Kristin Lavransdatter III: Thập giá — Chương 9: Tập III — Thập giá · Phần II — Những người mắc nợ · Chương III
Chương 9 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter III: Thập giá
Ngày tháng trôi qua. Thời gian đầu Kristin không lấy gì làm sợ: nàng chẳng buồn nghĩ ngợi xem Erlend định bụng gì khi xử sự như thế, đang đêm nổi giận đùng đùng bỏ nhà ra đi, hay chàng tính ngồi lì trên điền trang vùng núi phía bắc ấy bao lâu để trừng phạt nàng bằng sự vắng mặt của mình. Nàng sôi sục giận chồng, mà giận nhất chính vì nàng không thể tự phủ nhận rằng mình cũng có lỗi, và đã nói ra những lời mà tận đáy lòng nàng mong sao có thể thu lại được.
Quả thật nàng đã sai nhiều lần, và trong cơn nóng giận thường buông những lời độc địa, xấu xa với chồng. Nhưng điều làm nàng cay đắng nhất là Erlend chẳng bao giờ chịu quên và tha thứ, trừ phi nàng hạ mình, dịu dàng cầu xin chàng. Nàng thấy mình cũng đâu phải thường xuyên quá lời đến thế—lẽ nào chàng không hiểu rằng phần nhiều ấy là những lúc nàng đã mệt mỏi, kiệt sức vì bao buồn phiền và sợ hãi mà nàng cố âm thầm gánh chịu—chính những lúc ấy nàng dễ mất quyền tự chủ nhất. Nàng thấy Erlend đáng lẽ phải nhớ rằng, ngoài nỗi lo nàng đã mang suốt bao năm về tương lai các con trai, mùa hè này nàng còn hai lần phải trải qua nỗi kinh hoàng khủng khiếp vì Naakkve. Giờ nàng đã hiểu rằng sau gánh nặng và nhọc nhằn của người mẹ trẻ là một thứ sợ hãi và ưu phiền mới dành cho người mẹ đã có tuổi.—Những lời chàng thản nhiên nói rằng chàng không lo cho tương lai các con đã kích nàng đến hóa thành một con gấu cái điên cuồng—hay một con chó cái có đàn con; Erlend muốn bảo nàng giống chó cái trong chuyện con cái thì cứ việc. Nàng sẽ canh giữ chúng, cảnh giác và tỉnh thức như chó mẹ, chừng nào sự sống còn ở trong nàng.
Và nếu chỉ vì chuyện này mà chàng muốn quên rằng mỗi khi hữu sự nàng vẫn đứng bên chàng, hết sức mình; rằng nàng vẫn biết phải trái và công bằng bất chấp cơn giận, cả khi chàng đánh nàng lẫn khi chàng phản bội nàng với phu nhân Lensvik đáng ghét, lẳng lơ kia, thì chàng cứ việc. Ngay cả bây giờ, mỗi khi nghĩ lại, nàng cũng không thể cảm thấy giận dữ hay cay đắng với Erlend vì điều tồi tệ nhất chàng từng làm với nàng—khi nàng đem _chuyện ấy_ ra oán trách chàng, ấy là vì nàng biết chính chàng cũng hối hận, chính chàng hiểu mình đã làm điều xấu xa. Nhưng chưa bao giờ nàng giận Erlend đến mức ký ức về những trận đòn và sự bất trung của chàng, cùng tất cả những gì kéo theo sau đó, không khiến nàng đau buồn vì bản thân chàng nhiều hơn cả—nàng luôn cảm thấy rằng trong những cơn bộc phát của tính khí bất trị ấy, chàng đã phạm tội với chính mình và phần rỗi linh hồn mình nhiều hơn là với nàng.
Điều cứ nhức nhối mãi trong nàng là tất cả những vết thương nhỏ chàng đã gây ra bằng sự thờ ơ lạnh nhạt, bằng tính thiếu kiên nhẫn trẻ con—bằng chính cái cách yêu nồng nhiệt mà phóng túng, không biết nghĩ của chàng, mỗi khi chàng tỏ ra rằng dẫu sao chàng vẫn yêu nàng. Đó là tất cả những năm nàng còn trẻ và lòng dạ mềm yếu, khi nàng cảm thấy cả sức khỏe lẫn nghị lực đều không đủ, giữa lúc nàng ngồi đó, vòng tay đầy những đứa trẻ bé bỏng không nơi nương tựa, nếu người cha, người chồng không tỏ cho nàng thấy mình vừa có khả năng vừa có lòng yêu thương để che chở nàng cùng những đứa con trai nhỏ trên lòng nàng. Thật là một nỗi thống khổ khi biết thân thể mình yếu đuối, tâm trí mình đơn sơ và thiếu từng trải, mà lại không dám tin chắc vào trí khôn cùng sức mạnh của chồng—dường như thuở ấy tim nàng đã mang những vết thương không bao giờ khép miệng. Ngay cả niềm vui ngọt ngào khi bế đứa con còn bú lên, áp cái miệng yêu dấu của nó vào vú mình và cảm thấy tấm thân nhỏ bé, ấm áp, mềm mại ấy trong cánh tay, cũng bị nỗi sợ hãi và bất an làm cho đắng ngắt—con bé bỏng, không được chở che đến thế, mà cha con lại chẳng đủ nhớ rằng điều ông ấy phải để tâm hơn hết là giữ cho con được an toàn—.
Còn giờ đây, khi lũ con nhỏ của nàng đã có tủy trong khớp xương, có xương cứng trong đầu, nhưng vẫn chưa đủ trí khôn của đàn ông—chàng lại lôi kéo chúng rời khỏi nàng. Cả đàn, chồng lẫn con trai, cứ khuất dần khỏi nàng trong cái tính ham chơi kỳ lạ của con trai, điều nàng tưởng mình từng thoáng thấy ở mọi người đàn ông nàng đã gặp, mà một người đàn bà nặng lòng lo nghĩ không bao giờ có thể theo cùng.
Bởi vậy, khi nghĩ đến Erlend, vì chính bản thân mình nàng chỉ buồn và giận. Nhưng nàng lại lo âu mỗi khi tự hỏi các con trai đang nghĩ gì.
Ulf đã lên Dovre với hai con ngựa thồ, mang cho Erlend những thứ chàng nhắn gửi lên—quần áo cùng rất nhiều vũ khí, cả bốn cây cung của chàng, những bao đầu tên và tên nỏ bằng sắt, ba con chó. Munan và Lavrans khóc dữ dội khi Ulf dắt con chó cái nhỏ lông mượt, đôi tai rủ mềm như lụa—đó là một giống chó quý từ nước ngoài mà Erlend được viện phụ ở Holm tặng. Việc cha chúng sở hữu một con chó hiếm như thế, hơn bất cứ điều gì khác, đã nâng chàng trong mắt hai đứa nhỏ lên trên mọi người đàn ông. Hơn nữa, cha chúng đã hứa rằng khi con chó cái sinh lứa tiếp theo, mỗi đứa sẽ được tự chọn lấy một con.
Khi Ulf Haldorssøn trở về, Kristin hỏi Erlend có nói khi nào chàng định quay về nhà không.
“Không,” Ulf đáp. “Có vẻ ngài ấy định ở yên luôn trên đó.”
Ulf không tự mình kể thêm bao nhiêu về chuyến đi Haugen. Còn Kristin không muốn hỏi.
Đến mùa thu, khi họ dọn từ căn nhà mới vào nhà chính, các con trai lớn nói rằng mùa đông này chúng muốn được ngủ trên căn buồng ở gác trên. Kristin cho phép, và thế là nàng ngủ một mình với hai đứa út trong gian nhà lớn phía dưới. Tối đầu tiên, nàng bảo từ nay Lavrans cũng có thể nằm chung giường với nàng.
Thằng bé nằm lăn qua lăn lại khoan khoái, rúc sâu xuống đệm. Lũ trẻ vốn quen được dọn chỗ nằm trên ghế dài, trên những bao da nhồi rơm, rồi lấy những tấm da thú quấn quanh người. Nhưng trên giường có đệm xanh để nằm và những tấm chăn dệt đẹp phủ ngoài tấm da thú—còn cha mẹ chúng dùng áo bọc bằng vải lanh trắng cho những chiếc gối đầu.
“Chắc con chỉ được nằm đây cho đến khi cha về thôi,” Lavrans hỏi, “rồi chúng con lại phải xuống ghế dài nằm phải không, mẹ?”
“Khi ấy các con có thể ngủ trong giường của Naakkve và Bjørgulf,” người mẹ đáp. “Nếu các anh con không đổi ý, dọn xuống lại khi trời trở lạnh.” Trên gác cũng có một lò xây nhỏ, nhưng nó cho nhiều khói hơn hơi ấm, mà gió cùng thời tiết lọt vào tầng trên rõ hơn nhiều.
Càng về cuối thu, một nỗi sợ mơ hồ càng lặng lẽ bò vào lòng Kristin; mỗi ngày nó một lớn hơn, và sự căng thẳng trở thành nỗi giày vò nàng phải sống cùng. Dường như chẳng ai nghe được hay hỏi được tin gì về Erlend.
Trong những đêm thu dài đen đặc, nàng nằm thức, nghe hơi thở đều đều của hai đứa con trai nhỏ, lắng tiếng thời tiết chuyển quanh các góc nhà và nghĩ đến Erlend. Giá như chàng không ở chính điền trang ấy—.
Nàng đã rất khó chịu khi hai người anh em họ nhắc đến Haugen—Munan Baardssøn ở cùng họ trong quán trọ vào một trong những tối cuối trước khi họ rời Oslo. Bấy giờ Munan một mình sở hữu điền trang nhỏ ấy do mẹ để lại. Cả ông ta lẫn Erlend đều đã ngà ngà say và vui vẻ, còn trong khi nàng ngồi khổ sở vì thế nào rồi họ cũng nói tới cái nơi bất hạnh ấy, sự việc diễn ra đến nỗi Munan tặng luôn điền trang cho Erlend—như vậy ít ra chàng không hoàn toàn là kẻ không một tấc đất trên đất Na Uy. Chuyện ấy diễn ra giữa lời đùa cợt và tiếng cười—ngay cả những lời đồn rằng người ta không thể sống ở Haugen vì ma quỷ quấy phá, họ cũng đem ra làm trò cười. Nỗi kinh hãi đã ám vào Munan Baardssøn sau cái chết dữ của mẹ ông ta và chồng bà trên ấy xem ra đến lúc này đã phần nào phai đi trong lòng vị hiệp sĩ.
Quả thật ông ta đã trao cho Erlend cả văn thư và khế ước về Haugen. Kristin không thể che giấu sự bất bình vì chàng đã trở thành chủ nhân của nơi rùng rợn ấy. Nhưng Erlend gạt đi bằng một câu đùa:
“Khó lòng có chuyện nàng hay ta sẽ đặt chân vào những ngôi nhà trên ấy—nếu chúng còn đứng đó mà chưa đổ sập. Còn dì Aashild hay ngài Bjørn hẳn cũng chẳng ai tự tay mang tô tức về tận nhà cho chúng ta. Vậy thì chuyện ấy đâu thể làm hại gì chúng ta, nếu lời người ta nói rằng chúng vẫn đi lại ở đó là thật—”
Năm càng về cuối và ý nghĩ của Kristin cứ luôn xoay quanh chuyện không biết Erlend sống ra sao trên Haugen miền bắc ấy, nàng càng trở nên lầm lì đến nỗi hầu như không nói một lời với con cái hay gia nhân, trừ khi buộc phải đáp câu hỏi của họ—còn họ ngại ngần không dám thưa chuyện với bà chủ nếu không thật sự cần thiết, bởi mỗi khi họ xen vào quấy rầy người đàn bà đang chìm trong những suy tư bất an, căng thẳng, nàng đều đáp cộc lốc và thiếu kiên nhẫn. Chính nàng hầu như không nhận ra điều ấy, cho đến khi cuối cùng để ý thấy hai đứa con út đã thôi hỏi về cha hoặc nhắc đến cha với nàng, nàng thở dài và nghĩ trẻ con chóng quên—nhưng nàng không biết đã bao lần mình khiến chúng sợ mà tránh xa bằng những câu trả lời thiếu kiên nhẫn, khi nàng bắt chúng im lặng, đừng quấy rầy nàng.
Với những đứa con trai lớn, nàng nói chuyện rất ít.
Chừng nào đợt rét khô còn kéo dài, nàng vẫn có thể trả lời khách lạ ghé qua điền trang hỏi chủ nhà rằng chàng đang ở sâu trong núi thử vận săn bắn. Rồi vào tuần đầu mùa Vọng, một trận tuyết lớn đổ xuống cả thung lũng lẫn miền núi.
Sáng sớm ngày áp lễ thánh Lucia, khi bên ngoài vẫn tối đen và trời đầy sao, Kristin từ chuồng bò trở về. Dưới ánh một bó đuốc gỗ thông nhựa cắm trong ụ tuyết, nàng thấy ba đứa con trai đang buộc ván trượt vào chân ngoài cửa nhà—cách đó một quãng là con ngựa thiến của Gaute, chân mang bàn đi tuyết, lưng chở đồ thồ. Nàng đoán được chúng định đi đâu; bởi vậy nàng không dám nói gì ngoài câu thốt lên khi nhận ra một trong ba đứa là Bjørgulf—hai đứa kia là Naakkve và Gaute—:
“Con cũng đi trượt tuyết sao, Bjørgulf—hôm nay chắc trời quang đấy, con!”
“Như mẹ thấy đấy.”
“Có lẽ các con sẽ về trước lúc ngày lên cao chứ?” nàng hỏi, lúng túng không biết làm sao. Bjørgulf trượt tuyết rất kém; mắt cậu chịu không nổi ánh sáng phản lên từ tuyết và mùa đông phần nhiều chỉ quanh quẩn trong nhà. Nhưng Naakkve đáp rằng có lẽ chúng sẽ đi vài ngày.
Kristin ở nhà trong bất an và sợ hãi. Hai đứa sinh đôi cau có, gắt gỏng, khiến nàng hiểu rằng chúng cũng muốn đi nhưng không được các anh lớn cho phép.
Sáng sớm ngày thứ năm, vào giờ ăn sáng, cả ba trở về. Naakkve nói vì Bjørgulf nên họ đã lên đường từ lúc tờ mờ tối—để có thể về nhà trước khi mặt trời mọc. Hai anh em đi thẳng lên căn buồng trên gác—Bjørgulf trông mệt lả—còn Gaute mang các bao và đồ thồ vào nhà. Cậu đem về cho hai đứa nhỏ hai con chó con xinh đẹp—thế là chúng quên cả hỏi han lẫn buồn phiền. Gaute có vẻ ngượng ngập nhưng cố không để lộ:
“—còn thứ này,” cậu nói, lôi ra khỏi bao, “cha bảo con trao cho mẹ.”
Đó là mười bốn tấm da chồn ecmin, đẹp vô cùng. Người mẹ nhận lấy, khá vụng về—nàng không sao tìm nổi một lời để đáp. Có quá nhiều điều nàng muốn hỏi; nàng sợ mình sẽ bị cảm xúc nhấn chìm nếu hé mở lòng dù chỉ một chút—mà Gaute còn quá trẻ. Nàng chỉ nói được:
“Chúng đã trắng cả rồi, mẹ thấy thế—phải, giờ ta đã vào sâu trong nửa mùa đông—”
Khi Naakkve xuống và cùng Gaute ngồi bên mâm cháo, Kristin vội bảo Frida rằng chính nàng sẽ mang thức ăn lên gác cho Bjørgulf. Bỗng nàng nghĩ rằng có lẽ mình có thể nói về chuyện này với đứa con ít lời ấy, người mà nàng linh cảm trong tâm trí đã trưởng thành hơn các anh em rất nhiều.
Cậu đã nằm xuống giường, lấy một mảnh vải lanh che mắt. Người mẹ treo một ấm nước lên thanh móc trong lò, và trong khi Bjørgulf chống khuỷu tay ngồi dậy ăn, nàng đun nước thuốc bằng cỏ sáng mắt khô và cỏ chim én.
Kristin lấy chiếc bát đã ăn hết khỏi tay cậu, rửa đôi mắt đỏ và sưng bằng nước thuốc rồi đắp những mảnh vải lanh thấm ướt lên trên; cuối cùng nàng lấy hết can đảm hỏi:
“Cha con không nói gì về chuyện bao giờ ông ấy định xuống với chúng ta sao?”
“Không.”
“Con lúc nào cũng kiệm lời, Bjørgulf,” một lúc sau người mẹ nói.
“Xem ra đó là tính gia truyền, mẹ ạ.—Chúng con gặp Simon và người của dượng ở phía bắc Rosten—họ đánh xe chở hàng lên phía bắc,” một lát sau cậu nói.
“Các con có nói chuyện với nhau không?” người đàn bà hỏi.
“Không—” cậu lại cười như trước. “Xem ra giữa họ hàng thân thích với họ hàng bên vợ chúng ta đang có một thứ dịch bệnh—tình bạn không sao sống nổi.”
“Con định trách mẹ về chuyện ấy sao?” người mẹ nổi giận. “Lúc thì con than rằng chúng ta im lặng quá nhiều—rồi con lại bảo chúng ta không giữ nổi tình thân—”
Bjørgulf chỉ cười lần nữa. Rồi cậu nhổm lên chống khuỷu tay, như thể lắng nghe hơi thở của mẹ:
“Nhân danh Chúa, mẹ đừng bắt đầu khóc bây giờ—. Con mệt mỏi, rã rời, lại không quen đi ván trượt—mẹ đừng để tâm những điều con nói. Con biết rõ mẹ không phải người đàn bà ưa gây gổ.”
Kristin lập tức rời khỏi căn gác. Nhưng giờ đây dù thế nào nàng cũng không dám hỏi đứa con này xem bọn trẻ nghĩ gì về những chuyện ấy.
Thế rồi tối này sang tối khác, khi lũ con trai đã lên gác, nàng nằm thức và lắng nghe: Không biết khi chỉ còn lại một mình trên ấy, chúng có nói chuyện với nhau không? Có tiếng ủng chúng ném xuống sàn thình thịch, tiếng thắt lưng đeo dao rơi loảng xoảng—nàng nghe tiếng chúng nhưng không phân biệt được lời—chúng tranh nhau nói, giọng mỗi lúc một lớn—dường như nửa cáu kỉnh, nửa đùa giỡn. Một đứa sinh đôi hét to—rồi có người bị kéo lê trên sàn khiến bụi từ trần rơi xuống gian nhà—cửa hành lang bật mở đánh rầm—ngoài hành lang gác trên vang lên tiếng đổ vỡ, Ivar và Skule la lối, dọa nạt ngoài ấy trong khi đấm cửa thình thình—nàng nhận ra giọng Gaute, cao và đầy tiếng cười. Nàng hiểu cậu đang đứng phía trong cửa—Gaute và hai đứa sinh đôi lại gây gổ, kết cục là Gaute đã ném chúng ra ngoài. Cuối cùng nàng nghe giọng đàn ông trưởng thành của Naakkve—cậu giảng hòa, hai đứa kia được vào. Thêm một lúc nữa, tiếng trò chuyện và cười đùa còn vọng xuống chỗ nàng, rồi chúng trèo lên giường trên ấy. Cuối cùng mọi sự im bặt. Một lát sau, từ trên vọng xuống một tiếng rền đều đặn, xen giữa những quãng lặng—như tiếng sấm dội từ sâu trong núi.
Người mẹ mỉm cười trong bóng tối. Gaute vẫn ngáy mỗi khi thật sự mệt. Cha nàng cũng từng như vậy. Những nét giống nhau như thế thật lạ lùng—những đứa con trai mang dung mạo Erlend cũng giống chàng ở chỗ ngủ lặng lẽ như chim. Và khi nằm đó nhớ lại tất cả những nét nhỏ bé mà người ta nhận ra một cách kỳ lạ trong con cháu, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nàng không khỏi mỉm cười một mình. Nỗi căng thẳng đầy khắc khoải trong lòng người mẹ dịu xuống một lúc, cơn ngái ngủ kéo đến làm rối mọi sợi suy tư, trong khi nàng chìm dần, trước hết vào sự êm ái, rồi vào quên lãng—.
—Chúng còn trẻ, nàng tự an ủi—. Hẳn chúng không coi chuyện ấy nặng nề đến thế—.
Nhưng một hôm sau năm mới, cha Solmund, vị linh mục phụ tá, đến gặp Kristin ở Jørundgaard. Đây là lần đầu tiên ông không được mời mà tới, và Kristin vẫn tiếp đón ông niềm nở, mặc dù nàng lập tức linh cảm có chuyện chẳng lành. Quả đúng như nàng nghĩ—ông cho rằng mình có bổn phận phải tìm hiểu xem nàng và chồng có tự ý, trái đạo mà chấm dứt đời sống vợ chồng hay không, và nếu quả có thế, thì người nào trong hai vợ chồng phải chịu trách nhiệm về việc trái phép ấy.
Chính Kristin cũng cảm thấy mắt mình cứ chớp lia lịa, miệng lưỡi quá nhanh nhảu và nói quá nhiều, khi nàng giãi bày với vị linh mục rằng Erlend cho là mình phải trông nom cơ nghiệp trên Dovre, nơi ấy đã bị bỏ bê hoàn toàn suốt mấy năm nay, nhà cửa chắc sắp đổ nát cả rồi—với ngần ấy con cái, họ cần phải lo liệu cho đời sống của mình—cùng bao nhiêu lời lẽ tương tự. Nàng trình bày sự việc dài dòng đến nỗi ngay cả cha Solmund, vốn chẳng tinh ý gì, cũng phải nhận ra nàng đang cảm thấy bất an—rồi nàng cứ nói mãi rằng Erlend say mê săn bắn đến thế nào, điều ấy hẳn cha cũng biết. Nàng còn lấy những tấm da chồn ecmin chồng gửi về ra cho ông xem—trong lúc bối rối, nàng đã biếu chúng cho vị linh mục gần như trước cả khi nhận biết mình đang làm gì, trước khi kịp suy nghĩ lại—.
Sau khi cha Solmund đi rồi, nàng tức tối. Erlend hẳn phải biết rằng khi chàng bỏ đi như thế, thì đúng một vị linh mục như người họ hiện có sẽ nảy ra ý định tới dò hỏi xem liệu ở đây có chuyện gì hay không—.
Cha Solmund nom là một người đàn ông nhỏ thó, khù khờ; khó mà đoán được tuổi ông, nhưng có lẽ ông đã vào khoảng bốn mươi mùa đông. Ông không mấy tinh anh, học vấn chắc chắn cũng chẳng dư dả gì, nhưng dẫu sao vẫn là một linh mục ngay thẳng, sùng đạo và giữ mình. Một người chị đã đứng tuổi của ông, góa chồng, không con và là một mụ đàn bà ngồi lê đôi mách khó chịu, cai quản cơ ngơi nhỏ bé ấy.
Ông rất muốn tỏ ra là một tôi tớ nhiệt thành của Giáo hội, nhưng phần nhiều chỉ nhằm vào những chuyện vụn vặt và những người thấp cổ bé họng—bản tính ông nhút nhát, ngại can thiệp vào chuyện của các đại điền chủ hay những vấn đề khó khăn; nhưng một khi đã nhúng tay vào, ông lại trở nên hết sức nóng nảy và khăng khăng.
Tuy vậy, giáo dân trong giáo xứ vẫn khá quý mến ông. Một phần vì người ta kính trọng lối sống lặng lẽ và đứng đắn của ông, phần khác vì khi đụng đến quyền lợi của Giáo hội và nghĩa vụ của dân chúng, ông không tham tiền hay gay gắt bằng cha Eirik trước kia. Nhưng có lẽ điều này chủ yếu là do ông kém bạo dạn hơn vị linh mục già rất nhiều.
Còn cha Eirik thì được mọi người lớn trẻ trong các thôn làng quanh vùng yêu mến và kính trọng. Thuở trước, người ta thường tức giận khi vị linh mục tham lam một cách chẳng xứng hợp, ra sức bảo đảm tương lai và vun đắp của cải cho những đứa con ông sinh ra trong cuộc sống không hôn phối với người đàn bà chung sống cùng mình; những năm đầu ông ở trong vùng, dân Sil cũng khó chịu nổi sự nghiêm khắc đầy uy quyền của ông đối với bất cứ ai vi phạm dù chỉ một điều nhỏ nhất trong luật lệ Giáo hội. Trước khi thụ phong linh mục, ông từng là một chiến binh, và thời trẻ đã theo vị bá tước hải tặc, ngài Alf xứ Tornberg; cung cách của ông vẫn cho thấy rõ điều đó.
Nhưng ngay cả khi ấy, dân trong vùng vẫn tự hào về vị linh mục của mình, bởi ông vượt xa hầu hết các linh mục giáo xứ miền quê về kiến thức, trí tuệ, sức vóc và phong thái của một thủ lĩnh, lại có giọng hát đẹp nhất. Rồi theo năm tháng, cùng những thử thách nặng nề mà dường như Thiên Chúa đã đặt lên người tôi tớ này vì tính ương ngạnh thời trẻ của ông, cha Eirik Kaaressøn đã lớn lên trong sự khôn ngoan, lòng sùng đạo và đức công chính đến mức tên tuổi ông nay được biết đến và kính trọng khắp giáo phận. Mỗi khi tới hội nghị linh mục ở Hamarskaupang, ông được tất cả các linh mục khác tôn kính như một người cha, và người ta nói giám mục Halvard từng muốn chuyển ông tới một giáo đường kèm theo tước hiệu ngài và một ghế trong hội đồng giáo sĩ nhà thờ chính tòa. Nhưng cha Eirik được cho là đã xin ở lại nơi mình đang sống—ông viện tuổi tác và việc thị lực đã suy yếu từ nhiều năm trước.
Tại Sil, bên con đường lớn, hơi chếch về phía nam Formo, có cây thập giá tuyệt đẹp bằng đá hoạt thạch mà cha Eirik đã bỏ tiền dựng lên tại nơi đá từ sườn núi lở xuống, cướp đi cả hai người con trai trẻ tuổi, đầy triển vọng của ông bốn mươi năm về trước. Đến nay, những người cao tuổi trong vùng vẫn không đi ngang qua đó mà không dừng lại đọc kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng cho linh hồn Alf và Kaare.
Vị linh mục đã gả con gái rời khỏi gia trang mình với của cải và gia súc làm hồi môn; ông gả cô cho một người con trai khôi ngô, dòng dõi tử tế của một điền chủ ở Viken; chẳng ai nghĩ Jon Fis không phải một người đàng hoàng. Sáu năm sau, cô trở về nhà cha, đói lả, sức khỏe suy kiệt, quần áo rách rưới, chấy rận đầy người, mỗi tay dắt một đứa trẻ và trong bụng còn mang một đứa nữa. Những người sống tại Sil thời ấy đều biết rõ, dù họ không bao giờ nhắc đến: cha của những đứa trẻ ấy đã bị treo cổ vì tội trộm cắp ở Oslo. Các con trai của Jon lớn lên chẳng nên người—và nay cả ba đều đã chết.
Ngay khi con cháu mình còn sống, cha Eirik đã nhiệt thành chăm lo trang hoàng và tôn quý giáo đường bằng những phẩm vật dâng cúng. Nay có lẽ chính giáo đường sẽ nhận phần lớn gia sản cùng những cuốn sách quý giá của ông. Giáo đường mới kính Thánh Olav và Thánh Thomas ở Sil lớn hơn, lộng lẫy hơn nhiều so với ngôi cũ đã cháy, và cha Eirik đã bỏ tiền sắm sửa cho nơi ấy rất nhiều vật trang hoàng huy hoàng, quý báu. Ngày nào ông cũng tới giáo đường cầu nguyện và suy niệm, nhưng giờ đây ông chỉ cử hành thánh lễ cho dân chúng vào những ngày đại lễ.
Giờ đây cũng chính cha Solmund đảm nhiệm phần lớn các nghi thức thuộc chức vụ linh mục. Nhưng khi phải gánh một nỗi đau lớn, hoặc khi tâm hồn bất an vì những khó khăn hệ trọng và lương tâm cắn rứt, người ta thường tìm đến vị cha xứ già hơn; ai nấy đều cảm thấy mình luôn mang được sự trợ giúp về nhà sau một lần gặp cha Eirik.
Thế rồi một buổi tối khi mùa xuân đã gần kề, Kristin Lavransdatter đi tới Romundgaard và gõ cửa gian phòng của cha Eirik. Nhưng chính nàng cũng không biết phải trình bày việc mình muốn nói thế nào; vì vậy, sau khi trao món nàng mang đến, nàng cứ ngồi nói hết chuyện nọ sang chuyện kia. Cuối cùng, ông già hơi sốt ruột hỏi:
“Con chỉ tới thăm ta thôi sao, Kristin, để xem ta sống thế nào? Nếu vậy thì con thật có lòng—nhưng ta có cảm tưởng con đang ôm một chuyện gì đó trong lòng; nếu quả thế, hãy nói ngay đi, đừng phí thời giờ vào những lời lẽ không đâu—”
Kristin đan hai tay trong lòng và cúi nhìn xuống:
“Con rất không yên lòng, cha Eirik, khi chồng con cứ ở mãi trên Haugen.”
“Đường tới đó,” vị linh mục nói, “chắc cũng không xa đến nỗi con không thể dễ dàng lên gặp anh ta, nói chuyện và xin anh ta sớm trở về. Trên cơ ngơi nhỏ chỉ cần một người tự tay quán xuyến ấy, hẳn anh ta chẳng có bao nhiêu việc phải lo đến mức cần ở lại lâu hơn.”
“Con sợ mỗi khi nghĩ đến việc anh ấy ngồi đó một mình trong những đêm đông,” người đàn bà vừa nói vừa rùng mình.
“Erlend Nikulaussøn hẳn đã đủ tuổi và đủ khỏe mạnh để tự lo cho mình.”
“Cha Eirik—cha biết mọi chuyện từng xảy ra trên ấy thuở trước,” Kristin thì thầm, gần như không thành tiếng.
Vị linh mục xoay đôi mắt già nua, mờ đục về phía nàng—có một thời chúng đen như than và lóe sáng sắc bén. Ông im lặng.
“Hẳn cha đã nghe những điều người ta nói,” nàng vẫn khẽ khàng như trước. “Rằng—những người chết—vẫn đi lại nơi ấy.”
“Ý con là vì thế mà con không dám lên tìm anh ta—hay con sợ những hồn ma sẽ vặn gãy cổ chồng con? Nếu đến giờ chúng chưa làm thế, Kristin, thì về sau chắc chúng cũng để anh ta yên”—vị linh mục bật cười khô khốc. “Phần lớn những chuyện người ta kể về hồn ma và người chết hiện về đều là lời ngu xuẩn, dị giáo và mê tín. Ta e rằng nơi họ đang ở có những kẻ giữ cửa nghiêm ngặt lắm, ngài Bjørn và phu nhân Aashild ạ.”
“Cha Eirik,” nàng run rẩy thì thầm, “vậy cha tin rằng hai linh hồn khốn khổ ấy không còn đường cứu rỗi sao—”
“Xin Thiên Chúa đừng để ta cả gan phán đoán đâu là giới hạn của lòng thương xót Người. Nhưng ta không thể nghĩ hai người ấy đã thanh toán xong sổ sách nhanh đến thế—vẫn chưa phải mọi thẻ nợ họ từng khắc đều đã được đem ra—còn những đứa con bà ấy đã bỏ lại, còn hai con từng theo học vị phu nhân thông thái kia. Và nếu ta tin rằng việc ấy có thể giúp sửa lại đôi phần những tai hại bà ấy đã gây ra, thì—nhưng vì Erlend vẫn cứ ở đó, hẳn Thiên Chúa không cho rằng người dì hiện hình để cảnh báo anh ta sẽ đem lại ích lợi gì. Bởi chúng ta biết rằng, nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa, lòng từ ái của Đức Mẹ và lời chuyển cầu của Giáo hội, đôi khi một linh hồn khốn khổ được từ luyện ngục trở lại cõi trần, nếu tội lỗi của người ấy có thể được chuộc nhờ sự giúp đỡ của người sống và nhờ đó thời gian chịu hình phạt được rút ngắn—như linh hồn bất hạnh từng dời mốc giới giữa Hov và Jarpstad, hay người điền chủ ở Musudal với những văn tự giả về thác nước cối xay. Nhưng các linh hồn không thể ra khỏi luyện ngục nếu không có một việc chính đáng như thế—phần lớn những chuyện khác người ta nói về hồn ma và ma trẻ bị bỏ đều là nhảm nhí, hoặc chỉ là trò huyễn hoặc của ma quỷ, sẽ tan như khói khi con tự bảo vệ mình bằng dấu thánh giá và danh Chúa—”
“Nhưng còn những người được hưởng phúc bên Thiên Chúa, cha Eirik?” nàng lại khẽ hỏi.
“Những người thánh thiện ở bên Người, con thừa biết Người có thể sai họ đi làm sứ giả, mang theo ân lành và lời nhắn từ Thiên Đàng.”
“Có lần con đã kể với cha rằng con trông thấy tu sĩ Edvin Rikardssøn,” nàng vẫn nói bằng giọng ấy.
“Phải, hoặc đó là một giấc mơ—và giấc mơ ấy có thể do Thiên Chúa hay thiên thần hộ thủ của con gửi đến—hoặc vị tu sĩ ấy là một người thánh thiện.”
Kristin run rẩy thì thầm:
“Cha con—. Cha Eirik, con đã cầu xin rất nhiều để được ban cho ơn nhìn thấy dung nhan cha con chỉ một lần thôi. Con khao khát được gặp người đến không sao nói xiết, cha Eirik—và có lẽ qua nét mặt người, con sẽ hiểu người muốn con phải làm gì. Nếu con được cha con khuyên bảo thì—” nàng phải cắn môi và lấy một góc khăn trùm đầu lau đi những giọt lệ đang chực trào ra.
Vị linh mục lắc đầu.
“Con hãy cầu nguyện cho linh hồn ông ấy, Kristin—mặc dù ta tin chắc rằng từ lâu Lavrans cùng mẹ con đã được an ủi bên những đấng mà khi còn sống trên cõi trần, họ từng tìm đến để được vỗ về trong mọi nỗi đau. Và thật sự Lavrans vẫn ôm giữ con trong tình yêu của ông ấy ở nơi đó—nhưng những lời cầu nguyện của con và những thánh lễ cầu cho linh hồn ông ấy được an nghỉ ràng buộc con, cùng tất cả chúng ta, với ông ấy—. Phải, bằng cách nào thì ấy là một trong những điều huyền nhiệm khó lòng thấu hiểu—nhưng con đừng nghi ngờ rằng cách ấy tốt đẹp hơn việc ông ấy phải bị quấy động trong chốn bình an để trở về đây hiện ra trước mặt con—.”
Kristin phải ngồi một lúc mới đủ làm chủ bản thân để dám cất lời. Rồi nàng kể cho vị linh mục mọi chuyện đã xảy ra giữa nàng và Erlend tối hôm ấy trong gian nhà bếp lửa, nhắc lại từng lời đã nói, chính xác hết mức nàng có thể nhớ.
Vị linh mục ngồi im lặng rất lâu sau khi nàng nói xong. Bấy giờ nàng đột ngột chắp hai tay lại:
“Cha Eirik! Cha cho rằng lỗi lớn hơn thuộc về con sao? Cha cho rằng con đã sai _đến thế,_ đến mức Erlend bỏ trốn khỏi con và tất cả các con trai của chúng con như vậy cũng không phải là tội sao? Cha cho là công bằng khi anh ấy đòi con phải tới tìm, quỳ xuống trước mặt anh ấy và nuốt lại những lời ác ý con đã nói—con _biết,_ nếu không thì anh ấy sẽ không bao giờ trở về với chúng con!”
“Con cho rằng mình cần gọi Lavrans từ cõi bên kia trở về để xin ông ấy chỉ bảo trong chuyện này sao?” Vị linh mục đứng dậy, đặt tay lên vai người đàn bà: “Lần đầu ta trông thấy con, Kristin, con chỉ là một bé gái nhỏ xíu—Lavrans kéo con đứng giữa hai đầu gối mình, đặt đôi tay bé nhỏ của con bắt chéo trên ngực rồi bảo con đọc kinh Lạy Cha cho ta nghe—con đã đọc được rõ ràng, đẹp đẽ, mặc dù chẳng hiểu _một_ lời nào—về sau con học được ý nghĩa từng lời kinh bằng tiếng của chúng ta—có lẽ giờ con đã quên rồi—.
Con đã quên rằng cha con từng dạy dỗ, tôn trọng và yêu thương con sao—ông ấy đã tôn trọng người đàn ông mà giờ đây con sợ phải hạ mình trước mặt—hay con đã quên ông ấy từng tổ chức lễ cưới cho hai người trọng thể đến thế nào? Vậy mà hai người cưỡi ngựa rời khỏi gia trang của ông như hai kẻ trộm—đánh cắp mang theo cả sự kính trọng và danh dự của Lavrans Bjørgulfssøn?”
Kristin nức nở vùi mặt vào hai bàn tay.
“Con còn nhớ không, Kristin—ông ấy có bắt hai người phải quỳ xuống trước khi ông cảm thấy mình có thể đón hai người trở lại trong tình yêu của một người cha không? Con cho rằng đó là một miếng quá đắng đối với lòng kiêu hãnh của con sao, nếu con phải cúi mình trước một người mà có lẽ con chưa hề xử tệ với ông ấy bằng mức con đã phạm tội với cha mình—”
“Jesus!” Kristin khóc trong tuyệt vọng hoàn toàn, “Jesus—xin thương xót con—”
“Ta nghe ra con vẫn còn nhớ danh Người,” vị linh mục nói, “Đấng mà cha con đã cố noi theo như một môn đệ và phụng sự như một hiệp sĩ trung thành.” Ông chạm tay vào cây thánh giá nhỏ treo phía trên họ. “Không vương tội lỗi, Con Thiên Chúa đã chết trên thập giá để đền bù những điều chính chúng ta đã phạm đến Người—”
“Giờ con hãy về đi, Kristin, và suy ngẫm những điều ta đã nói,” cha Eirik bảo, sau khi nàng đã khóc vơi được đôi chút.
Nhưng đúng những ngày ấy, gió nam nổi lên, mang theo bão, mưa tuyết và những trận mưa như trút—đôi lúc dữ dội đến nỗi người ta khó lòng đi qua chính sân gia trang mình mà không có nguy cơ bị gió cuốn bay qua mọi mái nhà, tưởng chừng là thế. Các con đường chạy ra khắp vùng trở nên hoàn toàn không thể qua lại. Nước lũ mùa xuân dâng lên đột ngột và dữ dội đến mức dân chúng phải rời khỏi những gia trang nằm ở nơi nguy hiểm nhất. Kristin chuyển phần lớn của cải lên gác nhà kho mới, còn gia súc thì nàng được phép đưa vào chuồng mùa xuân của cha Eirik—chuồng mùa xuân của Jørundgaard nằm bên kia sông. Giữa thời tiết khắc nghiệt, công việc ấy gian khổ khủng khiếp—trên những bãi rào cao, tuyết nhão như bơ tan—còn đàn vật thì yếu ớt; đó là một mùa đông khắc nghiệt. Hai con bò non tốt nhất đang đi thì chân gãy như những cọng cây giòn.
Ngày họ chuyển đàn gia súc, Simon Darre cùng bốn gia nhân bỗng xuất hiện giữa đường. Họ lập tức bắt tay giúp đỡ. Trong gió mưa và tất cả cảnh hỗn loạn ấy, với những con bò phải đỡ cho khỏi ngã, những con cừu và chiên con phải bế đi, đám bà con không thể nghe nổi lời nhau, cũng chẳng có lúc nào yên để trò chuyện. Nhưng tới tối, khi họ đã vào được Jørundgaard và Kristin đã xếp chỗ cho Simon cùng người của chàng ngồi trong gian nhà—tất cả những ai đã làm lụng suốt ngày hôm ấy đều cần một chén bia nóng—Simon mới nói chuyện riêng được với nàng đôi chút. Chàng xin nàng đưa phụ nữ và trẻ nhỏ tới Formo, còn mình cùng hai gia nhân sẽ ở lại đây với Ulf và các chàng trai. Kristin cảm ơn, nhưng nói nàng muốn ở lại gia trang của mình; Lavrans và Munan đã ở Ulvsvoldene, còn Jardtrud đã sang nương nhờ cha Solmund—cô bé đã trở nên rất thân thiết với chị gái vị linh mục. Simon nói:
“Người ta thấy thật kỳ lạ, Kristin, khi hai chị em em chẳng bao giờ qua lại với nhau. Ramborg sẽ không vui đâu, nếu anh trở về mà không có em.”
“Em biết như thế trông thật kỳ lạ,” người đàn bà đáp, “nhưng em cho rằng sẽ còn kỳ lạ hơn nữa nếu lúc này chúng em tới làm khách của em gái em, trong khi người chủ gia trang này không có nhà—và người ta đều biết giữa anh với chàng đang có bất hòa.”
Simon không nói gì thêm, và ngay sau đó chàng cùng những người của mình lên đường.
Tuần Cầu mùa mở đầu bằng một trận thời tiết khủng khiếp, và đến thứ ba, khắp các gia trang phía bắc thung lũng truyền nhau tin lũ đã cuốn mất cây cầu trên Rosten, nơi dân chúng vẫn qua sông khi lên các bãi chăn mùa hè ở Høvring. Người ta bắt đầu lo cho cây cầu lớn ở phía nam nhà thờ. Cầu được dựng rất chắc bằng những thân gỗ thô lớn nhất, giữa cầu uốn vồng cao, bên dưới chống bằng những cột gỗ đồ sộ đóng xuống lòng sông; nhưng giờ nước đã tràn qua hai đầu cầu, nơi cầu tiếp giáp với bờ dốc, còn dưới vòm cầu thì đủ mọi thứ cây cành theo dòng nước từ phương bắc trôi xuống dồn thành đống. Laagen đã ngập các bãi thấp hai bên bờ, và trên đồng ruộng Jørundgaard, có chỗ nước đọng lại như một vũng vịnh, gần sát tới nhà cửa—giữa đồng cỏ lõm xuống một dải, nơi ấy mái lò rèn cùng ngọn cây nổi lên như những hòn đảo nhỏ. Kho thóc ngoài các doi đất đã được dỡ đi rồi.
Từ các gia trang bên đông sông chỉ có ít người đàn ông đến nhà thờ. Họ sợ cầu sẽ bị cuốn mất trong lúc mình còn ở đây, khiến họ không thể trở về nhà. Nhưng bên bờ đối diện, trên sườn dốc dưới kho thóc của Laugarbru, nơi khuất gió được đôi chút, qua những trận tuyết quất người ta nom thấy một đám đông đen đặc. Có tin truyền rằng cha Eirik đã nói ngài sẽ mang thánh giá qua cầu và đặt nó trên bờ đông, dẫu không một ai dám đi theo.
Một trận tuyết quất thẳng tới đúng lúc đoàn rước bước ra khỏi nhà thờ. Những mảng tuyết xiên qua không trung như những vạch chéo—cả thung lũng chỉ hiện ra từng thoáng: khi thì một mảnh mặt nước đen sẫm nơi các bãi đất thường nằm, khi thì tuyết bay quét dọc những triền đá vụn và các dải rừng trên sườn núi, khi thì chỏm núi lóe lên giữa những tầng mây cuộn ở nơi cao tít. Không khí đầy tiếng sông gầm lúc dâng lúc hạ, tiếng rừng rú và tiếng gió tru—thỉnh thoảng lại vang lên những tiếng rền đục, dội từ cơn cuồng nộ của thời tiết trong núi và từ những lớp tuyết mới đổ lở.
Nến vừa được mang ra khỏi tiền sảnh nhà thờ đã bị gió thổi tắt. Hôm ấy những thanh niên đã trưởng thành khoác áo trắng của các chú bé ca đoàn—gió giằng xé áo họ; cả một nhóm cùng giữ lá cờ, tay nắm chặt tấm vải hiệu để gió khỏi xé toạc, trong khi đoàn rước cúi rạp người, vất vả đi xuống sườn dốc ngược gió. Nhưng vượt trên tiếng bão dữ, đôi lúc vẫn vang lên vài âm thanh từ giọng hát ngân dội của cha Eirik, khi ngài gắng sức tiến bước và hát:
> Venite: revertámur ad Dóminum; quia ipse cepit & sanábit nos: percutiet, & curabit nos, & vivémus in conspectu ejus. Sciémus sequemurque, ut cognoscamus Dominum. Allelúia.
Kristin dừng lại như tất cả những người đàn bà khác khi đoàn rước tới chỗ nước đã tràn qua đường; nhưng những chàng trai mặc áo trắng, các thầy phó tế và linh mục đã lên cầu, và hầu hết đàn ông đều theo sau—nước dâng tới đầu gối họ.
Cây cầu rung lên bần bật, và lúc ấy những người đàn bà nhận ra từ phía bắc có cả một căn nhà đang trôi xuống về phía cầu. Nó xoay hết vòng này đến vòng khác trong dòng nước khi bị cuốn xuôi; nhà đã bị xé rách một nửa, các thân gỗ chĩa ra tua tủa, nhưng vẫn còn dính liền. Người đàn bà ở Ulvsvoldene ghì sát vào Kristin Lavransdatter và kêu khóc thành tiếng—hai em trai chưa trưởng thành của chồng bà ở trong đám thiếu niên ca đoàn. Kristin không thành lời mà thét gọi Đức Trinh Nữ Maria, mắt căng nhìn vào nhóm người giữa cầu, nơi nàng còn phân biệt được dáng Naakkve trong áo trắng giữa những người đang giữ lá cờ. Dẫu tiếng động gần như át chìm tất cả, những người đàn bà vẫn ngỡ mình còn nghe ra giọng hát của cha Eirik.
Ngài dừng trên đỉnh vòm cầu và giơ cao thánh giá đúng lúc căn nhà đâm sầm tới. Cây cầu rung chuyển và nhún xuống—những người trên hai bờ thấy nó dường như hơi trĩu về phía nam. Rồi đoàn rước lại đi tiếp, khuất sau sống cầu cong vồng—và hiện ra trên sườn bờ bên kia. Xác căn nhà đã mắc vào đám ngổn ngang những vật trôi dạt khác, bị giữ lại giữa các thân gỗ đỡ cầu.
Rồi, đột ngột như một dấu lạ, ánh sáng bạc rây qua những khối mây bị gió xua—khắp một vùng rộng lớn, con sông trương nước ánh lên mờ đục như chì nóng chảy. Sương mù và mây rách tung—mặt trời xuyên qua, và khi đoàn rước trở lại qua cầu, những tia nắng lấp lánh trên thánh giá; trên chiếc áo alba trắng ướt đẫm của vị linh mục, hai dải dây stola bắt chéo sáng lên một màu xanh tím kỳ diệu. Thung lũng dát vàng, long lanh nước như nằm dưới đáy một hang động xanh thẫm, bởi quanh những trán núi phía trên, mây bão bị tia mặt trời ép xuống khiến cả vùng cao nguyên tối đen; sương mù tháo chạy giữa các gò núi, còn ngọn núi lớn trên Formo nhô lên khỏi bóng tối, trắng lóa vì tuyết mới.
Nàng đã thấy Naakkve đi ngang qua. Áo quần ướt sũng dính bết vào người các chàng trai, trong khi họ căng đầy lồng ngực hát hướng về ánh mặt trời:
> Salvator mundi, salva nos omnes. Kyrie, eleison, Christe, eleison, Christe, audi nos–.
Các linh mục và thánh giá đã đi qua, đám nông dân theo sau trong những bộ quần áo nặng trĩu, sũng nước; nhưng họ kinh ngạc nhìn quanh, gương mặt rạng lên trước cảnh trời đất, rồi cùng cất tiếng cầu khẩn—Kyrie eleison!
Bấy giờ nàng trông thấy—nàng không tin nổi mắt mình, giờ chính nàng phải níu lấy người đàn bà láng giềng để đứng vững. Người đang đi trong đoàn rước kia chính là Erlend; chàng mặc chiếc áo da tuần lộc ướt nhỏ nước, mũ trùm kéo lên đầu—nhưng đúng là chàng; chàng hé miệng và hô Kyrie eleison như mọi người—lúc đi ngang qua, chàng nhìn thẳng vào nàng—nàng không sao hiểu đúng nét mặt chàng; trên đó dường như phảng phất bóng một nụ cười—.
Cùng những người đàn bà khác, nàng nhập vào đoàn rước đi lên dốc nhà thờ, hòa tiếng với mọi người đáp lời những chàng trai đang hát kinh cầu. Nàng không còn biết gì ngoài tiếng tim mình đập cuồng loạn.
Trong thánh lễ, nàng chỉ thoáng thấy chàng một lần duy nhất. Nàng không dám đứng ở chỗ quen thuộc, mà ẩn mình trong bóng tối ở gian bên phía bắc.
Nghi lễ vừa kết thúc, nàng vội vã bước ra. Nàng chạy bỏ lại những thị nữ đã cùng đi lễ. Ngoài trời, cả thung lũng bốc hơi dưới nắng. Kristin chạy về nhà, chẳng màng con đường giờ đã lầy lội không đáy.
Nàng bày bàn và đặt chiếc sừng đầy rượu mật ong trước ghế danh dự của chồng, rồi mới dành thì giờ thay quần áo ướt bằng bộ lễ phục—chiếc áo dài xanh sẫm thêu hoa, thắt lưng bạc, giày cài khóa và khăn trùm có viền xanh. Sau đó nàng quỳ xuống trong buồng nhỏ. Nàng không thể suy nghĩ, không thể tự tìm ra những lời mình tha thiết muốn nói—hết lần này đến lần khác nàng đọc kinh Ave Maria—lạy Đức Bà diễm phúc, lạy Chúa yêu dấu, con của Đức Trinh Nữ—Ngài biết con muốn nói gì—
Thời gian cứ kéo dài mãi. Qua lời các cô gái, nàng nghe rằng đàn ông hẳn đã trở lại cây cầu—họ dùng rìu và móc sắt gắng sức dọn đống xác gỗ bị mắc lại—phải cứu lấy cây cầu. Các linh mục sau khi cởi lễ phục cũng đã tới đó.
Mãi quá giờ ngọ lâu rồi, những người đàn ông mới vào nhà: các con trai nàng, Ulf Haldorssøn cùng ba gia nhân, một ông già và hai cậu bé được làng gửi đến cho gia trang nuôi dưỡng.
Naakkve đã ngồi vào chỗ của mình, bên phải ghế danh dự của chủ gia trang. Bỗng cậu đứng phắt dậy, bước tới và đi thẳng về phía cửa.
Kristin khẽ gọi tên con.
Cậu quay lại và ngồi xuống. Sắc mặt chàng trai lúc đỏ lúc tái, mắt cậu cúi xuống, và chốc chốc cậu lại phải cắn môi dưới. Người mẹ thấy con đang gắng sức ghê gớm để tự kiềm chế—nhưng rốt cuộc cậu vẫn làm được.
Cuối cùng bữa ăn ấy cũng kết thúc. Những người con trai ngồi ở ghế trong đứng lên, vòng qua đầu bàn nơi chiếc ghế danh dự để trống, theo thói quen sửa lại thắt lưng đôi chút sau khi tra dao vào vỏ, rồi đi ra.
Khi tất cả đã đi hết, Kristin theo ra ngoài. Trong ánh nắng, nước từ mọi mái nhà tuôn xuống thành dòng. Không một bóng người trong sân ngoài Ulf—ông đứng trên phiến đá trước cửa nhà mình.
Gương mặt ông bỗng trở nên bất lực một cách lạ lùng khi bà chủ bước đến. Ông không nói gì, nàng bèn khẽ hỏi:
“Ông có nói chuyện với chàng không?”
“Không được mấy lời. Tôi có thấy Naakkve nói chuyện với ngài ấy—”
Một lát sau ông lại nói:
“Ngài ấy hơi lo—cho tất cả mọi người ở đây—khi trận lũ dữ dội như thế ập đến. Vì vậy ngài ấy nghĩ nên ghé về xem tình hình nơi này ra sao. Naakkve đã kể cho ngài ấy nghe bà xoay xở thế nào—.”
“Tôi không biết ngài ấy nghe ở đâu—chuyện bà đã đem cho những tấm da ngài ấy nhờ Gaute gửi tới hồi thu. Ngài ấy tức giận vì việc đó. Rồi khi biết bà đã đi thẳng về nhà sau thánh lễ—ngài ấy cứ tưởng bà sẽ nán lại nói chuyện với ngài ấy—”
Kristin không nói gì; nàng quay người đi vào nhà.
Suốt mùa hè ấy, giữa Ulf Haldorssøn và vợ ông không ngừng có chuyện bất hòa, lục đục. Haldor Jonssøn, con trai người anh em cùng cha khác mẹ của Ulf, đã cùng vợ tới ở với người bà con vào mùa xuân; anh mới cưới năm trước. Dự định là Haldor sẽ thuê gia trang Ulf sở hữu tại Skaun và dọn tới đó vào kỳ chuyển cư, nhưng Jardtrud tức giận vì bà cho rằng Ulf đã dành cho cháu trai những điều kiện quá hậu hĩnh, và bà hiểu ý hai người đàn ông là có lẽ bằng cách thu xếp nào đó, Haldor sẽ được bảo đảm thừa hưởng gia trang sau người chú.
Haldor từng là người hầu cận của Kristin tại Husaby, và nàng rất quý chàng trai trẻ, cũng mến người vợ của anh, một thiếu phụ lặng lẽ, đoan trang. Ít lâu sau giữa mùa hè, đôi vợ chồng trẻ sinh được một con trai, và Kristin cho nàng mượn gian dệt, nơi các bà chủ gia trang vẫn thường nằm khi sinh con—nhưng Jardtrud rất phật ý vì chính Kristin đã chăm nom sản phụ với tư cách người đứng đầu trong số những người đỡ đẻ—dẫu bản thân Jardtrud còn trẻ và hoàn toàn thiếu kinh nghiệm, không biết giúp một người đàn bà vượt cạn cũng chẳng biết chăm sóc trẻ sơ sinh.
Kristin làm mẹ đỡ đầu cho đứa bé, còn Ulf đứng ra lo tiệc rửa tội, nhưng Jardtrud cho rằng ông tiêu tốn quá nhiều và đặt những lễ vật quá hậu hĩnh cả bên nôi đứa trẻ lẫn trên giường người mẹ. Để dỗ cho bà nguôi bớt, Ulf long trọng tặng vợ một số đồ quý trong gia sản riêng của mình: một cây thánh giá mạ vàng có dây đeo, một chiếc áo choàng lót lông với khóa bạc lớn, một chiếc nhẫn vàng và một chiếc trâm. Nhưng bà hiểu rằng ông sẽ không trao cho bà lấy một khoảnh đất nào trong số đất đai mình sở hữu, ngoài phần đã tặng bà khi cưới—tất cả những thứ ấy sẽ về tay các em cùng cha khác mẹ của ông nếu chính ông không có con nối dõi. Giờ Jardtrud than vãn rằng đứa con của bà đã chết khi lọt lòng, và xem chừng bà sẽ chẳng có thêm đứa nào nữa—bà trở thành trò cười cho cả vùng vì đem chuyện ấy kể với bất kỳ ai.
Ulf phải xin Kristin cho Haldor và Audhild ở trong căn nhà mùa đông sau khi người vợ trẻ đã làm lễ trở lại nhà thờ. Kristin vui lòng chấp thuận. Nàng tránh mặt Haldor, bởi mỗi khi trò chuyện với người hầu cũ từ thuở trước, nàng lại nhớ đến biết bao điều mà giờ đây nhớ lại chỉ khiến lòng đau đớn. Nhưng nàng nói chuyện khá nhiều với vợ anh, vì Audhild nhất quyết muốn giúp Kristin được việc gì hay việc ấy. Đến cuối mùa hè, đứa bé lâm bệnh rất nặng; bấy giờ Kristin nhận chăm sóc nó thay người mẹ trẻ chưa từng trải.
Khi đôi vợ chồng trẻ lên đường về phương bắc vào mùa thu, nàng nhớ họ, nhưng nhớ nhất là đứa bé còn đỏ hỏn. Dẫu tự biết cảm giác ấy thật vô lý, trong những năm này nàng vẫn không thể không thấy đau đớn vì bỗng tưởng mình đã thành người son sẻ—mặc dù nàng đâu phải một phụ nữ già, còn chưa đến bốn mươi tuổi.
Việc có người vợ trẻ thơ ngây và đứa con nhỏ để giúp đỡ, chăm nom đã giúp nàng giữ tâm trí khỏi nhiều điều đau đớn. Và dẫu thấy nặng lòng khi Ulf Haldorssøn chẳng gặp may hơn trong cuộc hôn nhân của mình, tình thế những công việc trong phòng quản sự cũng đã kéo tâm trí nàng rời xa nhiều chuyện khác.
Bởi sau cách Erlend xử sự trong ngày Cầu mùa, nàng hầu như không còn đủ sức nghĩ xem tất cả rồi sẽ kết thúc ra sao. Trước mắt mọi người, chàng đã về thung lũng, tới nhà thờ, rồi lại đi thẳng lên phía bắc mà không chào vợ lấy một lời; nàng thấy việc ấy thật nhẫn tâm, đến nỗi giờ nàng tin cuối cùng mình đã trở nên dửng dưng với chàng—.
Nàng chưa trao đổi một lời nào với Simon Andressøn kể từ ngày giữa trận lũ mùa xuân, khi ông đến giúp nàng. Nàng vẫn chào hỏi ông và thường nói vài lời với em gái tại nhà thờ. Họ nghĩ gì về chuyện của nàng và việc Erlend đã lên Dovre, nàng không biết.
Nhưng vào chủ nhật trước lễ Thánh Bartôlômêô, ngài Gyrd ở Dyfrin cùng người nhà Formo tới nhà thờ. Simon trông vô cùng vui vẻ khi bước vào dự lễ bên cạnh anh mình. Sau nghi lễ, Ramborg đến bên Kristin, háo hức thì thầm rằng nàng lại mang thai và sẽ sinh vào khoảng lễ Đức Mẹ mùa xuân:
“Kristin, chị ơi, hôm nay chị không thể về nhà uống rượu với chúng em sao!”
Kristin buồn bã lắc đầu, vỗ nhẹ lên má nhợt nhạt của người thiếu phụ và cầu xin Thiên Chúa biến việc này thành niềm vui cho cha mẹ đứa trẻ. Nhưng nàng không thể đến Formo, nàng nói.
Sau khi đoạn tuyệt với anh em cọc chèo, Simon đã ép mình tin rằng như vậy là tốt nhất. Địa vị của ông khiến ông không cần bận tâm hỏi người đời phán xét mọi hành vi của mình ra sao; ông đã giúp Erlend và Kristin khi sự việc hệ trọng, còn sự nâng đỡ ông có thể dành cho họ ở thung lũng này cũng chẳng đáng giá đến mức ông phải làm cho chính cuộc đời mình rối tung vì chuyện ấy.
Nhưng khi nghe Erlend đã rời khỏi thung lũng, Simon không sao giữ nổi vẻ bình thản nặng nề, cố chấp mà ông đã gắng gượng tạo cho mình. Ông tự nhủ mãi cũng vô ích rằng chẳng ai thực sự biết rõ sự vắng mặt của Erlend là chuyện thế nào—người ta đồn nhảm đủ điều mà hiểu biết thì quá ít. Dẫu sao ông cũng không thể xen vào việc này. Tuy vậy, lòng ông vẫn bất an. Đôi lúc ông cân nhắc liệu mình có nên tìm Erlend tại Haugen, nuốt lại những lời đã nói khi họ chia tay—rồi sau đó xem có tìm được đường nào để thu xếp ổn thỏa chuyện giữa anh em cọc chèo của mình và chị vợ hay không. Nhưng Simon không đi xa hơn ý nghĩ ấy.
Ông không tin có ai nhận thấy lòng mình đang bất an đến thế. Ông vẫn sống như thường lệ, coi sóc gia trang và quản lý các điền sản, vui vẻ và uống rượu hào sảng trong những cuộc tụ họp bè bạn, vào núi săn thú mỗi khi có thì giờ, nuông chiều các con khi ở nhà, và giữa ông với vợ không bao giờ có một lời bất hòa. Đối với người trong gia trang, hẳn tình thân giữa ông và Ramborg giờ xem ra tốt đẹp hơn bao giờ hết, bởi người vợ đã trở nên điềm đạm và ổn định hơn nhiều, không bao giờ còn để lộ những cơn thất thường cùng sự giận dỗi trẻ con vì những chuyện nhỏ nhặt. Nhưng trong thâm tâm, Simon cảm thấy rụt rè và thiếu tự tin khi ở bên nàng—ông không còn có thể đối xử với nàng như thể nàng vẫn còn là một đứa trẻ mà ông có thể trêu chọc và nuông chiều. Giờ ông không biết mình phải cư xử với nàng ra sao.
Bởi vậy ông cũng không biết nên đón nhận thế nào khi một tối nọ nàng nói rằng mình lại mang thai.
“Hẳn em không vui lắm vì chuyện ấy,” cuối cùng ông nói và vuốt ve bàn tay nàng.
“Còn _anh_ thì hẳn là mừng, em biết mà?” Ramborg nép sát vào anh, nửa khóc nửa cười; Simon cũng cười, hơi ngượng ngập, khi ôm nàng vào lòng.
“Lần này em sẽ biết điều, Simon, không xử sự như trước nữa. Nhưng anh phải _ở lại_ bên em—anh nghe chưa—dẫu tất cả anh em ruột thịt và thông gia của anh có bị trói thành một hàng, lôi ra giá treo cổ, anh cũng không được bỏ em mà đi!”
Simon buồn bã cười:
“Anh còn đi đâu được nữa, Ramborg của anh—. Geirmund, cái anh chàng khốn khổ ấy, chắc chẳng vướng vào chuyện gì lớn đâu—mà anh ta lại là người duy nhất trong đám họ hàng ruột thịt và thông gia của anh mà lúc này anh còn chưa cãi cọ—.”
“Ôi—” Ramborg cũng cười, nước mắt vẫn chảy dài. “Mối bất hòa giữa anh với họ chỉ kéo dài cho đến lúc họ cần một bàn tay giúp đỡ và anh thấy mình có thể đưa tay ra. Em hiểu anh quá rồi, chồng của em ạ—”
Mười bốn ngày sau, Gyrd Andressøn bất ngờ đến gia trang. Hiệp sĩ Dyfrin chỉ đem theo một gia nhân.
Cuộc gặp giữa hai anh em diễn ra mà đôi bên chẳng nói với nhau được bao nhiêu lời. Ngài Gyrd làm như thể bao năm nay ông chưa gặp em gái và em rể mình ở Kruke, nên chợt nảy ý lên đó thăm họ; mà một khi ông đã đến thung lũng này, Sigrid bảo ông cũng phải ghé Formo, “thế là anh nghĩ, Simon, hẳn em không giận anh đến mức không nỡ cho anh và gia nhân một bữa ăn cùng chỗ trú đến ngày mai.”
“Anh thừa biết là không,” Simon nói, mắt nhìn xuống, mặt đỏ sẫm. “Anh chịu đến thăm em—thật là tử tế, Gyrd.”
Ăn xong, hai anh em cùng đi dạo bên ngoài. Lúa đã bắt đầu ngả màu trên những triền dốc đón nắng xuôi về phía sông. Trời đẹp biết bao—dòng Laagen lúc này lấp lánh hiền hòa, những đốm sáng trắng nhỏ chớp lên giữa rừng sủi dưới thấp. Những đám mây lớn, sáng bóng trôi qua bầu trời mùa hạ—nắng tràn đầy lòng chảo của thung lũng, và ngọn núi đối diện hiện lên xanh lam, xanh lục rực rỡ giữa làn hơi nóng cùng những bóng mây trôi.
Từ bãi quây sau lưng họ vọng ra tiếng thình thịch khi đàn ngựa giẫm chân trên nền đất khô—cả đàn xào xạc lao qua những bụi sủi. Simon tựa người trên hàng rào gỗ: “Nào, ngựa ngoan—nào—. Giờ Bronsvein đã bắt đầu già rồi nhỉ?” anh nói; con ngựa của Gyrd vươn cổ qua hàng rào, dụi mõm vào vai chủ.
“Mười tám mùa đông rồi”—Gyrd vuốt ve con ngựa. “Anh thấy, Simon ạ—chuyện ấy thật quá tệ, không đáng để nó chia lìa tình anh em giữa em và anh,” ông nói, không nhìn em trai.
“Ngày nào em cũng đau lòng vì chuyện ấy,” Simon khẽ đáp. “Cảm ơn anh đã đến, Gyrd.”
Họ đi tiếp dọc hàng rào gỗ, Gyrd đi trước, Simon bước theo sau. Cuối cùng, họ ngồi xuống bên rìa một bãi cỏ nhỏ, đá sỏi lởm chởm và cháy vàng. Những đống cỏ khô nhỏ nằm rải rác tỏa mùi ngọt ngào, nồng đượm; ở đó, lưỡi hái cán ngắn đã vét được chút cỏ thấp lẫn hoa giữa các ụ đá. Gyrd kể về thỏa ước giữa vua Magnus với các con trai của Haftor và những người theo họ. Một lúc sau Simon hỏi:
“Theo anh, có thật là hoàn toàn không thể có người nào trong họ hàng Erlend Nikulaussøn muốn thử giúp anh ấy được hòa giải trọn vẹn và trở lại trong ân sủng của nhà vua sao?”
“_Riêng anh_ chẳng làm được bao nhiêu,” Gyrd Darre nói. “Mà những người có khả năng làm việc đó cũng chẳng vui lòng gì với anh ta, Simon. Phải, lúc _này_ anh không muốn nói đến chuyện ấy—. Anh từng thấy anh ta là một người gan dạ, đáng mến, nhưng những người khác cho rằng anh ta đã xử trí quá tệ việc mình khởi xướng. Song tốt hơn hết lúc này anh không muốn nói về chuyện đó—anh biết em quý người anh em rể ấy biết bao—”
Simon ngồi nhìn đăm đăm những ánh bạc trắng lóe trên các ngọn cây dưới chân dốc và mặt sông chói sáng. Anh ngạc nhiên nghĩ—phải, theo một nghĩa nào đó, lời Gyrd cũng đúng.
“Vả lại lúc này Erlend và em đang bất hòa,” anh nói. “Đã khá lâu rồi chúng em không nói chuyện với nhau.”
“—Xem ra càng có tuổi, em càng hay gây gổ, Simon,” Gyrd nói và khẽ cười.
Một lát sau ông hỏi: “Em chưa bao giờ nghĩ đến chuyện rời khỏi những thung lũng này sao? Họ hàng chúng ta có thể đỡ đần nhau nhiều hơn nếu sống gần nhau.”
“Sao anh có thể nghĩ đến chuyện ấy—? Formo là điền sản tổ truyền của em—”
“Aasmund ở Eiken sở hữu phần của ông ấy trong gia trang này bằng quyền thừa kế tổ truyền. Và anh biết ông ấy không phản đối việc đổi điền sản tổ truyền lấy điền sản tổ truyền—ông ấy vẫn chưa gạt ý ấy khỏi đầu, nếu có thể cưới Arngjerd nhà em cho Grunde theo những điều kiện đã nói—”
Simon lắc đầu.
“Dòng họ bà nội chúng ta đã ở gia trang này từ thuở xứ sở còn ngoại giáo. Và đây là nơi em đã định để Andres kế nghiệp em. Anh mất trí rồi sao, Gyrd—lẽ nào em lại rời bỏ Formo!”
“Không, như thế cũng phải.” Gyrd hơi đỏ mặt. “Anh chỉ nghĩ—biết đâu—. Ở Raumarike có phần lớn họ hàng của em—cùng bạn bè thuở thiếu thời—biết đâu em có thể thấy mình sống vui hơn ở đó.”
“Em sống vui _ở đây_.” Simon cũng đỏ mặt. “Đây là nơi em có thể đặt thằng bé vào một chỗ đứng vững chắc.” Anh nhìn sang Gyrd, và khuôn mặt thanh tú, đầy nếp nhăn của người anh lộ vẻ bối rối. Tóc Gyrd giờ gần như trắng hẳn, nhưng thân hình ông vẫn mảnh mai, nhanh nhẹn như xưa. Ông hơi cựa quậy không yên—mấy hòn đá trong ụ lăn ra, trôi xuống dốc rồi rơi vào ruộng lúa.
“Anh định hất cả đống đá xuống ruộng em đấy à?” Simon cười hỏi, cố làm giọng mình cục cằn. Gyrd bật dậy, nhẹ nhàng lanh lẹ, rồi chìa tay cho người em vốn đứng lên nặng nề hơn.
Khi đã đứng lên, Simon vẫn giữ tay anh trai trong tay mình một lát. Rồi anh đặt bàn tay kia lên vai Gyrd. Gyrd cũng làm như vậy; tay hờ đặt trên vai nhau, hai anh em chậm rãi đi ngược triền dốc về gia trang.
Tối ấy họ ngồi cùng nhau trong gian nhà Sæmund—Simon sẽ ngủ chung với anh trai. Họ đã đọc kinh tối, nhưng muốn uống cạn vại bia trước khi đi nằm.
“Benedictus tu in muliebris—mulieribus—anh còn nhớ chứ?” Simon chợt cười.
“Nhớ—em đã phải chịu mấy phen lưng ăn đòn trước khi Cha Magnus đánh bật những lời dạy sai lạc của bà nội ra khỏi đầu em”—Gyrd mỉm cười trước kỷ niệm ấy. “Ông ấy cũng nặng tay như quỷ. Em còn nhớ không, Simon, có lần ông ấy ngồi gãi bắp chân, vén vạt áo lên—em ghé tai anh nói rằng nếu bắp chân em cũng xấu xí như Magnus Ketilssøn thì em cũng sẽ làm linh mục và suốt đời mặc áo dài đến gót—”
Simon mỉm cười—bỗng nhiên anh như _trông thấy_ gương mặt trẻ thơ của Gyrd, căng lên như sắp vỡ vì phải nén cười, với đôi mắt đau đớn, đáng thương: hồi ấy họ vẫn còn bé, mà Cha Magnus quả thật nặng tay kinh khủng mỗi khi trách phạt họ—.
Thuở nhỏ Gyrd không được lanh trí cho lắm. Phải, giờ Simon yêu Gyrd cũng đâu phải vì ông là một người thông tuệ. Nhưng ngồi nơi đây, lòng anh nóng lên vì biết ơn và trìu mến đối với người anh—vì từng ngày trong tình anh em của họ suốt gần bốn mươi năm—vì Gyrd, đúng như con người ông vốn thế, trung hậu và không chút gian dối hơn bất cứ ai.
Và Simon cảm thấy việc tìm lại được người anh Gyrd này giống như ít nhất anh đã đặt được một chân trên nền đất vững. Bởi từ lâu, đời anh đã trở nên ngang trái và rối rắm đến vô lý.
Mỗi lần nhớ đến Gyrd đã tìm tới để hàn gắn điều chính Simon phá vỡ khi giận dữ cưỡi ngựa rời gia trang của anh trai, miệng thốt lời bất nhã, một luồng hơi ấm lại trào dâng trong anh. Lòng biết ơn chan chứa trong tâm trí—anh phải tạ ơn không chỉ riêng Gyrd.
Một người như Lavrans—Simon biết rõ ông sẽ đón nhận một việc như thế nào. Anh có thể noi theo cha vợ đến chừng nào sức mình cho phép—bằng việc bố thí và những việc tương tự. Còn sự thống hối tan nát cõi lòng hay việc chiêm niệm những vết thương của Chúa, anh không làm được, trừ phi nhìn chằm chằm vào tượng Chịu nạn—mà đó không phải điều Lavrans muốn nói. Anh cũng không ép nổi nước mắt ăn năn—từ khi qua tuổi thơ đến giờ, có lẽ anh chỉ khóc hai ba lần, mà chẳng phải những khi đáng lẽ nên khóc nhất—những lần anh phạm tội nặng: với mẹ của Arngjerd khi anh đã là người có vợ, rồi vụ giết người năm trước. Dẫu vậy anh đã vô cùng hối hận—anh thấy mình luôn thành tâm hối lỗi, xưng tội cẩn thận và làm việc đền tội đúng theo lời linh mục truyền. Anh luôn chuyên cần đọc kinh, chú tâm nộp đủ phần mười và bố thí rộng rãi—đặc biệt hào phóng để tôn kính Thánh Simon Tông đồ, Thánh Olav, Thánh Mikael và Đức Trinh nữ Maria. Ngoài ra, anh tự bằng lòng với lời Cha Eirik rằng chỉ trong thập giá mới có ơn cứu độ, còn một người phải đối mặt và chiến đấu với kẻ thù theo cách nào, điều ấy do Chúa định liệu chứ không phải chính người đó.
Nhưng giờ anh cảm thấy thôi thúc phải bày tỏ lòng biết ơn trước cõi thiêng một cách thành tâm hơn. Mẹ anh từng nói anh sinh đúng ngày lễ Sinh nhật Đức Trinh nữ Maria—anh chợt nghĩ mình muốn tỏ lòng tôn kính Mẹ của Chúa bằng một lời cầu nguyện mà thường ngày anh không quen đọc. Thuở còn ở cung vua, anh đã nhờ người chép cho một bài kinh đẹp, và giờ anh lấy mảnh da nhỏ ấy ra.
Giờ nghĩ lại, anh e rằng ngày ấy mình kiếm vài mảnh kinh nhỏ như vậy và học thuộc trong thời gian ở đoàn tùy tùng của vua là để làm đẹp lòng vua Haakon hơn là vì Chúa và Đức Maria. Tất cả những người trẻ đều làm thế, bởi nhà vua có thói quen, vào những đêm nằm không ngủ được, hỏi các thị đồng xem họ thuộc những điều học vấn bổ ích nào như vậy.
Ôi chao—giờ chuyện ấy đã xa xưa lắm rồi. Phòng ngủ của nhà vua trong tòa nhà đá ở cung điện Oslo. Trên chiếc bàn nhỏ cạnh giường, một ngọn nến đơn độc cháy—ánh nến rọi lên khuôn mặt đàn ông thanh tú như tạc, đã phai tàn và già cỗi, đang tựa vào những tấm chăn lụa đỏ. Khi linh mục đọc xong thành tiếng rồi lui ra, nhà vua thường tự cầm lấy sách, nằm đọc, đặt cuốn sách nặng trên hai đầu gối co lên. Trên hai chiếc ghế đẩu cạnh lò sưởi xây lớn, các thị đồng ngồi chờ—Simon hầu như bao giờ cũng được giao phiên trực cùng Gunstein Ingasøn. Trong phòng thật ấm cúng—lửa cháy sáng, tỏa hơi ấm mà không bốc khói; căn phòng có vẻ kín đáo dễ chịu với trần vòm giao nhau và những bức tường luôn phủ thảm. Nhưng ngồi như vậy họ buồn ngủ lắm—trước tiên nghe linh mục đọc, rồi chờ đến khi nhà vua thiếp đi; hầu như chẳng bao giờ trước lúc gần nửa đêm. Khi vua đã ngủ, họ được phép thay phiên canh thức và nghỉ tạm trên chiếc ghế dài giữa lò sưởi với cánh cửa dẫn vào đại sảnh hội kiến. Họ ngồi mong ngóng giờ phút ấy và cố nén những cái ngáp.
Đôi khi nhà vua bắt chuyện với họ—không thường xuyên, nhưng những lúc ấy ngài thân ái và cuốn hút đến khó tả. Hoặc ngài đọc lớn một châm ngôn trong sách hay mấy chữ của một câu thơ mà ngài thấy những người trẻ nghe được sẽ có ích hoặc được cứu chữa phần hồn.
Một đêm, Simon chợt tỉnh vì nghe vua Haakon gọi mình—giữa bóng tối đen đặc; ngọn nến đã cháy hết. Khốn khổ vì xấu hổ, anh thổi cho than hồng bén lại rồi thắp một cây nến mới. Nhà vua nằm đó, mỉm cười đầy kín đáo:
“Gunstein lúc nào cũng ngáy khủng khiếp như vậy sao?”
“Vâng, thưa ngài!”
“Ta nhớ là ở chỗ trọ cậu cũng chung giường với anh ta? Cậu hoàn toàn có lý nếu xin đổi sang một người bạn giường ngủ ít ầm ĩ hơn trong một thời gian đấy?”
“Đa tạ ngài—nhưng thần không phiền gì đâu, thưa đức vua!”
“Nhưng hẳn cậu cũng phải thức giấc chứ, Simon, khi trận sấm ấy nổ ra ngay sát tai cậu—phải không?”
“Có, tâu Bệ hạ, nhưng rồi thần huých anh ấy một cái và xoay anh ấy sang bên.”
Nhà vua bật cười.
“Không biết những người trẻ các cậu có hiểu rằng cái tài ngủ say như thế là một ân huệ lớn của Chúa hay không. Khi đến tuổi ta, Simon bạn ta, có lẽ lúc ấy cậu sẽ nhớ những lời này—.”
Chuyện ấy xa xôi vô tận—tuy vẫn rõ ràng, nhưng dường như người từng là chàng thị đồng trẻ tuổi kia không phải chính người đang ngồi đây—.
Một ngày đầu mùa Vọng, Kristin gần như ở nhà một mình—các con trai đang đánh xe chở củi và rêu về—thì nàng ngạc nhiên thấy Simon Darre cưỡi ngựa vào sân. Anh đến để mời nàng cùng các con trai sang dự tiệc Giáng sinh tại nhà mình.
“Anh cũng hiểu là chúng tôi không thể làm thế, Simon,” nàng nghiêm nghị nói. “Dẫu sao trong lòng chúng ta vẫn có thể là bạn hữu, anh, Ramborg và tôi—nhưng người ta không phải lúc nào cũng được tự mình quyết định điều mình phải làm, hẳn anh hiểu.”
“Chị không thể định đẩy chuyện này xa đến mức không chịu đến bên đứa em gái duy nhất của mình khi nó sắp nằm ổ.”
Kristin cầu mong mọi sự sẽ êm xuôi và đem lại niềm vui cho cả hai vợ chồng, “nhưng tôi không thể hứa chắc với anh rằng tôi sẽ đến được.”
“Ai nấy đều sẽ thấy chuyện ấy lạ lùng hết sức,” Simon nóng nảy nói. “Chị nổi tiếng là người đỡ đẻ giỏi nhất—mà nàng lại là em gái chị—hai người còn là nữ chủ nhân của hai gia trang lớn nhất phía bắc vùng này.”
“Mấy năm gần đây đâu phải ít trẻ con chào đời tại các đại gia trang quanh đây, vậy mà tôi còn chẳng được mời đến. Giờ không còn như trước nữa, Simon; người ta không còn cho rằng việc thu xếp trong buồng sinh chưa chu tất nếu bà chủ Jørundgaard không có mặt.” Nàng thấy lời mình khiến anh đau lòng lắm, nên nói thêm: “Hãy gửi lời thăm Ramborg và bảo nó rằng đến lúc ấy tôi sẽ sang giúp—nhưng tiệc Giáng sinh nhà anh thì tôi không thể đến được, Simon.”
Nhưng vào ngày thứ tám mùa Giáng sinh, nàng gặp Simon khi anh đến dự thánh lễ mà không có Ramborg. Không, nàng vẫn khỏe, anh nói, nhưng nàng phải nghỉ ngơi, dưỡng sức, bởi ngày mai anh sẽ đưa nàng cùng các con đi xe trượt tuyết xuống phía nam tới Dyfrin—đường sá lúc này thật thuận tiện cho xe trượt, mà Gyrd đã mời họ, Ramborg lại tha thiết muốn đi, cho nên—.