Kristin Lavransdatter III: Thập giá — Chương 8: Tập III — Thập giá · Phần II — Những người mắc nợ · Chương II
Chương 8 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter III: Thập giá
Vị linh mục riêng của Erlend ở Husaby đã dạy ba người con trai lớn của ông học sách. Cả ba không phải những học trò thật chuyên cần, nhưng đều sáng dạ, và mẹ chúng, vốn chính mình cũng được nuôi dạy trong học vấn như thế, luôn để mắt đến chúng, nên những điều chúng học được quả không ít.
Và trong năm Bjørgulf cùng Nikulaus theo Sira Eiliv ở tu viện Tautra, hai cậu đã hăng say bú lấy dòng sữa từ bầu ngực của Đức bà Minh triết, như lời vị linh mục nói. Thầy dạy học ở đó là một tu sĩ rất già, suốt đời đã cần mẫn như ong góp nhặt tri thức từ mọi cuốn sách mình tìm thấy, cả tiếng Latinh lẫn tiếng Bắc Âu cổ. Bản thân Sira Eiliv là người yêu chuộng minh triết, nhưng trong những năm ở Husaby, ông ít có dịp thuận tiện để theo đuổi niềm say mê sách vở. Đối với ông, được giao du với giảng sư Aslak chẳng khác nào bãi cỏ núi dành cho đàn gia súc đói lả. Hai cậu bé, vốn ở giữa các tu sĩ vẫn quấn quýt bên vị linh mục từ quê nhà, há miệng lắng nghe cuộc đàm luận uyên bác của hai người. Bởi thế, thầy Aslak và Sira Eiliv lấy làm vui thích khi nuôi dưỡng hai trí óc non trẻ bằng thứ mật ngọt lành nhất trong kho sách của tu viện, mà chính thầy Aslak đã làm phong phú thêm bằng nhiều bản sao và trích lục từ những cuốn sách tuyệt hảo nhất. Chẳng bao lâu hai cậu đã giỏi đến mức vị tu sĩ hiếm khi còn cần nói với họ bằng tiếng Na Uy, và khi cha mẹ đến đón, cả hai đều có thể đối đáp với linh mục bằng tiếng Latinh, trôi chảy và khá chuẩn xác.
Về sau hai anh em vẫn duy trì học vấn ấy. Ở Jørundgaard có nhiều sách — Lavrans từng sở hữu năm cuốn, và có lẽ khi chia gia tài, hai cuốn đã về phần Ramborg; nhưng nàng không bao giờ muốn học đọc, còn Simon tuy đủ sức đọc hiểu một bức thư và tự tay viết lấy một bức, song không thạo chữ nghĩa đến mức muốn đọc để tiêu khiển. Vì thế chàng nhờ Kristin giữ những cuốn sách ấy cho tới khi con cái chàng lớn hơn. Ba cuốn từng thuộc về cha mẹ Erlend được ông trao cho Kristin một thời gian sau khi họ thành hôn, và nàng còn được Gunnulf Nikulaussøn tặng một cuốn sách; chính ông đã cho người chép để tặng chị dâu, tuyển từ sách viết về Thánh Olav cùng những phép lạ của ngài, một số truyện về các vị thánh khác, và bản tấu mà các tu sĩ dòng Phanxicô ở Oslo gửi lên Giáo hoàng về thầy Edvin Rikardssøn, xin công nhận ông là một vị thánh chân chính. Sau cùng, khi chia tay, Naakkve được Sira Eiliv tặng một cuốn sách kinh. Bấy giờ Naakkve thường đọc cho em nghe — cậu đọc trôi chảy, đẹp đẽ, giọng hơi ngân nga như thầy Aslak đã dạy, nhưng cậu thích nhất những sách tiếng Latinh: cuốn sách kinh của mình và một cuốn từng thuộc về Lavrans Bjørgulfssøn. Tuy vậy, quý giá hơn hết đối với cậu là một cuốn sách lớn, chữ viết đẹp tuyệt vời, đã được truyền lại trong dòng họ từ thời vị tổ tiên lừng danh, Giám mục Nikulaus Arnessøn.
Kristin rất muốn những đứa con trai nhỏ của mình cũng được học đôi chút, cho xứng với những người đàn ông thuộc dòng dõi của chúng. Nhưng thật khó biết phải làm cách nào: Sira Eirik đã quá già, còn Sira Solmund chỉ đọc được những cuốn sách ông dùng trong việc phụng vụ; nhiều điều mình đọc, chính ông cũng không hiểu rõ. Thỉnh thoảng vào một buổi tối, Lavrans còn có thể thấy vui khi ngồi bên Naakkve để anh chỉ cho nhận mặt các chữ trên bảng sáp — nhưng ba đứa kia hoàn toàn chẳng thiết học thứ tri thức ấy. Một hôm Kristin lấy một cuốn sách tiếng Na Uy, bảo Gaute thử xem có còn nhớ được chút gì từng học với Sira Eiliv thuở nhỏ không; nhưng Gaute không đánh vần nổi quá ba tiếng, và vừa gặp dấu đầu tiên phải đọc thành nhiều chữ cái, cậu đã cười, gập sách lại, nói rằng trò này cậu chẳng buồn chơi.
Nhưng chính vì thế mà một buổi tối cuối hạ, Sira Solmund đến Jørundgaard, xin Nikulaus theo ông về nhà. Một hiệp sĩ ngoại quốc từ lễ Thánh Olav ở Nidaros trở về đã xin trọ tại Romundgaard, nhưng cả ông ta lẫn các tùy tùng và đám người đi theo đều không biết tiếng Na Uy; người dẫn đường đã đưa họ tới đây chỉ hiểu lõm bõm vài tiếng trong lời họ nói, còn Sira Eirik đang nằm bệnh — liệu Naakkve có thể sang đó và nói chuyện với ông ta bằng tiếng Latinh chăng.
Naakkve xem chừng không đến nỗi khó chịu khi được cho người gọi đến làm thông ngôn như thế, nhưng cậu làm ra vẻ chẳng có gì và đi theo vị linh mục. Cậu trở về rất khuya, tinh thần phấn khích và khá say — người ta đã cho cậu uống rượu vang; vị hiệp sĩ ngoại quốc mang theo thứ ấy và rót quá hậu cho cả linh mục, phó tế lẫn Naakkve. Ông ta tên đại khái là ngài Alland hoặc Allart xứ Bekelar, đến từ Flandern và đang hành hương qua những nơi linh thiêng khắp các xứ phương Bắc. Ông ta vô cùng niềm nở, chuyện trò cũng rất trôi chảy —. Rồi Naakkve mới nói ra việc của mình. Từ đây vị hiệp sĩ sẽ đi Oslo, sau đó tới những nơi hành hương ở Danmark và Tyskland, và giờ ông ta nhất quyết muốn Nikulaus cưỡi ngựa theo mình làm thông ngôn, ít nhất trong thời gian còn ở xứ này. Ngoài ra, ông ta còn bóng gió rằng nếu chàng trai trẻ chịu theo mình ra thế giới, ngài Allart dư sức gây dựng vận may cho cậu — ở quê hương ông ta, dường như đinh thúc ngựa vàng và dây chuyền, những túi tiền nặng trĩu cùng vũ khí tráng lệ chỉ đang nằm chờ một người như Nikulaus Erlendssøn trẻ tuổi đến nhặt lấy. Naakkve đã đáp rằng mình chưa thành niên, phải được cha cho phép — nhưng ngài Allart vẫn ép cậu nhận một món quà, và nói rõ rằng nó không hề ràng buộc cậu — một chiếc áo chẽn lụa màu xanh mận, dài nửa thân, trên các vạt tay áo đính chuông bạc.
Erlend lắng nghe cậu, hầu như im lặng, vẻ mặt căng thẳng khác thường. Naakkve vừa nói xong, ông sai Gaute đi lấy chiếc tráp đựng đồ viết rồi lập tức bắt tay soạn một bức thư bằng tiếng Latinh — Bjørgulf phải giúp ông, vì trong tình trạng ấy Naakkve chẳng làm nên việc gì, rồi người cha sai cậu đi ngủ. Trong thư, Erlend mời vị hiệp sĩ hôm sau, sau giờ kinh nhất, đến nhà mình để họ có thể bàn về đề nghị của ngài Allart muốn thu nhận chàng trai trẻ quý tộc Nikulaus Erlendssøn vào hầu cận với tư cách hộ vệ tập sự. Về món quà của vị hiệp sĩ, ông xin thứ lỗi vì gửi trả lại, đồng thời thỉnh cầu ngài Allart giữ lấy nó cho tới khi Nikulaus, với sự đồng thuận của cha, tuyên thệ vào phục vụ người ngoại quốc theo đúng nghi thức vẫn được giới hiệp sĩ khắp các xứ tuân hành.
Erlend nhỏ một ít sáp xuống cuối thư rồi ấn nhẹ chiếc ấn nhỏ của mình — chiếc gắn trên nhẫn — vào bên dưới. Ngay sau đó ông sai một gia nhân mang bức thư cùng chiếc áo lụa sang Romundgaard.
“Chồng ơi — chẳng lẽ ông thật sự định gửi đứa con trai trẻ tuổi của mình ra xứ lạ cùng một người ngoại quốc không quen biết sao?” Kristin run rẩy hỏi.
“Rồi chúng ta sẽ xem —” Erlend mỉm cười một cách lạ lùng. “— Nhưng ta không nghĩ chuyện ấy có vẻ sẽ thành đâu,” ông nói khi thấy nàng xúc động dữ dội; ông cười thêm một chút rồi vuốt má nàng.
Theo lệnh Erlend, Kristin đã rải cành bách xù và hoa trên sàn căn phòng gác cao, đặt những tấm nệm tốt nhất lên ghế dài, phủ khăn vải lanh lên bàn và bày thức ăn ngon cùng đồ uống trong những vật đựng tinh xảo, kể cả những chiếc sừng uống rượu quý hiếm bọc bạc còn lưu tại gia trang từ thời Lavrans. Erlend cạo râu kỹ lưỡng, uốn tóc và mặc một chiếc áo dài màu đen bằng vải ngoại quốc, thêu thùa rất lộng lẫy. Ông ra tận cổng gia trang đón khách, và khi hai người cùng đi qua sân, nàng không thể không nghĩ rằng chồng mình nom giống một trong những hiệp sĩ phương Nam được kể trong các thiên truyện hơn hẳn người ngoại quốc béo tốt, tóc sáng màu, khoác những bộ y phục sặc sỡ và tráng lệ bằng nhung cùng lụa mỏng kia. Nàng đứng trên hành lang căn gác cao, ăn vận đẹp đẽ, đầu phủ khăn lụa; người Flandern hôn tay nàng khi nàng nói lời chào “Bien venu”, và suốt những giờ ông ta ở nhà họ, nàng không trao đổi với ông ta thêm lời nào nữa. Nàng chẳng hiểu gì trong cuộc trò chuyện của các quý ông, mà Sira Solmund, người đi cùng vị khách, cũng vậy. Nhưng vị linh mục nói với bà chủ rằng lần này hẳn ông đã làm nên vận may cho Nikulaus. Nàng không đáp có cũng chẳng đáp không.
Erlend biết đôi chút tiếng Pháp và nói trôi chảy thứ tiếng Đức mà lính đánh thuê vẫn dùng, nên cuộc đối đáp giữa ông với vị hiệp sĩ ngoại quốc diễn ra lưu loát và đúng lễ. Nhưng Kristin nhận thấy càng về sau người Flandern càng có vẻ không hài lòng, dù ông ta cố sức che giấu. Erlend đã bảo các con trai sang chờ trên gác nhà mới cho tới khi ông sai người gọi chúng sang đây — nhưng chẳng có ai được phái đi gọi cả.
Erlend và bà chủ tiễn vị hiệp sĩ cùng linh mục ra cổng. Khi hai người khách đã khuất giữa những cánh đồng, Erlend quay sang Kristin, nói với một nụ cười nàng không ưa:
“Với gã ấy, ta sẽ không để Naakkve rời khỏi gia trang, dù chỉ đi xa tới cánh đồng Breidin ở phía nam —.”
Ulf Haldorssøn bước lại chỗ họ. Ông và Erlend nói với nhau điều gì đó Kristin không nghe rõ, nhưng Ulf chửi tục rồi nhổ nước bọt. Erlend cười và vỗ vai ông:
“Phải, nếu ta cũng chỉ là một kẻ chưa từng rời xó nhà như đám nông dân lương thiện quanh đây — nhưng ta đã thấy đủ nhiều; ta không bán những con chim ưng non xinh đẹp của mình khỏi tay ta để rơi vào tay quỷ —. Sira Solmund thì chẳng hiểu gì, cái đồ bò ngu ngốc hiền lành ấy —”
Kristin đứng đó, hai tay buông thõng, mặt lúc đỏ lúc tái. Nỗi kinh hoàng và nhục nhã xâm chiếm nàng đến phát buồn nôn; đôi chân nàng như mất hết sức lực. Nàng vẫn biết có những chuyện như thế — như một điều xa xôi vô tận — nhưng cái điều không thể gọi tên kia lại dám lần tới tận ngưỡng cửa nhà nàng —. Nó giống như đợt sóng cuối cùng đang chực lật úp con thuyền đã bị bão tố vùi dập, lại chất nặng đến sát mạn của nàng. Lạy Đức Mẹ Maria, chẳng lẽ nàng còn phải khiếp sợ cả _điều ấy_ sẽ xảy đến với các con trai mình sao —.
Erlend vẫn với nụ cười xấu xa ấy, nói:
“Ngay từ tối qua ta đã nghĩ thế rồi — ngài Allart có vẻ hơi quá ân cần, theo những gì Naakkve kể. Ta biết không nơi nào trên thế gian có tục lệ hiệp sĩ nào lại đón một chàng trai mình muốn thu nhận vào phục vụ bằng cách hôn miệng, hay tặng quà quý trước khi đã thấy bằng chứng về tài năng của cậu ta —”
Run rẩy từ đầu đến chân, Kristin nói:
“Vì sao ông lại bắt tôi rải hoa hồng trên sàn, phủ khăn vải lanh lên bàn để đón một tên —” nàng thốt ra lời tồi tệ nhất.
Erlend cau mày. Ông đã nhặt một hòn đá — mắt dõi theo con mèo đực lông đỏ của Munan đang áp sát bụng xuống đất, luồn qua đám cỏ cao dưới chân vách nhà về phía đàn gà con bên cửa chuồng ngựa. “Xùy!” — ông ném hòn đá; con mèo lao vút quanh góc nhà như một đường kẻ, còn đàn gà nhảy tán loạn. Ông quay sang vợ:
“— Ta thấy ít nhất mình cũng có thể _nhìn_ cho rõ con người ấy; nếu hắn là kẻ đáng tin thì — nhưng khi đó ta hẳn phải tiếp đãi cho đúng lễ — _ta_ đâu phải cha giải tội của ngài Allart. Với lại nàng đã nghe rồi đấy, hắn định tới Oslo.” Erlend lại cười. “Giờ thì có lẽ một vài người bạn trung thành và họ hàng thân thiết ngày trước của ta sẽ được nghe rằng chúng ta ở Jørundgaard này không chỉ ngồi bắt chấy trong giẻ rách rồi ăn cá trích với bánh yến mạch —.”
Bjørgulf đau đầu và đang nằm trên giường khi Kristin lên gác vào giờ ăn tối, còn Naakkve nói rằng cậu không muốn sang nhà chính dùng bữa.
“Mẹ thấy tối nay con buồn bã lắm, con trai,” người mẹ nói với cậu.
“Không, mẹ lại có thể nghĩ thế sao,” — Naakkve cười nhạt, “việc người ta cho rằng con ngu hơn những người đàn ông khác và dễ bị ném cát vào mắt hơn thì có gì đáng để buồn —”
“Cứ yên lòng,” người cha nói khi họ ngồi bên bàn mà Naakkve vẫn hết sức lặng lẽ. “Rồi con cũng sẽ ra thế giới và thử vận may của mình —”
“Còn tùy, thưa cha,” Naakkve khẽ đáp, như thể chỉ muốn Erlend nghe thấy, “xem Bjørgulf có thể đi cùng con hay không.” Rồi cậu khẽ cười. “Nhưng cha hãy nói với Ivar và Skule về chuyện cha đã nhắc tới — chắc chúng chỉ đang mong chóng đủ tuổi để có thể ra đi —”
Kristin đứng dậy, khoác áo choàng có mũ. Khi mọi người hỏi, nàng nói mình muốn đi về phía bắc, tới gặp người hành khất chống gậy trong căn lều Ingebjørg. Hai đứa sinh đôi ngỏ ý đi cùng và mang bao giúp nàng, nhưng nàng muốn đi một mình.
Buổi tối đã khá tối, và về phía bắc nhà thờ, con đường chạy qua rừng, dưới bóng Hammeraas. Từ Rosten lúc nào cũng có luồng khí lạnh thổi ra, và cùng tiếng sông gầm là một hơi ẩm thấp phảng phất trong không khí. Từng đàn bướm đêm lớn màu trắng chập chờn dưới tán cây — đôi lúc chúng sượt sát vào người đàn bà; dường như mảnh vải lanh sáng nhợt bao quanh mặt và ngực nàng đã lôi cuốn chúng trong bóng tối. Nàng lấy tay xua chúng trong lúc vội vã đi lên, trượt chân trên tấm thảm lá kim nhẵn bóng và vấp vào những rễ cây vặn vẹo uốn mình ngang lối mòn nàng đang theo.
— Có một giấc mơ đã ám ảnh Kristin suốt nhiều năm. Lần đầu nàng gặp nó là vào đêm trước khi Gaute chào đời, nhưng mãi về sau nàng vẫn có những lần tỉnh giấc, người đẫm mồ hôi, tim đập dồn như sắp vỡ nát trong lồng ngực, và biết mình vừa mơ lại giấc mơ ấy.
Nàng thấy một đồng hoa — một sườn dốc đứng sâu trong rừng vân sam, nơi rừng cây tối sẫm, dày đặc khép kín bãi đất ở ba phía; nhưng dưới chân dốc, một hồ nước nhỏ phản chiếu khu rừng âm u và khoảng trống xanh tươi, loang lổ sắc màu. Mặt trời ở sau hàng cây — trên đỉnh dốc, chút ánh chiều vàng cuối cùng lọc qua lá kim thành những tia dài, còn dưới đáy hồ, những đám mây sáng lóa ánh mặt trời trôi giữa các lá súng.
Giữa sườn dốc, đứng ngập sâu trong dòng hoa cẩm chướng dính, những bông hoa cầu vàng và các đám bọt hoa xanh trắng của cây đương quy dại, nàng nhìn thấy đứa con mình. Lần đầu nàng mơ giấc mơ này, hẳn đó là Naakkve — khi ấy nàng mới chỉ có hai đứa con, và Bjørgulf vẫn còn nằm nôi. Về sau nàng không bao giờ biết chắc đó có thể là đứa con nào của mình — khuôn mặt nhỏ tròn trịa, rám nắng dưới mái tóc vàng nâu cắt vòng quanh, lúc thì khiến nàng thấy giống đứa này, lúc lại giống đứa khác trong các con trai; nhưng đứa bé bao giờ cũng chừng hai, ba tuổi, mặc một chiếc áo dài nhỏ màu vàng sẫm, giống loại áo nàng thường may làm y phục mặc hằng ngày cho các con trai bé bỏng — bằng len dệt ở nhà, nhuộm với địa y và viền những dải băng đỏ.
Đôi khi chính nàng dường như đang ở bên kia hồ. Hoặc nàng hoàn toàn không có mặt tại nơi sự việc xảy ra, nhưng vẫn nhìn thấy tất cả —.
Nàng nhìn đứa con trai bé bỏng bước qua bước lại, xoay khuôn mặt trong lúc giật hái hoa. Và mặc dù trái tim nàng thắt lại vì một nỗi lo âu mơ hồ, một điềm báo về tai họa sắp xảy đến, mỗi lần giấc mơ ấy bắt đầu vẫn luôn tràn tới một niềm ngọt ngào mãnh liệt, đau buốt, khi nàng nhìn đứa trẻ xinh đẹp giữa đồng hoa.
Rồi nàng nhận ra từ bóng tối nơi bìa rừng phía trên đang tách ra một khối lông lá sống động. Nó di chuyển không một tiếng động, hai con mắt ác độc bé li ti rực lên. Con gấu bước hẳn ra khoảng cao nhất của đồng cỏ, đứng lắc lư đầu và vai, đánh hơi xuống phía dưới. Rồi nó lao đi. Kristin chưa bao giờ trông thấy một con gấu sống, nhưng nàng biết gấu không chạy như thế; đây không phải một con gấu thật. Nó chạy như mèo, đồng thời chuyển sang màu xám — như một con mèo khổng lồ lông sáng, nó trôi xuống bãi cỏ bằng những bước nhảy dài, mềm mại.
Người mẹ chịu nỗi khiếp sợ của cái chết, mà nàng không thể tới nơi đứa bé đang đứng để cứu nó; nàng không thể thốt ra một âm thanh cảnh báo nào. Bấy giờ đứa trẻ nhận ra _có_ một thứ gì đó; nó xoay nửa người, nhìn lui qua vai. Với một tiếng kêu kinh hãi khe khẽ, nhỏ bé đến khủng khiếp, nó cố chạy xuống dưới, nâng chân thật cao qua đám cỏ dài theo kiểu trẻ thơ, và người mẹ nghe rõ từng tiếng lách tách của những thân cây mọng nước bị bẻ gãy khi nó chạy xuyên qua thảm hoa rối cuộn. Rồi nó vấp phải vật gì dưới cỏ, ngã sấp về phía trước, và ngay khoảnh khắc sau, con quái vật đã nằm đè lên nó, lưng vồng cao, đầu cúi sâu giữa hai chân trước. Rồi nàng tỉnh giấc —.
— Và lần nào nàng cũng nằm thức hàng giờ, mãi rồi những cố gắng tự trấn tĩnh mới có chút hiệu quả—đó chỉ là một giấc mơ thôi mà! Nàng kéo đứa con út nằm giữa mình và vách sát vào lòng—nghĩ rằng nếu chuyện ấy là thật, nàng có thể làm thế này hay thế kia—lấy tiếng thét và một cây sào mà dọa con thú—và bên thắt lưng nàng bao giờ cũng đeo con dao dài sắc nhọn—.
Nhưng vừa mới tự dỗ mình yên được như thế, nỗi thống khổ không sao chịu nổi lại ập xuống, khi trong mơ nàng đứng bất lực nhìn đứa con bé bỏng tội nghiệp chạy trốn vô vọng trước con thú tàn ác, nhanh nhẹn và khỏe mạnh không gì cản nổi. Nàng cảm thấy máu trong người mình sôi lên, cuộn trào, khiến thân thể căng phồng và trái tim hẳn phải vỡ tung, bởi nó không thể chứa nổi một đợt máu dâng dữ dội đến thế—.
Túp nhà Ingebjørg nằm trên Hammeraas, thấp hơn một chút so với đường cái khi con đường bắt đầu lên dốc ở đây. Nó đã bị bỏ hoang nhiều năm, còn đất thì cho một người thuê, người ấy được phép khai khẩn dựng nhà ngay bên cạnh. Bấy giờ một gã hành khất chống gậy, bị bỏ lại sau khi một đoàn ăn xin đi qua, đã được cho bò vào đó trú. Khi nghe chuyện, Kristin sai mang thức ăn, quần áo và thuốc men lên, nhưng mãi đến hôm nay nàng mới có thì giờ tự mình tới đó.
Nàng thấy ngay người khốn khổ ấy chẳng còn sống được bao lâu. Kristin trao chiếc bao của mình cho người đàn bà hành khất đã ở lại với ông ta, săn sóc người bệnh bằng chút việc nàng còn có thể làm; và khi nghe nói họ đã sai người đi mời linh mục, nàng rửa mặt, tay và chân cho ông ta, để ông ta được sạch sẽ mà nhận phép xức dầu sau hết.
Khói đặc quánh trong túp lều nhỏ, cùng một mùi bẩn thỉu, ngột ngạt ghê gớm. Khi hai người đàn bà từ nhà người khai hoang bước vào, Kristin bảo họ cứ cho người đến Jørundgaard lấy mọi thứ cần dùng, rồi từ biệt và ra đi. Một nỗi sợ hãi bệnh hoạn kỳ lạ đã khiến nàng không dám gặp vị linh mục mang Corpus Domini tới, nên nàng rẽ ngay vào lối mòn đầu tiên bắt gặp.
Chẳng bao lâu nàng nhận ra đó chỉ là đường cừu đi; nàng lạc hẳn vào vùng đất gồ ghề hoang dại. Những thân cây đổ với mớ rễ rối bời chổng lên trời trông thật kinh khiếp; nơi nào không thể tìm đường vòng, nàng phải bò qua chúng. Những mảng rêu trượt khỏi chân khi nàng trèo xuống giữa các tảng đá lớn. Tơ nhện quấn vào mặt nàng, cành cây quất vào người và móc lấy áo quần. Mỗi khi phải vượt qua một dòng nước nhỏ hay gặp một khoảng đất trũng giữa rừng, hầu như không thể tìm được chỗ nào để nàng lách qua những bụi cây lá rậm rạp, ướt sũng. Và loài bướm đêm trắng xấu xí ấy ở khắp mọi nơi, tụ thành đàn dưới bóng cây, bay rợp lên như từng đám mây từ những bụi thạch nam mỗi khi nàng giẫm vào.
Nhưng sau cùng nàng cũng ra tới những phiến đá bằng phẳng bên dưới, hướng về phía sông Laagen. Rừng thông ở đây thưa thớt, bởi cây phải trải rễ ngang trên nền đá cằn, còn mặt đất dưới rừng hầu như chỉ phủ địa y trắng xám, khô giòn, lạo xạo dưới chân nàng—đây đó một bụi thạch nam sẫm đen. Mùi lá thông ở đây nóng, khô và hắc hơn trên cao—suốt dải rừng này, những tán lá kim bao giờ cũng trông vàng cháy ngay từ đầu xuân. Đám bướm trắng vẫn bám theo nàng—.
Tiếng sông gầm lôi kéo nàng. Nàng đi tới tận mép đá và nhìn xuống. Sâu bên dưới, nước ánh lên trắng xóa, sôi réo ầm vang trên những phiến đá, từ vực nước này trút xuống vực nước khác.
Tiếng thác đều đều rung xuyên qua thân thể và tâm hồn căng thẳng quá độ của nàng. Nó cứ nhắc mãi đến một điều gì—đến một thuở xa xôi như đã vĩnh viễn trôi qua, khi nàng đã hiểu rằng mình không đủ sức mang lấy số phận do chính mình lựa chọn. Cuộc đời thiếu nữ êm đềm, được chở che, nàng đã phơi mở cho tình yêu xác thịt vào tàn phá—từ đó nàng sống trong sợ hãi, sợ hãi và sợ hãi, là một người đàn bà mất tự do ngay từ giây phút đầu tiên làm mẹ. Thuở thanh xuân nàng đã hiến mình cho thế gian, và càng giãy giụa, đập cánh trong thòng lọng của thế gian, nàng càng thấy mình bị thế gian trói buộc, giam cầm chặt hơn. Nàng gắng sức che chở các con trai trong khi đôi cánh mình bị trói bởi những lo toan cưỡng bách của đời tạm. Nàng đã cố giấu mọi người nỗi sợ hãi, sự yếu đuối không lời nào nói xiết của mình, đã bước đi lưng thẳng, mặt bình thản, lặng im và chiến đấu để bảo toàn phúc lợi cho các con bằng mọi cách nàng có thể—.
Nhưng bao giờ cũng có nỗi sợ hãi thầm kín đến nghẹt thở ấy—nếu chúng gặp tai họa, ta sẽ không chịu nổi. Và nơi sâu nhất trong lòng, nàng than khóc trước ký ức về cha mẹ mình. Họ đã mang nỗi lo sợ và buồn đau vì con cái, ngày này qua ngày khác đi dần về phía cái chết; họ đã đủ sức gánh vác gánh nặng của mình, không phải vì họ yêu con ít hơn, mà vì họ yêu bằng một tình yêu tốt lành hơn—.
Và giờ đây cuộc tranh đấu của nàng sẽ kết thúc thế này sao.—Có phải nàng đã nuôi trong lòng mình một đàn chim ưng non bất kham, chúng chỉ nằm trong tổ của nàng và nôn nóng chờ đến giờ đôi cánh đủ sức mang chúng vượt qua những dãy núi xanh xa tít—. Còn cha chúng vỗ hai tay vào nhau mà cười—bay đi, bay đi, những con chim non của ta—.
Khi bay đi, chúng sẽ kéo theo những mảnh rễ trái tim nàng rớm máu, mà không hề hay biết. Còn nàng sẽ ngồi lại một mình, và tất cả những rễ lòng từng buộc nàng với mái nhà xưa thì chính nàng đã tự tay giằng đứt từ trước—. Rồi sẽ thành ra thế này, chẳng phải sống mà cũng chẳng phải chết—.
Nàng quay lại, chạy những bước ngắn, loạng choạng vào sâu trong tấm thảm địa y nhợt nhạt, khô héo, tay túm chặt áo choàng quanh người, bởi mỗi khi nó mắc vào cành cây nàng lại thấy rờn rợn. Cuối cùng nàng ra tới những khoảnh cỏ nhỏ nằm hơi chếch về phía bắc đại sảnh hội và nhà thờ. Nàng đi xéo qua cánh đồng thì trông thấy thấp thoáng một người trên đường. Người ấy gọi, có phải em đấy không, Kristin—nàng nhận ra chồng mình.
“Em đi lâu quá,” Erlend nói. “Đêm đến nơi rồi, Kristin. Anh bắt đầu lo.”
“Anh lo cho em sao?” Giọng nàng nghe cứng rắn và kiêu hãnh hơn nàng muốn.
“Cũng không hẳn là lo. Nhưng anh chợt nghĩ mình nên đi đón em.”
Họ hầu như không nói với nhau trong lúc đi về phía nam. Khi họ bước vào sân, mọi nơi đều im lặng. Vài con ngựa họ giữ ở nhà đang lững thững gặm cỏ dưới vách nhà, nhưng tất cả người làm đều đã đi ngủ.
Erlend đi thẳng tới gác kho, còn Kristin hướng bước về phía nhà bếp. “Em đi xem một thứ,” nàng đáp khi chàng hỏi.
Chàng đứng tựa người qua lan can hành lang và đợi vợ; rồi chàng thấy nàng từ nhà bếp bước ra, tay cầm một thanh gỗ thông nhựa cháy sáng, đi về phía gian nhà có bếp giữa. Erlend chờ một lúc—rồi chạy xuống và theo nàng vào đó.
Nàng đã thắp một ngọn nến và đặt lên bàn. Một cơn rùng mình sợ hãi kỳ lạ chạy qua Erlend khi chàng thấy nàng đứng đó bên ngọn nến cô độc trong căn nhà trống—trong gian phòng chỉ còn những đồ đạc gắn liền với sàn, và dưới ánh nến, lớp gỗ mòn bóng lên, trơ trụi như bị lột sạch. Bếp giữa nhà lạnh ngắt và đã được quét sạch, chỉ trừ thanh củi thông nhựa bị ném lại trên đó vẫn còn âm ỉ. Erlend và Kristin không dùng gian nhà này, và hẳn đã nửa năm rồi không ai nhóm lửa trong ấy. Không khí ngột ngạt một cách lạ lùng; thiếu hẳn những mùi sống động pha trộn từ sự hiện diện và qua lại của con người, còn lỗ thoát khói cùng cửa ra vào đã không được mở suốt chừng ấy thời gian—nơi đây chỉ có mùi len và da thuộc; vài tấm da cuộn lại cùng những chiếc bao mà Kristin đã tách khỏi hàng hóa trong kho được chất lên chiếc giường trống từng là của Lavrans và Ragnfrid.
Trên mặt bàn bày la liệt những con sợi nhỏ—chỉ khâu và sợi để vá, bằng lanh và len, được Kristin để riêng mỗi lần nhuộm. Nàng đứng sắp xếp, lần giở chúng.
Erlend ngồi xuống ghế danh dự ở đầu bàn. Khoảng trống quanh người đàn ông mảnh khảnh trông rộng lạ thường, giờ chiếc ghế há ra trơ trụi, không còn đệm hay khăn phủ. Hai dũng sĩ của Olav đội mũ trụ và mang khiên khắc dấu thập, được Lavrans tạc làm trụ ghế danh dự, cau có nhìn ra, lùn bè và ủ ê dưới đôi bàn tay nâu thon của Erlend. Không người đàn ông nào có thể chạm lá cây và muông thú đẹp hơn Lavrans, nhưng ông chưa bao giờ tạc hình người cho thật ra hồn.
Giữa họ im lặng rất lâu, đến nỗi chẳng nghe thấy tiếng gì ngoài những tiếng thình thịch nặng nề trên bãi cỏ bên ngoài, nơi đàn ngựa đi lại trong đêm hè.
“Em chưa định đi ngủ sao, Kristin?” cuối cùng chàng hỏi.
“Còn anh?”
“Anh định đợi em,” chàng nói.
“Em chưa muốn lên đó—em không ngủ được—”
“Vậy điều gì đè nặng trong lòng em đến nỗi em nghĩ mình không ngủ được, Kristin?” một lúc sau chàng hỏi.
Kristin đứng thẳng lên. Nàng cầm trong tay một con sợi len màu xanh thạch nam; những ngón tay nàng giật và vò nó.
“Hôm nay anh đã nói chuyện gì với Naakkve—” nàng nuốt khan mấy lần, cổ họng khô khốc. “Một lời khuyên mà—nó ngụ ý là không hợp với nó—nhưng hai người đã nói về Ivar và Skule—”
“À—chuyện ấy!” Erlend khẽ mỉm cười. “Anh chỉ bảo thằng bé rằng—ngẫm cho kỹ thì anh vẫn còn một người con rể. Tuy giờ đây Gerlak có lẽ không còn sốt sắng hôn tay anh, mang áo choàng và kiếm cho anh như thuở trước nữa. Nhưng hắn có tàu ngoài biển—và họ hàng giàu có cả ở Bremen lẫn Lynn. Hắn hẳn phải hiểu rằng mình có bổn phận giúp đỡ các anh em trai của vợ—anh đã không tiếc gia sản khi còn là người giàu có và gả con gái cho Gerlak Tiedekenssøn.”
Kristin không nói gì. Cuối cùng Erlend cất giọng hơi gay gắt:
“Lạy Jesus, Kristin, đừng đứng đó trừng trừng như thể đã hóa đá nữa—”
“Thuở chúng ta mới đến với nhau, em đâu từng nghĩ các con mình rồi sẽ phải lang bạt khắp thế gian, đến các gia trang của người lạ mà xin miếng ăn—”
“Quỷ tha ma bắt, anh đâu có định để chúng đi xin! Nhưng nếu cả bảy đứa đều phải tự kiếm thức ăn trên những gia trang của em, thì chúng chỉ có cơm nhà nông thôi, Kristin của anh—mà anh cho rằng các con trai anh chẳng hợp với đời ấy. Ivar và Skule xem ra sẽ thành những tay chém giỏi—mà ngoài thế gian có cả bánh mì trắng lẫn bánh ngọt cho người đàn ông dám dùng kiếm cắt lấy phần ăn của mình.”
“Anh định để các con trai mình thành lính trận và lính đánh thuê sao—?”
“Chính anh cũng từng nhận quân lương, hồi còn trẻ và theo bá tước Jacob. Xin Chúa thương yêu ngài, anh vẫn nói thế—thời ấy anh học được đôi điều mà đàn ông ở đất nước này chẳng bao giờ học nổi khi ở nhà—dù hắn ngồi bệ vệ trên ghế danh dự, thắt đai bạc quanh bụng và nốc bia ừng ực, hay đi sau lưỡi cày mà ngửi lũ ngựa thồ đánh rắm. Anh đã sống một đời khoáng đạt trong đoàn tùy tùng của bá tước—anh vẫn nói thế, dù ngay khi bằng tuổi Naakkve anh đã bị buộc khúc gỗ này vào chân rồi.—Dẫu sao anh cũng đã được hưởng chút tuổi trẻ của mình—”
“Im đi!” Mắt Kristin tối sầm. “Anh sẽ không thấy đó là nỗi nhục đau đớn nhất hay sao, nếu các con trai anh bị mắc vào tội lỗi và tai họa như thế—?”
“Có chứ, xin Chúa cứu chúng khỏi những điều ấy—nhưng đâu nhất thiết chúng phải bắt chước mọi chuyện ngu xuẩn của cha mình. Người ta vẫn có thể phụng sự một lãnh chúa, Kristin, mà không lao đầu vào những chuyện ràng buộc kiểu ấy—”
“Kẻ nào tuốt gươm sẽ mất mạng vì gươm, bài đọc đã chép như thế, Erlend!”
“Phải, anh đã nghe rồi, em yêu. Thế nhưng phần lớn tổ tiên của cả nhà em lẫn nhà anh vẫn chết yên lành như những tín hữu trên giường, sau khi nhận phép xức dầu sau hết và các bí tích trợ giúp linh hồn, Kristin. Em chỉ cần nhớ đến chính cha mình—thuở trẻ ông đã chứng tỏ mình là một trang nam tử biết dùng kiếm—”
“Đó là khi đi quân dịch, Erlend, theo lệnh vị vua mà họ đã thề phò tá, để bảo vệ đất quê nhà, cha em và những người khác mới cầm vũ khí. Vậy mà chính cha từng nói ý Chúa đối với chúng ta không phải là để những người đã chịu phép rửa, những tín hữu Kitô, mang vũ khí đánh lẫn nhau—”
“Phải, anh biết. Nhưng thế gian vốn là thế từ khi Adam và Eva ăn trái trên cây—mà chuyện ấy xảy ra trước thời anh; đâu phải lỗi của anh khi chúng ta sinh ra đã mang tội trong mình—”
“Anh nói những lời thật đáng hổ thẹn—!”
Erlend gay gắt ngắt lời nàng:
“Kristin—em biết rõ—anh chưa bao giờ ngoan cố không chịu ăn năn và đền bù tội lỗi hết sức mình. Anh không phải người ngoan đạo, đúng là thế. Thuở còn nhỏ và mới lớn, anh đã thấy quá nhiều—. Cha anh thân thiết biết bao với những nhân vật quyền thế trong hội đồng giáo sĩ—họ ra vào nhà ông như một đàn lợn xám, ngài Eiliv thuở còn làm linh mục, ngài Sigvat Lande cùng cả bọn họ; chẳng có gì theo chân họ ngoài cãi vã và tranh chấp—họ cư xử cứng lòng và không chút xót thương với chính vị tổng giám mục của mình—những kẻ mỗi ngày cầm trong tay các vật cực thánh và nâng chính Thiên Chúa trong bánh cùng rượu ấy cũng chẳng thánh thiện hay hiếu hòa hơn ai—”
“Chúng ta không được phán xét các linh mục—cha em vẫn nói rằng bổn phận của chúng ta là cúi mình trước chức linh mục của họ và vâng lời họ, còn con người phàm tục nơi họ chỉ chịu sự phán xét của một mình Thiên Chúa toàn năng—”
“Phải—ải.” Erlend kéo dài giọng. “Anh biết ông đã nói thế, và em cũng từng nói rồi. Anh biết về mặt ấy em ngoan đạo hơn mức anh có thể đạt tới—nhưng Kristin, anh thật khó hiểu làm sao có thể coi là giải nghĩa đúng lời Chúa khi em cứ chất chứa mãi và chẳng bao giờ quên. Lavrans cũng có trí nhớ dai lắm—thôi, anh không nói gì về cha em ngoài việc ông là người ngoan đạo, cao quý và tốt lành, mà em cũng thế, anh biết—nhưng nhiều khi em nói dịu dàng ngọt ngào như thể miệng đầy mật, anh lại sợ rằng trong đầu em phần nhiều chỉ nghĩ đến những bất công cũ, còn em có ngoan đạo trong lòng như ngoài miệng hay không thì xin để Chúa phán xét—”
Đột nhiên nàng đổ sụp xuống, nằm úp trên bàn, vùi mặt giữa hai cánh tay mà thét lên. Erlend bật dậy—nàng nằm đó khóc bằng những tiếng nấc khô khốc, giằng xé, làm cả lưng rung lên. Erlend ôm lấy vai nàng:
“Kristin, chuyện gì vậy—. Chuyện gì vậy,” chàng nhắc lại, ngồi xuống ghế dài bên nàng và cố nâng đầu nàng lên. “Kristin—đừng khóc thế—anh nghĩ em mất trí rồi—”
“Em sợ!” Nàng ngồi thẳng lên, hai bàn tay siết chặt trong lòng. “Em sợ quá, lạy Đức Bà Maria nhân từ, xin cứu giúp tất cả chúng con—em sợ quá, rồi tất cả các con trai em sẽ ra sao—”
“Ôi Kristin của anh—nhưng em phải tập quen với điều ấy—em không thể giấu chúng dưới váy mình mãi được—chẳng bao lâu nữa các con trai chúng ta đều là đàn ông trưởng thành. Thế mà em vẫn như chó mẹ—” chàng ngồi vắt chân nọ lên chân kia, hai tay đan trên đầu gối, hơi mệt mỏi nhìn xuống vợ, “em ngoạm bừa cả bạn lẫn thù, hễ động đến đàn con của em.”
Nàng đột ngột đứng dậy, lặng câm một lúc, hai tay vặn xoắn vào nhau. Rồi nàng bắt đầu đi thật nhanh tới lui trong gian phòng. Nàng không nói gì, còn Erlend ngồi im nhìn nàng.
“Skule—” nàng dừng lại trước mặt chồng. “Anh đã đặt cho con trai mình một cái tên bất hạnh. Nhưng chính anh muốn thế—anh muốn vị công tước ấy sống lại trong đứa trẻ—”
“Cái tên ấy tốt chứ sao, Kristin. Bất hạnh—cũng có nhiều thứ bất hạnh. Khi lấy tên ông ngoại của bà nội anh đặt cho con trai mình, anh có nhớ rằng vận may đã phụ ông, nhưng dù sao ông vẫn là vua, có quyền chính đáng hơn con cháu tên thợ làm lược—”
“Anh với Munan Baardssøn vẫn thường kiêu hãnh lắm vì mình là họ hàng gần của vua Haakon Haalegg—”
“Em biết đấy, dòng họ Sverre có được huyết thống hoàng gia là nhờ bà cô của cha anh, Margret Skulesdatter—”
Một hồi lâu, hai vợ chồng đứng nhìn thẳng vào mắt nhau.
“Phải, anh biết em đang nghĩ gì, bà chủ xinh đẹp của anh.” Erlend quay lại ngồi trên ghế danh dự. Hai tay đặt trên hai đầu người khổng lồ chạm ở tay vịn, chàng hơi cúi mình về phía trước; chàng mỉm cười lạnh lùng, khiêu khích. “Nhưng em thấy đấy, Kristin của anh—việc trở thành một kẻ nghèo khó, không bè bạn, vẫn không quật ngã được anh. Anh cũng chẳng ngại cho em biết—anh không sợ dòng họ tổ tiên mình vì anh mà vĩnh viễn sa sút, mất hết quyền thế và danh dự. Vận may cũng đã phụ anh—nhưng nếu việc anh mưu tính thành công, thì giờ đây anh và các con trai đã có chỗ ngồi bên tay phải nhà vua, như địa vị của những người bà con gần với ngài đáng được hưởng. Với anh, ván cờ hẳn đã đổ rồi—nhưng anh nhìn các con trai mình mà biết, Kristin—chúng sẽ có được địa vị xứng với dòng dõi. Em không cần phải than khóc cho chúng như thế, cũng đừng cố sức trói chúng lại trong thung lũng heo hút này của em—hãy để chúng tự do thử sức, rồi có lẽ trước khi chết em sẽ được thấy chúng giành lại chỗ đứng trên những miền đất tổ của cha mình—”
“Ôi, anh nói thì hay lắm!” Những giọt lệ giận dữ, nóng bỏng, cay đắng muốn trào lên mắt người vợ, nhưng nàng ghìm chúng xuống và cười, miệng méo xệch:
“Anh xem ra còn trẻ con hơn cả lũ con trai, Erlend! Anh ngồi đó mà nói những lời ấy—mới hôm nay thôi, Naakkve suýt nữa đã gặp một thứ vận may mà miệng người Kitô hữu không dám gọi tên, nếu Thiên Chúa không cứu chúng ta—”
“Phải, lần ấy chính anh đã may mắn được làm công cụ của Thiên Chúa”—Erlend nhún vai. Nhưng rồi chàng nói, giọng hết sức nghiêm trang:
“Chuyện như thế—em không cần phải sợ, Kristin của anh—chẳng lẽ chính chuyện này đã làm em kinh hãi đến mất cả trí khôn sao, tội nghiệp em quá!” Chàng cúi nhìn xuống, gần như ngượng ngập mà nói: “Em hãy nhớ, Kristin—người cha quá cố có phúc của em vẫn cầu nguyện cho các con chúng ta, cũng như sớm tối ông cầu nguyện cho tất cả chúng ta. Và anh tin chắc rằng lời cầu thay của một người tốt lành đến thế có thể cứu người ta khỏi biết bao điều—kể cả những điều tồi tệ nhất—” Nàng thấy chàng kín đáo dùng ngón cái làm dấu thánh giá trên ngực.
Nhưng trong cơn mất tự chủ lúc này, điều ấy chỉ càng khiến nàng nổi giận hơn:
“Vậy anh ngồi trên ghế danh dự của cha tôi và tự an ủi rằng các con trai anh sẽ được lời cầu nguyện của ông cứu vớt, cũng như chúng được những điền trang của ông nuôi sống—”
Erlend tái mặt:
“Ý em là thế sao, Kristin—rằng anh không xứng ngồi trên ghế danh dự của Lavrans Bjørgulfssøn—”
Người vợ mấp máy môi nhưng không thốt được thành tiếng. Erlend đứng dậy:
“Có phải ý em là thế không—nếu phải, thì anh xin thề, bởi Thiên Chúa đang ở trên cả hai chúng ta—anh sẽ không bao giờ ngồi vào đó nữa.”
“Trả lời đi,” chàng lại nói khi nàng vẫn đứng nguyên như trước. Một cơn run dài chạy suốt thân thể người đàn bà.
“Người ngồi đó trước anh—là một chủ nhà tốt hơn—” nàng khó nhọc lắm mới thốt ra được những lời đủ nghe.
“Giữ mồm giữ miệng, Kristin!” Erlend bước nhanh mấy bước về phía nàng. Nàng giật mình đứng thẳng lên:
“Phải, cứ đánh tôi đi—trước đây tôi đã từng chịu rồi, thêm một lần nữa tôi cũng chịu được.”
“Anh không hề định đánh em.” Chàng đứng, một tay chống lên bàn; họ lại nhìn chằm chằm vào nhau, và gương mặt chàng lại mang vẻ bình thản xa lạ mà nàng chỉ đôi lần hiếm hoi từng thấy. Giờ đây vẻ ấy khiến nàng hóa cuồng. Nàng biết mình mới là người có lý, lời lẽ của Erlend thật điên rồ, vô trách nhiệm—nhưng gương mặt ấy khiến nàng cảm thấy như thể người hoàn toàn sai trái chính là nàng.
Nàng nhìn chàng, và dù lòng phát ốm vì kinh hãi trước lời mình sắp nói, nàng vẫn cất tiếng:
“Tôi e rằng dòng họ anh có hưng thịnh trở lại ở Trøndelag thì cũng không phải nhờ những đứa con trai của tôi—”
Mặt Erlend đỏ bừng:
“Anh hiểu rồi—em không sao nén được việc nhắc anh nhớ tới Sunniva Olavsdatter—”
“Người nhắc tên cô ta là anh, không phải tôi.”
Erlend càng đỏ mặt hơn.
“Em chưa bao giờ nghĩ đến điều này sao, Kristin—rằng trong tai họa ấy—em cũng không hoàn toàn vô can—
Em có nhớ buổi tối hôm ấy ở Nidaros không—anh đến đứng trước giường em. Khi ấy anh mềm lòng lắm, lại đau buồn vì đã làm trái ý em, vợ anh ạ—anh đến để xin em—tha thứ cho lỗi lầm của anh. Em đáp lại bằng cách bảo anh hãy đi mà nằm ở nơi anh đã nằm đêm hôm trước—”
“Làm sao tôi biết được anh đã nằm với vợ của người bà con mình—”
Erlend đứng yên một lát. Chàng tái đi rồi lại đỏ mặt. Sau đó chàng quay mình, không nói một lời, bước ra khỏi gian nhà.
Người vợ không nhúc nhích—nàng đứng bất động rất lâu, hai bàn tay siết chặt dưới cằm, nhìn đăm đăm vào ánh lửa.
Rồi nàng giật mạnh đầu lên—thở ra một hơi dài. Một lần thì chàng cũng phải chịu nghe điều ấy.
Bấy giờ nàng chợt nghe tiếng vó ngựa ngoài sân—qua nhịp bước, nàng nhận ra một người làm đang dắt ngựa. Nàng rón rén ra cửa, bước vào hành lang hiên, nép sau những tấm ván mà nhìn.
Đêm đã bắt đầu bạc màu. Ngoài sân, Erlend đứng cùng Ulf Haldorssøn. Erlend đang giữ ngựa, và nàng thấy nó đã được đóng yên, còn chàng thì mặc đồ đi đường. Hai người trò chuyện một lúc, nhưng nàng không nghe rõ được một lời. Rồi Erlend nhảy lên yên, bắt đầu cho ngựa chậm bước về phía bắc, hướng đến cổng điền trang; chàng không ngoái lại, nhưng dường như vẫn nói chuyện với Ulf đang đi bên cạnh ngựa.
Khi họ khuất dạng giữa những hàng rào phía trên, nàng lẻn ra, vội vã đi thật khẽ đến cổng rồi đứng đó lắng nghe—bấy giờ nàng nghe thấy Erlend cho Soten chạy nước kiệu trên đường lớn.
Một lát sau Ulf trở lại. Anh đột ngột dừng bước khi trông thấy nàng đứng bên cổng. Trong ánh sáng xám nhạt của buổi rạng đông, họ đứng nhìn nhau một hồi. Ulf đi giày trên chân trần và dưới áo choàng chỉ mặc đồ vải lanh.
“Có chuyện gì vậy?” bà chủ gặng hỏi.
“Hẳn cô phải biết chứ—tôi thì không biết.”
“Anh ấy đi đâu?” nàng lại hỏi.
“Tới Haugen.” Ulf đứng lặng một lát. “Erlend vào đánh thức tôi—anh ấy nói đêm nay muốn cưỡi ngựa tới đó—và xem ra rất vội; có vài món đồ anh ấy dặn tôi lo liệu gửi lên sau.”
Kristin im lặng rất lâu.
“Lúc đi anh ấy giận lắm phải không?”
“Anh ấy rất bình tĩnh.” Một lát sau Ulf khẽ nói: “Tôi e, Kristin ạ—có lẽ em đã nói ra điều đáng lẽ nên để nguyên không nói.”
“Ít nhất cũng phải có một lần Erlend chịu được khi tôi nói với anh ấy như nói với một người có trí khôn chứ,” người vợ nóng nảy đáp.
Họ chậm rãi đi xuống. Ulf rẽ về phía gian nhà của mình, nàng liền bước theo anh:
“Ulf, anh em một nhà,” nàng lo âu khẩn khoản, “trước kia chính anh vẫn ngày đêm bảo tôi rằng vì các con trai mình, tôi phải cứng rắn và phải nói thẳng với Erlend.”
“Phải, năm tháng đã làm tôi khôn ra, Kristin, còn em thì không,” anh vẫn đáp bằng giọng như trước.
“Anh an ủi tôi khéo thật,” nàng cay đắng nói.
Anh đặt nặng một bàn tay lên vai người đàn bà, nhưng thoạt đầu không nói gì. Họ đứng đó—yên tĩnh đến nỗi cả hai đều nghe tiếng sông rì rầm không dứt mà thường ngày chẳng ai để ý. Ngoài thung lũng, những con gà trống cất tiếng gáy, và con gà trống của điền trang Kristin từ chuồng ngựa vang giọng đáp lại.
“Phải, tôi đã phải học cách dè sẻn lời an ủi, Kristin—mấy năm nay thứ ấy đã bị dùng hao nhiều quá—giờ ta phải dành dụm, bởi chẳng ai biết nó còn phải đủ dùng đến bao lâu nữa—”
Nàng giằng mình khỏi tay anh; hai hàm răng cắn chặt môi dưới, nàng quay mặt sang bên—rồi chạy xuống, trở về gian nhà có bếp lửa.
Buổi sáng lạnh buốt như băng; nàng quấn áo choàng sát quanh mình và kéo mũ trùm xuống đầu. Nàng ngồi co ro bên mép bếp lạnh, kéo đôi giày ướt sương vào dưới váy, hai tay khoanh trên đầu gối, chìm trong suy nghĩ. Thỉnh thoảng mặt nàng run lên, nhưng nàng không khóc.
Hẳn nàng đã thiếp đi—nàng choàng dậy, lưng đau nhức, toàn thân lạnh cóng và ê ẩm. Cửa hé mở—nàng thấy ngoài sân đã có nắng.
Kristin bước ra hành lang hiên—mặt trời đã lên cao; từ bãi chăn phía dưới, nàng nghe tiếng chuông của con ngựa bị què. Nàng nhìn sang kho mới. Bấy giờ nàng mới nhận ra Munan bé nhỏ đang đứng trên hành lang tầng gác, nhìn ra qua những vòm cột.
Các con trai—ý nghĩ ấy đâm xuyên qua nàng. Chúng đã nghĩ gì khi thức dậy và thấy giường của cha mẹ vẫn nguyên không ai nằm.
Nàng chạy qua sân, lên chỗ đứa trẻ—Munan chỉ mặc độc chiếc áo lót. Vừa khi mẹ đến bên, nó liền luồn bàn tay vào tay nàng như thể đang sợ hãi.
Trong gian gác, không đứa nào đã mặc quần áo chỉnh tề—nàng hiểu chắc hẳn chúng không được ai gọi dậy. Tất cả đều vội ngước nhìn mẹ rồi lại cụp mắt xuống. Nàng cầm đôi tất dài của Munan lên, định giúp nó xỏ vào.
“Cha đâu rồi ạ?” Lavrans ngạc nhiên hỏi.
“Cha con đã cưỡi ngựa lên phía bắc, tới Haugen từ lúc tang tảng sáng,” nàng đáp. Nàng nhận thấy mấy đứa lớn đều lắng nghe, liền nói thêm: “Các con biết cha đã nhắc chuyện ấy từ lâu rồi, trước sau gì cha cũng phải lên xem điền trang của mình ra sao.”
Hai đứa nhỏ ngước nhìn mặt mẹ với đôi mắt mở to, ngơ ngác, nhưng năm người anh lớn đều tránh ánh mắt nàng khi bước ra khỏi gian gác.