon hỏi.
“Phải. Alf, Toralde và Vidar đều bị thương—nhưng chắc không nặng. Tóc sau gáy Holmgeir cháy trụi rồi.” Erlend vẫn nói rất nghiêm trang—bỗng chàng phì cười: “Giờ trong đại sảnh nồng nặc mùi chim hoét cứt nướng, anh cứ tin tôi đi! Quỷ tha ma bắt—làm sao chỉ trong một chốc mà các người lại gây gổ đến mức ấy?” chàng hỏi, hết sức ngỡ ngàng.
Một cậu bé choai choai đang đứng giữ ngựa của họ—không ai trong hai người anh em rể mang theo tùy tùng trong chuyến đi này.
Cả hai vẫn cầm kiếm trong tay. Erlend nhặt một túm cỏ khô, lau máu trên kiếm mình. Simon cũng làm như thế—khi đã lau sạch những vết máu tệ nhất, chàng tra kiếm vào vỏ. Erlend chùi kiếm rất kỹ, cuối cùng còn đánh bóng nó bằng vạt áo choàng. Rồi chàng vung mấy đường kiếm nhỏ như đùa trong không khí trước mặt—cùng lúc ấy khẽ mỉm cười, thoáng qua như trước một kỷ niệm—tung kiếm lên cao, bắt lại đúng chuôi rồi tra vào vỏ.
“Những vết thương của anh—chúng ta vào nhà đi, tôi sẽ băng lại—.” Simon nói chẳng có gì đáng ngại.
“Anh cũng chảy máu kìa, Erlend!”
“Tôi không sao đâu! Da thịt tôi mau lành lắm. Tôi để ý thấy người béo bao giờ cũng lâu lành hơn. Mà giữa trời rét thế này—chúng ta lại phải cưỡi ngựa xa đến thế—.”
Erlend xin chủ gia trang thuốc bôi và vải, rồi cẩn thận chăm sóc những vết thương của người kia—có hai vết thương phần mềm nằm sát nhau ở ngực trái; ban đầu chúng chảy khá nhiều máu, nhưng không nguy hiểm. Erlend bị mũi giáo của Bjørn sượt ngoài đùi—Simon cho rằng cưỡi ngựa với vết ấy hẳn khó chịu lắm, nhưng người anh em rể cười: nó chỉ vừa đủ xuyên qua quần da. Chàng bôi ít thuốc lên đó rồi băng kín để tránh rét.
Trời rét cắt da. Trước khi họ xuống hết ngọn đồi nơi gia trang tọa lạc, sương muối đã bắt đầu bám trên mình ngựa, còn viền lông thú quanh mũ trùm áo choàng của hai người thì trắng ra.
“Hà, hà!” Erlend xuýt xoa vì rét. “Ước gì đã về đến nhà! Chúng ta phải ghé vào gia trang dưới kia để anh tự khai mình đã giết người—”
“Có cần không?” Simon hỏi. “Tôi đã nói chuyện với Vidar và những người kia rồi—”
“Anh cứ làm thì hơn,” Erlend nói. “Tin này tự nó sẽ lan khắp vùng. Đừng để họ có điều gì vin vào mà trách anh—”
Mặt trời lúc này đã khuất sau sườn núi, buổi chiều nhạt thành màu xanh xám, nhưng trời vẫn còn sáng. Họ cưỡi dọc theo một con suối, dưới những cây bạch dương phủ sương muối dày xù hơn cả khu rừng chung quanh; dưới vùng đất thấp này, không khí phảng phất hơi sương giá sống lạnh buốt, khiến hơi thở có thể nghẹn lại trong cổ người ta. Erlend nhăn mặt sốt ruột vì đợt rét kéo dài họ đã phải chịu và vì quãng đường giá buốt còn nằm trước mặt.
“Chú em không bị cóng mặt đấy chứ—” Erlend lo lắng nhìn vào dưới mũ trùm của Simon. Simon xoa mặt—anh không bị cóng, nhưng khi ngồi trên ngựa, trông anh hơi tái. Sắc ấy không hợp với anh, bởi khuôn mặt to lớn, đầy đặn của anh vốn dạn gió sương và đỏ những tia máu; vẻ tái nhợt loang ra thành từng mảng xám, khiến diện mạo anh nom như không sạch sẽ.
“Anh đã bao giờ thấy một người dùng kiếm mà xúc phân chưa,” Erlend nói—nhớ lại, anh phá lên cười, cúi rạp về phía trước trên yên và bắt chước động tác ấy, “—như cái gã Alf đó—thật là một tay quản hạt cừ khôi! Giá anh được thấy Ulf múa kiếm, Simon—Jesus, Maria!”
Múa chơi—phải, giờ thì anh đã thấy Erlend Nikulaussøn trong cuộc chơi ấy. Hết lần này đến lần khác, anh lại thấy mình cùng những người kia ngã lăn lộn bên bếp lửa, như nông dân bổ củi và quăng cỏ khô—còn thân hình mảnh dẻ, nhanh như chớp của Erlend luồn giữa họ, mắt lanh, cổ tay chắc, vừa nhảy múa với họ vừa ứng biến mau lẹ, tinh thông binh khí—.
Đã hơn hai mươi năm kể từ thời chính anh từng được coi là một trong những người giỏi võ nghệ nhất trong đám trai trẻ thuộc đoàn cận vệ—những khi họ tập luyện trên bãi đấu. Nhưng từ đó về sau, anh chẳng mấy khi có dịp dùng đến tài nghệ của một kỵ sĩ hầu cận.
Vậy mà giờ đây anh cưỡi ngựa, lòng đau như mắc bệnh vì mình đã giết người—anh cứ thấy thân thể Holmgeir trĩu xuống khỏi lưỡi kiếm của mình rồi rơi vào lửa, cứ nghe tiếng kêu chết nghẹn đặc, ngắn ngủi của hắn bên tai, và hết lần này đến lần khác lại thấy những hình ảnh của cuộc giao chiến ngắn ngủi, điên cuồng diễn ra sau đó. Bị thương, suy sụp và rối trí—anh đã cảm thấy như thế; tất cả những người mà anh vừa ngồi cùng, từng cảm thấy mình thuộc về giữa họ, bỗng nhất loạt xông vào anh—rồi Erlend che chở cho anh—.
Anh chưa bao giờ nghĩ mình là kẻ nhát gan. Trong những năm sống ở Formo, anh đã săn được sáu con gấu—và hai lần anh đã đem mạng mình ra đánh cược một cách liều lĩnh hết mức. Với thân cây thông mảnh ngăn giữa mình và một con gấu cái bị thương đang nổi điên, không còn vũ khí nào ngoài mũi giáo cùng một đoạn cán chưa đầy gang tay—sự căng thẳng của cuộc chơi vẫn không làm anh mất đi sự chắc chắn trong ý nghĩ, động tác và cảm giác. Nhưng vừa rồi, dưới gian nhà ấy—anh không biết mình có sợ hay không—chỉ biết mình đã rối loạn, không còn đủ sức suy tính—.
Và khi ngồi ở nhà sau cuộc săn gấu ấy, quần áo khoác nhếch nhác trên người được chừng nào hay chừng ấy, một cánh tay treo trong đai, mình nóng sốt, ê ẩm, vai bị xé toạc, anh chỉ cảm thấy một niềm hân hoan ngạo nghễ—mọi sự đã có thể tồi tệ hơn—nhưng tồi tệ thế nào, anh chẳng hề nghĩ đến. Còn bây giờ anh buộc phải nghĩ, nghĩ không ngừng, rằng tất cả sẽ kết thúc ra sao nếu Erlend không đến cứu đúng lúc như vậy. Anh không sợ—hẳn là không, nhưng thấy mình khác lạ. Chính vẻ mặt của những người kia—và thân thể Holmgeir đang chết—.
Trước đây anh chưa từng giết người—.
—Trừ tên kỵ sĩ Thụy Điển mà anh đã chém ngã—. Đó là năm vua Haakon đem binh đao vào Thụy Điển để báo thù vụ sát hại các công tước. Bấy giờ anh được phái đi do thám—được giao cho ba người, và anh sẽ làm người chỉ huy—anh đã kiêu hãnh và hăm hở biết bao. Simon nhớ thanh kiếm của mình mắc vào mũ sắt của tên kỵ sĩ, khiến anh phải vặn đi vặn lại mới giật ra được; sáng hôm sau, khi xem kiếm, anh thấy lưỡi đã mẻ một miếng. Anh chưa bao giờ nhớ đến chuyện ấy mà không vui thích—bọn Thụy Điển lại có đến tám người—dù sao anh cũng đã được nếm mùi chinh chiến; điều đó đâu phải rơi vào phần số của mọi người theo đoàn cận vệ năm ấy—. Khi trời sáng, anh thấy máu và óc bắn khắp áo giáp xích của mình—anh đã cố giữ vẻ khiêm nhường, đoan chính trong lúc rửa sạch chúng đi—.
Nhưng lúc này nhớ đến gã kỵ sĩ khốn khổ ấy cũng chẳng ích gì. Không, chuyện đó không giống chuyện này. Anh không sao dứt khỏi một nỗi day dứt khủng khiếp vì Holmgeir Moisesøn.
Lại còn chuyện giờ đây anh mắc nợ Erlend chính mạng sống của mình. Anh vẫn chưa biết điều ấy chứa đựng ý nghĩa đến đâu. Nhưng anh cảm thấy từ nay mọi sự ắt phải khác đi, khi anh và Erlend đã huề nhau—.
—Về khoản ấy thì quả họ đã ngang nợ nhau rồi—.
Hai người đồng hao đã cưỡi ngựa gần như suốt đường không nói. Có lần Erlend lên tiếng:
“Mà anh cũng thật dại, Simon, sao không nghĩ đến chuyện tìm đường ra cửa trước tiên—”
“Tại sao?” Simon hỏi khá cộc. “Vì anh ở ngoài đó à—?”
“Không—” Trong giọng Erlend có tiếng cười. “Phải, cả chuyện đó nữa—nhưng tôi đâu có nghĩ đến. Chỉ là qua cánh cửa hẹp ấy, họ không thể xông vào anh quá từng người một—. Vả lại, thật kỳ lạ khi thấy người ta tìm lại được trí khôn nhanh đến thế nào lúc ra dưới trời quang. Giờ tôi thấy quả là một phép lạ khi không có thêm mạng người nào ngoài một mạng ấy.”
Đôi ba lần anh hỏi về những vết thương của Simon. Người kia nói mình chẳng cảm thấy gì mấy—dẫu chúng cũng bỏng rát khá nhiều.
Họ đến Formo vào lúc tối muộn, và Erlend đi vào nhà cùng người em đồng hao. Anh đã khuyên Simon ngay sáng mai gửi thư cho quan cai hạt báo về sự việc, để sớm thu xếp được văn thư cho phép lưu xứ. Erlend sẵn lòng soạn thư cho Simon ngay tối nay—những vết thương ở ngực hẳn sẽ cản trở tay viết của anh: “và ngày mai chắc anh phải nằm yên trên giường; thế nào anh cũng lên đôi chút sốt vì thương tích—”
Ramborg và Arngjerd vẫn ngồi thức đợi. Vì trời lạnh, họ đã trèo lên ghế dài, nép sát phía ấm của lò sưởi và co chân dưới mình—một bàn cờ đặt giữa hai người—trông họ như hai đứa trẻ.
Simon vừa mới nói được vài lời về chuyện đã xảy ra thì người vợ trẻ đã lao đến, quàng tay quanh cổ anh. Nàng kéo mặt anh xuống gần mặt mình, ép má mình vào má anh—rồi siết tay Erlend mạnh đến nỗi anh bật cười, bảo rằng chưa bao giờ anh ngờ Ramborg có những ngón tay khỏe đến thế—.
Nàng nhất quyết đòi chồng phải nằm trong này đêm nay, còn chính nàng sẽ ngồi thức bên anh. Nàng van vỉ, gần như phát khóc—thế là Erlend đề nghị ở lại đây, ngủ cùng Simon, nếu nàng chịu sai một người lên phía bắc tới Jørundgaard báo tin—dù sao giờ anh cưỡi về nhà cũng đã muộn: “mà để Kristin thức khuya trong giá lạnh thế này thì tội cho cô ấy—cô ấy cũng luôn đợi tôi về; chị em con gái Lavrans các cô quả là những người vợ tốt—”
Trong khi hai người đàn ông ăn uống, Ramborg ngồi nép sát vào chồng. Simon vỗ nhẹ cánh tay và bàn tay nàng—anh vừa hơi ngượng ngùng, vừa khá xúc động khi nàng tỏ ra lo sợ và yêu thương anh đến vậy. Trong mùa Chay này Simon ngủ ở nhà Sæmund, và khi hai người đàn ông đi sang đó, chính Ramborg đi theo, đặt một vạc lớn đựng bia mật ong cạnh phiến đá bếp để hâm nóng.
Nhà Sæmund là một căn nhà bếp lửa nhỏ bé, cổ xưa, kín gió và ấm cúng—gỗ lớn đến nỗi mỗi bức vách chỉ gồm bốn thân cây xếp lên nhau. Giờ trong nhà lạnh ngắt, nhưng Simon quăng một ôm củi thông nhựa thật lớn vào lửa rồi đuổi con chó lên giường—nó có thể nằm đó sưởi ấm chỗ ngủ cho họ. Họ kéo chiếc ghế đẽo từ khúc gỗ cùng chiếc ghế dài chạm trổ đến sát bếp lửa và ngồi hưởng hơi ấm, bởi sau chuyến đi họ đã lạnh cóng tận xương, mà bữa ăn trong gian nhà lớn chỉ mới làm họ tan giá được một nửa.
Erlend viết thư thay Simon. Sau đó họ bắt đầu cởi bớt quần áo—vì những vết thương của Simon lại chảy máu mỗi khi anh cử động hai tay nhiều, người anh đồng hao giúp kéo áo ngoài qua đầu anh và tháo ủng khỏi chân. Bản thân Erlend cũng hơi kéo lê chân bị thương—anh nói sau chuyến cưỡi ngựa, chân đã cứng và đau, nhưng chẳng đáng gì. Rồi họ lại ngồi xuống bên lửa, quần áo cởi quá nửa—giờ trong nhà đã ấm áp dễ chịu, mà trong vạc vẫn còn khá nhiều bia.
“Anh mang chuyện này nặng lòng quá, Simon, tôi nhìn ra rồi,” có lúc Erlend nói. Họ đã ngồi lim dim, nhìn vào lửa. “Mất Holmgeir cũng chẳng phải là một tổn thất lớn lao gì về người—”
“Cha Moises sẽ không nghĩ như vậy,” Simon khẽ nói. “Ông đã già và là một linh mục tốt—”
Erlend nghiêm nghị gật đầu.
“Biến mình thành kẻ thù của một người như thế quả thật đáng ngại. Nhất là khi ông ấy sống gần đến vậy. Mà anh biết đấy, tôi lại thường có việc phải đi tới miền ấy—”
“Ồ—nhưng một chuyện như thế rất dễ xảy đến với bất cứ ai trong chúng ta. Chắc họ sẽ xử anh phải nộp chừng mười hay mười hai mark vàng. Phải, mà anh cũng biết, Giám mục Halvard là một vị nghiêm khắc khi giải tội cho kẻ đã dùng bạo lực—còn cha của cậu trai lại là một trong các linh mục dưới quyền ngài. Nhưng rồi anh cũng sẽ vượt qua cả chuyện này lẫn chuyện kia—”
Simon không nói gì. Erlend lại tiếp:
“Chắc tôi cũng phải nộp tiền bồi thường thương tích”—anh mỉm cười nhìn ra trước mặt—“mà trên đất Na Uy, phần thuộc hẳn về tôi chẳng còn gì ngoài điền trang này ở Dovre—”
“Haugen _thực ra_ rộng bao nhiêu?” Simon hỏi.
“Tôi không nhớ chính xác—có ghi trong khế đất. Nhưng những người canh tác ở đó chỉ phải nộp đôi chút cỏ khô. Không ai chịu đến ở—tôi nghe nói nhà cửa đã gần sụp đổ hết—anh biết đấy, người ta bảo dì tôi và ngài Bjørn sau khi chết vẫn đi lại ở đó—
—Còn nữa, tôi biết sau việc làm hôm nay, tôi sẽ bị vợ mắng cho một trận. Kristin thương anh, Simon, như thể anh là em ruột của cô ấy vậy.”
Simon mỉm cười gần như không thể nhận thấy trong chỗ tối nơi anh ngồi. Anh đã đẩy chiếc ghế khúc gỗ lùi lại đôi chút và lấy tay che mắt khỏi sức nóng của đống lửa. Nhưng Erlend mê hơi ấm như mèo—anh ngồi sát bếp, tựa vào một góc chiếc ghế dài chạm trổ, một tay vòng qua lưng ghế, còn chân bị thương duỗi ngang qua tay vịn phía đối diện.
“Phải, một hôm mùa thu nàng đã nói về chuyện ấy thật đẹp,” một lúc sau Simon lên tiếng; trong giọng anh gần như có âm sắc chế giễu. “Mùa thu vừa rồi, khi con trai chúng tôi đau ốm, nàng đã cho thấy mình là một người chị em thủy chung;” anh nói nghiêm trang—nhưng rồi cái giọng giễu cợt khe khẽ lại trở về: “Giờ đây, Erlend, chúng ta đã giữ lòng trung thành với nhau, đúng như lời thề khi đặt tay mình chồng lên nhau trong tay Lavrans và hứa sẽ sát cánh như anh em—”
“Phải,” Erlend nói với vẻ chân thành. “Tôi cũng vui vì việc làm hôm nay, Simon.” Một lúc, cả hai cùng ngồi im lặng. Rồi Erlend như muốn dò ý, đưa một bàn tay về phía người kia. Simon nắm lấy; họ siết chặt ngón tay nhau, buông ra rồi mỗi người rụt lại trên chỗ ngồi của mình, có phần ngượng nghịu.
Sau cùng Erlend phá tan im lặng. Đã lâu anh ngồi chống cằm trên tay, nhìn đăm đăm vào lửa bếp, nơi giờ đây chỉ thỉnh thoảng mới có một ngọn lửa nhỏ phập phồng, bùng lên, đùa nghịch một lát rồi chập chờn lướt qua những thanh củi cháy đen đang nứt ra và sụp xuống với những tiếng thở dài mỏng manh, dễ vỡ. Chẳng bao lâu, đống lửa chỉ còn lại than đen và những hòn than hồng.
Erlend nói rất khẽ:
“Anh đã đối xử với tôi cao thượng đến mức ấy, Simon Darre, tôi tin chẳng mấy người có thể sánh với anh. Tôi—tôi không quên—”
“Đừng nói!—Anh không biết đâu, Erlend—. Chỉ một mình Thiên Chúa trên trời biết,” anh thì thầm, sợ hãi và đau đớn, “—tất cả những gì ẩn trong lòng một con người—”
“Đúng vậy,” Erlend nói, cũng khẽ và nghiêm trang. “Ắt tất cả chúng ta đều cần—được Ngài phán xét bằng lòng thương xót—
—Nhưng người đời chỉ có thể xét người đời theo _việc họ làm_. Còn tôi—tôi—. Xin Chúa trả công cho chú em!”
Sau đó họ ngồi im phăng phắc như chết—không dám cử động, sợ mình sẽ thấy thẹn thùng.
Cho đến khi Erlend đột ngột buông tay xuống đầu gối—một tia sáng xanh gay gắt bắn ra từ viên đá trên chiếc nhẫn anh đeo ở ngón trỏ tay phải. Simon biết anh đã nhận chiếc nhẫn ấy từ Kristin khi ra khỏi tháp giam.
“Nhưng anh hãy nhớ, Simon,” Erlend nói nhỏ, “cổ ngữ có câu: nhiều người nhận được thứ vốn dành cho kẻ khác, nhưng không ai nhận được số mệnh của một người khác.”
Simon giật mạnh đầu lên. Chậm rãi, mặt anh đỏ bừng như máu—những mạch máu nơi thái dương nổi lên như những sợi dây tối màu xoắn vặn.
Erlend nhìn sang người kia trong khoảnh khắc—rồi vội vã tránh mắt đi. Sau đó anh cũng đỏ mặt—một làn ửng hồng lạ lùng, thanh mảnh và e lệ như thiếu nữ lan dưới làn da sẫm màu. Anh ngồi bất động, bẽn lẽn và bối rối, đôi môi ngây thơ như trẻ nhỏ hơi hé mở.
Simon vụt đứng lên, đi tới bên giường:
“Chắc anh muốn nằm phía ngoài, tôi nghĩ vậy”—anh cố nói đều giọng, thẳng thắn như không, nhưng giọng anh run lên.
“Không—tùy anh thôi,” Erlend đáp một cách rời rạc. Anh đứng dậy. “Còn lửa?” anh hỏi, luống cuống. “Tôi phủ tro lên nhé—” Anh cầm lấy dụng cụ khều lửa.
“Làm cho xong đi—rồi lại đây nằm,” Simon nói với giọng như trước. Tim anh đập dữ đến nỗi gần như không nói nổi.
Trong bóng tối, Erlend lách vào giữa những tấm da phủ ở phía ngoài, sát thành giường, lặng lẽ như một cái bóng, rồi nằm xuống, im như một con thú rừng. Simon cảm thấy mình sắp nghẹt thở vì phải có người kia nằm đó trong giường mình.