Mattia Pascal quá cố — Chương 17: Tái sinh

Chương 17 / 18 · Bài review Mattia Pascal quá cố

Tôi đến ga vừa kịp chuyến tàu tốc hành đi Pisa khởi hành ít lâu sau nửa đêm.

Tôi mua vé và tìm được một chỗ trong góc toa hạng nhì. Tôi lập tức ngồi vào đó, kéo lưỡi trai sụp xuống che mắt, không hẳn vì sợ bị người khác nhìn thấy mà vì sợ chính mình phải nhìn thấy họ.

Nhưng trong tâm tưởng tôi vẫn nhìn thấy rõ mồn một: chiếc mũ rộng vành và cây gậy nằm trên lan can cầu, nơi tôi đã bỏ chúng lại. Có lẽ ngay lúc ấy đã có người đi qua trông thấy; hoặc một cảnh sát tuần tra đã nhặt được chúng và báo động về đồn! Mà tôi vẫn còn ở Roma! Chuyện gì có thể xảy ra đây? Lo lắng khiến tôi gần như không thở nổi.

Nhưng cuối cùng con tàu giật mạnh rồi chuyển bánh. Tạ ơn trời! Trong toa chỉ có mình tôi! Tôi bật dậy, giơ hai tay quá đầu và, như thể một tảng đá xay vừa được nhấc khỏi lồng ngực, hít một hơi nhẹ nhõm thật dài, tưởng chừng bất tận. A! Cuối cùng tôi đã sống lại — là chính mình: Mattia Pascal. Giờ tôi có thể hét lớn cho tất cả mọi người biết: Tôi, tôi đây, Mattia Pascal! Tôi chưa chết! Nhìn tôi đi: tôi đây: Mattia Pascal! Ôi, từ nay chẳng còn sợ vô tình để lộ mình nữa! Và tôi đã đoạn tuyệt với giả dối, lừa lọc! Dĩ nhiên chưa phải ngay lúc này — thực ra phải đến khi về tới Miragno mới xong! Ở đó, trước hết tôi phải công khai danh tính, khiến người ta thừa nhận tư cách một người đang sống của tôi, ghép đời mình trở lại vào những chiếc rễ đã bị chôn vùi.

Thật là một ý nghĩ điên rồ! Sao tôi từng cho rằng mình có thể sống tách khỏi con người vốn có của mình nhỉ! Vậy mà, vậy mà — đời trớ trêu thay: trên chuyến đi lần trước, từ Alenga đến Torino, tôi cũng tưởng mình hạnh phúc y như lúc này! Đồ điên! “Tự do! Tự do!” Khi ấy tôi đã nói thế — ngỡ rằng mình được giải thoát khỏi mọi chuyện quá khứ! Tự do! Hừ! Tự do đẹp đẽ làm sao — với sức nặng bằng chì của lời dối trá đè trên vai — chiếc áo choàng chì dành cho một bóng ma trong Malebolge! Thôi được, giờ tôi sắp có lại một bà vợ, cùng bà mẹ vợ ấy... Nhưng ngay cả khi là một người “đã chết”, chẳng phải tôi vẫn cảm thấy sự hiện diện của họ rõ mồn một đó sao? Ít ra bây giờ tôi còn sống, lại có chút kinh nghiệm chinh chiến. Rồi xem! Rồi xem!

Giờ nghĩ lại, tôi hầu như không thể tin nổi rằng hai năm trước mình đã cắt đứt khỏi xã hội một cách khinh suất, tùy tiện và thản nhiên đến thế. Tôi hình dung lại mình trong những ngày đầu tiên, sung sướng ngây ngất giữa thế giới vô lo ở Torino (giờ tôi mới thấy đó là một thế giới điên rồ!); rồi tôi dần trở thành thế nào trong những chuyến phiêu bạt từ thành phố này sang thành phố khác — im lặng, cô độc, khép mình trong niềm tận hưởng thứ lúc ấy tôi cho là hạnh phúc; rồi nước Đức, sông Rhine, trên một chiếc tàu du ngoạn... Đó là giấc mơ ư? Hoàn toàn không! Sự thật rành rành! Tôi đã ở đó! A, giá mà tôi có thể sống mãi trong tâm trạng ấy, đời đời rong ruổi như một vị khách ghé thăm cuộc sống này! Nhưng chẳng bao lâu sau, tại Milano... con chó con tội nghiệp tôi đã muốn mua của bà lão bán diêm... Phải, ngay từ lúc ấy tôi đã bắt đầu hiểu... Và sau đó... à, phải: sau đó!

Chỉ một bước nhảy, tâm trí tôi đã trở về Roma... Tôi thấy mình lẻn vào căn nhà vắng như một bóng ma. Mọi người đã lên giường ngủ cả rồi sao? Có lẽ tất cả, trừ Adriana! Cô hẳn còn thức chờ tôi về. Chắc họ đã nói với cô rằng tôi đi tìm hai người làm chứng để quyết đấu với Bernaldez. Cô vẫn chưa nghe tiếng tôi về. Cô sẽ sợ hãi, sẽ khóc...

Tôi áp hai tay lên mặt khi một cơn đau dữ dội bóp nghẹt trái tim... “Ôi Adriana của tôi, Adriana bé nhỏ của tôi!” tôi rên rỉ. “Vậy mà đối với em, tôi không bao giờ có thể thật sự sống. Thế thì thà để em biết rằng tôi đã chết, rằng đôi môi từng cướp một nụ hôn từ môi em nay đã chết. Adriana tội nghiệp! Ôi, hãy cố quên tôi đi! Cố mà quên đi!”

Sáng hôm sau, trong nhà sẽ xảy ra chuyện gì khi một cảnh sát đến điều tra vụ tự sát của tôi? Giữa cơn sững sờ đầu tiên, họ sẽ đưa ra lý do nào để giải thích? Trận quyết đấu tôi sắp tham gia ư? Không, nghe chẳng thuyết phục chút nào. Ít ra cũng thật kỳ quặc nếu một người chưa bao giờ tỏ ra hèn nhát lại chọn tự sát thay vì giao đấu! Vậy thì sao? Có lẽ vì tôi không tìm được người làm chứng? Vô lý! Thế thì... ai biết được?... hẳn phải có một bí mật nào đó ẩn dưới cuộc sống kỳ lạ của tôi...

Phải, phải, họ không thể không đi đến kết luận ấy. Tôi tự sát mà chẳng có lý do rõ ràng, cũng chưa từng để lộ chút ý định nhỏ nhất. Ôi, dĩ nhiên gần đây tôi đã cư xử khá kỳ quặc — vụ tiền bạc rối rắm kia, đầu tiên quả quyết nó bị đánh cắp rồi lại bảo đã tìm thấy... Nhưng... “Các vị có nghĩ số tiền ấy thật ra không phải của ông ta không? Có lẽ ông ta phải trả lại cho ai đó và đang dựng cớ — nói rằng nó bị trộm... rồi sau đó hối hận, cuối cùng tự sát? Ai mà biết được! Chỉ có một điều chắc chắn — ông ta là một người cực kỳ bí hiểm: không bao giờ có bạn bè đến thăm, cũng chẳng khi nào nhận được một lá thư của bất kỳ ai...”

Giá mà tôi viết thêm gì đó trên mảnh giấy ấy — ngoài tên, địa chỉ và ngày tháng, thêm đôi ba chữ thôi — một lý do nào đó cho vụ tự sát... Nhưng vào lúc ấy, ở nơi ấy!... Mà nói cho cùng, lấy lý do gì đây?

“Không biết báo chí sẽ viết gì,” tôi nghĩ, tâm trí nhảy từ chuyện này sang chuyện khác. “Họ có thể làm ầm ĩ biết bao về Adriano Meis bí ẩn này! Có một điều tôi dám chắc: người anh họ của tôi, ông Francesco Meis ở Torino, trợ lý thu thuế, sẽ đứng ra kể mọi điều ông ta biết, và kể thêm cả những điều không biết nữa. Họ sẽ lần theo đầu mối ấy — rồi ai đoán được chuyện gì sẽ xảy ra? Phải, nhưng còn tiền — lẽ ra tôi nên để lại cho ai đó chứ? Adriana đã nhìn thấy cả xấp giấy bạc của tôi... Papiano tội nghiệp! Hắn sẽ lao thẳng đến tủ... chỉ để thấy nó trống không! Vậy tiền đâu — mất rồi sao? Trên thi thể Adriano Meis dưới sông ư? Đáng tiếc quá! Đau lòng quá! Papiano sẽ phát điên vì đã không trộm sạch ngay từ đầu! Cảnh sát sẽ giữ quần áo và sách vở của tôi... Rốt cuộc ai sẽ nhận chúng đây! Ôi, ít nhất cũng nên có một vật nhỏ cho Adriana — làm kỷ niệm! Giờ đây cô sẽ đau đớn biết bao khi nhìn vào căn phòng trống của tôi...!”

Cứ thế, tôi miên man từ giả thuyết này sang giả thuyết khác, từ ký ức này sang ký ức khác, từ nỗi sợ này sang nỗi sợ khác, trong lúc con tàu lao về phương bắc. Cơn hỗn loạn cảm xúc bên trong khiến tôi không thể ngủ.

Tôi cho rằng dừng lại Pisa vài ngày là khôn ngoan, để tránh bất kỳ ai liên hệ sự tái xuất của Mattia Pascal tại Miragno với sự biến mất của Adriano Meis ở Roma — một mối liên hệ có thể nảy ra trong đầu người ta nếu các báo thủ đô làm lớn chuyện tự sát của tôi. Ở Pisa tôi có thể đọc cả báo sáng lẫn báo chiều. Nếu Adriano Meis không được nhắc tới đặc biệt, tôi sẽ đi tiếp đến Oneglia, trước khi quay về nhà, để thử xem sự phục sinh của mình tác động đến anh Berto ra sao. Nhưng ngay cả với anh ấy, tôi cũng phải tránh nhắc dù chỉ một lời đến thời gian cư trú tại Roma, những cuộc phiêu lưu ở đó cùng kết cục của chúng. Hai năm mấy tháng vắng mặt, tôi có thể lấp đầy bằng những câu chuyện hoang đường về các chuyến du hành đến những xứ xa xôi... Và giờ đã sống lại, tôi có thể thành thực vui thú với việc nói dối, thậm chí khoác lác về những chiến công vượt cả ngài Tito Lenzi, Hiệp sĩ Vương miện!

Còn lại năm mươi hai nghìn lire! Chắc hẳn khi tưởng tôi đã chết, các chủ nợ đã lấy nốt phần quyền lợi của tôi ở Chuồng Gà cùng nhà máy xay. Có lẽ tiền bán tài sản ấy cũng đủ khiến họ tạm hài lòng. Không, họ sẽ không quấy rầy tôi nữa. Và các vị cứ tin đi, trong tương lai tôi sẽ cẩn thận tránh mọi chuyện rắc rối! Năm mươi hai nghìn lire! Với một nơi như Miragno, từng ấy tiền... chưa thể gọi hẳn là giàu... nhưng đủ sống sung túc, lại còn dư dả!...

Xuống tàu ở Pisa, việc đầu tiên tôi làm là mua một chiếc mũ đúng kiểu và cỡ mà Mattia Pascal quá cố từng đội; việc thứ hai là đi thẳng đến hiệu cắt tóc để tống khứ mái tóc dài của tên ngốc Adriano Meis khỏi đầu mình.

“Cắt thật sát nhé?” tôi đề nghị với người thợ.

Râu tôi đã mọc lại đôi chút; và khi tóc được cắt ngắn, tôi bắt đầu trông tự nhiên trở lại — tự nhiên mà có lẽ còn khá hơn một chút: hơi bóng bẩy, bảnh bao hơn, có phần lịch lãm hơn... Vả lại, tôi đã chữa con mắt cho ngay ngắn. Về điểm ấy, tôi đã mất một trong những nét đặc trưng của Mattia Pascal quá cố. Trên mặt tôi sẽ mãi còn chút gì của Adriano Meis; nhưng ngoài điều đó ra, trông tôi giống anh Berto biết bao!... Tôi chẳng bao giờ ngờ mình lại giống anh ấy đến thế!

Để lúc vào khách sạn không lộ quá rõ vẻ của một kẻ chỉ ghé qua, tôi mua một chiếc va-li du lịch, đồng thời nghĩ rằng có thể dùng nó đựng bộ com-lê và áo khoác ngoài đang mặc. Tôi sẽ phải sắm một bộ hoàn toàn mới. Khó mà tin vợ tôi ở Miragno còn giữ quần áo của tôi suốt thời gian dài ấy. Tôi mua một bộ may sẵn trong cửa hiệu, mặc luôn trên người rồi mang chiếc va-li mới đến Khách sạn Neptune.

Tôi từng đến Pisa một lần dưới danh Adriano Meis và khi ấy ở Khách sạn London. Giờ đây trong thành phố chẳng có thắng cảnh nào khiến tôi quan tâm. Mệt mỏi sau chuyến tàu đêm và những trải nghiệm căng thẳng thần kinh của ngày hôm trước — ngày mà tôi quên bẵng cả ăn — tôi dùng bữa sáng qua loa rồi đi ngủ thẳng.

Tôi ngủ đến tận cuối buổi chiều; khi tỉnh dậy, một cảm giác chán nản và khổ sở ghê gớm đè nặng. Tôi đã ngủ mê man suốt ngày hệ trọng ấy — nhưng ở nhà Paleari, mọi chuyện đã diễn ra thế nào? Hỗn loạn, kinh hoàng, sự tò mò bệnh hoạn của người lạ, những ngờ vực, giả thuyết, lời bóng gió, các cuộc điều tra vô ích; quần áo và sách vở của tôi bị người ta sờ mó, săm soi với vẻ thất thần mà những vật chứng trong một thảm kịch bao giờ cũng gợi lên! Vậy mà tôi đã ngủ! Và trong lúc sốt ruột thế này, tôi còn phải chờ đến sáng hôm sau mới biết báo chí Roma nói gì.

Vì không dám đi tiếp đến Miragno, thậm chí tới Oneglia cũng không, tôi sẽ phải ở lại đây hai, ba, chẳng biết bao nhiêu ngày nữa, trong một tình cảnh tuyệt đẹp — chết ở Miragno với tư cách Mattia Pascal; chết ở Roma với tư cách Adriano Meis!

Chẳng có gì khác để làm, tôi nghĩ mình sẽ dắt hai cái xác đi dạo quanh các phố Pisa. Và xin thưa, đó quả là một thú tiêu khiển dễ chịu. Như tôi đã nói, Adriano Meis thuộc lòng Pisa như lòng bàn tay, nên hắn nhất định đóng vai hướng dẫn viên kiêm người rao mời cho Mattia Pascal; nhưng kẻ thứ hai đang có quá nhiều chuyện phiền toái trong đầu, chẳng có tâm trạng nào đi ngắm cảnh, cứ xua cái bóng ma đáng ghét với kính xanh, áo khoác dài và mũ rộng vành kia đi:

“Xì! Trở về sông của ông đi, thưa ông! Ông không biết mình chết đuối rồi à?”

Nhưng rồi tôi nhớ rằng hai năm trước, khi đi dạo trên chính những con phố này, Adriano Meis cũng từng chán ngấy sự quấy rầy của Mattia Pascal, kẻ mà hắn đã cố cáu kỉnh ấn trở xuống nước trong mương nhà máy xay ở Miragno. Còn tôi, tôi thấy tốt hơn hết là không phân xử giữa hai người. Hỡi ngọn tháp Pisa trắng ngời! Nàng muốn nghiêng về một phía cũng được! Còn ta ư? Ta đứng thẳng, không thiên vị, giữa hai lực kéo giằng co! Sáng hôm sau, sau khi thong thả hết mức có thể, những tờ báo từ Roma bắt đầu được chuyển đến. Tôi sẽ không quả quyết rằng những gì báo viết về mình khiến tôi hoàn toàn yên tâm: hy vọng thế thì quá nhiều. Nhưng tôi mừng khi nhận thấy ở đâu vụ tự sát của mình cũng chỉ được xem như một mẩu tin thường ngày.

Tất cả đều nói gần như nhau: người ta tìm thấy một chiếc mũ, một cây gậy và mảnh giấy vắn tắt trên cầu Margherita; tôi đến từ Torino; tôi là một kẻ lập dị; không thể xác định lý do khiến tôi có hành động tuyệt vọng. Một mẩu tin thậm chí còn gợi ý rằng có lẽ vụ việc liên quan đến một “chuyện tình cảm”, bởi “người đàn ông tên Meis hôm trước đã ẩu đả với một họa sĩ trẻ người Tây Ban Nha tại nhà một nhân vật nổi tiếng trong giới Giáo quyền”. Một báo khác đưa tin gần đây tôi “gặp khó khăn tài chính”. Tóm lại chẳng có gì hệ trọng.

Nhưng một tờ báo chiều vốn ưa giọng sướt mướt trong mọi bài viết đã dài dòng một cách trịnh trọng hơn về “nỗi kinh ngạc và đau buồn của gia đình Hiệp sĩ Anselmo Paleari, nguyên thư ký điều hành thuộc Bộ Giáo dục đã về hưu, nơi người đàn ông tên Meis cư trú và được kính trọng nhờ phong thái cao quý cùng tấm lòng tử tế với những người xung quanh”. (Xin cảm ơn!) Bài báo ấy cũng nhắc đến lời thách đấu tôi nhận từ “họa sĩ người Tây Ban Nha, ông M. B.” và ám chỉ vụ tự sát bắt nguồn từ “một mối tình bí mật và vô vọng”.

Thế là tôi đã tự sát vì Pepita Pantogada!

Thôi, thế càng hay! Càng hay! Tên Adriana không bị lôi vào vụ này, cũng chẳng có lời nào về vụ trộm. Dĩ nhiên cảnh sát sẽ tiếp tục điều tra; nhưng dựa vào manh mối nào chứ? Tôi có thể yên tâm lên đường đến Oneglia.

* * *

Đến nhà Roberto trong thị trấn, tôi mới biết anh đang ở trang trại miền quê lo vụ thu hoạch nho. Hẳn các vị có thể hình dung niềm vui của tôi khi trở lại những chốn cũ mà tôi từng ngỡ sẽ không bao giờ được thấy nữa; tuy vậy, tôi cũng bồn chồn không ít vì nóng lòng muốn đi thật nhanh; vì sợ bị người quen cũ nào đó nhận ra trước khi kịp làm người thân bất ngờ; và vì đã nếm trước cảm xúc mà họ có lẽ sẽ trải qua khi đột nhiên thấy tôi còn sống đứng trước mặt. Quả thật, chẳng mấy chốc tôi kích động đến mức gần như không còn là mình. Mọi vật như bơi trước mắt, máu tôi lạnh buốt. Chẳng lẽ không bao giờ tới nơi sao?

Khi rung chuông trước cổng ngôi biệt thự xinh xắn mà Berto có được kèm theo cô vợ, tôi cảm thấy cuối cùng mình đã trở về một thế giới có thật.

Người quản gia ra mở cổng.

“Xin mời ông vào!” anh ta nói, né sang một bên giữ cổng mở. “Tôi phải thưa ai đến thăm ạ?”

Tôi hoàn toàn mất tiếng; nhưng với một nụ cười gượng để che bớt sự xúc động, tôi cố lắp bắp:

“À... ờ... cứ nói... nói rằng... một người bạn... một người bạn cũ của ông ấy... từ rất xa đến... phải... như thế là được...”

Ít nhất người quản gia hẳn cho rằng tôi mắc tật nói lắp; nhưng anh ta vẫn dẫn tôi đến một chiếc ghế trong phòng khách, đặt va-li xuống sàn gần giá treo mũ.

Giờ tôi gần như phát cuồng vì nôn nóng và mong đợi, vừa cười, vừa thở hổn hển, vừa nhìn quanh căn phòng sáng sủa, bài trí tiện nghi nơi mình đang ngồi. Berto không chịu ra hay sao?

Đột nhiên tôi nghe thấy tiếng động ở ô cửa mình vừa bước qua.

Đó là một đứa bé chừng bốn tuổi, một tay cầm bình tưới đồ chơi, tay kia cầm chiếc cào đồ chơi. Nó mở to hết cỡ đôi mắt nhìn tôi. Một làn xúc động trìu mến không sao tả xiết tràn qua người. Cháu trai bé bỏng của tôi! Con trai cả của Berto! Tôi âu yếm nghiêng về phía nó, đưa tay vẫy lại. Nhưng nó sợ hãi, co chân chạy nhanh hết sức.

Nhưng rồi tôi nghe một cánh cửa khác mở ra rồi khép lại. Tôi đứng bật dậy, mắt nhòa lệ, cổ họng nghẹn thắt trong một âm thanh nửa cười nửa nức nở. Roberto đang đứng trước mặt tôi.

“Tôi được hân hạnh tiếp...” anh bắt đầu.

“Berto!” tôi kêu lên, dang rộng hai tay. “Berto, anh không nhận ra em sao?”

Nghe tiếng tôi, Berto trắng bệch như tờ giấy, vội đưa tay quệt qua mắt và trán rồi loạng choạng như sắp ngã:

“Ơ-ơ-ơ kìa! Ơ-ơ-ơ kìa!”

Tôi lao tới đỡ, nhưng anh lùi lại vì khiếp đảm tột độ.

“Em đây mà — Mattia đây! Đừng sợ! Em chưa chết! Thấy không? Sờ vào em đi! Em đây, Roberto! Em chưa bao giờ sống khỏe hơn lúc này! Nào, nào, nào!”

“Mattia! Mattia! Mattia!” cuối cùng người anh tội nghiệp của tôi cũng thốt lên được, tuy vẫn chưa hoàn toàn dám tin vào mắt mình. “Em ư? Chuyện quái gì thế này?... Ôi! Em trai tôi! Mattia! Mattia!”

Anh ôm ghì lấy tôi, siết đến phát đau. Tôi không kìm nổi nữa, cứ đứng đó khóc như một đứa trẻ.

“Nhưng... kể anh nghe...” cuối cùng Berto thì thầm giữa những tiếng nức nở... “Kể đi! Kể anh nghe!”

“Thì em đây, anh không thấy sao? Em trở về rồi! Không phải từ thế giới bên kia đâu, ôi không! Em chưa từng rời cái thế giới đáng ghê tởm này! Bình tĩnh lại nào! Rồi em sẽ kể!”

Nhưng Berto không chịu buông tôi ra. Hai tay nắm chặt lấy cánh tay tôi, anh ngước nhìn mặt tôi, hoàn toàn ngơ ngác:

“Nhưng... ở đó... tại nhà máy xay...”

“Không phải em!... Em sẽ kể. Họ nhận nhầm. Khi ấy em ở cách Miragno hàng bao dặm; nhưng em đọc được tin đó trên báo, chắc anh cũng thế... vụ em tự sát trong mương nước...”

“Và đó không phải em?...” Berto hỏi bằng giọng đã bình thường hơn. “Suốt thời gian qua em làm cái gì vậy?”

“Giả chết! Nhưng anh đừng làm ầm lên. Sau này em sẽ kể hết. Bây giờ thì chưa được. Em chỉ nói chừng này: em lang bạt hết chỗ này đến chỗ khác, ban đầu cứ ngỡ mình hạnh phúc, anh biết đấy. Rồi... à... vì nhiều chuyện, em nhận ra mình đã lầm, rằng giả chết không tuyệt vời như lời đồn. Thế là em về đây! Em sống lại rồi!”

“Điên, điên, điên... anh vẫn bảo mà!” Roberto mỉm cười kêu lên. “Nhưng chuyện này vượt quá sức anh! Em không thể nào hiểu anh cảm thấy thế nào đâu, Mattia, em trai anh! Em! Đứa em đã chết của anh! Em! Mattia! — Không, anh không tin nổi! Để anh nhìn em xem! Có chuyện gì vậy? Trông em khác lắm!”

“Khác thật!” tôi nói. “Em đã đi sửa cái mắt lác này rồi!”

“À phải, đúng nó! Chính điều ấy khiến anh bối rối! Anh không sao nhận chắc được em! Không biết nữa... giọng thì đúng... nhưng anh nhìn em, càng nhìn lâu càng... Ôi! Ôi! Ôi!... Nhưng... lên gác làm vợ anh bất ngờ nào... Ôi... mà khoan... em...”

Anh đột ngột ngừng lại, nhìn tôi, vẻ kinh hoàng dần phủ kín gương mặt:

“Em định trở về Miragno à?”

“Dĩ nhiên... ngay chiều nay!”

“Vậy là em chưa biết?”

Anh ôm hai tay lên mặt, rên lên:

“Thằng quỷ! Em đã làm gì thế này! Em đã làm gì thế này! Em không biết vợ em đã...?”

“Chết rồi?” tôi kêu lên trong một cơn co thắt pha lẫn sợ hãi và háo hức.

“Tệ hơn! Tệ hơn!” anh nói. “Cô ấy... cô ấy lấy chồng rồi!”

Tôi chết sững. “Lấy chồng rồi?”

“Lấy chồng rồi! Lấy Pomino! Anh đã nhận thiệp báo hỷ! Cách đây hơn một năm!”

“Pomino? Pomino? Lấy Ro...” tôi lắp bắp. Nhưng một tràng cười cay đắng, cay đắng dường như hình thành trong bụng tôi rồi từ từ sủi lên. Cuối cùng nó trào tới cổ họng và đôi môi. Tôi bật cười như sấm.

Roberto đứng nhìn tôi, có lẽ sợ rằng tôi đã thật sự mất trí.

“Em mừng à?” anh hỏi.

“Mừng ư?” tôi gầm lên. “Gọi thế còn chưa đủ!” Rồi tôi nắm cánh tay anh lắc mạnh. “Tin này là đỉnh cao trong chuỗi vận may của em!”

“Em nói gì vậy?” Roberto gần như tức giận kêu lên. “Vận may nào? Nhưng em bảo em đang về đó...”

“Dĩ nhiên! Ngay bây giờ!”

“Nhưng em không hiểu sao? Em phải nhận cô ấy lại!”

“Em phải nhận cô ấy lại? Ý anh là gì?”

“Chắc chắn phải thế!” Roberto khăng khăng. “Cuộc hôn nhân thứ hai này sẽ bị hủy bỏ và em buộc phải nhận cô ấy về.”

Lần này đến lượt tôi từ trên mây rơi xuống; và cú va chạm khi tiếp đất chẳng dễ chịu chút nào.

“Anh đang định nói gì với em vậy?” tôi dữ dội kêu lên. “Vợ em lấy chồng lần nữa còn em... Ôi thôi nào! Không thể thế được! Luật lệ điên rồ gì...”

“Đúng như anh nói đấy,” Berto khẳng định. “Khoan! Em trai của vợ anh đang ở đây. Cậu ấy là luật sư, sẽ giải thích tình hình rõ hơn anh. Đi nào... hay đúng hơn là không, em cứ chờ ở đây... Vợ anh không được khỏe lắm. Có lẽ không nên làm cô ấy bất ngờ... Anh sẽ từ từ báo tin... Vậy em ngồi xuống nhé?”

Nhưng anh vẫn bám chặt lấy tôi cho đến khi đã ra hẳn ngoài cửa, như thể sợ rằng chỉ cần buông một giây là tôi lại biến mất.

Còn lại một mình, tôi bắt đầu đi vòng quanh căn phòng như sư tử nhốt trong lồng.

“Lấy chồng lần nữa! Lại còn lấy Pomino!... Dĩ nhiên, đúng là kiểu của hắn!... Lần này vẫn người vợ ấy!... Quả thật hắn đã yêu cô ta trước... Còn cô ta... à, sao lại không chứ? Giàu có, lại làm vợ nhà Pomino!... Và trong lúc cô ta kiếm một người chồng khác ở quê nhà... thì ta ở Roma... Giờ ta lại phải nhận cô ta về!... Hay thật đấy!”

Chẳng bao lâu sau, Roberto vội vã bước vào, dẫn đầu cả một đoàn người. Lúc ấy tôi đã rối bời đến mức gần như chẳng đáp lại lời chào đón của vợ anh cùng gia đình cô ấy. Berto nhận thấy tôi mất tập trung, liền hỏi cậu em vợ về vấn đề mà tôi vô cùng quan tâm.

“Nhưng các vị gọi đó là thứ luật gì?” một lúc sau tôi ngắt lời. “Chúng ta bị người Thổ cai trị hay sao?”

“Luật là thế!” người kia mỉm cười đáp. “Roberto nói đúng. Tôi không thể trích nguyên văn điều luật, nhưng trường hợp này đã được quy định trong Bộ luật. Cuộc hôn nhân thứ hai trở thành vô hiệu khi người phối ngẫu thứ nhất tái xuất.”

“Thế thì,” tôi mỉa mai nổi nóng, “tôi phải nhận về cho mình một người đàn bà, một người đàn bà mà ai ai cũng biết đã làm vợ một người đàn ông khác suốt hơn một năm nay, người đàn ông ấy...”

“Nhưng chuyện đó là do lỗi của ông, nếu tôi được phép nói vậy, ông Pascal thân mến!” chàng luật sư lại mỉm cười đáp.

“Sao lại lỗi của tôi?” tôi nói. “Sao lại lỗi của tôi? Vị phu nhân đáng kính ấy trước tiên nhận nhầm một người khốn khổ rơi xuống ao. Rồi bà ấy vội vàng xin giấy phép để cưới một người đàn ông khác! Mà lại là lỗi của tôi ư? Và tôi còn phải nhận bà ấy về?”

“Ông phải nhận,” luật sư đáp; “và ông phải chịu trách nhiệm, bởi vì ông, ông Pascal, đã không thấy cần đính chính sai lầm của vợ mình trong thời hạn luật định trước khi bà ấy được phép kết hôn lần hai — một sai lầm mà tôi công nhận rất có thể xuất phát từ ác ý. Ông đã chấp nhận sự nhận dạng sai ấy và lợi dụng nó. Ồ, về chuyện đó, xin ông lưu ý — tôi không nói ông làm sai. Trái lại, tôi nghĩ trong hoàn cảnh ấy ông đã hành động hoàn toàn đúng. Điều làm tôi ngạc nhiên hơn là dường như ông muốn trở về nhà để lại vướng vào những đạo luật ngu ngốc điều chỉnh các chuyện như thế. Nếu là ông, tôi sẽ không bao giờ xuất hiện nữa.”

Thái độ thản nhiên của chàng trai mới tốt nghiệp trường luật này, cùng vẻ chắc mẩm hợm hĩnh kiểu sách vở trong cách anh ta nói, cuối cùng bắt đầu khiến tôi nổi giận.

“Đó là vì anh không hiểu tất cả chuyện này có nghĩa gì!” tôi nhún vai đáp.

“Sao chứ,” anh ta nói, “tôi không thể tưởng tượng nổi vận may nào lớn hơn vận may đã đến với ông.”

“Xin nhường cho anh tự nếm thử,” tôi đáp, quay sang Roberto mà chẳng buồn xin lỗi.

Nhưng bên chỗ anh trai tôi cũng có rắc rối chờ sẵn.

“Nhân tiện,” Berto hỏi tôi, “suốt thời gian qua em sống bằng cách nào?”

Anh xoa ngón cái vào ngón trỏ để ám chỉ “tiền”.

“Em sống bằng cách nào ư?” tôi đáp. “Chuyện dài lắm! Bây giờ em không có thời gian cũng chẳng đủ kiên nhẫn để kể. Nhưng em có thừa tiền sống, giờ vẫn còn một ít. Em hy vọng anh không nghĩ em trở về vì túng quẫn!”

“Vậy em thật sự định đến Miragno?” Berto vẫn gặng hỏi. “Ngay cả sau những gì anh vừa kể?”

“Chắc chắn rồi,” tôi kêu lên. “Anh nghĩ sau tất cả những gì đã trải qua, em còn định tiếp tục giả chết sao? Không đời nào! Không, thưa ngài! Em sẽ đi chỉnh lại giấy tờ, làm cho sổ sách rõ ràng, cảm thấy mình sống trở lại, sống sờ sờ ra đấy — dù phải trả giá bằng việc nhận lại vợ. Nhân tiện, bà già ấy còn sống chứ — mụ góa Pescatore ấy?”

“À, chuyện đó anh không biết,” Roberto đáp. “Em hiểu đấy, sau khi vợ em tái giá... Nhưng theo anh biết thì bà ấy vẫn...”

“Anh toàn báo tin vui cho em,” tôi nhận xét. “Nhưng không sao! Em sẽ tính sổ với bà ta. Anh biết đấy, em không còn là con người ngày trước nữa. Nhưng em quả thật ghét phải giúp tên ngốc Pomino một việc lớn bằng cách rước cô ta khỏi tay hắn!”

Tất cả cùng phá lên cười! Người quản gia bước vào báo bữa tối đã dọn. Dù sao tôi cũng không thể từ chối. Tôi nóng lòng lên đường đến mức gần như không nếm được thức ăn. Nhưng sau đó tôi nhận ra hẳn mình đã ăn khá ngon lành. Con thú trong tôi đang thức dậy trước viễn cảnh cuộc chiến sắp tới!

Berto nhất quyết giữ tôi ở lại với anh ít nhất đêm ấy và đề nghị sáng hôm sau cùng đi. Anh háo hức muốn chứng kiến tác động của cuộc đột kích bất ngờ của tôi vào gia đình yên ấm nhà Pomino. Nhưng tôi không thể nghĩ đến chuyện đó. Tôi khăng khăng lên đường một mình ngay trong đêm, không trì hoãn thêm nữa.

Tôi đi chuyến tàu tám giờ và nửa giờ sau đã tới Miragno.