Ngôi nhà và thế giới — Chương 1

Chương 1 / 12 · Bài review Ngôi nhà và thế giới

Chuyện của Bimala · I

MẸ ƠI, hôm nay lòng con lại hiện về vệt son nơi đường ngôi rẽ tóc mẹ, tấm _sari_ mẹ vẫn mặc với dải viền đỏ rộng, và đôi mắt tuyệt vời của mẹ, thăm thẳm và an nhiên. Chúng đến vào lúc khởi đầu hành trình đời con, như vệt rạng đông đầu tiên, ban cho con lương vàng mang theo suốt dặm đường.

Bầu trời cho ta ánh sáng thì xanh, còn gương mặt mẹ tôi thì sẫm, nhưng mẹ có ánh rạng của sự thánh thiện, và vẻ đẹp của mẹ đủ làm hổ thẹn mọi phù hoa của những người đẹp.

Ai cũng bảo tôi giống mẹ. Thuở nhỏ tôi từng bực vì điều đó. Nó làm tôi giận cả tấm gương. Tôi nghĩ chính sự bất công của Thượng đế đã quấn lấy tay chân mình — rằng nước da sẫm này chẳng phải phần đáng có của tôi, mà đến với tôi do một nhầm lẫn nào đó. Tất cả những gì còn lại để tôi cầu xin Thượng đế đền bù là: xin cho tôi lớn lên thành mẫu mực của người đàn bà đáng phải là, như người ta vẫn đọc thấy trong một thiên anh hùng ca nào đó.

Khi lời dạm hỏi đến, người ta cho mời một thầy chiêm tinh; ông xem chỉ tay tôi rồi nói: “Cô bé này có tướng tốt. Nó sẽ thành người vợ lý tưởng.”

Và tất cả đàn bà nghe được đều bảo: “Chẳng lạ gì, vì nó giống mẹ nó.”

Tôi được gả vào nhà một Rajah. Hồi bé, tôi thuộc lòng những lời tả chàng Hoàng tử trong truyện cổ tích. Nhưng gương mặt chồng tôi không thuộc loại mà trí tưởng tượng đặt vào cõi thần tiên. Nó sẫm màu, y như của tôi. Cái cảm giác co rúm mà tôi vẫn mang vì mình thiếu nhan sắc được nhẹ đi đôi chút; nhưng đồng thời một chút tiếc nuối vẫn nấn ná lại trong tim.

Nhưng khi hình hài thoát khỏi sự soi xét của giác quan mà bước vào cung thánh của trái tim, thì nó có thể quên chính mình. Từ trải nghiệm thuở nhỏ, tôi biết lòng tận tụy tự nó là cái đẹp, ở mặt bên trong. Khi mẹ tôi bày lên đĩa đá trắng những thứ quả khác nhau, do chính tay bà thương yêu gọt vỏ, rồi nhẹ nhàng phe phẩy quạt đuổi ruồi trong lúc cha tôi ngồi vào bữa, sự phụng sự của mẹ tan biến vào một vẻ đẹp vượt khỏi mọi hình thức bên ngoài. Ngay từ tấm bé tôi đã cảm được sức mạnh ấy. Nó vượt lên trên mọi tranh biện, hoài nghi hay tính toán: nó là âm nhạc thuần khiết.

Tôi nhớ rõ sau khi cưới, những sớm mai tôi rón rén lặng lẽ trở dậy, cúi nhận bụi dưới chân chồng mà không làm anh thức giấc; những lúc ấy tôi cảm thấy vệt son trên trán mình sáng lên như sao mai.

Một hôm anh chợt tỉnh, mỉm cười hỏi tôi: “Gì thế, Bimala? Em _đang_ làm gì vậy?”

Tôi không bao giờ quên được nỗi hổ thẹn khi bị anh bắt gặp. Có lẽ anh nghĩ tôi đang lén tích công đức. Nhưng không, không phải! Chuyện ấy chẳng liên quan gì đến công đức. Đó là trái tim đàn bà của tôi, nó phải thờ phụng thì mới yêu được.

Nhà cha chồng tôi mang cái tôn nghiêm cổ kính từ thuở các _Badshah_. Vài lề lối trong nhà là của người Mogul và người Pathan, vài tục lệ là của Manu và Parashar. Nhưng chồng tôi thì hoàn toàn hiện đại. Anh là người đầu tiên trong nhà học hết đại học và lấy bằng M.A. Người anh cả của anh chết trẻ vì rượu, không để lại con. Chồng tôi không uống rượu, cũng không sa vào trác táng. Sự tiết độ ấy xa lạ với dòng họ đến mức nhiều người thấy nó gần như bất nhã! Họ tưởng rằng trong sạch chỉ hợp với những kẻ mà vận may chưa mỉm cười. Chính mặt trăng mới có chỗ cho vết, chứ không phải các vì sao.

Cha mẹ chồng tôi mất đã lâu, bà nội anh là chủ nhà. Chồng tôi là con ngươi trong mắt bà, viên ngọc trên ngực bà. Vì thế anh chẳng mấy khi gặp khó khi bước qua những tục lệ xưa. Khi anh đưa cô Gilby về dạy tôi và làm bạn với tôi, anh giữ nguyên ý định bất chấp thứ nọc độc rỉ ra từ mọi cái lưỡi ngoay ngoảy trong nhà lẫn ngoài ngõ.

Hồi ấy chồng tôi vừa thi xong bằng B.A. và đang học lấy M.A., nên phải ở lại Calcutta để lên giảng đường. Anh viết cho tôi gần như mỗi ngày, chỉ vài dòng, lời lẽ giản dị, nhưng nét chữ tròn và mạnh dạn của anh cứ ngước lên nhìn vào mặt tôi, ôi, dịu dàng biết mấy! Tôi cất thư anh trong một hộp gỗ đàn hương và ngày nào cũng phủ lên đó những bông hoa hái ngoài vườn.

Khi ấy chàng Hoàng tử của truyện cổ đã nhạt đi, như vầng trăng trong ánh sáng ban mai. Tôi đã có chàng Hoàng tử của thế giới thật ngự trong tim mình. Tôi là hoàng hậu của anh. Tôi có chỗ ngồi bên cạnh anh. Nhưng niềm vui thật của tôi là chỗ đứng thật của tôi ở dưới chân anh.

Từ bấy đến nay tôi đã được học hành, được đưa vào thời hiện đại bằng chính ngôn ngữ của nó, vì thế những chữ tôi đang viết đây dường như đỏ mặt hổ thẹn trong lớp áo văn xuôi của chúng. Nếu không quen với chuẩn sống hiện đại này, hẳn tôi đã biết một cách rất tự nhiên rằng: cũng như việc tôi sinh ra là đàn bà chẳng nằm trong tay tôi, thì phần tận tụy trong tình yêu của người đàn bà cũng không phải một đoạn thơ lãng mạn sáo mòn được chép lại nắn nót đầy sùng kính vào vở tập viết của nữ sinh.

Nhưng chồng tôi không cho tôi cơ hội nào để thờ phụng. Đó là chỗ lớn lao của anh. Chỉ kẻ hèn mới đòi vợ mình phải tận tụy tuyệt đối như một quyền lợi; điều đó làm nhục cả hai.

Tình yêu anh dành cho tôi như tràn qua bờ cõi của tôi bằng cả một dòng lũ giàu có và phụng sự. Nhưng tôi cần cho hơn là nhận; bởi tình yêu là kẻ lang thang, nó làm hoa mình nở trong bụi bên đường còn đẹp hơn trong những chiếc bình pha lê đặt nơi phòng khách.

Chồng tôi không thể dứt hẳn với những tục lệ xưa vẫn ngự trong nhà. Vì thế chúng tôi khó lòng gặp nhau vào bất cứ giờ nào mình muốn. Tôi biết đúng giờ anh có thể đến với tôi, nên cuộc gặp của chúng tôi mang trọn vẹn sự chăm chút của một chuẩn bị đầy yêu thương. Nó như vần điệu của một bài thơ; nó phải đi qua lối của niêm luật.

Xong việc trong ngày và tắm buổi chiều rồi, tôi bới lại tóc, tô lại vệt son và mặc tấm _sari_ đã xếp li cẩn thận; rồi thu cả thân lẫn trí về từ mọi thứ chia trí của việc nhà, tôi dâng nó trong giờ đặc biệt này, bằng những nghi thức đặc biệt, cho một con người. Thời gian mỗi ngày bên anh ngắn ngủi; nhưng nó vô cùng.

Chồng tôi vẫn nói vợ chồng bình đẳng trong tình yêu vì đôi bên có quyền ngang nhau đối với nhau. Tôi chưa bao giờ cãi lại anh điều đó, nhưng lòng tôi bảo rằng sự tận tụy chẳng hề cản đường bình đẳng thật; nó chỉ nâng cao mặt bằng nơi hai người gặp nhau. Bởi thế niềm vui của thứ bình đẳng cao hơn ấy còn mãi; nó không bao giờ trượt xuống mức tầm thường thô lậu.

Người yêu dấu của tôi, anh thật xứng đáng khi chưa bao giờ mong tôi thờ phụng. Nhưng nếu anh nhận lấy, anh đã làm cho tôi một việc thật sự có ích. Anh tỏ tình yêu bằng cách điểm trang cho tôi, cho tôi học hành, cho tôi thứ tôi xin và cả thứ tôi không xin. Tôi đã thấy tình yêu sâu đến nhường nào trong mắt anh khi anh nhìn tôi. Tôi đã biết tiếng thở dài đau đớn thầm kín mà anh nén xuống trong tình yêu dành cho tôi. Anh yêu thân thể tôi như thể nó là một bông hoa của thiên đường. Anh yêu trọn bản tính tôi như thể nó được một sự quan phòng hiếm hoi nào đó ban cho anh.

Sự tận tụy hào phóng ấy khiến tôi kiêu hãnh mà nghĩ rằng của cải đưa anh đến cổng nhà tôi đều là của riêng tôi. Nhưng thứ phù hoa như thế chỉ chặn dòng dâng hiến tự do trong tình yêu của người đàn bà. Khi tôi ngồi trên ngai hoàng hậu mà đòi người ta phục tùng, thì đòi hỏi ấy chỉ tự nó phình to lên mãi; nó không bao giờ được thoả. Người đàn bà có thể có hạnh phúc thật nào chăng khi chỉ cảm thấy mình có quyền lực trên một người đàn ông? Dâng hết lòng kiêu hãnh của mình vào sự tận tụy — đó là con đường cứu rỗi duy nhất của đàn bà.

Hôm nay tôi nhớ lại, trong những ngày hạnh phúc của chúng tôi, lửa ghen tị đã bùng lên quanh mình như thế nào. Điều đó cũng tự nhiên thôi, vì chẳng phải tôi đã bước vào vận may của mình hoàn toàn tình cờ, mà không đáng được hưởng đó sao? Nhưng trời chẳng để một vận đỏ kéo dài mãi, trừ phi món nợ danh dự của nó được trả đủ, ngày qua ngày, qua rất nhiều ngày dài, và nhờ vậy mà thành chắc chắn. Thượng đế có thể ban ta quà tặng, nhưng cái tài nhận lấy và giữ được chúng thì phải là của chính ta. Thương thay cho những ân huệ tuột qua kẽ những bàn tay không xứng!

Bà nội chồng và mẹ chồng tôi đều nổi tiếng nhan sắc. Chị dâu goá của tôi cũng đẹp hiếm có. Khi số phận lần lượt để họ lại quạnh quẽ, bà nội thề sẽ không đòi hỏi nhan sắc ở người vợ của đứa cháu trai còn lại. Chỉ nhờ những tướng lành mà tôi được ban cho, tôi mới lọt được vào nhà này — ngoài ra tôi chẳng có gì để đòi chỗ đứng ở đây.

Trong ngôi nhà xa hoa ấy, ít bà nào được hưởng phần kính trọng đáng có. Nhưng họ đã quen với nếp nhà, và vẫn giữ được đầu mình trên mặt nước, nâng đỡ bởi cái phẩm giá _Rani_ của một dòng họ cổ, dẫu nước mắt mỗi ngày của họ chìm trong bọt rượu và trong tiếng lắc xoang xoảng nơi cổ chân đám “vũ nữ”. Công trạng ấy có phải của tôi chăng, khi chồng tôi không đụng đến rượu, không phung phí đời trai nơi những chợ bán thịt đàn bà? Tôi biết bùa phép gì để xoa dịu cái đầu hoang dại và phiêu bạt của đàn ông? Đó là vận may của tôi, chứ chẳng có gì khác. Vì số phận tỏ ra hoàn toàn chai đá với chị dâu tôi. Hội vui của chị tắt lịm khi trời còn chưa khuya, để ánh nhan sắc của chị soi hoài trong những gian phòng trống — cháy mãi, cháy mãi, mà chẳng có tiếng nhạc nào đi cùng!

Chị dâu tôi ra vẻ khinh những ý nghĩ hiện đại của chồng tôi. Nực cười làm sao khi con thuyền gia tộc chở nặng bao vinh quang lâu đời lại giương buồm dưới lá cờ của mỗi mình con vợ trẻ ranh của anh! Đã bao lần tôi nếm roi khinh miệt. “Con ăn cắp tình yêu của chồng!” “Đồ giả hiệu nấp trong cái trơ trẽn của mớ đồ tân thời!” Những tấm áo lắm màu theo mốt mới mà chồng tôi thích trang điểm cho tôi làm nổi lên cơn thịnh nộ ghen tuông. “Nó không biết ngượng mà bày mình ra như cái tủ kính à — mà với nhan sắc ấy nữa chứ!”

Chồng tôi biết hết những chuyện này, nhưng sự dịu dàng của anh không có bờ. Anh thường van tôi hãy tha thứ cho chị.

Tôi nhớ có lần đã nói với anh: “Đầu óc đàn bà nhỏ nhen và quanh co quá!” “Như bàn chân đàn bà Trung Hoa,” anh đáp. “Chẳng phải sức ép của xã hội đã bó chúng thành nhỏ nhen và quanh co đó sao? Họ chỉ là những quân cờ của số phận đang đánh bạc với họ. Họ có trách nhiệm gì của riêng mình đâu?”

Chị dâu tôi chưa bao giờ không xin được ở chồng tôi thứ chị muốn. Anh chẳng buồn cân nhắc xem những đòi hỏi ấy có đúng hay hợp lẽ không. Nhưng điều làm tôi tức nhất là chị không hề biết ơn vì thế. Tôi đã hứa với chồng sẽ không đôi co lại với chị, nhưng chính điều đó lại càng làm tôi sôi lên ở bên trong. Tôi vẫn thấy rằng lòng tốt có một giới hạn, mà vượt qua rồi thì bằng cách nào đó nó dường như làm đàn ông hoá hèn. Tôi có nên nói hết sự thật không? Đã bao lần tôi ước chồng tôi có đủ khí phách đàn ông để bớt tốt đi một chút.

Chị dâu tôi, Bà Cả, hãy còn trẻ và chẳng hề làm ra vẻ thánh thiện. Trái lại, lời ăn tiếng nói, chuyện đùa và tiếng cười của chị thiên về suồng sã. Đám hầu gái trẻ mà chị vây quanh mình cũng hỗn xược đến mức. Nhưng chẳng ai dám trái ý chị — vì chẳng phải đó là lệ nhà này sao? Tôi thấy hình như cái may của tôi khi có được người chồng không tì vết là cái gai đặc biệt trong mắt chị. Còn anh thì lại thấy nỗi buồn của phận chị hơn là những khiếm khuyết trong tính nết chị.

II

Chồng tôi rất tha thiết muốn đưa tôi ra khỏi _purdah_.

Một hôm tôi bảo anh: “Em cần gì đến thế giới bên ngoài?”

“Thế giới bên ngoài có thể cần em,” anh đáp.

“Nếu thế giới bên ngoài đã xoay xở được lâu nay mà không có em, thì nó xoay xở thêm ít lâu nữa cũng được. Nó chẳng đến nỗi héo mòn mà chết vì thiếu em đâu.”

“Nó có chết cũng mặc! Anh chẳng bận tâm chuyện ấy. Anh đang nghĩ về chính anh.”

“Ồ, vậy sao. Anh nói em nghe xem, về chính anh là thế nào?”

Chồng tôi im lặng, mỉm cười.

Tôi biết tính anh, nên phản đối ngay: “Không, không, anh đừng hòng bỏ chạy khỏi em kiểu đó! Em muốn nói cho ra nhẽ chuyện này với anh.”

“Có bao giờ người ta nói cho hết được một chuyện bằng lời không?”

“Anh thôi nói đố đi. Nói cho em…”

“Điều anh muốn là anh có em, và em có anh, trọn vẹn hơn ở ngoài thế giới. Đó là chỗ chúng ta còn nợ nhau.”

“Vậy tình yêu chúng ta ở nhà đây còn thiếu gì sao?”

“Ở đây em bọc kín trong anh. Em chẳng biết mình đang có gì, cũng chẳng biết mình muốn gì.”

“Em không chịu nổi khi nghe anh nói thế.”

“Anh muốn em bước vào giữa lòng thế giới bên ngoài mà gặp thực tại. Chỉ quẩn quanh với việc nhà, sống suốt đời trong thế giới của những lề thói gia đình và những việc vặt nhọc nhằn — em đâu được sinh ra cho những thứ đó! Nếu chúng ta gặp nhau, và nhận ra nhau, trong thế giới thật, thì lúc ấy tình yêu chúng ta mới là thật.”

“Nếu ở đây có gì cản trở việc chúng ta nhận ra nhau trọn vẹn, thì em chẳng biết nói sao. Nhưng riêng phần em, em chẳng thấy thiếu gì cả.”

“Ừ, thì cứ cho là chỗ cản trở ấy chỉ nằm về phía anh, vậy sao em không giúp anh gỡ nó đi?”

Những cuộc bàn cãi như thế cứ lặp lại mãi. Một hôm anh nói: “Kẻ tham ăn mê món cá hầm thì chẳng ngại gì mà không xẻ con cá ra theo nhu cầu của mình. Nhưng người yêu con cá lại muốn thưởng thức nó ở dưới nước; nếu không được thì đứng chờ trên bờ; và dẫu có về nhà mà chẳng thấy bóng nó, người ấy vẫn được an ủi vì biết rằng con cá vẫn bình yên. Được trọn vẹn là hơn cả; nhưng nếu điều đó không thể, thì cái được lớn thứ nhì là mất cho trọn vẹn.”

Tôi chưa bao giờ ưa lối chồng tôi nói về chuyện này, nhưng đó không phải lý do khiến tôi từ chối rời khỏi khu zenana. Bà nội anh khi ấy hãy còn sống. Chồng tôi đã nhồi vào nhà này hơn một trăm hai mươi phần trăm thế kỷ hai mươi, trái hẳn ý bà; vậy mà bà vẫn chịu đựng không một lời than. Bà cũng sẽ chịu đựng như thế, nếu nàng dâu của nhà Rajah bước ra khỏi chốn khuê phòng. Bà thậm chí đã sẵn sàng cho chuyện ấy xảy ra. Nhưng tôi không thấy nó quan trọng đến mức phải làm bà đau lòng. Tôi đã đọc trong sách rằng người ta gọi chúng tôi là “những con chim trong lồng”. Tôi không nói thay được cho ai, nhưng trong cái lồng của riêng tôi có nhiều thứ đến mức cả vũ trụ cũng không đủ chỗ chứa — ít ra đó là điều tôi cảm thấy khi ấy.

Bà nội, lúc tuổi già, rất mực thương tôi. Dưới đáy lòng thương ấy là ý nghĩ rằng nhờ sự đồng mưu của những vì sao lành đi theo tôi, tôi đã hút được tình yêu của chồng. Chẳng phải đàn ông vốn có thiên hướng lao dốc xuống hay sao? Không một ai trong những người kia, dù nhan sắc đến đâu, ngăn nổi chồng mình đâm đầu vào cái vực lửa thiêu đốt và huỷ hoại họ. Bà tin rằng tôi là phương tiện dập tắt ngọn lửa vốn quá chí mạng với đàn ông nhà này. Vì thế bà giữ tôi trong lòng bà mà che chở, và run lên nếu tôi khó ở dù chỉ một chút.

Bà nội anh không ưa những áo quần và nữ trang chồng tôi mua từ các cửa hiệu châu Âu về để điểm trang cho tôi. Nhưng bà tự nhủ: “Đàn ông thì phải có cái thú vô lối nào đó, mà thú nào cũng tốn kém cả. Ngăn họ tiêu hoang thì vô ích; chỉ mừng nếu họ dừng lại trước bờ khánh kiệt. Này nhé, nếu thằng Nikhil của ta không bận đi may mặc cho vợ, thì ai biết được nó sẽ tiêu tiền vào ai!” Thế nên hễ có bộ áo mới nào của tôi về là bà lại cho gọi chồng tôi lên mà đùa cho vui.

Rốt cuộc chính khẩu vị của bà mới là cái đổi thay. Ảnh hưởng của thời hiện đại đổ xuống bà mạnh đến nỗi những buổi tối của bà không sao trôi qua được nếu tôi không kể cho bà nghe những chuyện lấy từ sách tiếng Anh.

Sau khi bà nội mất, chồng tôi muốn tôi về Calcutta sống với anh. Nhưng tôi không sao làm nổi điều đó. Chẳng phải đây là Ngôi Nhà của chúng tôi, ngôi nhà bà đã giữ dưới vòng che chở của bà qua tất cả những thử thách và cực nhọc đó sao? Chẳng phải một lời nguyền sẽ giáng xuống tôi nếu tôi bỏ nó mà đi lên tỉnh sao? Ý nghĩ ấy giữ tôi lại, trong khi chỗ ngồi trống của bà cứ ngước lên trách móc nhìn tôi. Người đàn bà cao quý ấy bước vào ngôi nhà này năm lên tám, và mất năm bảy mươi chín tuổi. Bà đã không sống một đời hạnh phúc. Số phận phóng hết mũi tên này đến mũi tên khác vào ngực bà, chỉ để rút ra ngày một nhiều hơn cái tinh thần bất hoại bên trong. Ngôi nhà lớn này được thánh hoá bằng nước mắt của bà. Rời khỏi nó, tôi biết làm gì giữa bụi bặm Calcutta?

Ý chồng tôi là đây sẽ là dịp tốt để nhường cho chị dâu tôi niềm an ủi được cai quản việc nhà, đồng thời cho đời sống của chúng tôi rộng chỗ mà toả nhánh ở Calcutta. Nhưng chỗ khó của tôi nằm đúng ở đấy. Chị đã hành cho đời tôi khốn khổ, chị khó chịu trước hạnh phúc của chồng tôi, vậy mà lại được thưởng vì chuyện đó! Rồi đến ngày chúng tôi phải quay về đây thì sao? Liệu tôi có lấy lại được chỗ ngồi chủ nhà của mình không?

“Em cần gì cái chỗ ngồi ấy?” chồng tôi thường nói. “Đời chẳng còn nhiều thứ quý giá hơn hay sao?”

Đàn ông chẳng bao giờ hiểu những chuyện này. Tổ của họ ở ngoài thế giới; họ đâu biết trọn vẹn cái mà một mái nhà đứng ra gánh vác. Trong những chuyện ấy họ nên theo sự dẫn dắt của đàn bà. Tôi đã nghĩ như thế vào thời gian đó.

Tôi thấy điều cốt lõi là người ta phải đứng lên giữ lấy quyền của mình. Bỏ đi, để mọi thứ lại trong tay kẻ thù, thì chẳng khác gì nhận thua.

Nhưng vì sao chồng tôi không buộc tôi phải đi Calcutta với anh? Tôi biết lý do. Anh không dùng đến quyền của mình, chính vì anh có nó.

III

NẾU phải lấp dần từng chút một khoảng cách giữa ngày và đêm, người ta sẽ mất cả thiên thu mới xong. Nhưng mặt trời mọc lên và bóng tối bị xua đi — một khoảnh khắc là đủ để vượt qua một khoảng cách vô tận.

Một ngày kia, kỷ nguyên mới của _Swadeshi_ đến với Bengal; nhưng nó xảy ra thế nào thì chúng tôi chẳng thấy rõ. Không có con dốc thoai thoải nào nối quá khứ với hiện tại. Vì lẽ đó, tôi nghĩ, thời đại mới ập vào như một trận lụt, phá vỡ đê điều và cuốn phăng đi mọi sự khôn ngoan cùng nỗi sợ của chúng tôi. Chúng tôi không kịp cả nghĩ ngợi hay hiểu ra chuyện gì vừa xảy ra, chuyện gì sắp xảy ra.

Mắt tôi và trí tôi, những hy vọng và những khát khao của tôi, đỏ rực lên vì mối cuồng nhiệt của thời đại mới ấy. Dẫu cho tới lúc đó những bức tường của ngôi nhà — vốn là thế giới tận cùng đối với trí tôi — vẫn còn nguyên vẹn, tôi vẫn đứng nhìn ra xa, và tôi nghe từ chân trời tít tắp một tiếng nói mà ý nghĩa tôi chưa hiểu thật rõ, nhưng lời gọi thì đi thẳng vào tim tôi.

Từ hồi còn là sinh viên, chồng tôi đã tìm cách làm cho những thứ dân mình cần được sản xuất ngay trên đất nước mình. Vùng chúng tôi có rất nhiều cây chà là. Anh thử chế ra một bộ máy để ép lấy nước rồi nấu thành đường và mật. Tôi nghe nói nó thành công lớn, có điều nó ép ra tiền nhiều hơn ép ra nước. Ít lâu sau anh đi tới kết luận rằng những nỗ lực gây dựng lại nghề nghiệp của ta không thành là vì thiếu một nhà băng của chính ta. Dạo ấy anh đang tìm cách dạy tôi kinh tế chính trị học. Chỉ chừng đó thì cũng chẳng hại gì mấy, nhưng anh còn nảy ra ý dạy đồng bào mình biết tiết kiệm, để dọn đường cho một nhà băng; rồi anh mở hẳn một nhà băng nhỏ. Lãi suất cao của nó khiến dân làng nô nức đem tiền tới gửi, và rốt cuộc dìm luôn cả nhà băng.

Các viên chức già của điền trang thì lo lắng và hoảng sợ. Bên trại địch thì hả hê. Trong cả nhà, chỉ mỗi bà nội chồng tôi là không nao núng. Bà thường mắng tôi: “Sao chúng bay cứ hành nó thế? Có phải chúng bay lo cho số phận cái điền trang không? Ta đã thấy điền trang này rơi vào tay quan quản tài bao nhiêu lần rồi! Đàn ông đâu giống đàn bà? Đàn ông sinh ra là để tiêu hoang, chúng chỉ biết phá thôi. Này con, hãy tự thấy mình có phúc vì chồng con không phá luôn cả chính nó!”

Danh sách bố thí của chồng tôi thì dài lắm. Anh sẵn sàng giúp tới tận cùng của thất bại bất cứ ai muốn phát minh ra một khung cửi hay một cái máy xay lúa mới. Nhưng điều làm tôi bực nhất là cái cách Sandip Babu vẫn vặt tiền anh nhân danh công cuộc _Swadeshi_. Hễ hắn muốn ra một tờ báo, hay đi khắp nơi rao giảng Chính Nghĩa, hay đổi gió theo lời khuyên của thầy thuốc, là chồng tôi cấp tiền cho hắn không hỏi han gì. Đó là chưa kể khoản chu cấp thường xuyên mà Sandip Babu cũng nhận từ anh. Lạ nhất là chồng tôi và Sandip Babu chẳng hề đồng ý với nhau về quan điểm.

Vừa khi cơn bão _Swadeshi_ tràn vào máu tôi, tôi bảo chồng: “Em phải đốt hết áo quần ngoại của em đi.”

“Đốt làm gì?” anh nói. “Em không mặc chúng nữa, bao lâu tuỳ ý em.”

“Bao lâu tuỳ ý em! Suốt đời này thì không bao giờ…”

“Được thôi, vậy thì suốt phần đời còn lại đừng mặc chúng nữa. Nhưng cần gì cái trò đốt lửa này?”

“Anh định cản em giữ lời nguyện của mình à?”

“Điều anh muốn nói là thế này: Sao không thử dựng lên một cái gì đó? Em không nên phí dù chỉ một phần mười sức lực của mình vào cơn phấn khích phá phách này.”

“Chính cơn phấn khích ấy sẽ cho chúng ta sức để dựng.”

“Nói thế thì khác nào bảo rằng không thắp sáng được ngôi nhà nếu không châm lửa đốt nó.”

Rồi lại xảy ra một chuyện rắc rối khác. Hồi cô Gilby mới về nhà chúng tôi, cả nhà nhốn nháo một trận, sau rồi cũng lắng xuống khi người ta quen với cô. Nay mọi chuyện lại bị khuấy lên từ đầu. Trước kia tôi chưa từng bận tâm cô Gilby là người châu Âu hay người Ấn, nhưng bây giờ tôi bắt đầu bận tâm. Tôi bảo chồng: “Chúng ta phải tống khứ cô Gilby đi.”

Anh im lặng.

Tôi nói với anh những lời điên rồ, và anh bỏ đi, lòng nặng trĩu.

Sau một trận khóc, đến đêm gặp nhau thì tôi đã tỉnh trí hơn. “Anh không thể,” chồng tôi nói, “nhìn cô Gilby qua một màn sương trừu tượng, chỉ vì cô ấy là người Anh. Sau ngần ấy năm quen biết, em không vượt nổi cái rào chắn là cái tên của cô ấy sao? Em không nhận ra rằng cô ấy thương em sao?”

Tôi hơi xấu hổ và đáp lại có phần gay gắt: “Thì cứ để cô ta ở lại. Em có sốt ruột muốn đuổi cô ta đi đâu.” Và cô Gilby ở lại.

Nhưng một hôm người ta báo cho tôi rằng cô đã bị một gã trai trẻ làm nhục trên đường đến nhà thờ. Đó là một cậu bé mà chúng tôi vẫn chu cấp. Chồng tôi đuổi cậu ta khỏi nhà. Hôm ấy không một ai tha thứ nổi cho chồng tôi về việc đó — kể cả tôi. Lần này cô Gilby tự mình ra đi. Cô rơi nước mắt khi đến từ biệt, nhưng lòng tôi không mềm ra được. Vu oan cho thằng bé tội nghiệp như thế — mà lại là một cậu bé giỏi giang, một cậu bé say _Swadeshi_ đến mức quên cả tắm rửa lẫn ăn uống hằng ngày.

Chồng tôi lấy xe nhà đưa cô Gilby ra ga. Tôi chắc chắn anh đã đi quá xa. Khi những lời kể phóng đại về vụ ấy làm dấy lên một vụ tai tiếng, lan cả lên mặt báo, tôi thấy anh đáng đời.

Tôi vẫn thường lo lắng trước những việc chồng tôi làm, nhưng chưa bao giờ thấy nhục; vậy mà giờ đây tôi phải đỏ mặt vì anh! Tôi không biết đích xác, mà cũng chẳng buồn quan tâm, thằng Noren tội nghiệp đã làm hay không làm điều gì bậy với cô Gilby, nhưng cái ý nghĩ ngồi xét xử một chuyện như thế vào một thời buổi như thế! Đáng lẽ tôi phải từ chối dội nước lạnh lên cái khí thế đã khiến thằng Noren dám thách thức người đàn bà Anh. Tôi không thể không coi đó là dấu hiệu hèn nhát ở chồng tôi, khi anh không hiểu nổi điều đơn giản ấy. Và thế là tôi đỏ mặt vì anh.

Vậy mà chồng tôi không phải là không ủng hộ _Swadeshi_, cũng chẳng hề chống lại Chính Nghĩa. Chỉ là anh chưa thể toàn tâm đón nhận tinh thần của _Bande Mataram_.

“Anh sẵn lòng,” anh nói, “phụng sự đất nước mình; nhưng sự thờ phụng thì anh dành cho lẽ Phải, cái lớn hơn đất nước anh rất nhiều. Thờ đất nước mình như một vị thần là mang một lời nguyền giáng xuống nó.”