Ngôi nhà và thế giới — Chương 2

Chương 2 / 12 · Bài review Ngôi nhà và thế giới

Chuyện của Bimala · IV

ĐÓ là dạo Sandip Babu cùng các môn đồ của hắn về vùng chúng tôi để rao giảng _Swadeshi_.

Sắp có một cuộc mít tinh lớn ở sân đền nhà tôi. Đám đàn bà chúng tôi ngồi một bên, sau tấm bình phong. Những tiếng hô đắc thắng _Bande Mataram_ mỗi lúc một gần: và tôi run lên vì chúng, từ đầu đến chân. Bỗng một dòng thanh niên chân đất quấn khăn, khoác áo màu hoàng thổ của người tu khổ hạnh, ùa vào sân, như con lũ đỏ phù sa tràn vào lòng sông cạn trong trận mưa đầu mùa. Cả khoảng sân đầy nghẹt một đám đông mênh mông, giữa đám đông ấy Sandip Babu được khiêng vào, ngồi trên một chiếc ghế lớn đặt trên vai mười hay mười hai chàng trai.

_Bande Mataram! Bande Mataram! Bande Mataram_! Tưởng như bầu trời sắp toác ra mà vỡ vụn thành nghìn mảnh.

Tôi đã thấy ảnh Sandip Babu từ trước. Trong những nét mặt hắn có gì đó tôi không thật ưa. Chẳng phải hắn xấu — trái lại: hắn có một gương mặt đẹp lộng lẫy. Vậy mà, chẳng hiểu vì sao, tôi cứ thấy rằng bất chấp tất cả vẻ rực rỡ ấy, đã có quá nhiều kim loại hèn pha vào lúc đúc nên nó. Ánh sáng trong mắt hắn bằng cách nào đó không ngời lên thành thật. Chính vì thế mà tôi khó chịu khi chồng tôi nhắm mắt chiều theo mọi đòi hỏi của hắn. Tiền bạc phí phạm thì tôi chịu được; nhưng tôi bực khi nghĩ rằng hắn đang lợi dụng chồng tôi, lợi dụng tình bạn. Dáng vẻ hắn chẳng phải của người tu hành, cũng chẳng phải của người sống thanh đạm, mà điệu đàng từ đầu đến chân. Cái thói ưa tiện nghi dường như đã… biết bao nhiêu ý nghĩ như thế hôm nay trở lại với tôi, nhưng thôi, cứ để mặc chúng.

Thế nhưng chiều hôm ấy, khi Sandip Babu bắt đầu nói, và lòng đám đông chao đảo dâng lên theo lời hắn như sắp phá tung mọi bờ cõi, tôi thấy hắn biến đổi lạ lùng. Nhất là khi mặt hắn chợt bừng sáng dưới một luồng nắng của mặt trời đang lặn chậm, lúc nó chìm xuống dưới đường mái sân đền, hắn hiện ra trước mắt tôi như một kẻ được các vị thần đánh dấu để làm sứ giả của họ gửi đến đám đàn ông đàn bà phàm trần.

Từ đầu đến cuối bài nói, mỗi lời hắn thốt ra đều là một cơn bão bùng lên. Sự tự tin của hắn không có bờ. Tôi chẳng biết chuyện xảy ra thế nào, nhưng tôi phát hiện mình đã sốt ruột gạt tấm bình phong trước mặt sang một bên và dán mắt vào hắn. Vậy mà trong đám đông ấy chẳng ai buồn để ý tôi làm gì. Chỉ một lần, tôi nhận thấy đôi mắt hắn, như những vì sao trong chòm Lạp Hộ định mệnh, loé thẳng lên gương mặt tôi.

Tôi hoàn toàn quên mất chính mình. Tôi không còn là bà chủ nhà Rajah nữa, mà là đại diện duy nhất cho nữ giới Bengal. Còn hắn là người quán quân của Bengal. Bầu trời đã rót ánh sáng của nó xuống hắn, thì hắn cũng phải nhận lấy sự thánh hiến từ lời chúc phúc của một người đàn bà…

Tôi thấy rõ rành rành rằng từ lúc bắt gặp tôi, ngọn lửa trong lời hắn đã bùng cao dữ dội hơn. Con tuấn mã của Indra không chịu để ai ghìm cương nữa, và tiếng sấm nổ, tia chớp loé. Tôi tự nhủ rằng ngôn ngữ của hắn đã bắt lửa từ mắt tôi; bởi đàn bà chúng tôi không chỉ là nữ thần của bếp lửa trong nhà, mà còn là chính ngọn lửa của linh hồn.

Chiều hôm ấy tôi về nhà, rạng rỡ một niềm kiêu hãnh và niềm vui mới. Cơn bão bên trong đã dời trọn con người tôi từ tâm điểm này sang tâm điểm khác. Như những trinh nữ Hy Lạp thuở xưa, tôi thèm được cắt phăng mái tóc dài rực rỡ của mình mà bện thành dây cung cho người anh hùng của tôi. Giá mà những món trang sức bên ngoài của tôi nối được với những gì bên trong tôi, thì chuỗi hạt, vòng tay, xuyến của tôi hẳn đã bứt tung dây trói mà lao mình lên trên đám đông ấy như một trận mưa sao băng. Tôi thấy chỉ một sự hiến dâng nào đó của bản thân mới giúp tôi chịu nổi cơn náo động của niềm hoan hỉ này.

Khi chồng tôi về nhà sau đó, tôi run lên vì sợ anh sẽ thốt ra một tiếng lạc điệu với khúc khải hoàn còn đang vang trong tai tôi, sợ cái thói cuồng tín sự thật của anh sẽ khiến anh nói ra lời chê trách một điều gì đó đã được nói chiều nay. Vì khi ấy hẳn tôi đã công khai chống lại anh và làm anh bẽ mặt. Nhưng anh không nói một lời… mà điều đó tôi cũng chẳng ưa.

Lẽ ra anh phải nói: “Sandip đã làm anh tỉnh ra. Bây giờ anh mới thấy bấy lâu nay mình lầm đến thế nào.”

Tôi cứ thấy như anh im lặng vì hiềm khích, như anh cố chấp không chịu hào hứng. Tôi hỏi Sandip Babu sẽ ở lại với chúng tôi bao lâu.

“Sáng sớm mai anh ấy đi Rangpur,” chồng tôi nói.

“Phải là ngày mai sao?”

“Ừ, anh ấy đã nhận lời nói chuyện ở đó rồi.”

Tôi im lặng một lúc rồi lại hỏi: “Anh ấy không thể ở thêm một ngày được sao?”

“E là khó, nhưng để làm gì?”

“Em muốn mời anh ấy dùng bữa và tự tay hầu bàn.”

Chồng tôi ngạc nhiên. Đã bao lần anh nài tôi ra tiếp khi có bạn thân đến ăn cơm, mà tôi chưa bao giờ chịu. Anh nhìn tôi tò mò, lặng thinh, bằng một cái nhìn tôi không hiểu hẳn.

Tôi bỗng ngập trong cảm giác hổ thẹn. “Không, không,” tôi kêu lên, “thế thì không được đâu!”

“Sao lại không!” anh nói. “Anh sẽ tự hỏi anh ấy, và nếu có thể được thì chắc chắn anh ấy sẽ ở lại đến mai.”

Hoá ra là hoàn toàn có thể được.

Tôi sẽ nói đúng sự thật. Hôm ấy tôi trách Đấng Tạo Hoá vì Người đã không làm cho tôi đẹp tuyệt trần — không phải để cướp trái tim ai, mà vì nhan sắc là vinh quang. Trong ngày trọng đại này, đàn ông của xứ sở phải nhận ra vị nữ thần của nó nơi người đàn bà của nó. Nhưng than ôi, mắt đàn ông không nhận ra nổi nữ thần nếu thiếu nhan sắc bên ngoài. Liệu Sandip Babu có thấy _Shakti_ của Đất Mẹ hiển hiện trong tôi không? Hay hắn sẽ chỉ coi tôi là một người đàn bà nội trợ tầm thường?

Sáng hôm ấy tôi xức hương lên mái tóc xoã rồi búi lỏng, buộc bằng một dải lụa đỏ tết khéo. Bữa ăn, bạn thấy đấy, dọn vào giữa trưa, nên sau khi tắm tôi không kịp hong khô tóc mà tết lại theo lối thường ngày. Tôi mặc tấm _sari_ trắng viền vàng, và chiếc áo cánh muslin tay ngắn của tôi cũng viền vàng.

Tôi thấy trong cách ăn mặc của mình có một sự tiết chế nhất định, và khó có gì giản dị hơn được nữa. Nhưng chị dâu tôi tình cờ đi ngang, dừng phắt lại trước mặt tôi, đưa mắt soi tôi từ đầu đến chân rồi mím môi cười một nụ cười đầy ẩn ý. Khi tôi hỏi vì sao, chị nói: “Chị đang ngắm bộ cánh của em đấy!”

“Nó có gì buồn cười thế?” tôi hỏi, bực không ít.

“Tuyệt lắm,” chị nói. “Chị chỉ nghĩ giá thêm một trong mấy cái áo Anh hở cổ nữa thì mới thật hoàn hảo.” Không riêng miệng và mắt, mà cả người chị như gợn sóng vì cơn cười nén lại, lúc chị rời khỏi phòng.

Tôi giận lắm, giận lắm, muốn thay hết đi mà mặc lại đồ thường ngày. Nhưng tôi không nói được chính xác vì sao mình đã không làm theo cơn bốc ấy. Đàn bà là đồ trang sức của xã hội — tôi tự lý sự với mình như thế — và chồng tôi hẳn sẽ chẳng ưa nếu tôi ra mắt Sandip Babu trong bộ dạng không xứng.

Ý tôi là sẽ xuất hiện sau khi họ đã ngồi vào bàn. Trong lúc lăng xăng lo dọn thức ăn thì sự ngượng ngập ban đầu sẽ qua đi. Nhưng bữa ăn dọn không kịp, và trời đã muộn. Trong khi đó chồng tôi đã cho gọi tôi ra để giới thiệu với khách.

Tôi ngượng đến kinh khủng, chẳng dám nhìn thẳng vào mặt Sandip Babu. Tuy vậy tôi cũng gượng lại được đủ để nói: “Tôi rất tiếc là bữa ăn dọn muộn.”

Hắn dạn dĩ bước tới ngồi ngay bên cạnh tôi mà đáp: “Ngày nào tôi cũng có một bữa ăn nào đó, nhưng Nữ thần Sung Túc thì cứ ở sau màn. Nay chính nữ thần đã hiện ra, thì bữa ăn có đến chậm cũng chẳng hề gì.”

Hắn quả quyết trong cử chỉ y như khi diễn thuyết trước đám đông. Hắn không hề do dự và có vẻ đã quen chiếm lấy, không ai dám tranh, đúng cái chỗ hắn chọn. Hắn đòi quyền được thân mật một cách tự tin đến mức lỗi dường như thuộc về những ai định phản đối.

Tôi kinh hoàng sợ Sandip Babu sẽ coi tôi là một mớ ngu ngơ cổ lỗ, rụt rè. Nhưng dẫu có chết tôi cũng chẳng nghĩ ra nổi một câu đối đáp lấp lánh nào đủ làm hắn thích thú hay loá mắt. Cái gì đã ám tôi, tôi giận dữ tự hỏi, mà tôi lại ra mắt hắn trong bộ dạng lố bịch đến thế?

Ăn xong tôi định lui, nhưng Sandip Babu, dạn dĩ như mọi khi, chắn đường tôi.

“Bà đừng nghĩ tôi tham ăn,” hắn nói. “Không phải bữa ăn giữ tôi ở lại, mà là lời mời của bà. Nếu bây giờ bà bỏ chạy thì thế là chơi không đẹp với khách của mình.”

Nếu hắn không nói những lời ấy với một vẻ nhẹ tênh thì hẳn chúng đã lạc điệu. Nhưng nói cho cùng, hắn là bạn chí thân của chồng tôi, nên tôi cũng như em gái hắn.

Trong lúc tôi đang vùng vẫy để trèo lên ngọn sóng thân mật cao ấy thì chồng tôi đến cứu, nói: “Hay là ăn xong em quay lại với chúng tôi?”

“Nhưng bà phải hứa,” Sandip Babu nói, “thì chúng tôi mới cho bà đi.”

“Tôi sẽ quay lại,” tôi nói, khẽ mỉm cười.

“Để tôi nói bà nghe,” Sandip Babu nói tiếp, “vì sao tôi không tin bà được. Nikhil cưới vợ đã chín năm nay, mà suốt bấy nhiêu năm bà cứ lẩn tránh tôi. Nếu bà lại làm thế thêm chín năm nữa, thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau.”

Tôi bắt lấy cái ý ẩn trong lời hắn mà hạ giọng đáp: “Sao ngay cả lúc ấy chúng ta cũng không gặp lại được?”

“Lá số của tôi bảo tôi sẽ chết sớm. Chẳng ai trong dòng họ tôi sống quá ba mươi. Năm nay tôi hai mươi bảy.”

Hắn biết câu ấy sẽ trúng đích. Lần này hẳn trong giọng nói khẽ của tôi phải có một chút lo lắng: “Lời chúc phúc của cả xứ sở nhất định sẽ đẩy lui được ảnh hưởng xấu của các vì sao.”

“Vậy thì lời chúc phúc của xứ sở phải được thốt ra từ vị nữ thần của nó. Đó là lý do tôi sốt ruột mong bà quay lại, để lá bùa hộ mệnh của tôi bắt đầu linh nghiệm ngay từ hôm nay.”

Sandip Babu có lối chiếm lấy mọi thứ như một trận bão, đến mức tôi chẳng có dịp nào mà phật ý về điều lẽ ra tôi đã chẳng bao giờ cho phép một người khác được nói.

“Thế thì,” hắn cười mà kết luận, “tôi sẽ giữ ông chồng này của bà làm con tin cho tới khi bà quay lại.”

Lúc tôi sắp lui ra, hắn kêu lên: “Tôi làm phiền bà một chuyện vặt được không?”

Tôi giật mình quay lại.

“Bà đừng hoảng,” hắn nói. “Chỉ là một cốc nước thôi. Chắc bà cũng để ý là trong bữa tôi chẳng uống chút nước nào. Tôi uống muộn hơn một chút.”

Nghe vậy tôi đành làm ra vẻ quan tâm mà hỏi hắn vì sao. Hắn bắt đầu kể lịch sử chứng khó tiêu của mình. Tôi được nghe hắn đã tử vì đạo với nó suốt bảy tháng ra sao, và sau cả một loạt phiền nhiễu thường lệ, gồm đủ mọi rủi ro với thuốc đối chứng và thuốc vi lượng đồng căn, hắn đã đạt kết quả tuyệt vời nhất nhờ các phương pháp bản xứ như thế nào.

“Bà biết không,” hắn cười nói thêm, “Thượng đế dựng nên đến cả những chỗ yếu của tôi theo cách mà chúng chỉ chịu thua dưới trận pháo kích của những viên thuốc _Swadeshi_.”

Đến đây chồng tôi phá vỡ sự im lặng của mình. “Anh phải thú nhận,” anh nói, “rằng anh bị thuốc ngoại hút mạnh chẳng kém gì trái đất hút các thiên thạch. Trong phòng khách của anh có ba cái giá đầy ắp…”

Sandip Babu ngắt lời: “Anh có biết chúng là gì không? Chúng là đội cảnh sát trừng phạt. Chúng đến không phải vì người ta cần chúng, mà vì luật lệ của cái thời hiện đại này áp chúng lên chúng ta, bắt nộp phạt và gây thương tích.”

Chồng tôi không chịu nổi lối nói ngoa, và tôi thấy anh khó chịu vì câu ấy. Nhưng mọi thứ trang sức đều là nói ngoa cả. Chúng không phải do Thượng đế làm ra, mà do con người. Có lần, để bênh một lời không thật của mình, tôi đã bảo chồng: “Chỉ có cây cỏ, muông thú và chim chóc mới nói toàn sự thật không pha, vì lũ tội nghiệp ấy không có khả năng bịa. Chính ở chỗ này đàn ông tỏ ra hơn hẳn các loài thấp hơn, còn đàn bà thì hơn cả đàn ông. Trang sức nhiều đã chẳng làm mất duyên người đàn bà, thì lời không thật nhiều cũng vậy.”

Khi ra tới hành lang dẫn vào khu zenana, tôi thấy chị dâu tôi đang đứng bên một khung cửa sổ trông xuống các phòng tiếp khách, ghé mắt nhìn qua khe chớp.

“Chị ở đây à?” tôi ngạc nhiên hỏi.

“Nghe trộm!” chị đáp.

V

Khi tôi quay lại, Sandip Babu ân cần xin lỗi. “Tôi e là chúng tôi đã làm bà mất ngon,” hắn nói.

Tôi ngượng vô cùng. Quả thật tôi đã ăn xong nhanh đến mức khiếm nhã. Cứ tính ra một chút thì sẽ thấy rõ rằng phần tôi không ăn còn nhiều hơn phần tôi ăn. Nhưng tôi không ngờ có ai lại cố ý ngồi tính như thế.

Tôi đoán Sandip Babu đã nhận ra nỗi ngượng của tôi, và điều đó chỉ làm nó lớn thêm. “Tôi biết chắc,” hắn nói, “rằng bà có cái thôi thúc bỏ chạy của con nai rừng, nhưng thật là một ân huệ lớn khi bà đã chịu khó giữ lời hứa với tôi.”

Tôi chẳng nghĩ ra được câu đáp nào cho phải, nên ngồi xuống một đầu ghế trường kỷ, đỏ mặt và khó ở. Cái hình ảnh tôi từng dựng lên về chính mình — _Shakti_ của Nữ Giới hoá thân, chỉ bằng sự có mặt của mình mà tấn phong cho Sandip Babu, uy nghi và không chút thẹn thùng — đã bỏ rơi tôi hoàn toàn.

Sandip Babu cố ý khơi ra một cuộc tranh luận với chồng tôi. Hắn biết trí sắc sảo của mình loé sáng đẹp nhất trong một cuộc cãi lý. Về sau tôi thường để ý thấy hắn không bao giờ bỏ lỡ dịp so gươm hễ có tôi ở đó.

Hắn thuộc quan điểm của chồng tôi về việc sùng bái _Bande Mataram_, nên mở đầu bằng một giọng khiêu khích: “Vậy là anh không cho rằng trong công cuộc yêu nước có chỗ cho lời kêu gọi trí tưởng tượng?”

“Nó có chỗ của nó, Sandip ạ, tôi công nhận, nhưng tôi không tin ở việc dành cho nó toàn bộ chỗ. Tôi muốn biết đất nước mình trong cái thực tại trần trụi của nó, và vì thế tôi vừa sợ vừa xấu hổ khi phải dùng đến những bài văn thôi miên về lòng ái quốc.”

“Cái anh gọi là văn thôi miên thì tôi gọi là sự thật. Tôi thật lòng tin đất nước tôi là Thượng đế của tôi. Tôi thờ Nhân Loại. Thượng đế hiển hiện cả trong con người lẫn trong đất nước của họ.”

“Nếu anh thật sự tin thế, thì với anh chẳng nên có phân biệt giữa người này với người kia, và do đó giữa nước này với nước nọ.”

“Rất đúng. Nhưng sức tôi có hạn, nên việc thờ Nhân Loại của tôi được tiếp nối trong việc thờ đất nước tôi.”

“Tôi chẳng có gì chống lại việc thờ phụng của anh, nhưng làm sao anh định thờ Thượng đế bằng cách căm ghét những xứ sở khác nơi Người cũng hiển hiện y như vậy?”

“Căm ghét cũng là một phần phụ của việc thờ phụng. Arjuna đoạt được ân sủng của Mahadeva bằng cách vật lộn với ngài. Cuối cùng Thượng đế sẽ đứng về phía chúng ta, nếu chúng ta sẵn lòng đánh nhau với Người.”

“Nếu vậy thì cả những kẻ đang phụng sự lẫn những kẻ đang làm hại đất nước đều là tín đồ của Người cả. Thế thì việc gì phải nhọc công rao giảng lòng ái quốc?”

“Với đất nước của chính mình thì lại khác. Ở đó trái tim đòi hỏi rành rành phải thờ phụng.”

“Đẩy chính lập luận ấy đi xa hơn, anh có thể nói rằng vì Thượng đế hiển hiện trong chúng ta, nên _bản thân_ ta phải được thờ phụng trước hết thảy; bởi bản năng tự nhiên của ta đòi thế.”

“Này Nikhil, tất cả những cái đó chỉ là lý luận khô khan. Anh không nhận ra rằng trên đời có một thứ gọi là tình cảm hay sao?”

“Tôi nói thật với anh, Sandip ạ,” chồng tôi đáp. “Chính tình cảm của tôi bị xúc phạm, mỗi khi anh tìm cách bán sự bất công thành bổn phận, và bán điều phi nghĩa thành lý tưởng đạo đức. Việc tôi không có khả năng ăn cắp không phải nhờ tôi có năng lực lý luận, mà nhờ tôi còn chút lòng tự trọng và lòng yêu những lý tưởng.”

Trong lòng tôi sôi lên. Rốt cuộc tôi không im nổi nữa. “Chẳng phải lịch sử của mọi xứ sở,” tôi kêu lên, “dù là Anh, Pháp, Đức hay Nga, đều là lịch sử của việc ăn cắp vì đất nước mình đó sao?”

“Họ sẽ phải trả lời về những vụ trộm ấy; ngay lúc này họ đang trả lời đấy; lịch sử của họ chưa kết thúc đâu.”

“Dù sao đi nữa,” Sandip Babu chen vào, “tại sao chúng ta lại không làm theo? Cứ chất đầy kho của đất nước mình bằng của ăn cắp đã, rồi nếu buộc phải trả lời thì mất vài thế kỷ mà trả lời như các xứ kia. Nhưng tôi hỏi anh, cái sự ‘trả lời’ ấy anh tìm thấy ở đâu trong lịch sử?”

“Khi La Mã đang trả giá cho tội của nó thì chẳng ai hay. Suốt thời gian ấy, bề ngoài sự phồn thịnh của nó dường như vô hạn. Nhưng anh không thấy một điều sao: những cái bị chính trị của họ đang căng phồng lên vì dối trá và phản trắc, gãy cả lưng dưới sức nặng của chúng?”

Trước đó tôi chưa hề có dịp nào được ngồi nghe chồng tôi tranh luận với những người bạn đàn ông của anh. Mỗi khi anh cãi lý với tôi, tôi luôn cảm thấy anh ngại dồn tôi vào chân tường. Điều ấy sinh ra chính từ tình yêu anh dành cho tôi. Hôm nay lần đầu tiên tôi thấy ngón kiếm của anh trong tranh biện.

Vậy mà lòng tôi vẫn không chịu chấp nhận lập trường của chồng. Tôi vùng vẫy tìm một câu trả lời, mà nó không chịu đến. Khi chữ “chính nghĩa” đã bước vào một cuộc cãi lý thì thật khó nghe nếu bảo rằng một thứ có thể tốt quá đến mức thành vô dụng.

Đột nhiên Sandip Babu quay sang tôi mà hỏi: “_Bà_ nói sao về chuyện này?”

“Tôi chẳng bận tâm những phân biệt tinh vi,” tôi bật ra. “Tôi sẽ nói đại khái điều tôi cảm thấy. Tôi chỉ là người phàm. Tôi tham. Tôi muốn có những thứ tốt lành cho đất nước tôi. Nếu buộc phải, tôi sẽ giật lấy, sẽ ăn cắp chúng. Tôi có cơn giận. Tôi sẽ giận vì đất nước tôi. Nếu cần, tôi sẽ đánh, sẽ giết để trả thù những điều nhục nhã người ta gây cho nó. Tôi có lòng ham được mê đắm, và sự mê đắm ấy phải được đất nước tôi cấp cho tôi dưới một hình hài xác thịt. Nó phải có một biểu tượng nhìn thấy được để giăng bùa lên tâm trí tôi. Tôi sẽ biến đất nước tôi thành một Con Người, và gọi nó là Mẹ, là Nữ Thần, là Durga — vì người ấy tôi sẽ nhuộm đỏ mặt đất bằng những lễ vật hiến tế. Tôi là người phàm, không phải thần thánh.”

Sandip Babu bật dậy, giơ cao hai tay mà hô “Hoan hô!” — khoảnh khắc sau hắn tự sửa lại và kêu lớn: “_Bande Mataram_.”

Một bóng đau đớn thoáng qua mặt chồng tôi. Anh nói với tôi bằng một giọng rất dịu: “Anh cũng không phải thần thánh: anh là người phàm. Và chính vì thế anh không dám để cái ác trong anh được thổi phồng lên thành hình ảnh của đất nước anh — không bao giờ, không bao giờ!”

Sandip Babu kêu lên: “Anh thấy chưa, Nikhil, trong trái tim một người đàn bà, Sự Thật hoá thành máu thịt như thế nào. Đàn bà biết cách tàn nhẫn: nọc độc của họ như một trận bão mù. Nó đẹp một cách đáng sợ. Ở đàn ông thì nó xấu, vì ở tâm nó chứa những con sâu gặm nhấm của lý trí và tư tưởng. Tôi nói cho anh biết, Nikhil ạ, chính đàn bà của chúng ta sẽ cứu đất nước này. Đây không phải lúc để đắn đo cho phải phép. Chúng ta phải tàn bạo không lay chuyển, không lý sự. Chúng ta phải phạm tội. Chúng ta phải đưa cho đàn bà của mình thứ bột đàn hương đỏ để họ xức dầu và tôn tội lỗi của ta lên ngai. Anh không nhớ nhà thơ đã nói sao:

Hãy đến, hỡi Tội Lỗi, hỡi Tội Lỗi diễm lệ, Cho những nụ hôn đỏ rát của ngươi rót rượu đỏ như lửa vào máu ta. Hãy thổi lên tiếng kèn của cái ác ngạo nghễ Và đặt lên trán ta vòng hoa của sự vô pháp hò reo, Hỡi vị Thần của sự Báng Bổ, Hãy trát lên ngực ta thứ bùn đen nhất của điều ô nhục, không chút thẹn thùng.

Đả đảo cái chính nghĩa nào không dám mỉm cười mà mang đến tan hoang và đổ nát.”

Khi Sandip Babu đứng ngẩng cao đầu, chỉ trong một khoảnh khắc bốc đồng mà lăng mạ tất cả những gì con người ở mọi xứ sở và mọi thời đại vẫn ấp ủ như điều cao quý nhất của mình, một cơn rùng mình chạy suốt người tôi.

Nhưng hắn giậm chân xuống mà tiếp tục bài hùng biện: “Tôi thấy được rằng bà chính là cái linh hồn lửa đẹp đẽ ấy, thứ đốt ngôi nhà thành tro và thắp sáng cả thế giới rộng lớn hơn bằng ngọn lửa của mình. Hãy cho chúng tôi lòng can đảm bất khuất để đi tới tận đáy của chính sự Suy Tàn. Hãy ban ân sủng cho tất cả những gì tai hoạ.”

Không rõ Sandip Babu ngỏ lời khẩn cầu cuối cùng ấy với ai. Có thể là với Người mà hắn vẫn thờ bằng tiếng _Bande Mataram_ của mình. Có thể là với Nữ Giới của xứ sở hắn. Hoặc có thể là với kẻ đại diện cho nữ giới ấy, người đàn bà đang ngồi trước mặt hắn. Hắn hẳn còn tiếp tục theo mạch ấy, nhưng chồng tôi bỗng đứng dậy khỏi ghế và khẽ chạm vào vai hắn mà nói: “Sandip này, Chandranath Babu đến rồi.”

Tôi giật mình quay lại, thấy một vị cao niên đứng ở cửa, điềm tĩnh và đường bệ, còn đang phân vân nên bước vào hay lui ra. Gương mặt ông được chạm bằng một thứ ánh sáng dịu như ánh mặt trời lặn.

Chồng tôi đến bên tôi mà thì thầm: “Đây là thầy anh, người anh vẫn thường kể với em. Em chào thầy đi.”

Tôi cung kính cúi xuống nhận bụi dưới chân ông. Ông ban phúc cho tôi mà nói: “Cầu Thượng đế luôn che chở con, mẹ bé nhỏ của ta.” Vào khoảnh khắc ấy tôi đang rất cần một lời chúc phúc như thế.

Chuyện của Nikhil · I

Có một thời tôi đủ đức tin để tin rằng mình sẽ chịu đựng được bất cứ điều gì đến từ Thượng đế của tôi. Tôi chưa từng bị thử. Bây giờ tôi nghĩ thử thách đã đến.

Tôi vẫn thử sức mạnh trí óc mình bằng cách hình dung đủ thứ tai hoạ có thể xảy đến — nghèo túng, tù đày, ô nhục, cái chết — cả cái chết của Bimala nữa. Và khi tôi tự nhủ rằng mình sẽ đón nhận chúng một cách vững vàng, tôi chắc là mình đã không nói quá. Chỉ có một điều tôi chưa bao giờ hình dung nổi, và hôm nay chính điều đó là cái tôi đang nghĩ tới, và đang tự hỏi liệu mình có thật sự chịu nổi hay không. Có một cái gai nào đó đâm trong tim tôi, không ngừng làm tôi đau ngay giữa những việc thường ngày. Nó dường như còn dai dẳng cả khi tôi ngủ. Vừa mở mắt ra buổi sáng, tôi đã thấy sắc tươi đã rời khỏi gương mặt bầu trời. Là cái gì vậy? Đã xảy ra chuyện gì?

Trí tôi đã trở nên nhạy đến mức ngay cả quãng đời đã qua, quãng đời đến với tôi trong lốt hạnh phúc, cũng dường như vắt kiệt tim tôi bằng sự giả dối của nó; và nỗi hổ thẹn cùng nỗi buồn đang xích lại gần tôi thì mất dần lớp che kín đáo, càng mất nhiều hơn chính vì chúng cố che mặt đi. Trái tim tôi đã thành ra toàn những mắt. Những điều lẽ ra không nên nhìn thấy, những điều tôi không muốn nhìn thấy — chính chúng tôi lại buộc phải thấy.

Rốt cuộc đã đến cái ngày mà cuộc đời xấu số của tôi phải phơi bày sự cùng quẫn của nó trong một chuỗi dài những lần lộ liễu. Cái cảnh túng thiếu ấy, hoàn toàn ngoài dự liệu, đã chiếm chỗ ngồi ngay trong trái tim nơi tưởng như sự sung mãn đang trị vì. Khoản học phí tôi nộp cho ảo tưởng chỉ trong chín năm tuổi trẻ, nay phải hoàn lại cả vốn lẫn lãi cho Sự Thật cho đến hết đời.

Gắng gượng giữ lấy lòng kiêu hãnh của mình thì được ích gì? Có hại gì nếu tôi thú nhận rằng trong tôi có một chỗ khiếm khuyết? Có lẽ đó là cái sức mạnh không cần lý lẽ mà đàn bà thích tìm thấy nơi đàn ông. Nhưng sức mạnh chẳng lẽ chỉ là phô bày bắp thịt? Sức mạnh nhất thiết phải không được đắn đo khi chà đạp kẻ yếu dưới gót chân sao?

Nhưng lý sự làm gì cho lắm? Sự xứng đáng không thể kiếm được chỉ bằng tranh cãi về nó. Và tôi thì không xứng, không xứng, không xứng.

Thì đã sao nếu tôi không xứng? Giá trị thật của tình yêu chính là ở chỗ nó có thể ban phúc cho kẻ không xứng bằng chính sự hào phóng của nó. Với người xứng đáng thì trên mặt đất của Thượng đế có nhiều phần thưởng, nhưng tình yêu thì Thượng đế đã dành riêng cho kẻ không xứng.

Cho đến nay Bimala vẫn là Bimala do nhà tôi làm ra, sản phẩm của một khoảng không chật hẹp và của những bổn phận nhỏ lặp đi lặp lại mỗi ngày. Tôi tự hỏi: tình yêu tôi nhận được từ nàng có đến từ mạch sâu trong tim nàng không, hay nó chỉ như nguồn nước máy hằng ngày được cỗ máy hơi nước của xã hội bơm lên?

Tôi khao khát thấy Bimala nở trọn trong tất cả sự thật và sức mạnh của nàng. Nhưng điều tôi quên tính đến là: muốn thấy một con người tự do phơi mình ra trong sự thật, thì phải từ bỏ mọi đòi hỏi dựa trên những quyền lợi theo lệ thường.

Vì sao tôi đã không nghĩ ra điều đó? Có phải vì lòng kiêu hãnh sở hữu của người chồng đối với vợ mình? Không. Đó là vì tôi đã đặt trọn niềm tin vào tình yêu. Tôi đã đủ tự phụ để nghĩ rằng mình có đủ sức chịu nổi cảnh nhìn thẳng vào sự thật trong cái trần trụi khủng khiếp của nó. Đó là thử lòng Trời, vậy mà tôi vẫn bám vào quyết tâm kiêu hãnh của mình rằng mình sẽ thắng trong cuộc thử thách ấy.

Bimala đã không hiểu tôi ở một điều. Nàng không thể thấy hết rằng tôi coi mọi sự áp đặt bằng sức mạnh đều là yếu đuối. Chỉ kẻ yếu mới không dám công bằng. Họ trốn tránh trách nhiệm phải công bằng và tìm cách đến kết quả cho nhanh bằng những lối tắt bất công. Bimala không có chút kiên nhẫn nào với sự kiên nhẫn. Nàng thích tìm thấy ở đàn ông cái ngang ngược, cái giận dữ, cái bất công. Lòng kính trọng của nàng phải có yếu tố sợ hãi trong đó.

Tôi từng hy vọng rằng khi Bimala thấy mình được tự do ở thế giới bên ngoài, nàng sẽ được cứu khỏi cơn say mê cường quyền. Nhưng bây giờ tôi tin chắc rằng cơn say mê ấy nằm sâu trong bản tính nàng. Tình yêu của nàng dành cho cái ồn ào dữ dội. Từ đầu lưỡi xuống tới đáy dạ dày nàng phải rát lên vì ớt đỏ thì mới thấy ngon miệng với bữa cơm đơn sơ của đời sống. Nhưng quyết tâm của tôi là không bao giờ làm bổn phận mình trong cơn hăng máu điên cuồng, được tiếp sức bằng thứ rượu lửa của sự phấn khích. Tôi biết vì thế mà Bimala khó lòng kính trọng tôi, nàng cho những đắn đo của tôi là nhu nhược — và nàng giận tôi lắm vì tôi không chạy loạn lên mà hô _Bande Mataram_.

Nói cho cùng, tôi đã mất lòng tất cả đồng bào mình chỉ vì không nhập cuộc chè chén với họ. Họ đinh ninh rằng hoặc tôi đang thèm một chức tước nào đó, hoặc tôi sợ cảnh sát. Còn cảnh sát về phần họ thì ngờ tôi đang nuôi một mưu đồ giấu kín và phản đối quá nhiều dưới cái vẻ hiền lành.

Điều tôi thật sự cảm thấy là thế này: những kẻ không tìm được thức ăn cho lòng nhiệt thành của mình trong sự hiểu biết về đất nước đúng như nó đang là, hay những kẻ không yêu nổi con người chỉ vì họ là con người — những kẻ nhất định phải gào lên và phong thần cho đất nước mình mới giữ nổi cơn phấn khích — thì những kẻ ấy yêu sự phấn khích hơn yêu đất nước mình.

Cố đặt cơn say mê của mình lên trên Sự Thật là dấu hiệu của một tinh thần nô lệ có sẵn trong máu. Ở đâu trí ta được tự do thì ta lại thấy mình lạc lối. Cái sinh lực hấp hối của chúng ta phải có kẻ cưỡi lên nó — hoặc một ảo tưởng nào đó, hoặc một người có quyền, hoặc một sự chuẩn thuận của các bậc học giả — thì nó mới chịu nhúc nhích. Chừng nào chúng ta còn trơ ra trước sự thật và còn phải nhờ đến một chất kích thích thôi miên mới cử động được, thì chúng ta phải biết rằng mình thiếu năng lực tự trị. Dù ở vào hoàn cảnh nào, chúng ta cũng sẽ cần một bóng ma tưởng tượng hay một ông thầy phù thuỷ bằng xương bằng thịt để khủng bố mình.

Hôm nọ khi Sandip buộc tội tôi thiếu trí tưởng tượng, bảo rằng chính vì thế mà tôi không hình dung nổi đất nước mình thành một hình ảnh nhìn thấy được, Bimala đã đồng ý với hắn. Tôi không nói gì để bênh mình, bởi thắng trong tranh cãi thì cũng chẳng dẫn tới hạnh phúc. Chỗ khác ý của nàng không đến từ sự chênh lệch trí tuệ, mà đúng hơn là từ sự khác nhau về bản tính.

Họ buộc tội tôi thiếu trí tưởng tượng — nghĩa là, theo họ, tôi có thể có dầu trong đèn, nhưng không có ngọn lửa. Ấy vậy mà đó lại đúng là lời buộc tội tôi dành cho họ. Tôi muốn nói với họ: “Các anh tối tăm, y như những hòn đá lửa. Các anh phải va đập dữ dội và làm ầm ĩ lên thì mới sinh ra tia lửa của mình. Nhưng những tia loé rời rạc ấy chỉ giúp cho lòng kiêu hãnh của các anh, chứ không giúp cho cái nhìn sáng rõ của các anh.”

Đã một thời gian tôi nhận thấy ở Sandip có một lòng tham thô lậu. Những cảm xúc xác thịt khiến hắn nuôi ảo tưởng về tôn giáo của mình và đẩy hắn vào một thái độ cường quyền trong lòng ái quốc. Trí hắn sắc, nhưng bản tính hắn thô, nên hắn tôn vinh những dục vọng ích kỷ của mình bằng những cái tên kêu vang. Thứ an ủi rẻ tiền của lòng căm ghét cũng cần kíp với hắn chẳng kém gì việc thoả mãn những cơn thèm. Ngày trước Bimala đã nhiều lần cảnh báo tôi về cái thói hám tiền của hắn. Tôi hiểu điều đó, nhưng tôi không sao ép mình mặc cả với Sandip được. Tôi xấu hổ ngay cả khi phải thú nhận với chính mình rằng hắn đang tìm cách lợi dụng tôi.

Tuy vậy, hôm nay sẽ khó mà giải thích cho Bimala rằng lòng yêu nước của Sandip chẳng qua là một khuôn mặt khác của cái lòng tự ái tham lam nơi hắn. Việc Bimala sùng bái Sandip như một người anh hùng lại càng khiến tôi ngần ngại nói với nàng về hắn, sợ rằng một chút ghen tuông sẽ vô tình đẩy tôi tới chỗ nói quá. Cũng có thể nỗi đau trong tim tôi đang khiến tôi nhìn Sandip qua một bức chân dung méo mó. Vậy mà có lẽ nói ra vẫn hơn là để những cảm xúc ấy gặm nhấm mình từ bên trong.

II

Tôi biết thầy tôi đã ba mươi năm nay. Vu khống, tai hoạ, hay chính cái chết cũng chẳng làm ông sợ. Sinh ra trong những truyền thống của cái gia đình này, hẳn chẳng gì cứu nổi tôi, nếu ông đã không đặt chính đời mình vào giữa lòng đời tôi, cùng với sự bình an, sự thật và cái nhìn tinh thần của ông, nhờ đó mà tôi mới có thể nhận ra điều thiện trong sự thật của nó.

Hôm ấy thầy đến gặp tôi và nói: “Có cần giữ Sandip ở đây thêm nữa không?”

Bản tính ông nhạy với mọi điềm gở đến mức ông đã hiểu ra ngay. Ông vốn không dễ xao động, nhưng hôm ấy ông cảm thấy cái bóng tối của rắc rối đang tới trước mặt. Chẳng lẽ tôi không biết ông thương tôi đến thế nào sao?

Đến giờ trà tôi nói với Sandip: “Tôi vừa nhận được thư từ Rangpur. Họ than rằng tôi ích kỷ giữ anh lại. Bao giờ anh đi đó?”

Bimala đang rót trà. Mặt nàng sa sầm ngay. Nàng chỉ ném về phía Sandip một cái nhìn dò hỏi.

“Tôi vẫn nghĩ,” Sandip nói, “rằng cái lối đi tới đi lui này là một sự phí phạm sức lực ghê gớm. Tôi thấy nếu làm việc từ một trung tâm thì có lẽ tôi đạt được những kết quả bền hơn.”

Nói xong hắn ngước lên nhìn Bimala mà hỏi: “Bà cũng nghĩ thế chứ?”

Bimala ngập ngừng chưa đáp rồi mới nói: “Cả hai cách đều hay — làm việc từ một trung tâm, mà đi khắp nơi cũng vậy. Cách nào ông thấy thoả lòng hơn thì đó là cách của ông.”

“Vậy để tôi nói thẳng ý mình,” Sandip nói. “Tôi chưa bao giờ tìm được một nguồn cảm hứng nào đủ cho tôi mãi mãi. Chính vì thế tôi cứ phải đi tới đi lui, khơi lên lòng nhiệt thành trong dân chúng, rồi từ đó lại rút về kho sức lực của chính mình. Hôm nay bà đã trao cho tôi thông điệp của đất nước tôi. Thứ lửa ấy tôi chưa từng thấy ở một người đàn ông nào. Tôi sẽ có thể gieo lửa nhiệt thành khắp xứ sở này bằng cách vay nó từ bà. Không, bà đừng thẹn. Bà ở cao hơn hẳn mọi sự khiêm nhường và rụt rè. Bà là Ong chúa của tổ ong chúng tôi, còn chúng tôi, lũ ong thợ, sẽ tụ về quanh bà. Bà sẽ là trung tâm của chúng tôi, là nguồn cảm hứng của chúng tôi.”

Bimala ửng đỏ cả người vì niềm kiêu hãnh e thẹn, và tay nàng run lên trong lúc rót tiếp trà.

Một hôm khác thầy đến bảo tôi: “Sao hai đứa không lên Darjeeling đổi gió ít lâu? Trông con không được khoẻ. Con có ngủ đủ không?”

Buổi tối tôi hỏi Bimala có thích lên miền Núi chơi không. Tôi biết nàng khao khát được thấy dãy Himalaya. Nhưng nàng từ chối… Chính Nghĩa của đất nước, tôi đoán vậy!

Tôi không được đánh mất đức tin của mình: tôi sẽ chờ. Đoạn đường từ thế giới chật hẹp sang thế giới rộng lớn hơn thì đầy bão tố. Khi nào nàng đã quen với thứ tự do này, bấy giờ tôi sẽ biết chỗ của mình ở đâu. Nếu tôi phát hiện ra rằng mình không khớp với cách sắp đặt của thế giới bên ngoài, thì tôi sẽ không cãi nhau với số phận mình, mà lặng lẽ cáo lui… Dùng vũ lực ư? Nhưng để làm gì? Vũ lực có thắng nổi Sự Thật không?

Chuyện của Sandip · I

Kẻ bất lực thì nói: “Cái đã rơi vào phần tôi là của tôi.” Và kẻ yếu thì gật đầu. Nhưng bài học của cả thế giới là: “Cái thật sự của tôi là cái tôi giật được về.” Đất nước tôi không trở thành của tôi chỉ vì nó là nơi tôi sinh ra. Nó thành của tôi vào ngày tôi có thể đoạt lấy nó bằng sức mạnh.

Mỗi người đều có quyền tự nhiên được chiếm hữu, và vì thế lòng tham là tự nhiên. Không nằm trong sự khôn ngoan của tự nhiên việc chúng ta bằng lòng chịu thiếu thốn. Cái gì trí tôi thèm muốn thì hoàn cảnh quanh tôi phải cung cấp. Đó là sự thoả thuận chân thật duy nhất giữa bản tính bên trong và bên ngoài của chúng ta trên đời này. Cứ để những lý tưởng đạo đức lại cho lũ sinh vật xanh xao tội nghiệp có ham muốn đói khát và bàn tay yếu ớt kia. Những kẻ biết ham muốn bằng cả linh hồn và hưởng thụ bằng cả trái tim, những kẻ không do dự cũng chẳng đắn đo — chính họ mới là những kẻ được Trời xức dầu. Tự nhiên bày ra của cải và những kho báu đáng yêu nhất của bà cho họ hưởng. Họ bơi qua sông, nhảy qua tường, đạp tung cửa, để tự lấy cho mình bất cứ thứ gì đáng lấy. Trong sự chiếm được như thế người ta mới hân hoan; chính sự giằng lấy như thế mới làm nên giá trị của vật đoạt được.

Tự nhiên hiến mình, nhưng chỉ hiến cho kẻ cướp. Bởi bà khoái cái ham muốn cường bạo ấy, cái sự bắt cóc cường bạo ấy. Cho nên bà chẳng quàng vòng hoa ưng thuận của mình lên cái cổ gầy nhẳng của kẻ tu khổ hạnh. Nhạc rước dâu đã nổi. Giờ cưới thì tôi không được để lỡ. Vì thế lòng tôi nôn nao. Bởi ai là chú rể? Là tôi. Chỗ của chú rể thuộc về kẻ cầm đuốc trong tay mà đến đúng lúc. Trong hôn trường của Tự nhiên, chú rể đến bất ngờ và không cần mời.

Thẹn ư? Không, tôi chẳng bao giờ thẹn! Tôi đòi bất cứ thứ gì tôi muốn, mà cũng không phải lúc nào tôi cũng chờ hỏi xin rồi mới lấy. Những kẻ chịu thiếu thốn vì chính sự rụt rè của mình thì tôn cái thiếu thốn ấy lên bằng cái tên khiêm nhường. Thế giới ta sinh ra là thế giới của cái có thật. Khi một người rời cái chợ của những vật có thật với hai bàn tay trắng và cái bụng rỗng, chỉ nhét đầy bị mình bằng những chữ nghĩa kêu vang, tôi tự hỏi hắn vào cái thế giới nghiệt ngã này làm gì. Phải chăng mấy người ấy được đám sành ăn của thế giới tôn giáo bổ nhiệm để tấu những khúc có sẵn trên các bài kinh ngọt ngào đạo mạo, trong cái vườn hoa nơi nở toàn những thứ hư vô nhẹ bẫng? Tôi chẳng ưa những khúc nhạc ấy, mà cũng chẳng tìm thấy chút gì nuôi sống mình trong những đoá hoa ấy.

Cái gì tôi ham thì tôi ham một cách dứt khoát, đến tột bậc. Tôi muốn nhào nặn nó bằng cả hai tay hai chân; tôi muốn trát nó khắp người mình; tôi muốn ngốn nó cho đến no căng. Những ống sáo mỏng dính của những kẻ đã tự bào mòn mình bằng các cuộc chay tịnh đạo đức, cho tới khi họ dẹt lép và nhợt nhạt như lũ rệp đói trong một cái giường bỏ hoang đã lâu, sẽ chẳng bao giờ lọt tới tai tôi.

Tôi chẳng muốn giấu giếm gì, bởi làm thế là hèn. Nhưng nếu tôi không ép nổi mình che giấu khi việc che giấu là cần thiết, thì như thế cũng hèn. Vì anh có lòng tham của anh, nên anh xây tường. Vì tôi có lòng tham của tôi, nên tôi phá tường. Anh dùng quyền lực của anh: tôi dùng mưu mẹo của tôi. Đó là những cái có thật của đời sống. Trên chúng mà dựng nên các vương quốc, các đế chế và mọi công cuộc lớn lao của loài người.

Còn về những vị _avatar_ từ thiên đường của họ bước xuống nói với chúng ta bằng một thứ tiếng lóng thiêng liêng nào đó — lời của họ không có thật. Cho nên, bất chấp mọi tiếng vỗ tay họ nhận được, những lời ấy của họ chỉ tìm được chỗ trong các xó ẩn nấp của kẻ yếu.

Chúng bị khinh bởi những kẻ mạnh, những kẻ cai trị thế giới. Ai đủ can đảm nhìn ra điều này thì đã thành công, còn lũ khốn khổ tội nghiệp bị tự nhiên kéo về một phía và bị mấy vị avatar kia kéo về phía kia, họ đặt một chân lên thuyền của cái có thật và một chân lên thuyền của cái không thật, nên lâm vào cảnh đáng thương, chẳng tiến lên được mà cũng chẳng giữ nổi chỗ mình đứng.

Có lắm kẻ dường như sinh ra chỉ với một nỗi ám ảnh là chết. Cũng có thể trong cái chết kéo dài ngay giữa lòng sự sống ấy có một vẻ đẹp nào đó, như vẻ đẹp của hoàng hôn, khiến họ mê mẩn. Nikhil sống thứ đời ấy, nếu có thể gọi đó là đời. Nhiều năm trước tôi từng tranh luận lớn với hắn về điểm này.

“Đúng là,” hắn nói, “anh chẳng được thứ gì nếu không dùng sức mạnh. Nhưng rồi cái sức mạnh ấy là gì? Và rồi nữa, cái sự được ấy là gì? Sức mạnh tôi tin là sức mạnh của sự từ bỏ.”

“Vậy ra anh,” tôi kêu lên, “đang mê mẩn cái vinh quang của sự vỡ nợ.”

“Mê mẩn liều lĩnh y như con gà con mê mẩn cái sự vỡ nợ của vỏ trứng nó vậy,” hắn đáp. “Cái vỏ thì có thật đấy chứ, vậy mà nó vẫn bị đem đổi lấy ánh sáng và không khí không sờ mó được. Một cuộc đổi chác đáng buồn, tôi đoán anh sẽ gọi thế?”

Một khi Nikhil đã leo lên ẩn dụ thì hết hy vọng làm hắn thấy rằng hắn chỉ đang loay hoay với chữ nghĩa chứ không phải với cái có thật. Thôi thì, thôi thì, cứ để hắn hạnh phúc với những ẩn dụ của hắn. Chúng tôi là lũ ăn thịt của thế giới này; chúng tôi có răng và móng; chúng tôi rượt, chộp và xé. Chúng tôi chẳng thoả với việc buổi tối ngồi nhai lại nắm cỏ đã ăn buổi sáng. Dù sao đi nữa, chúng tôi không thể để đám con buôn ẩn dụ của các anh chắn cửa nguồn sống của mình. Trong trường hợp ấy chúng tôi sẽ ăn cắp hoặc ăn cướp, đơn giản thế thôi, vì chúng tôi phải sống.

Người ta sẽ bảo tôi đang dựng lên một lý thuyết mới lạ, chỉ vì những kẻ đang xoay xở trên đời này có thói quen nói khác đi trong khi suốt ngày họ vẫn hành động đúng như thế. Bởi vậy họ không hiểu ra được điều tôi hiểu: rằng đây là nguyên tắc đạo đức duy nhất chạy được việc. Thật ra tôi biết ý tưởng của mình chẳng phải một lý thuyết suông chút nào, bởi nó đã được chứng minh trong đời sống thực tế. Tôi thấy lối của tôi luôn chinh phục được lòng đàn bà, những sinh vật thuộc về thế giới có thật này và không đi lang thang trên xứ mây như đàn ông, trong những khinh khí cầu nhồi đầy ý tưởng.

Đàn bà tìm thấy nơi nét mặt tôi, dáng điệu tôi, bước đi tôi, giọng nói tôi, một đam mê đầy quyền uy — không phải thứ đam mê bị nắng khổ hạnh hong cho mỏng dính, không phải thứ đam mê cứ mỗi bước lại ngoái đầu lại trong hoài nghi và bàn cãi, mà là một đam mê đầy máu. Nó gầm lên và cuộn tới, như một trận lụt, với tiếng kêu: “Ta muốn, ta muốn, ta muốn.” Trong đáy sâu trái tim mình, đàn bà cảm thấy rằng cái đam mê bất khuất ấy là dòng máu sống của thế giới, không thừa nhận luật lệ nào ngoài chính nó, và vì thế mà chiến thắng. Chính vì lẽ đó mà đã bao lần họ buông mình cho ngọn triều đam mê của tôi cuốn đi, chẳng buồn tính nó đưa họ tới sự sống hay cái chết. Cái sức mạnh chinh phục những người đàn bà ấy là sức mạnh của những kẻ đàn ông hùng mạnh, cái sức mạnh chinh phục thế giới có thật.

Những kẻ tưởng tượng ra một thế giới khác đáng ham hơn thì chẳng qua chỉ chuyển ham muốn của mình từ mặt đất lên bầu trời. Còn phải xem cái vòi phun ào ạt của họ vọt lên cao được bao nhiêu, và được bao lâu. Nhưng có một điều chắc chắn: đàn bà không được tạo ra cho lũ sinh vật xanh xao ấy — lũ ăn hoa sen của chủ nghĩa lý tưởng.

“Duyên trời!” Khi nó hợp với nhu cầu của tôi, tôi vẫn thường bảo rằng Thượng đế đã tạo ra từng cặp đàn ông đàn bà dành riêng cho nhau, và sự kết hợp của những cặp ấy mới là kết hợp chính đáng duy nhất, cao hơn mọi kết hợp do luật pháp làm ra. Lý do là thế này: dẫu con người muốn đi theo tự nhiên, hắn cũng chẳng thấy vui thú gì nếu không tự che chắn mình bằng một câu chữ nào đó — và đó là vì sao thế giới này ngập tràn dối trá.

“Duyên trời!” Sao lại chỉ có một? Có thể có duyên với hàng nghìn người. Trong thoả thuận của tôi với tự nhiên chưa bao giờ có điều khoản rằng tôi phải làm ngơ vô số mối duyên của mình chỉ vì một mối duy nhất. Cho đến giờ tôi đã phát hiện ra nhiều mối trong đời mình, vậy mà điều đó không đóng cửa với một mối nữa — và mối ấy đang hiện rõ trước mắt tôi. Nàng cũng đã phát hiện ra mối duyên của nàng với tôi.

Rồi sao nữa?

Rồi, nếu tôi không thắng thì tôi là kẻ hèn.