Mattia Pascal quá cố — Chương 2: “Cứ làm đi,” Don Eligio nói
Chương 2 / 18 · Bài review Mattia Pascal quá cố
Ý tưởng — hay nói đúng hơn, lời gợi ý — viết một cuốn sách như thế đến từ người bạn giáo sĩ đáng kính của tôi, Don Eligio Pellegrinotto, người hiện trông coi di sản Boccamazza; và khi bản thảo hoàn tất (nếu tôi có bao giờ đi được tới cuối), tôi sẽ phó thác nó cho sự chăm nom — hoặc bỏ mặc — của ông.
Tôi đang viết ngay tại đây, trong ngôi nhà thờ nhỏ đã bị giải thiêng này, dưới thứ ánh sáng nhợt nhạt rọi xuống từ những ô cửa trên mái vòm; ngay tại “văn phòng” của thủ thư (một bệ thờ cũ trong hậu cung, ngăn lại bằng lan can gỗ), nơi Don Eligio ngồi thở hổn hển trước công việc ông đã anh dũng nhận lấy: đem chút trật tự vào mớ hỗn mang văn chương này.
Tôi ngờ rằng ông chẳng tiến được bao xa.
Trước thời ông, ngoài việc liếc qua toàn thể những gáy sách, chưa ai từng nhọc công tìm hiểu xem di sản của Đức ông già kia thực sự gồm những loại sách gì (chúng tôi cứ đinh ninh phần lớn là sách tôn giáo). Thế mà Don Eligio đã phát hiện — “Đúng là số tôi!” ông nói — rằng đề tài của chúng, trái lại, đa dạng vô cùng; mà vì người ta hốt chúng lên một cách tùy tiện, y như chúng nằm trong kho, rồi nhét lên kệ chỗ nào vừa thì thôi, nên tình trạng lộn xộn, nói nhẹ nhất, cũng thật kinh hoàng. Một số quyển cổ vì thế đã thành những cặp vợ chồng kỳ quặc. Don Eligio kể rằng ông mất trọn một buổi sáng mới ly dị được hai cuốn sách đang ôm ghì nhau bằng bìa: _Nghệ thuật ve vãn các giai nhân_ của Anton Muzio Porro (Perugia, 1571), và _Cuộc đời và cái chết của Chân phước Faustino Materucci_ (Mantua, 1625)! (Một phần trong luận khảo của Muzio lại dành cho những thói phóng đãng của dòng Biển Đức, dòng tu mà thánh Faustino từng thuộc về!)
Leo lên tụt xuống chiếc thang mượn của người thắp đèn làng, Don Eligio đã moi ra không ít pho sách thú vị và lạ lùng trên những kệ phủ bụi. Mỗi lần tìm được một cuốn như thế, ông ngắm thật kỹ từ bậc thang đang đứng rồi thả nó rơi úp bìa xuống chiếc bàn lớn giữa gian chính. Ngôi nhà thờ cũ dội tiếng vang từ tường này sang tường kia. Một đám mây bụi tràn khắp phòng. Chỗ này chỗ nọ, nhện hốt hoảng chạy tìm chỗ nấp trên mặt bàn. Tôi thong thả rời bàn viết, bước dạng chân qua lan can rồi tới gần. Tôi nhặt sách lên, dùng nó đập chết lũ sâu bọ vừa bị giũ ra, mở hú họa một trang và đọc lướt.
Dần dà tôi đâm thích kiểu đọc nhấm nháp ấy. Vả lại, Don Eligio bảo tôi nên lấy vài văn bản mốc meo ông đang khai quật ở đây làm mẫu văn phong — cho nó có “hương vị cổ điển”, như lời ông nói. Tôi nhún vai, bảo chuyện ấy quá sức mình. Rồi mắt tôi bắt gặp điều gì kỳ lạ, thế là lại đọc tiếp.
Cuối cùng, khi Don Eligio lấm lem bụi bặm, đẫm mồ hôi từ thang bước xuống, tôi cùng ông ra hít chút khí trời trong sạch ở khu vườn mà bằng cách nào đó ông đã dỗ cho mọc um tùm trên một khoảnh sỏi nơi góc tiếp giáp giữa hậu cung và gian chính.
Tôi ngồi xuống một mỏm móng nhô ra, chống cằm lên tay cầm gậy. Don Eligio đang xới đất quanh một cây xà lách.
“Chao ôi, chao ôi,” tôi nói. “Thời buổi này đâu còn thích hợp để viết sách, Don Eligio ạ, ngay cả thứ sách ngớ ngẩn như của tôi. Với văn chương, tôi cũng phải nói điều tôi đã nói về mọi thứ khác: ‘Copernicus đáng nguyền rủa!’”
“Khoan đã nào,” Don Eligio kêu lên, máu dồn đỏ mặt khi ông đứng thẳng dậy khỏi tư thế khom gập. (Giữa trưa rất nóng, nên ông đội một chiếc mũ rơm vành rộng để kiếm chút bóng râm nhân tạo.) “Copernicus thì liên quan gì tới chuyện này?”
“Có lẽ nhiều hơn ông tưởng; bởi vào thời trước khi trái đất bắt đầu quay quanh mặt trời....”
“Anh lại thế rồi! Nó vẫn luôn quay quanh mặt trời, anh bạn ạ....”
“Không hề, không hề! Chẳng ai biết nó quay; vậy thì xét trên mọi phương diện thực tế, cứ coi như nó đứng yên. Đến giờ vẫn còn khối người không thừa nhận trái đất quay quanh mặt trời. Hôm nọ tôi nhắc chuyện ấy với một lão nông, ông biết lão nói gì không? Lão bảo: ‘Đấy là cái cớ hay khi có người thề rằng anh say rượu!’ Ngay cả ông, một linh mục ngoan đạo, cũng chẳng dám nghi ngờ rằng vào thời Joshua, chính mặt trời mới chuyển động. Nhưng chuyện ấy không quan trọng. Tôi đang nói rằng vào thời trái đất còn đứng yên, và Con Người — khoác áo Hy Lạp hay La Mã — có lý do để xem mình gần như thứ quan trọng nhất trong toàn cõi tạo vật, thì một kẻ ghi lại câu chuyện nhỏ nhoi của riêng mình còn có đôi chút chính đáng.”
“Sự thật vẫn là,” Don Eligio nói, “kể từ khi trái đất — theo lời anh khăng khăng — bắt đầu quay quanh mặt trời, người ta đã viết ra nhiều sách rác rưởi hơn cả thời trước đó.”
“Tôi đồng ý,” tôi nói. “‘Đúng tám giờ rưỡi, bá tước rời giường và bước vào phòng tắm....’ ‘Vợ nhà triệu phú mặc chiếc áo cổ trễ viền đăng ten....’ ‘Họ ngồi đối diện nhau bên bàn điểm tâm ở khách sạn Ritz....’ ‘Lucretia ngồi may bên cửa sổ phòng khách phía trước....’ Ngày nay người ta viết như thế. Rác rưởi, tôi công nhận! Nhưng đó cũng không phải vấn đề. Có phải chúng ta đang mắc kẹt trên một thứ con quay mà vị Thượng đế nào đó xoay để mua vui — có lẽ dùng tia nắng làm dây; hoặc nếu ông thích, trên một quả cầu bùn phát điên, cứ quay tít trong không gian, chẳng biết cũng chẳng cần biết vì sao nó quay — chỉ quay chơi vậy thôi? Ở một điểm trong vòng quay, ta thấy ấm hơn chút; sang điểm kế, lại lạnh hơn chút; nhưng sau năm mươi hay sáu mươi vòng, ta chết, mãn nguyện vì ít nhất mỗi vòng cũng đã tự biến mình thành kẻ ngốc một lần. Tôi nói ông nghe, Don Eligio, Copernicus đã hủy hoại loài người đến mức không thể cứu vãn. Từ thời ông ta, chúng ta dần nhận ra mình nhỏ bé không sao tả xiết trong toàn bộ cơ đồ vạn vật — còn chưa bằng hư vô, bất chấp niềm kiêu hãnh về khoa học và tài sáng chế của trí óc con người. Vậy thì sao phải cuống cuồng vì những thử thách, phiền muộn cá nhân nhỏ nhặt, nếu một tai họa cuốn theo hàng nghìn người, xét tương đối, cũng chỉ quan trọng ngang việc phá hủy một tổ kiến?”
Tuy nhiên, Don Eligio nhận xét rằng dù cố đến đâu để hạ thấp hay tiêu diệt vô số ảo tưởng mà Tự nhiên đã gieo vào chúng ta vì lợi ích của chính ta, ta cũng chẳng bao giờ thành công hoàn toàn. May thay, sự chú ý của con người rất dễ bị kéo khỏi thân phận thấp hèn của mình.
Và ông nói đúng. Tôi để ý rằng trong làng, vào một số đêm đã được đánh dấu trên lịch, đèn đường không được thắp; những dịp ấy, nếu trời lại nhiều mây, chúng tôi đành chìm trong bóng tối. Theo tôi, đó là bằng chứng rằng ngay thời đại này, ta vẫn tưởng mặt trăng được đặt trên trời để soi sáng ban đêm, cũng như mặt trời được đặt đó để soi sáng ban ngày (còn các vì sao được rắc thêm cho đẹp). Và ta quá sẵn lòng quên mình chỉ là những con mạt nhỏ nhoi đến lố bịch, miễn sao thỉnh thoảng được hưởng đôi chút tâng bốc của nhau và dành cho nhau. Con người có thể đánh nhau vì những thứ vặt vãnh như đất đai hay tiền bạc, có thể nếm niềm vui lớn nhất và nỗi buồn sâu nhất vì những điều mà, nếu thật sự tỉnh thức trước sự hư vô của mình, hẳn ta sẽ coi là những chuyện tầm phào đáng thương nhất. Tóm lại: Don Eligio có vẻ đúng đến mức tôi quyết định tận dụng cái khả năng chung với đồng loại — khả năng nghĩ rằng mình đáng để đem ra kể; và vì trải nghiệm của tôi kỳ lạ như đã nói, tôi sẽ viết nó xuống. Nhìn chung tôi sẽ kể ngắn gọn, bám sát những điều cốt yếu; và tôi sẽ thành thật. Nhiều chuyện sắp kể chẳng giúp danh tiếng tôi khá hơn. Nhưng tôi đang ở một địa vị hết sức đặc biệt: một kẻ đã ở bên kia cõi sống. Vì thế không có lý do gì để che giấu hay giảm nhẹ bất cứ điều gì.
Vậy tôi xin bắt đầu.