Ngôi nhà và thế giới — Chương 3

Chương 3 / 12 · Bài review Ngôi nhà và thế giới

Chuyện của Bimala · VI

TÔI tự hỏi cảm giác hổ thẹn của mình đã đi đâu mất. Sự thật là tôi chẳng có thì giờ nghĩ về bản thân. Ngày và đêm của tôi trôi qua trong một cơn xoáy, như một vũng nước xoáy mà tôi ở ngay giữa. Chẳng còn khe hở nào để sự do dự hay ý tứ lọt vào.

Một hôm chị dâu tôi nói với chồng tôi: “Từ trước đến nay đàn bà nhà này cứ bị bắt phải khóc. Nay đến lượt đàn ông.

“Chúng ta phải lo sao cho họ đừng bỏ lỡ,” chị nói tiếp, quay sang tôi. “Chị thấy em đã ra trận rồi đấy, Bà Bé ạ! Cứ nhắm thẳng tim họ mà phóng tên đi.”

Đôi mắt sắc của chị soi tôi từ trên xuống dưới. Không một sắc màu nào trong cách trang điểm, cách ăn mặc, dáng điệu, lời ăn tiếng nói đang nở rộ của tôi lọt khỏi mắt chị. Hôm nay nói ra điều này tôi thấy xấu hổ, nhưng lúc ấy tôi chẳng thấy xấu hổ chút nào. Có một cái gì đó trong tôi đang làm việc mà chính tôi cũng không hay biết. Quả thật tôi có ăn mặc quá tay, nhưng giống một cái máy hơn, chẳng nhằm ý đồ gì rõ rệt. Hẳn nhiên tôi biết cố gắng nào của mình sẽ đặc biệt làm Sandip Babu hài lòng, nhưng chuyện ấy chẳng cần đến trực giác, vì hắn vẫn nói toạc ra trước mặt mọi người.

Một hôm hắn bảo chồng tôi: “Anh có biết không, Nikhil, lần đầu tôi trông thấy Ong Chúa của chúng ta, bà ấy ngồi đó nết na quá đỗi trong tấm _sari_ viền vàng. Đôi mắt bà ấy nhìn vào khoảng không mà dò hỏi, như những vì sao lạc đường, y như thể bà ấy đã đứng hàng bao thế kỷ bên rìa một bóng tối nào đó, ngóng trông một điều chưa biết. Nhưng khi tôi trông thấy bà ấy, tôi thấy một cơn run chạy suốt người mình. Với tôi, dường như dải viền vàng trên tấm _sari_ ấy chính là ngọn lửa bên trong bà ấy bùng ra mà quấn quanh lấy bà. Đó chính là ngọn lửa chúng ta cần, thứ lửa nhìn thấy được! Này Ong Chúa, bà nhất định phải ban cho chúng tôi cái ân huệ ăn mặc thêm một lần nữa như một ngọn lửa sống.”

Bấy lâu nay tôi vẫn như một con sông nhỏ nơi bìa làng. Nhịp điệu và ngôn ngữ của tôi khác hẳn bây giờ. Nhưng thuỷ triều từ biển dâng lên, và ngực tôi phập phồng; bờ tôi lở, và những tiếng trống lớn của sóng biển dội vào dòng chảy điên cuồng của tôi. Tôi không hiểu nổi nghĩa của tiếng động ấy trong máu mình. Cái con người trước kia của tôi đâu rồi? Từ đâu mà dòng lũ vinh quang này ùa vào tôi sủi bọt? Đôi mắt đói khát của Sandip cháy như những ngọn đèn thờ trước điện thờ tôi. Trọn cái nhìn của hắn tuyên bố rằng tôi là một điều kỳ diệu của nhan sắc và quyền năng; và lời ca ngợi ầm ĩ của hắn, nói ra hay không nói ra, nhấn chìm mọi tiếng nói khác trong thế giới của tôi. Chẳng lẽ Đấng Tạo Hoá đã tạo lại tôi lần nữa? Chẳng lẽ Người muốn bù cho tôi vì đã bỏ quên tôi lâu đến thế? Tôi vốn tầm thường mà bỗng chốc thành đẹp đẽ. Tôi vốn chẳng đáng kể gì mà nay thấy trong mình tất cả sự huy hoàng của chính xứ Bengal.

Bởi Sandip Babu không phải chỉ là một cá nhân. Trong hắn là chỗ hợp lưu của hàng triệu tâm trí của xứ sở. Khi hắn gọi tôi là Ong Chúa của tổ ong, tôi được cả một dàn đồng ca những người làm việc yêu nước tung hô. Sau đó, những lời bỡn cợt oang oang của chị dâu tôi chẳng còn chạm tới tôi được nữa. Quan hệ của tôi với cả thế gian thay đổi. Sandip Babu làm cho tôi thấy rõ cả xứ sở này cần tôi đến thế nào. Hồi ấy tôi tin điều đó chẳng chút khó khăn, bởi tôi thấy mình có quyền năng làm được mọi việc. Một sức mạnh thần thánh đã đến với tôi. Đó là điều tôi chưa từng cảm thấy bao giờ, một điều vượt ra ngoài chính tôi. Tôi chẳng có thì giờ mà tra hỏi nó xem bản chất nó là gì. Nó dường như thuộc về tôi, mà lại vượt lên trên tôi. Nó bao trùm cả xứ Bengal.

Sandip Babu hỏi ý tôi về từng chuyện nhỏ dính đến Chính Nghĩa. Ban đầu tôi thấy rất ngượng nghịu và cứ lùi lại, nhưng chẳng bao lâu thì hết. Bất cứ điều gì tôi gợi ra hắn cũng có vẻ kinh ngạc. Hắn ngây ngất mà nói: “Đàn ông chỉ biết nghĩ. Đàn bà các bà có cách hiểu mà chẳng cần nghĩ. Đàn bà được tạo ra từ chính trí tưởng tượng của Thượng đế. Còn đàn ông thì Người phải nện búa mới ra hình.”

Thư từ khắp nơi trong xứ vẫn gửi đến Sandip Babu, và được đưa cho tôi xem để hỏi ý. Thỉnh thoảng hắn không đồng ý với tôi. Nhưng tôi chẳng cãi lại hắn. Rồi sau một hai ngày — như thể một luồng sáng mới chợt rọi vào hắn — hắn cho gọi tôi mà nói: “Tôi sai rồi. Ý bà mới đúng.” Hắn thường thú nhận với tôi rằng hễ hắn làm gì trái lời khuyên của tôi là hắn hỏng việc. Cứ thế dần dần tôi tin chắc rằng đằng sau mọi việc đang diễn ra là Sandip Babu, và đằng sau Sandip Babu là cái lẽ thường mộc mạc của một người đàn bà. Vinh quang của một trách nhiệm lớn lao lấp đầy con người tôi.

Chồng tôi không có chỗ trong những cuộc bàn bạc ấy. Sandip Babu đối với anh như với một người em, người mà riêng ta có thể rất mến nhưng chẳng dùng được lời khuyên về công việc. Hắn vừa cười vừa nói một cách âu yếm về cái ngây thơ trẻ con của chồng tôi, bảo rằng những học thuyết kỳ khôi và những chỗ ngang trái trong đầu anh có một vị hài hước khiến chúng lại càng đáng yêu. Chính cái tình cảm ấy dành cho Nikhil, bề ngoài là vậy, đã khiến Sandip Babu tránh làm phiền anh bằng gánh nặng của đất nước.

Tự nhiên có sẵn nhiều thứ thuốc tê trong hiệu thuốc của bà, và bà lén dùng chúng khi những quan hệ sống còn đang bị cắt lìa một cách ngấm ngầm, để chẳng ai hay biết ca mổ, cho tới lúc rốt cuộc người ta tỉnh dậy mà biết rằng một vết rách lớn đã bị xé ra. Khi lưỡi dao đang bận rộn với mối dây thân thiết nhất đời tôi, trí tôi mê mụ trong làn hơi gây tê đến mức tôi chẳng mảy may hay biết một điều tàn nhẫn nhường ấy đang xảy ra. Có lẽ đó là bản tính đàn bà. Khi đam mê của họ đã dấy lên, họ mất hết cảm giác về mọi thứ nằm ngoài nó. Khi nào, như dòng sông, đàn bà chúng tôi giữ trong bờ, chúng tôi nuôi dưỡng bằng tất cả những gì mình có: khi chúng tôi tràn bờ, chúng tôi huỷ diệt bằng tất cả những gì mình là.

Chuyện của Sandip · II

Tôi thấy có gì đó đã hỏng. Hôm nọ tôi đã ngửi thấy mùi.

Từ khi tôi đến, phòng khách của Nikhil đã thành một thứ lưỡng cư — nửa là buồng đàn bà, nửa là phòng đàn ông: Bimala vào đó được từ phía zenana, còn tôi thì không bị chặn từ phía ngoài. Giá chúng tôi cứ thong thả và biết dè chừng mà dùng cái đặc quyền ấy, thì có lẽ đã chẳng đụng độ với ai. Nhưng chúng tôi lao tới hăng đến mức không kịp nghĩ tới hậu quả.

Hễ Ong Chúa bước vào phòng Nikhil là tôi ở phòng mình bằng cách nào đó cũng biết. Có tiếng vòng xuyến leng keng và những âm thanh nhỏ khác; cánh cửa có lẽ được khép lại với một chút mạnh tay không cần thiết; tủ sách thì hơi cứng và kêu cót két nếu bị giật ra. Khi tôi bước vào thì thấy Ong Chúa quay lưng lại phía cửa, đang bận rộn hết sức chọn một cuốn sách trên giá. Và khi tôi ngỏ ý giúp bà trong cái việc khó khăn ấy thì bà giật mình phản đối; rồi tự nhiên chúng tôi chuyển sang những chuyện khác.

Hôm nọ, vào một chiều thứ Năm xấu ngày, tôi từ phòng mình bước ra theo tiếng gọi của chính những âm thanh ấy. Ngoài hành lang có một người canh gác. Tôi đi tới, chẳng buồn liếc hắn lấy một cái, nhưng khi tôi đến gần cửa thì hắn chắn đường tôi mà nói: “Không được lối này, thưa ông.”

“Không được lối này! Sao lại thế?”

“Bà Rani đang ở trong đó.”

“Ồ, thế thì tốt. Vào báo với Bà Rani của anh là Sandip Babu muốn gặp.”

“Không được đâu, thưa ông. Trái lệnh.”

Tôi giận sôi lên. “Ta ra lệnh cho ngươi!” tôi nói, cao giọng.

“Vào báo ta đến.”

Gã có phần chột dạ trước thái độ của tôi. Trong lúc ấy tôi đã tiến gần cửa. Tôi sắp chạm tới thì hắn đuổi theo mà nắm lấy tay tôi: “Không được, thưa ông, ông không được vào.”

Sao! Để một thằng hầu chạm vào người! Tôi giật tay ra và giáng cho hắn một cái tát kêu đét. Đúng lúc ấy Ong Chúa từ trong phòng bước ra, thấy gã đang toan làm nhục tôi.

Tôi sẽ chẳng bao giờ quên bức tranh cơn thịnh nộ của bà! Rằng Ong Chúa đẹp là một khám phá của riêng tôi. Phần lớn người mình sẽ chẳng thấy gì ở bà. Cái dáng cao và thanh của bà thì đám thô lỗ ấy sẽ gọi là “nhẳng”. Nhưng chính cái mềm mại uyển chuyển ấy của bà là điều tôi phục — như một vòi nước sự sống vọt lên, đi thẳng ra từ đáy tim Đấng Tạo Hoá. Nước da bà sẫm, nhưng đó là cái sẫm bóng của một lưỡi kiếm, sắc và lấp lánh.

“Nanku!” bà ra lệnh, đứng ngay cửa, tay chỉ thẳng, “lui ra.”

“Bà đừng giận hắn,” tôi nói. “Nếu trái lệnh thì chính tôi phải lui mới đúng.”

Giọng Ong Chúa vẫn còn run khi bà đáp: “Ông không được đi. Vào đây.”

Đó không phải một lời mời, mà lại là một mệnh lệnh! Tôi theo bà vào, lấy một chiếc ghế rồi cầm cái quạt trên bàn mà quạt. Ong Chúa nguệch ngoạc mấy chữ bằng bút chì lên một tờ giấy rồi gọi một người hầu, đưa cho hắn mà bảo: “Đem cái này lên cho Maharaja.”

“Bà thứ lỗi cho,” tôi nói tiếp. “Tôi đã không kiềm được mình mà đánh người của bà.

“Ông đánh là đáng đời hắn,” Ong Chúa nói.

“Nhưng nói cho cùng thì cũng chẳng phải lỗi của gã tội nghiệp ấy. Hắn chỉ tuân lệnh thôi.”

Vừa lúc đó Nikhil bước vào, và tôi lập tức rời ghế bằng một cử động nhanh, đi tới đứng bên cửa sổ, quay lưng lại phòng.

“Nanku, tên lính gác, đã làm nhục Sandip Babu,” Ong Chúa nói với Nikhil.

Nikhil có vẻ ngạc nhiên thật lòng đến mức tôi phải quay lại mà nhìn hắn chằm chằm. Ngay cả một người tốt đến mức quá quắt cũng không giữ nổi lòng kiêu hãnh về sự thành thật của mình trước mặt vợ — nếu vợ là loại đàn bà biết cách.

“Hắn hỗn xược chắn đường Sandip Babu khi ông ấy đang vào đây,” Ong Chúa nói tiếp. “Hắn bảo hắn có lệnh…”

“Lệnh của ai?” Nikhil hỏi.

“Làm sao em biết được?” Ong Chúa sốt ruột kêu lên, mắt ngân ngấn vì tủi.

Nikhil cho gọi gã lên mà hỏi. “Không phải lỗi tôi,” Nanku lầm lì nhắc lại. “Tôi có lệnh.”

“Ai ra lệnh cho ngươi?”

“Bà Rani Cả.”

Cả bọn im lặng một lúc. Sau khi gã đi khỏi, Ong Chúa nói: “Nanku phải đi!”

Nikhil vẫn im lặng. Tôi thấy được rằng lương tri công bằng của hắn không cho phép chuyện đó. Những đắn đo của hắn thì vô cùng vô tận. Nhưng lần này hắn vấp phải một bài toán khó. Ong Chúa không phải hạng đàn bà chịu nằm im. Bà sẽ phải gỡ lại với chị dâu bằng cách trừng phạt gã kia. Và khi Nikhil cứ im lặng thì mắt bà loé lửa. Bà không biết trút sự khinh bỉ của mình lên cái nhu nhược của chồng bằng cách nào. Lát sau Nikhil rời khỏi phòng, chẳng nói thêm một lời.

Hôm sau chẳng thấy Nanku đâu nữa. Hỏi ra tôi mới biết hắn đã bị đưa đi một vùng khác của điền trang, và lương của hắn không hề bị sứt mẻ vì chuyện thuyên chuyển ấy.

Tôi thoáng thấy được những tàn phá của cơn bão đang nổi lên vì việc này ở phía sau màn. Tất cả những gì tôi có thể nói là Nikhil quả là một sinh vật kỳ khôi, hoàn toàn khác thường.

Kết cục là sau chuyện ấy Ong Chúa bắt đầu cho mời tôi ra phòng khách trò chuyện, chẳng cần mưu mẹo gì, cũng chẳng cần làm ra vẻ tình cờ. Thế là từ chỗ chỉ gợi ý mơ hồ, chúng tôi đi tới chỗ nói bóng rất rõ: cái ngụ ý đã thành cái nói ra. Nàng dâu của một nhà quyền quý sống trong một cõi sao xa xôi với người ngoài thường đến mức chẳng có nổi một con đường đàng hoàng để hắn đi tới. Thật là một cuộc diễu hành khải hoàn của Sự Thật, khi nó dần dần mà bền bỉ gạt sang bên hết tấm màn tục lệ này đến tấm màn tục lệ khác, cho tới lúc chính Tự nhiên phơi mình ra trần trụi.

Sự Thật ư? Tất nhiên đó là sự thật! Sức hút giữa đàn ông và đàn bà là cái nền tảng. Cả thế giới vật chất, từ hạt bụi trở lên, đều đứng về phía nó. Vậy mà loài người cứ muốn giấu nó đi cho khuất mắt, sau một lớp vải chữ nghĩa; rồi bằng những chuẩn thuận và cấm đoán tự chế ở nhà, họ biến nó thành một thứ đồ dùng trong bếp. Ôi, nó lố bịch chẳng khác gì đem nấu chảy cả thái dương hệ để làm một sợi dây đồng hồ cho chàng rể!

Khi bất chấp tất cả, cái có thật thức dậy trước tiếng gọi của một sự thật trần trụi thuần tuý, thì thiên hạ nghiến răng đấm ngực đến thế nào! Nhưng người ta có thể cãi nhau với một trận bão được chăng? Bão chẳng bao giờ nhọc công đáp lại, nó chỉ giũ cho một trận.

Tôi đang thưởng thức cảnh sự thật ấy dần dần hé lộ. Những bước chân run rẩy kia, những cái quay mặt đi kia, với tôi thật ngọt ngào: và ngọt ngào cả những sự lừa dối không chỉ lừa người khác mà lừa luôn chính Ong Chúa. Khi Cái Có Thật phải đối mặt với cái không thật, thì lừa dối là vũ khí chính của nó; bởi kẻ thù của nó luôn tìm cách làm nó thẹn bằng cách gọi nó là thô tục, nên nó buộc phải ẩn mình, hoặc khoác lấy một lốt nào đó. Hoàn cảnh là thế nên nó chẳng dám thẳng thắn thừa nhận: “Phải, ta thô tục, vì ta có thật. Ta là xác thịt. Ta là đam mê. Ta là cơn đói, không biết thẹn và tàn nhẫn.”

Với tôi giờ mọi sự đã rõ. Tấm màn đang phất, và qua nó tôi trông thấy những sửa soạn cho tai hoạ. Dải ruy băng đỏ nhỏ ló ra giữa mảng tóc dày rậm của bà, với cái ửng lên của nỗi khát khao thầm kín, chính là cái lưỡi thè ra của đám mây bão đỏ. Tôi cảm được hơi ấm ở mỗi nếp gấp tấm _sari_ của bà, ở mỗi gợi ý trong y phục của bà, những điều mà chính người mặc có khi cũng chẳng ý thức hết.

Ong Chúa không ý thức được, bởi bà thẹn với cái có thật; cái mà loài người đã đặt cho một cái tên xấu, gọi nó là Satan; và thế là nó phải lẻn vào khu vườn thiên đường dưới lốt một con rắn, thì thầm những điều bí mật vào tai người bạn đời được chọn của con người mà làm nàng nổi loạn; rồi thì vĩnh biệt mọi sự yên ổn; và sau đó là cái chết!

Ong Chúa bé bỏng tội nghiệp của tôi đang sống trong một giấc mơ. Bà chẳng biết mình đang bước lối nào. Đánh thức bà dậy trước lúc thì không an toàn. Tốt nhất là tôi cứ giả vờ cũng vô ý thức y như bà.

Hôm nọ, trong bữa ăn, bà nhìn tôi một cách lạ lùng, chẳng mấy hiểu những cái nhìn như thế có nghĩa gì! Khi mắt tôi chạm mắt bà, bà quay đi, đỏ mặt. “Bà ngạc nhiên vì tôi ăn khoẻ,” tôi nhận xét. “Tôi giấu được mọi thứ, trừ chuyện tôi tham ăn! Mà thôi, việc gì bà phải đỏ mặt hộ tôi, khi chính tôi đã chẳng biết thẹn?”

Câu ấy chỉ khiến bà đỏ dữ hơn, và bà lắp bắp: “Không, không, tôi chỉ…”

“Tôi biết,” tôi ngắt lời. “Đàn bà vốn yếu lòng trước những kẻ đàn ông tham; bởi chính cái tham ấy của chúng tôi cho họ thế thượng phong. Sự nuông chiều tôi vẫn luôn nhận được từ tay họ càng làm tôi mất hết liêm sỉ. Tôi chẳng ngại chút nào chuyện bà ngồi nhìn những món ngon biến mất. Tôi định thưởng thức bằng hết.”

Hôm nọ tôi đang đọc một cuốn sách tiếng Anh bàn về các vấn đề tính dục theo lối hiện thực táo tợn. Tôi đã bỏ quên nó trong phòng khách. Chiều hôm sau khi tôi vào đó tìm một thứ gì đấy thì thấy Ong Chúa đang ngồi, cuốn sách ấy trên tay. Nghe tiếng chân tôi, bà vội đặt nó xuống rồi úp một cuốn khác lên trên — một tập thơ của bà Hemans.

“Tôi chưa bao giờ hiểu nổi,” tôi mở lời, “vì sao đàn bà lại ngượng đến thế khi bị bắt gặp đang đọc thơ. Đàn ông chúng tôi — luật sư, thợ máy, hay gì gì đi nữa — thì xấu hổ là phải. Nếu buộc phải đọc thơ, chúng tôi nên đọc lúc đêm khuya, sau cánh cửa đóng kín. Nhưng đàn bà các bà thì gần với thi ca đến thế. Chính Đấng Tạo Hoá là một nhà thơ trữ tình, và hẳn Jayadeva đã ngồi dưới chân Người mà học nghề thiêng ấy.”

Ong Chúa không đáp, chỉ đỏ mặt khó chịu. Bà làm như sắp rời khỏi phòng. Tôi bèn phản đối: “Không, không, xin bà cứ đọc tiếp. Tôi chỉ lấy cuốn sách tôi bỏ quên ở đây rồi chạy ngay.” Nói xong tôi cầm cuốn sách của mình trên bàn lên. “May cho bà là bà đã không nghĩ tới chuyện lật xem vài trang,” tôi nói tiếp, “không thì hẳn bà đã muốn phạt tôi rồi.”

“Thật sao! Vì sao?” Ong Chúa hỏi.

“Vì nó không phải thơ,” tôi nói. “Chỉ toàn những điều thẳng đuột, nói thẳng đuột, chẳng chút màu mè õng ẹo. Tôi ước gì Nikhil đọc nó.”

Ong Chúa hơi cau mày mà khẽ nói: “Sao ông lại ước thế?”

“Anh ấy là đàn ông, bà thấy đấy, một kẻ trong chúng tôi. Chỗ tôi bất bình với anh ấy chỉ là anh ấy khoái nhìn thế giới này qua một màn sương. Bà không nhận thấy nét ấy khiến anh ấy coi _Swadeshi_ như một bài thơ mà mỗi bước đều phải giữ cho đúng niêm luật sao? Còn chúng tôi, với những cây chuỳ văn xuôi của mình, là kẻ đập phá thánh tượng của niêm luật.”

“Sách của ông thì liên quan gì đến _Swadeshi_?”

“Bà đọc thì sẽ biết. Nikhil muốn đi theo những châm ngôn dựng sẵn, trong chuyện _Swadeshi_ cũng như trong mọi chuyện khác; thế nên bước nào anh ấy cũng đâm sầm vào bản tính con người, rồi quay ra chửi nó. Anh ấy chẳng bao giờ chịu nhận ra rằng bản tính con người đã có từ rất lâu trước khi có những câu chữ, và cũng sẽ sống lâu hơn chúng.”

Ong Chúa im lặng một lúc rồi nghiêm giọng nói: “Chẳng phải chính việc gắng vươn lên cao hơn chính mình cũng là một phần của bản tính con người sao?”

Tôi cười thầm. “Đây không phải lời của bà,” tôi tự nhủ. “Bà học nó từ Nikhil. Bà là một con người khoẻ mạnh. Máu thịt bà đã đáp lại tiếng gọi của cái có thật. Bà đang bừng cháy trong từng mạch máu bằng ngọn lửa sự sống — chẳng lẽ tôi không biết? Họ còn ủ bà cho nguội bằng cái khăn ướt giới luật đạo đức được bao lâu nữa?”

“Kẻ yếu thì đông,” tôi nói lớn. “Họ không ngừng rót vào tai người ta thứ nọc độc là những khẩu hiệu ấy. Tự nhiên đã không cho họ sức mạnh — nên họ tìm cách làm cho kẻ khác cũng yếu đi.”

“Đàn bà chúng tôi yếu,” Bimala đáp. “Vậy chắc chúng tôi phải nhập bọn vào cái âm mưu của kẻ yếu.”

“Đàn bà yếu ư!” tôi bật cười kêu lên. “Đàn ông tán tụng các bà là mảnh mai mong manh, cốt để lừa các bà tưởng mình yếu. Nhưng chính đàn bà các bà mới là kẻ mạnh. Đàn ông phô bày rình rang cái gọi là tự do của họ, nhưng ai biết được đáy lòng họ thì thấy họ đang bị trói. Họ tự tay chế ra kinh sách để tự trói mình; bằng chính chủ nghĩa lý tưởng của mình, họ đúc ra những xiềng vàng cho đàn bà quấn quanh thân và trí. Nếu đàn ông không có cái tài đặc biệt là tự mắc mình vào những tấm lưới do chính mình bày ra, thì chẳng gì trói nổi họ. Còn đàn bà các bà, các bà đã muốn thụ thai cái có thật bằng cả thân lẫn hồn. Các bà đã sinh ra cái có thật. Các bà đã cho cái có thật bú ở ngực mình.”

Ong Chúa đọc nhiều so với một người đàn bà, và không dễ chịu thua lập luận của tôi. “Nếu đúng thế,” bà bẻ lại, “thì đàn ông đã chẳng thấy đàn bà hấp dẫn.”

“Đàn bà nhận ra chỗ nguy,” tôi đáp. “Họ biết đàn ông yêu ảo tưởng, nên họ cấp cho đủ liều bằng cách mượn ngay câu chữ của chính đàn ông. Họ biết rằng gã đàn ông bợm rượu quý cơn say hơn quý miếng ăn, nên họ tìm cách tự biến mình thành một thứ men. Thật ra, nếu không phải vì đàn ông thì đàn bà chẳng cần đến một sự giả vờ nào cả.”

“Vậy thì tại sao ông lại nhọc công phá cái ảo tưởng ấy?”

“Vì tự do. Tôi muốn đất nước được tự do. Tôi muốn những quan hệ giữa người với người được tự do.”

III

Tôi biết đánh thức đột ngột một kẻ mộng du là điều không an toàn. Nhưng bản tính tôi nóng nảy quá, lối đi khập khiễng chẳng hợp với tôi. Tôi biết hôm ấy mình đã quá bạo. Tôi biết cú sốc đầu tiên của những ý nghĩ như thế thường gần như không chịu nổi. Nhưng với đàn bà thì bao giờ cũng là sự táo tợn mới thắng.

Đúng lúc chúng tôi đang tiến triển đẹp đẽ thì ai bước vào nếu không phải ông thầy già của Nikhil, Chandranath Babu. Thế gian này hẳn đã chẳng đến nỗi tệ để mà sống, nếu không có mấy ông giáo làm người ta chán mà muốn bỏ đi. Cái giống Nikhil thì muốn giữ cho thế gian mãi mãi là một cái trường học. Cái hiện thân của trường học ấy chiều hôm đó xuất hiện đúng vào khoảnh khắc quyết định.

Trong một xó nào đó của trái tim, ai cũng còn là học trò cả, và ngay cả tôi cũng thấy hơi bị chấn chỉnh. Còn Ong Chúa tội nghiệp thì lập tức ngồi vào chỗ của mình một cách trang nghiêm, như cô học trò đứng đầu lớp ngồi bàn đầu. Bà bỗng dưng như sực nhớ ra rằng mình phải đối mặt với một kỳ thi.

Có những người giống hệt mấy anh bẻ ghi vĩnh cửu nằm rình bên đường ray, để bẻ đoàn tàu ý nghĩ của ta từ đường này sang đường khác.

Chandranath Babu vừa vào đã tìm ngay một cái cớ để rút lui, lúng búng: “Xin lỗi, tôi…”

Ông chưa nói dứt thì Ong Chúa đã bước tới cúi chào ông thật sâu mà nói: “Xin thầy đừng bỏ chúng con. Thầy ngồi chơi được không ạ?” Trông bà như một người sắp chết đuối bám lấy ông làm chỗ vịn — đồ nhát gan bé nhỏ!

Nhưng cũng có thể tôi lầm. Rất có thể trong đó có một chút mẹo đàn bà. Có lẽ bà muốn nâng giá mình lên trong mắt tôi. Có lẽ bà đang nói thẳng vào mặt tôi rằng: “Xin ông đừng có lúc nào tưởng rằng tôi đã hoàn toàn bị ông chinh phục. Lòng kính trọng của tôi với Chandranath Babu còn lớn hơn thế.”

Thì cứ việc mà kính trọng cho thoả! Mấy ông giáo sống nhờ thứ ấy. Nhưng tôi chẳng phải một trong số họ, nên lời khen suông kia với tôi vô dụng.

Chandranath Babu bắt đầu nói về _Swadeshi_. Tôi nghĩ cứ để ông độc thoại cho xong. Không gì bằng để một ông già nói cho hết hơi. Nó khiến ông tưởng mình đang lên dây cót cho cả thế gian, mà quên bẵng mất thế gian thật nằm xa cái lưỡi đang ngoáy của ông đến chừng nào.

Nhưng đến kẻ thù ghét tôi nhất cũng chẳng dám bảo tôi kiên nhẫn. Và khi Chandranath Babu nói tiếp: “Nếu ta trông gặt quả ở nơi ta chưa gieo hạt, thì ta…” tôi đành phải ngắt lời ông.

“Ai cần quả?” tôi kêu lên. “Chúng tôi theo Tác giả cuốn Gita, người dạy rằng chúng ta chỉ dính dáng đến việc làm, chứ không dính dáng đến quả của việc mình làm.”

“Vậy thì ông muốn gì?” Chandranath Babu hỏi.

“Gai!” tôi kêu lên, “thứ chẳng tốn gì để trồng.”

“Gai không chỉ cản trở người khác,” ông đáp. “Chúng có cái lối đâm vào chính bàn chân mình.”

“Nói thế thì hợp với vở tập viết,” tôi vặn lại. “Nhưng cái có thật là chúng tôi đang cháy ruột đây. Bây giờ chúng tôi chỉ việc trồng gai cho gan bàn chân kẻ khác; về sau khi chúng đâm vào ta thì ta sẽ có thì giờ mà ăn năn. Nhưng việc gì phải sợ ngay cả điều đó? Rốt cuộc khi phải chết thì tha hồ mà nguội. Còn đang cháy thì cứ để chúng tôi sôi lên sùng sục.”

Chandranath Babu mỉm cười. “Cứ sôi cho thoả,” ông nói, “nhưng đừng nhầm nó với công việc, hay với anh hùng. Những dân tộc đã tiến lên được trên đời này là nhờ hành động, chứ không nhờ sùng sục. Những kẻ xưa nay vẫn sợ hãi công việc, đến khi giật mình tỉnh ra trước cảnh khốn cùng của mình, thì trông vào những lối tắt và làm quấy quá để tự cứu.”

Tôi đang xắn tay áo để giáng một câu đáp nghiền nát thì Nikhil quay vào. Chandranath Babu đứng dậy, nhìn về phía Ong Chúa mà nói: “Thầy xin phép về, mẹ bé nhỏ của ta, thầy có chút việc.”

Khi ông đi khỏi, tôi giơ cuốn sách trên tay cho Nikhil xem. “Tôi vừa kể cho Ong Chúa nghe về cuốn này,” tôi nói.

Chín mươi chín phần trăm người ta phải lừa bằng dối trá, nhưng cái gã học trò muôn thuở của ông giáo này thì lừa bằng sự thật lại dễ hơn. Cách gạt hắn tốt nhất là gạt công khai. Cho nên, khi đùa với hắn, lối đơn giản nhất là ngửa hết bài trên bàn.

Nikhil đọc nhan đề trên bìa, nhưng chẳng nói gì. “Mấy tay viết này,” tôi nói tiếp, “đang bận rộn với cây chổi của họ, quét đi lớp bụi mỹ từ mà loài người đã phủ lên cái thế giới này của chúng ta. Nên như tôi vừa nói, tôi ước gì anh đọc nó.”

“Tôi đọc rồi,” Nikhil nói.

“Thế anh thấy sao?”

“Rất tốt cho những ai thật lòng chịu nghĩ, nhưng là thuốc độc cho những ai trốn việc nghĩ.”

“Anh nói vậy nghĩa là sao?”

“Những kẻ rao giảng ‘Quyền Sở Hữu Bình Đẳng’ thì không nên là kẻ trộm. Bởi nếu họ là kẻ trộm thì họ đang rao giảng điều dối. Khi đam mê đang lên ngôi, loại sách này không được hiểu cho đúng.”

“Đam mê,” tôi đáp, “là ngọn đèn đường dẫn lối cho ta. Bảo nó không thật thì cũng vô vọng như trông mong nhìn rõ hơn bằng cách móc bỏ đôi mắt trời cho.”

Nikhil thấy rõ là đang bị kích động. “Tôi chấp nhận sự thật của đam mê,” hắn nói, “chỉ khi tôi thừa nhận sự thật của sự tiết chế. Ép cái ta muốn nhìn dí sát vào mắt thì chỉ làm hỏng mắt: ta chẳng thấy gì. Sự hung bạo của đam mê cũng thế, nó không chừa lấy một khoảng cách nào giữa tâm trí và đối tượng của nó, nên rốt cuộc nó tự phá hỏng mục đích của chính mình.”

“Đó chẳng qua là cái thói làm dáng bằng trí óc của anh,” tôi đáp, “khiến anh nuông chiều thứ tế nhị đạo đức mà làm ngơ mặt hoang dã của sự thật. Cái đó chỉ giúp anh phủ sương mù lên mọi thứ, nên anh chẳng làm nổi việc của mình với chút sức mạnh nào.”

“Việc nhét sức mạnh vào,” Nikhil sốt ruột nói, “ở chỗ sức mạnh không có việc gì làm, thì chẳng giúp gì cho công việc của anh… Nhưng sao chúng ta lại cãi nhau về những chuyện này? Những cuộc cãi vã vô ích chỉ phủi mất lớp phấn tươi trên sự thật.”

Tôi muốn Ong Chúa tham gia vào cuộc bàn cãi, nhưng đến lúc ấy bà vẫn chưa nói một lời. Chẳng lẽ tôi đã gây cho bà một cú sốc quá thô bạo, để bà ngập trong hoài nghi mà muốn học lại bài của mình từ ông giáo? Dù sao, một trận rung lắc cho ra trò là điều thiết yếu. Người ta phải bắt đầu bằng việc nhận ra rằng những thứ tưởng là không thể lay chuyển thì vẫn lay chuyển được.

“Tôi mừng là đã nói chuyện này với anh,” tôi bảo Nikhil, “vì tôi đang định cho Ong Chúa mượn cuốn sách này để đọc.”

“Hại gì đâu?” Nikhil nói. “Nếu tôi đọc được cuốn sách ấy thì sao Bimala lại không? Tất cả điều tôi muốn nói là ở châu Âu người ta nhìn mọi thứ từ quan điểm khoa học. Nhưng con người không chỉ là sinh lý học, cũng không phải sinh học, cũng không phải tâm lý học, cũng chẳng phải xã hội học. Vì Chúa, anh đừng quên điều ấy. Con người lớn hơn vô cùng cái khoa học tự nhiên về chính hắn. Anh cười tôi, gọi tôi là học trò của ông giáo, nhưng chính anh mới là thế, chứ không phải tôi. Anh muốn tìm sự thật về con người từ mấy ông thầy khoa học của anh, chứ không phải từ cái bên trong chính mình.”

“Nhưng việc gì phải kích động thế?” tôi giễu.

“Vì tôi thấy anh quyết chí lăng nhục con người và làm cho hắn nhỏ đi.”

“Trên đời này anh thấy tất cả những cái đó ở chỗ nào?”

“Trong không khí, trong những cảm xúc bị xúc phạm của tôi. Anh cứ nhè cái lớn lao, cái vô vị lợi, cái đẹp đẽ trong con người mà đâm.”

“Cái ý điên rồ này của anh ở đâu ra vậy?”

Nikhil bỗng đứng dậy. “Tôi nói thẳng với anh, Sandip ạ,” hắn nói, “con người có thể bị đâm đến chết, nhưng hắn sẽ không chết. Chính vì lẽ đó mà tôi sẵn sàng chịu đựng tất cả, biết rõ tất cả, mắt mở to.”

Nói xong hắn vội vã rời khỏi phòng.

Tôi đang trân trân nhìn theo cái bóng lui ra của hắn thì tiếng một cuốn sách rơi từ trên bàn xuống khiến tôi quay lại, và thấy Ong Chúa đang theo sau hắn bằng những bước nhanh và bối rối, vòng ra xa để khỏi đi quá sát tôi.

Cái gã Nikhil ấy, một sinh vật kỳ khôi! Hắn cảm được mối nguy đang đe doạ mái nhà hắn, vậy mà sao hắn không tống cổ tôi đi? Tôi biết, hắn đang chờ Bimal ra hiệu cho hắn. Nếu Bimal bảo hắn rằng cuộc lứa đôi của họ là một sự khập khiễng, thì hắn sẽ cúi đầu mà thừa nhận rằng có lẽ đó đã là một sai lầm! Hắn không đủ sức mạnh tinh thần để hiểu rằng thừa nhận một sai lầm chính là sai lầm lớn nhất trong mọi sai lầm. Hắn là một ví dụ điển hình cho việc các ý tưởng sinh ra sự yếu đuối như thế nào. Tôi chưa thấy ai giống hắn — một sản phẩm dở hơi đến thế của tự nhiên! Hắn khó lòng làm nổi một nhân vật trong tiểu thuyết hay kịch, nói gì đến ngoài đời thật.

Còn Ong Chúa? Tôi e rằng đời sống trong mơ của bà từ hôm nay đã chấm dứt. Rốt cuộc bà đã hiểu ra bản chất của dòng nước đang cuốn mình đi. Giờ bà phải hoặc tiến hoặc lui, với đôi mắt mở. Nhiều phần là bà sẽ tiến một bước, rồi lại lui một bước. Nhưng điều đó chẳng làm tôi bận lòng. Khi người ta đang cháy, chính cái chạy tới chạy lui ấy lại làm ngọn lửa dữ hơn. Nỗi sợ bà vừa nếm sẽ chỉ quạt cho đam mê của bà bùng lên.

Có lẽ tốt hơn tôi đừng nói nhiều với bà, mà chỉ chọn cho bà đọc vài cuốn sách hiện đại. Cứ để bà dần dần đi tới xác tín rằng thừa nhận và tôn trọng đam mê như cái thực tại tối cao mới là hiện đại — không thẹn vì nó, không tôn vinh sự tiết chế. Nếu bà tìm được chỗ trú trong một chữ nào đó như chữ “hiện đại”, bà sẽ tìm được sức mạnh.

Dù thế nào đi nữa, tôi cũng phải theo vở này cho đến hết Màn Năm. Đáng tiếc là tôi không thể tự hào rằng mình chỉ là một khán giả ngồi trong lô hoàng gia, thỉnh thoảng vỗ tay. Có một cái gì đó vặn trong tim tôi, một cơn nhói trong từng dây thần kinh. Khi tôi đã tắt đèn và nằm trên giường, những cái chạm nhỏ, những cái liếc nhỏ, những lời nói nhỏ cứ chờn vờn mà lấp đầy bóng tối. Sáng ra khi thức dậy, tôi rùng mình vì những trông đợi rạo rực, máu tôi như chảy trong người theo nhịp một khúc nhạc…

Trên bàn có một khung ảnh đôi, ảnh Ong Chúa đặt bên cạnh ảnh Nikhil. Tôi đã lấy ảnh của bà ra. Hôm qua tôi chỉ cho Ong Chúa thấy ô trống mà nói: “Trộm cắp chỉ trở nên cần thiết vì có thói bủn xỉn, nên tội của nó phải chia đôi giữa kẻ bủn xỉn và kẻ trộm. Bà không nghĩ thế sao?”

“Tấm ấy không đẹp,” Ong Chúa chỉ nhận xét thế, kèm một nụ cười nhỏ.

“Biết làm sao được?” tôi nói. “Một tấm chân dung thì không thể hơn một tấm chân dung. Tôi đành bằng lòng với nó, nó thế nào thì thế.”

Ong Chúa cầm một cuốn sách lên rồi bắt đầu lật trang. “Nếu bà bực,” tôi nói tiếp, “thì tôi phải xoay xở lấp cái chỗ trống ấy vậy.”

Hôm nay tôi đã lấp nó rồi. Tấm ảnh này của tôi chụp hồi tôi còn trẻ măng. Khi ấy mặt tôi còn tươi hơn, mà trí tôi cũng vậy. Khi ấy tôi vẫn còn ấp ủ ít nhiều ảo tưởng về thế giới này và thế giới bên kia. Đức tin lừa dối con người, nhưng nó có một cái hay lớn: nó khiến gương mặt người ta rạng lên.

Chân dung tôi bây giờ nằm cạnh chân dung Nikhil, bởi chẳng phải hai chúng tôi là bạn cũ đó sao?