Ngôi nhà và thế giới — Chương 4

Chương 4 / 12 · Bài review Ngôi nhà và thế giới

Chuyện của Nikhil · III

TÔI chưa bao giờ để ý đến mình. Nhưng dạo này tôi thường thử nhìn từ bên ngoài vào — nhìn tôi như Bimal nhìn tôi. Cái thói coi mọi sự quá nghiêm trọng của tôi làm nên một bức tranh trang nghiêm đến ảm đạm làm sao!

Chắc chắn cười cợt cho thế gian trôi qua thì hơn là dìm nó trong nước mắt. Thật ra, thế gian vẫn chạy đúng theo lối ấy. Chúng ta thấy ngon miệng và ngủ yên chỉ vì chúng ta gạt được sang bên, như những cái bóng rỗng, biết bao nỗi buồn rải khắp nơi, cả trong nhà lẫn ngoài đời. Nếu chúng ta coi chúng là thật, dù chỉ một khoảnh khắc, thì miếng ăn và giấc ngủ của chúng ta còn đâu?

Nhưng tôi không gạt nổi chính mình đi như một trong những cái bóng ấy, và thế là gánh nặng nỗi buồn của tôi cứ đè mãi lên trái tim thế giới của tôi.

Sao không đứng tách ra trên đại lộ của vũ trụ, mà cảm thấy mình là một phần của cái toàn thể? Giữa đám đông nhân loại mênh mông trải dài hàng bao thời đại, Bimal là gì đối với anh? Vợ anh ư? Vợ là gì? Một bong bóng mang một cái tên, được thổi phồng lên bằng chính hơi thở anh, được canh giữ kỹ càng đêm ngày, vậy mà sẵn sàng vỡ tan chỉ vì một mũi kim châm từ bên ngoài.

Vợ tôi — và thế là, hẳn nhiên, của riêng tôi! Nếu nàng nói: “Không, tôi là chính tôi” — chẳng lẽ tôi đáp: “Sao lại thế được? Chẳng phải em là của anh sao?”

“Vợ tôi” — cái đó có thành một lý lẽ không, nói gì đến sự thật? Người ta có thể giam trọn một con người trong cái tên ấy được chăng?

Vợ tôi! — Chẳng phải trong cái thế giới nhỏ bé này tôi đã nâng niu tất cả những gì trong sạch nhất và ngọt ngào nhất đời mình, không một khoảnh khắc nào để nó rơi từ ngực mình xuống bụi đất? Có hương thờ nào, có nhạc đam mê nào, có hoa của mùa xuân và mùa thu nào của tôi mà tôi đã không dâng lên trước điện thờ ấy? Nếu như một chiếc thuyền giấy đồ chơi, nàng bị cuốn đi vào dòng nước bùn của rãnh cống — chẳng lẽ tôi cũng không…?

Lại đấy rồi, cái vẻ trang nghiêm không sao chữa nổi của tôi! Sao lại “bùn”? Những cái tên “rãnh cống” gọi ra trong một cơn ghen thì có đổi được sự thật của thế gian đâu. Nếu Bimal không phải của tôi, thì nàng không phải; và chẳng nổi nóng, chẳng bứt rứt, chẳng lý sự nào chứng minh nổi rằng nàng là của tôi. Nếu tim tôi vỡ — thì cứ để nó vỡ! Điều đó không làm thế giới phá sản — mà cũng chẳng làm tôi phá sản; bởi con người lớn hơn rất nhiều những thứ hắn mất đi trong đời này. Ngay cả đại dương nước mắt cũng có bờ bên kia, chứ không thì đã chẳng ai từng khóc.

Nhưng rồi còn phải tính đến Xã Hội nữa… thì cứ để Xã Hội tính! Nếu tôi khóc thì tôi khóc cho tôi, chứ không cho Xã Hội. Nếu Bimal bảo nàng không phải của tôi, thì tôi cần gì bận tâm người vợ trước mặt Xã Hội của tôi đang ở đâu?

Đau khổ thì nhất định phải có; nhưng tôi phải tự cứu mình, bằng mọi cách trong khả năng, khỏi một hình thức tự hành hạ: tôi không bao giờ được nghĩ rằng đời mình mất giá trị chỉ vì bị hắt hủi. Trọn giá trị đời tôi không phải chỉ để mua lấy cái thế giới gia đình chật hẹp của tôi; cuộc buôn bán lớn của nó không đứng hay đổ theo một thành bại cỏn con nào trong việc đổi chác những vui buồn riêng tư của tôi.

Đã đến lúc tôi phải cởi khỏi Bimala tất cả những món trang sức lý tưởng mà tôi đã khoác lên nàng. Chính vì sự yếu đuối của tôi mà tôi đã đắm mình vào lối thờ ngẫu tượng ấy. Tôi đã tham quá. Tôi đã tạo ra một thiên thần Bimala, cốt để phóng đại sự hưởng thụ của chính mình. Nhưng Bimala là như nàng vốn là. Trông mong nàng đóng vai một thiên thần cho tôi vui thì thật vô lý. Đấng Tạo Hoá chẳng có nghĩa vụ nào phải cấp thiên thần cho tôi, chỉ vì tôi thèm khát một sự hoàn hảo tưởng tượng.

Tôi phải thừa nhận rằng mình chẳng qua là một sự tình cờ trong đời Bimala. Bản tính nàng, có lẽ, chỉ tìm được sự hợp nhất thật sự với một người như Sandip. Đồng thời, tôi không được vì khiêm nhường giả dối mà chấp nhận việc mình bị chối bỏ như một điều xứng đáng. Sandip chắc chắn có những phẩm chất hấp dẫn, chúng cũng từng cuốn hút cả tôi; nhưng dù vậy, tôi tin chắc, hắn không phải người lớn hơn tôi. Nếu hôm nay vòng nguyệt quế rơi vào tay hắn, còn tôi bị bỏ qua, thì kẻ trao vòng nguyệt quế sẽ bị gọi ra trước toà.

Tôi nói điều này chẳng phải để khoe khoang. Chính sự cùng đường đã dồn tôi tới nước ấy: để tự giữ mình khỏi cảnh hoang tàn hoàn toàn, tôi phải nhận ra tất cả giá trị mà mình thật sự có. Bởi vậy, qua trải nghiệm khủng khiếp của đau khổ, hãy để niềm vui của sự giải thoát đến với tôi — giải thoát khỏi sự ngờ vực chính mình.

Tôi đã đi tới chỗ phân biệt được cái gì thật sự có trong mình với cái mà tôi đã dại dột tưởng tượng là có. Sổ lỗ lãi đã kết toán xong, và cái còn lại chính là tôi — không phải một cái tôi tàn phế, khoác giẻ rách, không phải một cái tôi bệnh hoạn phải nuôi bằng cháo, mà là một tinh thần đã đi qua điều tồi tệ nhất, và đã sống sót.

Vừa nãy thầy tôi đi ngang qua phòng, đặt tay lên vai tôi mà nói: “Đi ngủ đi, Nikhil, đêm khuya lắm rồi.”

Sự thật là với tôi giờ đây thật khó mà đi ngủ trước khuya — trước khi Bimal ngủ say. Ban ngày chúng tôi gặp nhau, thậm chí trò chuyện, nhưng biết nói gì khi chỉ có hai đứa với nhau, trong cái tĩnh mịch của đêm? — tôi thấy thẹn đến thế, cả trong trí lẫn trong thân.

“Còn thầy, sao thầy chưa nghỉ ạ?” tôi hỏi lại. Thầy tôi mỉm cười nhè nhẹ, vừa đi vừa nói: “Những ngày ngủ của ta qua rồi. Nay ta đã đến tuổi thức.”

Tôi viết đến đây, đang định đứng dậy để đi ngủ, thì qua khung cửa sổ trước mặt, tôi thấy tấm màn mây tháng Bảy nặng nề bỗng hé ra một chút, và một ngôi sao lớn chiếu qua. Nó dường như bảo tôi: “Những mối dây trong xứ mộng được kết, rồi những mối dây trong xứ mộng lại đứt, nhưng ta thì ở đây mãi mãi — ngọn đèn vĩnh cửu của đêm tân hôn.”

Bỗng chốc lòng tôi tràn ngập ý nghĩ rằng Tình Yêu Vĩnh Cửu của tôi vẫn kiên định chờ tôi suốt các thời đại, sau tấm màn của những vật chất. Qua bao kiếp sống, trong bao tấm gương, tôi đã thấy hình bóng nàng — những tấm gương vỡ, những tấm gương cong, những tấm gương bụi. Hễ khi nào tôi tìm cách biến tấm gương thành của riêng mình mà nhốt nó vào hộp, thì tôi lại mất dấu hình bóng ấy. Nhưng thì đã sao. Tôi có dính dáng gì đến tấm gương, hay ngay cả đến hình bóng?

Người yêu dấu của tôi, nụ cười em sẽ chẳng bao giờ tàn, và mỗi rạng đông vệt son trên trán em sẽ lại hiện ra tươi mới cho tôi!

“Cái trò dỗ dành trẻ con để tự lừa mình,” một con quỷ nào đó từ trong xó tối giễu — “thứ bi bô ngớ ngẩn để dỗ trẻ nín!”

Có thể là thế. Nhưng hàng triệu triệu đứa trẻ, với hàng triệu tiếng khóc của chúng, thì phải dỗ cho nín. Chẳng lẽ cả cái đám đông ấy được dỗ nín chỉ bằng một lời dối trá? Không, Tình Yêu Vĩnh Cửu của tôi không thể lừa tôi, bởi nàng là thật!

Nàng là thật; chính vì thế mà tôi đã thấy nàng và sẽ còn thấy nàng nhiều lần nữa, ngay cả trong những lầm lỡ của tôi, ngay cả xuyên qua màn nước mắt dày nhất. Tôi đã thấy nàng rồi lại mất nàng giữa đám đông nơi chợ đời, rồi lại tìm thấy nàng; và tôi sẽ tìm thấy nàng một lần nữa khi tôi đã thoát ra qua cái lỗ hổng của cái chết.

Ôi kẻ tàn nhẫn, đừng đùa với tôi nữa! Nếu tôi đã không lần được dấu chân em trên đường, không lần được mùi hương tóc em còn vương trong không khí, thì xin đừng bắt tôi khóc vì điều đó mãi mãi. Ngôi sao đã vén màn bảo tôi đừng sợ. Cái gì vĩnh cửu thì bao giờ cũng phải còn đó.

Giờ để tôi đi ngắm Bimala của tôi. Hẳn nàng đã duỗi tấm thân mỏi mệt trên giường, rã rời sau những vật vã, và đang ngủ. Tôi sẽ đặt một nụ hôn lên trán nàng mà không làm nàng thức giấc — đó sẽ là lễ dâng hoa của sự thờ phụng nơi tôi. Tôi tin rằng sau khi chết tôi có thể quên hết mọi thứ — mọi lầm lỡ, mọi khổ đau của mình — nhưng một chút rung động nào đó của ký ức về nụ hôn ấy sẽ còn lại; bởi vòng hoa đang được kết từ những nụ hôn của bao lần sinh nối tiếp nhau là để đội lên đầu Người Yêu Dấu Vĩnh Cửu.

Khi tiếng cồng canh gõ báo hai giờ, chị dâu tôi bước vào phòng. “Chú làm gì thế này?” chị kêu lên. “Thương lấy thân, đi ngủ đi mà đừng lo nghĩ nữa. Chị không chịu nổi khi nhìn cái bóng đau đớn khủng khiếp ấy trên mặt chú.” Nước mắt trào lên và tràn ra khi chị van tôi như vậy.

Tôi chẳng thốt nổi một lời, chỉ cúi nhận bụi dưới chân chị rồi đi ngủ.

Chuyện của Bimala · VII

Ban đầu tôi chẳng ngờ gì, chẳng sợ gì; tôi chỉ đơn giản thấy mình được hiến dâng cho đất nước. Trong sự đầu hàng không tra vấn ấy có một niềm vui lớn lao biết bao. Quả thật tôi đã nhận ra rằng, trong sự tự huỷ triệt để, con người có thể tìm thấy niềm phúc lạc tối cao.

Biết đâu cơn cuồng ấy của tôi đã có thể tự nó lụi đi một cách dần dà và tự nhiên. Nhưng Sandip Babu không chịu để yên như thế, hắn nhất quyết phơi mình ra. Giọng nói hắn thân mật đến mức như một cái chạm tay, mỗi cái nhìn đều quỳ xuống mà van xin. Và xuyên qua tất cả những cái đó cháy lên một đam mê hung bạo đến mức như muốn nhổ bật tôi lên khỏi gốc rễ, mà lôi tôi đi bằng tóc.

Tôi sẽ không né tránh sự thật. Cái ham muốn tan hoang ấy kéo tôi cả ngày lẫn đêm. Nó quyến rũ đến tuyệt vọng — việc tự tàn phá chính mình này. Sao mà nhục nhã, sao mà khủng khiếp, vậy mà sao ngọt ngào! Rồi lại còn nỗi tò mò áp đảo của tôi, dường như không có giới hạn nào. Cái con người mà tôi chỉ biết chút ít, người chắc chắn chẳng bao giờ có thể là của tôi, người mà tuổi trẻ bùng lên mãnh liệt ở cả trăm điểm lửa — ôi, cái bí ẩn của những đam mê sục sôi nơi hắn, mênh mông đến thế, cuộn trào đến thế!

Tôi bắt đầu bằng một cảm giác thờ phụng, nhưng cái đó chóng qua. Tôi thôi cả việc kính trọng Sandip; trái lại, tôi bắt đầu khinh hắn. Vậy mà cây đàn bằng máu thịt này của tôi, được đẽo gọt bằng cảm xúc và mộng tưởng của tôi, lại tìm được ở hắn một tay đàn bậc thầy. Dù tôi có rụt lại trước cái chạm của hắn, thậm chí đến ghét cả cây đàn, thì tiếng nhạc vẫn cứ được gọi lên như thường.

Tôi phải thú nhận rằng trong tôi có một cái gì đó… biết nói sao đây?… một cái gì đó khiến tôi ước phải chi mình đã chết đi được!

Chandranath Babu, khi rảnh, vẫn đến chỗ tôi. Ông có khả năng nâng trí tôi lên một chỗ cao mà từ đó chỉ trong một khoảnh khắc tôi thấy được đường ranh đời mình trải rộng ra mọi phía, và nhận ra rằng những vạch mà tôi coi là giới hạn của mình chẳng qua chỉ là tưởng tượng.

Nhưng tất cả những cái đó ích gì? Tôi có thật sự muốn được giải thoát không? Cứ để khổ đau đến với nhà tôi; cứ để cái tốt nhất trong tôi teo lại và đen đi; nhưng xin cơn mê muội này đừng rời tôi — lời cầu nguyện của tôi dường như là như thế.

Ngày trước, khi chưa lấy chồng, mỗi lần tôi thấy một người anh rể nay đã mất, say rượu điên cuồng — trong cơn cuồng thì đánh vợ, rồi nức nở khóc rống lên trong nỗi ăn năn ướt nhoèn, thề sẽ chẳng bao giờ đụng đến rượu nữa, vậy mà ngay chiều hôm ấy lại ngồi xuống uống, uống mãi — thì lòng tôi đầy ghê tởm. Nhưng cơn say của tôi hôm nay còn đáng sợ hơn. Thứ ấy chẳng phải đi kiếm hay đi rót: nó vọt lên ngay trong mạch máu tôi, và tôi chẳng biết cách nào chống lại.

Chuyện này sẽ còn kéo dài đến hết đời tôi sao? Thỉnh thoảng tôi giật mình mà nhìn lại chính mình, và nghĩ đời mình là một cơn ác mộng, rồi sẽ đột nhiên tan biến cùng tất cả cái giả dối của nó. Nó đã trở nên khập khiễng đến phát khiếp. Nó chẳng còn dính dáng gì với quá khứ của nó. Nó là cái gì, làm sao nó đến nông nỗi này, tôi không sao hiểu nổi.

Một hôm chị dâu tôi nhận xét kèm một tiếng cười cứa vào da: “Bà Bé nhà ta hiếu khách tuyệt vời làm sao! Khách của bà nhất định không chịu nhúc nhích. Thời chúng tôi cũng có khách chứ; nhưng họ chẳng được chăm chút hào phóng đến thế — chúng tôi cứ dại dột mà mải mê với chồng mình. Chú Nikhil tội nghiệp đang chịu phạt vì sinh ra hiện đại quá. Đáng lẽ chú ấy phải đến với tư cách khách thì mới được ở lại. Bây giờ xem chừng đã đến lúc chú ấy phải cuốn gói… Ôi con quỷ nhỏ, chẳng lẽ mắt em chưa lần nào tình cờ rơi xuống gương mặt quằn quại của chú ấy à?”

Lời mỉa ấy không chạm tới tôi; bởi tôi biết đám đàn bà kia không đủ sức hiểu bản chất của cái cớ khiến tôi tận tuỵ. Khi ấy tôi đang khoác bộ giáp che chở của niềm hoan hỉ hy sinh, mà xuyên qua đó những mũi tên như thế chẳng đủ sức chạm tới tôi hay làm tôi thẹn.

VIII

Đã một thời gian mọi chuyện bàn về chính nghĩa của đất nước bị bỏ rơi. Chuyện trò của chúng tôi dạo này đầy những vấn đề tính dục hiện đại và đủ thứ khác, rắc thêm chút thơ, cả thơ Vaishnava cổ lẫn thơ Anh hiện đại, kèm theo một giai điệu chạy ngầm ở bè trầm, thứ giai điệu tôi chưa từng nghe trong đời, thứ mà với tôi nghe như âm sắc đàn ông thật sự, âm sắc của quyền lực.

Đã đến ngày mọi tấm che đều rơi mất. Chẳng còn cả cái cớ giả vờ nào để Sandip Babu nấn ná lại, hay để tôi thỉnh thoảng lại chuyện trò riêng với hắn. Tôi thấy bực bội tột cùng với chính mình, với chị dâu tôi, với lề thói thế gian, và tôi thề sẽ chẳng bao giờ ra khu ngoài nữa, có chết cũng không.

Suốt hai ngày tròn tôi không bước chân ra. Bấy giờ, lần đầu tiên, tôi phát hiện ra mình đã đi xa đến đâu. Đời tôi thấy nhạt thếch. Cái gì tôi chạm vào cũng muốn hất đi. Tôi thấy mình đang chờ đợi — từ đỉnh đầu đến đầu ngón chân — chờ đợi một cái gì đó, một ai đó; máu tôi cứ râm ran vì một trông đợi nào đó.

Tôi thử vùi mình vào việc phụ. Sàn buồng ngủ đã đủ sạch nhưng tôi bắt cọ lại một lượt nữa ngay trước mắt mình. Đồ đạc trong tủ đang xếp theo một trật tự; tôi lôi hết ra rồi xếp lại theo một lối khác. Chiều hôm ấy tôi chẳng có cả thì giờ mà bới tóc; tôi vội búi tạm một búi lỏng rồi đi làm phiền mọi người, xăng xái quanh nhà kho. Kho có vẻ hao, hẳn dạo này có kẻ ăn bớt, nhưng tôi không đủ can đảm bắt lỗi một người cụ thể nào — vì biết đâu trong đầu ai đó lại chẳng thoáng ý nghĩ: “Thế bấy lâu nay mắt bà để đâu!”

Nói gọn lại, hôm ấy tôi cư xử như người bị ma nhập. Hôm sau tôi thử đọc chút gì đó. Đọc gì thì tôi chẳng nhớ, nhưng sau một hồi đãng trí tôi phát hiện mình đã lang thang, sách cầm trên tay, dọc hành lang dẫn ra khu ngoài, và đang đứng bên một khung cửa sổ nhìn ra dãy hiên chạy dọc hàng phòng ở phía bên kia sân. Tôi cảm thấy một trong những căn phòng ấy đã dạt sang một bờ khác, và chuyến đò đã ngừng chạy. Tôi thấy mình như hồn ma của chính tôi hai ngày trước, bị buộc phải ở nguyên chỗ cũ mà lại không thật sự có mặt ở đó, cứ trân trân nhìn ra ngoài mãi mãi.

Đang đứng đó thì tôi thấy Sandip từ phòng hắn bước ra hiên, tờ báo trên tay. Tôi thấy hắn có vẻ bối rối lạ thường. Cái sân, những chấn song trước mặt, dường như chọc cho hắn nổi giận. Hắn ném tờ báo đi bằng một cử chỉ như muốn xé toạc khoảng không trước mặt.

Tôi thấy mình không giữ nổi lời thề nữa. Tôi vừa toan đi về phía phòng khách thì thấy chị dâu tôi đứng ngay sau lưng. “Trời đất, thế này thì nhất!” chị buột ra, rồi lướt đi. Tôi không ra khu ngoài được nữa.

Sáng hôm sau con hầu vào gọi: “Thưa Bà Rani, muộn giờ phát kho rồi ạ,” tôi ném chùm chìa khoá cho nó mà bảo: “Nói Harimati lo đi,” rồi ngồi bên cửa sổ tiếp tục mấy đường thêu theo mẫu Anh đang làm dở.

Rồi một người hầu mang thư đến. “Của Sandip Babu,” hắn nói. Táo tợn không bờ bến! Người đưa thư hẳn đã nghĩ gì? Ngực tôi run lên khi bóc phong bì. Trong thư không có lời thưa gửi, chỉ mấy chữ: _Một việc gấp — liên quan đến Chính Nghĩa. Sandip_.

Tôi quăng đồ thêu sang bên. Chỉ trong một khoảnh khắc tôi đã đứng dậy, đưa tay vuốt lại mái tóc trước gương. Tôi giữ nguyên tấm _sari_ đang mặc, chỉ thay áo cánh — bởi có một chiếc áo cánh của tôi gắn với những kỷ niệm.

Tôi phải đi qua một dãy hiên, nơi chị dâu tôi vẫn ngồi bổ cau vào buổi sáng. Tôi nhất định không để mình thấy ngượng. “Đi đâu đấy, Bà Bé?” chị hỏi với.

“Ra phòng khách ngoài.”

“Sớm thế! Suất diễn ban ngày hả?”

Và khi tôi đi tiếp chẳng đáp thêm lời nào, chị ngân nga theo sau tôi một khúc hát cợt nhả.

IX

Khi tôi sắp bước vào phòng khách, tôi thấy Sandip đang đắm mình trong một cuốn catalogue tranh có minh hoạ của Viện Hàn lâm Anh, lưng quay ra cửa. Hắn tự cho mình là một chuyên gia lớn về Nghệ thuật.

Một hôm chồng tôi nói với hắn: “Nếu giới hoạ sĩ có cần thầy thì họ chẳng bao giờ thiếu, chừng nào còn có anh.” Chồng tôi vốn không có thói nói cạnh khoé, nhưng gần đây anh đã đổi và chẳng tha Sandip bao giờ.

“Cái gì khiến anh cho rằng nghệ sĩ không cần thầy?” Sandip vặn lại.

“Nghệ thuật là một sự sáng tạo,” chồng tôi đáp. “Nên chúng ta hãy khiêm nhường bằng lòng nhận bài học về Nghệ thuật từ chính tác phẩm của người nghệ sĩ.”

Sandip cười cái khiêm nhường ấy mà nói: “Anh tưởng nhu mì là một thứ vốn liếng càng dùng càng sinh sôi. Tôi thì tin chắc rằng những kẻ thiếu lòng kiêu hãnh chỉ trôi nổi như đám lau sậy nước không có rễ cắm vào đất.”

Trí tôi vẫn đầy mâu thuẫn mỗi khi họ nói chuyện như thế. Một mặt tôi nóng lòng mong chồng tôi thắng trong tranh luận và lòng kiêu hãnh của Sandip bị bẽ mặt. Vậy mà mặt khác, chính cái kiêu hãnh trơ tráo của Sandip lại hút tôi đến thế. Nó sáng như một viên kim cương quý, không biết đến rụt rè, và lấp lánh ngay trước mặt mặt trời.

Tôi bước vào phòng. Tôi biết Sandip nghe được tiếng chân tôi đi tới, nhưng hắn vờ như không, cứ dán mắt vào cuốn sách.

Tôi sợ những buổi hắn nói chuyện Nghệ thuật, bởi tôi không sao vượt qua được sự e dè của mình trước những bức tranh hắn nói tới và những điều hắn nói, nên phải khá vất vả mới khoác lên được cái vẻ trơ lì quá mức để giấu đi nỗi ngại ngùng. Vì thế tôi gần như đã định quay gót, thì Sandip thở dài một tiếng, ngước mắt lên, làm ra vẻ giật mình khi thấy tôi. “A, bà đến rồi!” hắn nói.

Trong lời hắn, trong giọng hắn, trong mắt hắn có cả một trời trách móc nén lại, như thể cái quyền hắn đã giành được trên tôi khiến việc tôi vắng mặt, dù chỉ hai ba ngày ấy, thành một điều oan nghiệt. Tôi biết thái độ ấy là một sự xúc phạm với tôi, nhưng than ôi, tôi không đủ sức mà phật lòng vì nó.

Tôi không đáp, nhưng dù đang nhìn về phía khác, tôi không thể không cảm thấy cái nhìn ai oán của Sandip đã cắm thẳng vào mặt tôi, và không chịu bị chối từ. Tôi rất mong hắn nói lấy một câu, để tôi có thể nấp sau lời hắn. Tôi không biết chuyện đó kéo dài bao lâu, nhưng cuối cùng tôi không chịu nổi nữa. “Chuyện gì thế,” tôi hỏi, “mà ông muốn nói với tôi?”

Sandip lại làm ra vẻ ngạc nhiên: “Cứ nhất thiết phải có chuyện gì sao? Chẳng lẽ tình bạn tự nó là một tội? Ôi Ong Chúa, nghĩ mà xem, bà lại coi nhẹ điều lớn lao nhất trên đời! Chẳng lẽ sự thờ phụng của trái tim phải bị đuổi ra ngoài như một con chó hoang?”

Lại có cơn run ấy trong tôi. Tôi cảm thấy cơn khủng hoảng đang tới, khẩn thiết quá đỗi để mà trì hoãn. Niềm vui và nỗi sợ giành nhau thế thượng phong. Tôi tự hỏi vai mình có đủ rộng để đứng vững trước cú va ấy không, hay nó sẽ quật tôi ngã, mặt vùi trong bụi?

Tôi run bần bật khắp người. Cố lấy lại thăng bằng, tôi nhắc lại: “Ông cho gọi tôi vì một việc liên quan đến Chính Nghĩa, nên tôi đã bỏ việc nhà để ra lo việc ấy.”

“Thì đó chính là điều tôi đang cố nói,” hắn nói, kèm một tiếng cười khô. “Bà không biết rằng tôi đến để thờ phụng sao? Chẳng phải tôi đã nói với bà rằng nơi bà, tôi trông thấy _Shakti_ của đất nước chúng ta hay sao? Địa lý của một xứ sở không phải là toàn bộ sự thật. Chẳng ai đem đời mình ra hiến cho một tấm bản đồ! Khi tôi thấy bà trước mặt, chỉ lúc ấy tôi mới nhận ra đất nước tôi đẹp đến nhường nào. Khi bà đã tự tay xức dầu cho tôi, bấy giờ tôi mới biết mình được đất nước chuẩn thuận; và nếu, mang điều đó trong tim, tôi ngã xuống giữa cuộc chiến, thì sẽ không phải ngã trên bụi của một mảnh đất do bản đồ vẽ ra, mà trên một vạt áo trải ra đầy yêu thương — bà có biết là loại vạt áo nào không? — như tấm _sari_ màu đất đỏ bà mặc hôm nọ, với dải viền rộng đỏ như máu. Tôi quên sao được? Chính những hình ảnh như thế mới cho sự sống sức lực, và cho cái chết niềm vui!”

Mắt Sandip bắt lửa khi hắn nói tiếp, nhưng đó là lửa của sự thờ phụng hay lửa của đam mê thì tôi không phân biệt nổi. Tôi nhớ lại cái ngày lần đầu nghe hắn nói, khi tôi không dám chắc hắn là một con người, hay chỉ là một ngọn lửa sống.

Tôi chẳng còn sức thốt ra một lời. Người ta không thể nấp sau những bức tường phép tắc khi chỉ trong một khoảnh khắc ngọn lửa bùng lên và, với ánh loé của lưỡi kiếm và tiếng gầm của tràng cười, huỷ sạch mọi kho lẫm của kẻ bủn xỉn. Tôi kinh hoàng sợ hắn quên mình mà nắm lấy tay tôi. Bởi hắn rung lên như một cái lưỡi lửa đang giật; mắt hắn rắc lên người tôi những tia lửa cháy bỏng.

“Bà quyết mãi mãi,” hắn kêu lên sau một quãng lặng, “biến những bổn phận nhà cửa cỏn con của mình thành thần thánh sao — bà, người có trong mình cái quyền năng đẩy chúng tôi tới sự sống hay cái chết? Cái quyền năng ấy của bà phải giữ trong màn che nơi zenana sao? Xin bà hãy quăng đi mọi thứ thẹn thùng giả tạo; hãy búng tay vào những tiếng thì thầm quanh mình. Ngay hôm nay hãy nhảy ùm vào sự tự do của thế giới bên ngoài.”

Khi trong những lời kêu gọi của Sandip, việc hắn thờ đất nước quyện vào việc hắn thờ tôi một cách tinh vi, thì máu tôi quả thật nhảy múa, và những rào chắn của sự do dự nơi tôi lung lay. Những lời hắn bàn về Nghệ thuật và Tính dục, những phân biệt của hắn giữa Cái Có Thật và Cái Không Thật, chỉ làm nghẽn lại những cố gắng đáp lời của tôi bằng một thứ nhớp nháp đáng ghê tởm. Nhưng bây giờ điều ấy lại bừng lên thành một ánh sáng khiến sự ghê tởm của tôi tan biến. Tôi cảm thấy cái nữ tính rực rỡ của mình quả thật đã biến tôi thành một nữ thần. Sao vinh quang ấy lại không loé ra từ trán tôi bằng một ánh sáng nhìn thấy được? Sao giọng tôi không tìm được một lời, một tiếng kêu nghe được nào đó, có thể như một câu thần chú thiêng cho đất nước tôi bước vào lễ nhập môn bằng lửa?

Bỗng con hầu Khema của tôi lao vào phòng, đầu tóc rũ rượi. “Trả công cho con rồi cho con đi,” nó gào lên. “Cả đời con chưa bao giờ bị…” Phần còn lại của câu chìm trong tiếng nức nở.

“Chuyện gì thế?”

Hoá ra Thako, con hầu của Bà Cả, chẳng đầu chẳng đuôi mà chửi nó bằng những lời không sao kể xiết. Nó đang trong tình trạng ấy thì có dỗ rằng lát nữa tôi sẽ xem xét cũng chẳng ăn thua gì.

Cái lớp bùn của đời sống gia đình nằm dưới bãi sen của nữ tính đã trồi lên mặt nước. Thay vì để Sandip nhìn nó lâu hơn, tôi đành vội vã lui vào trong.

X

Chị dâu tôi đang mải mê với đám cau, một thoáng cười phảng phất trên môi, như thể chẳng có chuyện gì trái khoáy xảy ra. Chị vẫn ngân nga đúng khúc hát ấy.

“Sao con Thako của chị lại chửi con Khema tội nghiệp?” tôi bật ra.

“Thế à? Con ranh! Chị sẽ cho chổi quét nó ra khỏi nhà. Làm hỏng cả buổi sáng ra ngoài của em thế này thì thật là! Còn con Khema, con nỡm ấy không biết phép tắc gì mà dám quấy em khi em đang bận. Thôi thì, Bà Bé ạ, em đừng bận tâm mấy chuyện cãi cọ trong nhà. Cứ để đó cho chị, em quay ra với bạn em đi.”

Cánh buồm trong trí ta trở gió mới đột ngột làm sao! Cái việc ra ngoài gặp Sandip ấy, soi dưới ánh sáng của luật lệ zenana, bỗng thành một chuyện quái gở đến mức tôi bỏ về phòng mình, chẳng nghĩ ra nổi câu đáp. Tôi biết đây là ngón của chị dâu tôi, chính chị đã xúi con hầu bày ra cái cảnh ấy. Nhưng tôi đã tự đưa mình vào một thế chông chênh đến mức chẳng dám ra tay.

Ấy, mới hôm nọ thôi tôi đã nhận ra mình không giữ nổi đến cùng cái vẻ ngạo nghễ không lay chuyển khi đòi chồng phải đuổi thằng Nanku. Tôi bỗng ngượng chín khi Bà Cả bước tới nói: “Thật ra là lỗi tại chị hết, chú ạ. Chúng tôi là người xưa, mà tôi thì không ưa lắm cái lối của cái ông Sandip Babu của chú, nên tôi chỉ dặn thằng gác… nào ngờ Bà Bé nhà ta lại coi đó là một sự xúc phạm? — Tôi tưởng phải ngược lại chứ! Đúng là cái ngốc không chừa được của tôi!”

Cái điều trông vinh quang đến thế khi nhìn từ trên đỉnh cao chính nghĩa của đất nước, lại trông lấm láp đến thế khi nhìn từ dưới đáy. Người ta bắt đầu bằng cơn giận, rồi thấy tởm.

Tôi đóng cửa nhốt mình trong phòng, ngồi bên cửa sổ, nghĩ rằng đời sẽ dễ dàng biết bao nếu người ta giữ được hoà nhịp với hoàn cảnh quanh mình. Bà Rani Cả ngồi ngoài hiên với đám cau của bà mới giản dị làm sao, còn cái chỗ ngồi tự nhiên của tôi bên những bổn phận hằng ngày thì nay đã thành xa vời với tôi biết mấy! Tôi tự hỏi rồi tất cả sẽ đi tới đâu? Liệu tôi có bao giờ tỉnh lại như tỉnh khỏi một cơn mê sảng mà quên hết mọi chuyện; hay tôi sẽ bị lôi xuống những vực sâu mà kiếp này không sao thoát ra? Trên đời làm sao tôi lại để vận may của mình vuột đi và làm hỏng đời mình đến thế? Từng bức tường của căn buồng ngủ này, căn buồng tôi bước vào lần đầu chín năm trước với tư cách một cô dâu, đều đang sững sờ nhìn tôi.

Khi chồng tôi thi xong bằng M.A. trở về, anh mang cho tôi cây lan này, thuộc về một xứ xa nào đó bên kia biển. Từ dưới mấy chiếc lá nhỏ ấy vọt lên cả một thác hoa, trông như chúng đang tuôn ra từ một chiếc bình Sắc Đẹp bị lật úp. Chúng tôi cùng nhau quyết định treo nó ở đây, phía trên cửa sổ này. Nó chỉ ra hoa đúng lần ấy, nhưng chúng tôi vẫn luôn hy vọng nó ra thêm một lần nữa. Lạ thay, dạo này tôi vẫn tưới nó theo thói quen, và nó vẫn còn xanh.

Cách đây bốn năm, tôi đã lồng một tấm ảnh chồng tôi vào khung ngà rồi đặt vào hốc tường đằng kia. Nếu tình cờ nhìn về phía ấy là tôi phải cụp mắt xuống. Cho tới tuần trước tôi vẫn đều đặn đặt ở đó những bông hoa thờ phụng của mình, mỗi sáng sau khi tắm. Chồng tôi đã nhiều lần trách tôi về việc này.

“Anh thấy thẹn khi em đặt anh lên một tầm cao mà anh không thuộc về,” một hôm anh nói.

“Vớ vẩn nào!”

“Anh không chỉ thẹn, anh còn ghen nữa!”

“Nghe anh kìa! Ghen với ai mới được chứ?”

“Với cái anh giả kia. Nó chỉ chứng tỏ rằng anh quá nhỏ bé so với em, rằng em cần một người phi thường nào đó có thể áp đảo em bằng sự hơn hẳn của hắn, nên em đành phải nương náu bằng cách tự dựng lên cho mình một ‘cái anh’ khác.”

“Kiểu nói ấy chỉ làm em phát giận,” tôi nói.

“Giận anh thì được ích gì?” anh đáp. “Hãy trách số phận em, nó chẳng cho em chọn lựa nào mà bắt em nhắm mắt lấy anh. Chính vì thế mà em cứ phải gắng chữa lại cái lỗi ấy của nó bằng cách biến anh thành một mẫu mực.”

Chỉ nghĩ đến điều đó thôi tôi đã đau đến mức hôm ấy nước mắt trào ra. Và mỗi khi nhớ lại chuyện đó, tôi không sao ngước mắt lên hốc tường được.

Bởi bây giờ trong hộp nữ trang của tôi có một tấm ảnh khác. Hôm nọ, khi dọn phòng khách, tôi đã mang về cái khung ảnh đôi ấy, cái khung mà chân dung Sandip đặt cạnh chân dung chồng tôi. Với tấm ảnh này tôi chẳng có hoa thờ phụng nào để dâng, nhưng nó nằm giấu kín dưới đám đá quý của tôi. Nó càng có sức hút hơn vì được giữ bí mật. Thỉnh thoảng tôi lại đóng cửa mà ngắm nó. Ban đêm tôi vặn đèn lên, ngồi cầm nó trên tay, nhìn mãi, nhìn mãi. Và đêm nào tôi cũng nghĩ đến chuyện đốt nó trong ngọn lửa đèn cho xong đời; nhưng đêm nào tôi cũng thở dài mà lại vùi nó xuống dưới đám ngọc trai và kim cương của mình.

Ôi, người đàn bà khốn nạn! Biết bao nhiêu tình yêu đã quấn quanh từng viên ngọc ấy! Ôi, sao tôi không chết đi cho rồi?

Sandip đã khắc vào đầu tôi rằng do dự không nằm trong bản tính đàn bà. Với đàn bà thì chẳng có trái cũng chẳng có phải — họ chỉ tiến về phía trước. Khi đàn bà xứ ta thức dậy, hắn nhắc đi nhắc lại, giọng họ sẽ tự tin không lẫn vào đâu được khi thốt lên tiếng kêu: “Tôi muốn.”

“Ta muốn!” — một hôm Sandip nói tiếp — đó là tiếng nguyên thuỷ nằm ở gốc rễ mọi cuộc sáng tạo. Nó chẳng có châm ngôn nào dẫn đường, nhưng nó thành lửa và tự rèn mình thành những mặt trời và những vì sao. Sự thiên vị của nó thật khủng khiếp. Bởi nó ham muốn có con người, nên nó tàn nhẫn hiến tế hàng triệu loài thú suốt hàng triệu năm để đạt cho được ham muốn ấy. Cái tiếng khủng khiếp “ta muốn” ấy đã hoá thành xương thịt trong người đàn bà, và bởi thế đàn ông, những kẻ hèn nhát, dốc hết sức mình ngăn dòng lũ nguyên thuỷ ấy bằng những con đê đất của họ. Họ sợ rằng nó vừa cười vừa nhảy múa mà đi, sẽ cuốn phăng mọi bờ giậu và cọc chống trên ruộng bí của họ. Đàn ông, thời nào cũng vậy, tự khen mình đã nhốt được cái sức mạnh ấy trong bờ cõi tiện lợi cho họ, nhưng nó cứ dồn lại và lớn lên. Bây giờ nó lặng và sâu như một cái hồ, nhưng dần dà áp lực sẽ tăng, đê sẽ vỡ, và cái sức mạnh câm lặng bấy lâu ấy sẽ lao tới với tiếng gầm: “Ta muốn!”

Những lời ấy của Sandip dội trong nhịp tim tôi như một hồi trống trận. Chúng bắt mọi cuộc giằng co của tôi với chính mình phải câm miệng vì xấu hổ. Tôi cần gì bận tâm người ta nghĩ gì về mình? Cây lan kia và cái hốc tường kia trong buồng ngủ tôi có giá trị gì? Chúng có quyền năng nào mà thu nhỏ tôi lại, mà làm tôi hổ thẹn? Ngọn lửa nguyên thuỷ của sáng tạo đang cháy trong tôi.

Tôi thấy một ham muốn mãnh liệt là giật phăng cây lan xuống mà ném ra ngoài cửa sổ, là lột trần cái hốc tường khỏi bức ảnh của nó, là phơi trần trụi cái tinh thần huỷ diệt không biết thẹn đang lồng lộn trong tôi. Cánh tay tôi đã giơ lên để làm việc đó, nhưng một cơn nhói đột ngột chạy qua ngực, nước mắt trào lên. Tôi vật mình xuống mà nức nở: “Rốt cuộc tất cả những cái này đi tới đâu, đi tới đâu?”

Chuyện của Sandip · IV

Khi đọc lại những trang này trong câu chuyện đời mình, tôi nghiêm túc tự hỏi: đây có phải Sandip không? Tôi được làm bằng chữ nghĩa sao? Tôi chỉ là một cuốn sách bọc bìa bằng máu thịt sao?

Trái đất không phải một vật chết như mặt trăng. Nàng thở. Sông và biển của nàng bốc lên hơi nước, và nàng lấy hơi nước ấy làm áo. Nàng phủ mình bằng tấm áo choàng bụi của chính nàng bay lơ lửng trong không khí. Kẻ đứng ngoài mà ngắm trái đất chỉ thấy được ánh sáng phản chiếu từ lớp hơi và lớp bụi ấy. Dấu vết những lục địa hùng vĩ thì không hiện ra rõ ràng.

Con người, kẻ đang sống như trái đất này đang sống, cũng luôn bị bọc trong màn sương những ý tưởng mà hắn đang thở ra. Đất và nước thật của hắn thì vẫn khuất, và hắn có vẻ như chỉ được làm bằng những ánh sáng và những bóng tối.

Trong câu chuyện đời mình, tôi có cảm giác rằng, như một cái cây sống, tôi đang phô ra bức tranh về một thế giới lý tưởng. Nhưng tôi không chỉ là cái tôi muốn, cái tôi nghĩ — tôi còn là cái tôi không yêu, cái tôi không muốn là. Cuộc tạo tác nên tôi đã bắt đầu từ trước khi tôi sinh ra. Tôi chẳng được chọn lựa gì về hoàn cảnh quanh mình, nên đành phải làm hết mức với thứ vật liệu rơi vào tay.

Thuyết về đời sống của tôi khiến tôi tin chắc rằng Cái Lớn Lao thì tàn nhẫn. Công bằng là chuyện của người thường — bất công mới là điều dành riêng cho kẻ lớn. Mặt đất vốn bằng phẳng. Núi lửa húc nó bằng cái sừng lửa của mình mà tìm được độ cao của riêng nó — sự công bằng của nó không hướng về vật cản, mà hướng về chính nó. Bất công thành công và tàn nhẫn thật sự là những lực duy nhất từng biến một cá nhân hay một dân tộc thành triệu phú hay quân vương.

Chính vì thế tôi rao giảng cái kỷ luật lớn lao của sự Bất Công. Tôi nói với mọi người: Sự giải thoát dựng trên nền bất công. Bất công là ngọn lửa phải liên tục đốt một cái gì đó để tự cứu mình khỏi hoá tro. Hễ khi nào một cá nhân hay một dân tộc mất khả năng gây ra bất công, nó bị quét vào thùng rác của thế giới.

Cho đến giờ đây mới chỉ là ý tưởng của tôi — nó chưa hoàn toàn là tôi. Trong bộ giáp có những khe hở, qua đó ló ra một cái gì đó mềm và nhạy cảm vô cùng. Bởi vì, như tôi vẫn nói, phần tốt nhất của tôi đã được tạo ra trước khi tôi bước tới giai đoạn tồn tại này.

Thỉnh thoảng tôi thử các môn đồ của mình trong bài học về sự tàn nhẫn. Một hôm chúng tôi đi chơi dã ngoại. Có một con dê đang gặm cỏ gần đó. Tôi hỏi họ: “Trong các anh có ai dám dùng con dao này chặt một chân con dê ấy khi nó còn sống mà đem đến cho tôi không?” Trong khi tất cả còn ngần ngừ thì tôi tự mình đi làm việc đó. Một người trong bọn ngất xỉu khi trông thấy. Nhưng khi họ thấy tôi không hề nao núng, họ cúi nhận bụi dưới chân tôi mà bảo rằng tôi ở trên mọi chỗ yếu đuối của con người. Nghĩa là hôm ấy họ trông thấy cái lớp vỏ hơi nước vốn là ý tưởng của tôi, mà không nhận ra được cái tôi bên trong, cái tôi mà theo một trò oái oăm kỳ lạ của số phận đã được tạo ra dịu dàng và biết thương xót.

Trong chương hiện tại của đời tôi, cái chương mỗi ngày một hấp dẫn hơn quanh Bimala và Nikhil, cũng có nhiều điều còn nằm khuất bên dưới. Cái chứng bệnh ý tưởng đang hành tôi vẫn đang nhào nặn đời tôi từ bên trong: thế nhưng một phần lớn đời tôi vẫn nằm ngoài ảnh hưởng của nó; và thế là dựng lên một chỗ vênh giữa đời sống bên ngoài của tôi với cái thiết kế bên trong của nó, chỗ vênh mà tôi cố hết sức che giấu ngay cả với chính mình; nếu không nó có thể phá hỏng không chỉ những kế hoạch, mà cả chính đời tôi.

Đời sống thì bất định — một bó những mâu thuẫn. Loài người chúng ta, với những ý tưởng của mình, gắng cho nó một hình thù riêng bằng cách nấu chảy nó vào một cái khuôn riêng — vào cái xác định của sự thành công. Tất cả những kẻ chinh phục thế giới, từ Alexander xuống tới các triệu phú Mỹ, đều tự đúc mình thành một thanh kiếm hay một xưởng đúc tiền, và nhờ thế mà tìm ra cái hình ảnh rành rọt của chính mình, cội nguồn thành công của họ.

Cuộc tranh cãi chính giữa tôi với Nikhil nảy ra từ chỗ này: dẫu tôi nói “hãy tự biết mình”, và Nikhil cũng nói “hãy tự biết mình”, nhưng cách hắn giải nghĩa khiến cái “biết” ấy hoá ra ngang với “không biết”.

“Giành lấy thứ thành công kiểu anh,” có lần Nikhil phản đối, “là thành công đổi bằng cái giá của linh hồn: nhưng linh hồn lớn hơn thành công.”

Tôi chỉ đáp gọn: “Lời anh mơ hồ quá.”

“Tôi chẳng làm gì được,” Nikhil đáp. “Một cỗ máy thì đủ rành rọt, nhưng đời sống thì không. Nếu để có được sự rành rọt mà anh tìm cách hiểu đời sống như một cỗ máy, thì cái rành rọt suông ấy không thể thay cho sự thật. Linh hồn không rành rọt như thành công, nên anh chỉ mất linh hồn nếu đi tìm nó trong thành công của mình.”

“Vậy thì cái linh hồn kỳ diệu ấy ở đâu?”

“Ở nơi nó tự biết mình trong cái vô cùng và vượt lên trên thành công của mình.”

“Nhưng tất cả những cái đó áp vào công việc của chúng ta cho đất nước thì thế nào?”

“Cũng vẫn thế thôi. Ở đâu đất nước ta tự biến mình thành mục đích cuối cùng, ở đó nó giành được thành công bằng cái giá của linh hồn. Ở đâu nó thừa nhận rằng Cái Lớn Nhất còn lớn hơn tất cả, thì ở đó nó có thể trượt mất thành công, nhưng giành được linh hồn mình.”

“Trong lịch sử có ví dụ nào như thế không?”

“Con người lớn đến mức có thể khinh không chỉ thành công, mà cả cái ví dụ nữa. Rất có thể là thiếu ví dụ, cũng như trong hạt giống chẳng có ví dụ nào về bông hoa. Nhưng dù sao trong hạt vẫn có sự thôi thúc của bông hoa.”

Không phải là tôi chẳng hiểu chút nào quan điểm của Nikhil; chỗ nguy của tôi lại nằm đúng ở đó. Tôi sinh ra ở Ấn Độ và thứ nọc độc tâm linh của xứ này chảy trong máu tôi. Dù tôi có lớn tiếng tuyên bố rằng đi theo con đường tự khước từ là điên rồ đến đâu, tôi cũng không sao tránh khỏi nó hoàn toàn.

Chính vì thế mà ngày nay ở xứ ta xảy ra những chuyện oái oăm lạ lùng đến vậy. Chúng ta phải có tôn giáo của mình mà cũng phải có chủ nghĩa dân tộc của mình; phải có _Bhagavadgita_ mà cũng phải có _Bande Mataram_. Kết quả là cả hai đều thiệt. Nó giống như cho một đội quân nhạc Anh chơi ngay cạnh những cây kèn hội hè Ấn Độ của chúng ta. Tôi phải lấy việc chấm dứt cái mớ lộn xộn gớm ghiếc này làm mục đích đời mình.

Tôi muốn lối quân nhạc phương Tây thắng thế, chứ không phải lối Ấn Độ. Bấy giờ chúng ta sẽ không còn thẹn với lá cờ đam mê của mình, lá cờ mà mẹ Tự nhiên đã gửi theo chúng ta làm quân kỳ ra chiến trường đời. Đam mê thì đẹp và trong sạch — trong sạch như đoá huệ mọc lên từ bùn lầy. Nó vượt lên trên sự vấy bẩn của mình và chẳng cần xà phòng Pears nào rửa cho sạch.

V

Mấy hôm nay có một câu hỏi cứ quấy rầy tôi. Vì sao tôi lại để đời mình mắc vào đời Bimala? Chẳng lẽ tôi là một khúc gỗ trôi, hễ gặp vật cản nào cũng vướng lại?

Không phải tôi thẹn hão vì Bimala đã thành đối tượng ham muốn của tôi. Quá rõ là nàng muốn tôi, nên tôi coi nàng là của tôi một cách hoàn toàn chính đáng. Quả treo trên cành nhờ cuống, nhưng đó không phải lý do để cái quyền của cuống là vĩnh viễn. Quả chín không thể mãi mãi thề thốt với cái cuống đang lơi dần của nó. Tất cả vị ngọt của nó đã tích lại cho tôi; buông mình vào tay tôi là lẽ tồn tại của nó, là chính bản tính nó, là đạo lý thật của nó. Vậy tôi phải hái nó, bởi để nó thành vô ích thì chẳng hợp với tôi.

Nhưng điều làm tôi khó chịu là tôi đang mắc kẹt. Chẳng phải tôi sinh ra để cai trị hay sao? — để cưỡi lên con ngựa vốn của mình, tức đám đông, mà thúc nó theo ý mình; dây cương trong tay tôi, đích đến chỉ mình tôi biết, còn nó thì lo phần gai góc và bùn lầy trên đường? Con ngựa ấy nay đang đợi tôi ngoài cửa, cào chân và nhá hàm thiếc, tiếng hí của nó dội đầy trời. Vậy mà tôi đang ở đâu, đang làm gì, mà để ngày này qua ngày khác cơ hội vàng trôi tuột?

Tôi vẫn tưởng mình như một cơn bão — rằng những bông hoa tơi tả tôi rắc dọc đường sẽ chẳng cản bước tôi. Nhưng tôi chỉ đang lượn vòng quanh một bông hoa như con ong — chứ không phải một cơn bão. Cho nên, như tôi vẫn nói, lớp màu ý tưởng mà con người tự tô lên mình chỉ là bề mặt. Con người bên trong thì vẫn tầm thường như cũ. Nếu có ai nhìn thấu được vào trong tôi mà viết tiểu sử tôi, hắn sẽ tả tôi chẳng khác gì cái thằng cha Panchu quê mùa kia, hay thậm chí chẳng khác gì Nikhil!

Đêm qua tôi lật lại cuốn nhật ký cũ của mình… Hồi ấy tôi vừa tốt nghiệp, đầu óc căng phồng triết học. Ngay từ sớm như thế tôi đã thề không nuôi một ảo tưởng nào, dù do tôi hay do ai khác tưởng tượng ra, mà sẽ dựng đời mình trên một nền tảng vững chắc của cái có thật. Nhưng từ bấy đến nay câu chuyện thật của nó là gì? Cái vững chắc của nó ở đâu? Nó đúng hơn là một tấm lưới, ở đó tuy sợi dây thì liền mạch, nhưng chỗ trống lại chiếm nhiều diện tích hơn. Tôi có đánh vật thế nào thì chúng cũng không chịu nhận thua. Đúng lúc tôi đang tự khen mình bám chắc được sợi dây thì đây, tôi mắc kẹt thảm hại trong một cái lỗ! Bởi tôi đã đâm ra dễ mềm lòng.

“Ta muốn nó; nó ở đây; ta lấy nó” — đó là một đường lối rành mạch, thẳng thắn. Ai theo đuổi được lối ấy một cách mạnh mẽ thì rốt cuộc nhất định phải thắng. Nhưng các vị thần không muốn cuộc hành trình ấy dễ dàng, nên đã phái nàng tiên cá Đồng Cảm tới làm kẻ đi đường xao lãng, làm mờ mắt hắn bằng màn sương nước mắt của nàng.

Tôi thấy Bimala tội nghiệp đang giãy như một con nai mắc bẫy. Trong mắt nàng có một nỗi hoảng hốt thảm thương làm sao! Nàng bị giằng xé đến thế nào khi cố bứt khỏi những sợi dây trói! Cảnh ấy, dĩ nhiên, phải làm nức lòng một tay thợ săn thật sự. Và quả tôi có mừng; nhưng rồi, tôi cũng động lòng; nên tôi cứ dùng dằng, và đứng bên bờ vực mà ngần ngại chưa siết chặt cái thòng lọng.

Đã có những khoảnh khắc, tôi biết, mà lẽ ra tôi đã có thể lao tới nàng, nắm lấy hai tay nàng và ghì nàng vào ngực mà không gặp một sự kháng cự nào. Nếu tôi làm thế, nàng đã chẳng nói lấy một lời. Nàng biết có một cơn khủng hoảng nào đó đang treo lơ lửng, thứ chỉ trong một khoảnh khắc sẽ đổi nghĩa của cả thế giới. Đứng trước cái hang động của điều không lường được mà vẫn được chờ đợi ấy, mặt nàng tái đi và mắt nàng rực lên một niềm ngây ngất đầy sợ hãi. Bên trong khoảnh khắc ấy, khi nó đến, một cõi vĩnh cửu sẽ thành hình, cái vĩnh cửu mà số phận chúng tôi đang nín thở chờ đợi.

Nhưng tôi đã để khoảnh khắc ấy trôi qua. Tôi đã không dùng một sức mạnh không khoan nhượng mà ép cái gần như chắc chắn thành cái chắc chắn tuyệt đối. Bây giờ tôi thấy rõ rằng có những yếu tố khuất trong bản tính tôi đã công khai dàn hàng làm vật cản trên đường tôi.

Đó đúng là cách mà Ravana, kẻ tôi vẫn coi là người anh hùng thật sự của _Ramayana_, đã đi tới cái chết của hắn. Hắn giữ Sita trong khu vườn Asoka của mình mà chờ nàng ưng thuận, thay vì đưa thẳng nàng vào hậu cung. Cái chỗ yếu ấy trong một tính cách vốn dĩ hùng vĩ đã khiến toàn bộ vụ bắt cóc hoá ra vô ích. Một thoáng mềm lòng như thế nữa khiến hắn bỏ qua và nương tay với đứa em phản trắc Bibhisan, để rồi lãnh lấy cái chết vì cái công ấy.

Cái bi kịch trong đời cứ đến với người ta như thế đấy. Ban đầu nó nằm đó, một vật bé nhỏ, trong một cái hầm tối nào đó, rồi kết thúc bằng việc quật đổ toàn bộ toà nhà bên trên. Bi kịch thật sự là ở chỗ con người không tự biết mình thật ra là gì.

VI

Rồi lại còn Nikhil nữa. Dù hắn có gàn dở, dù tôi có cười hắn thế nào, tôi cũng không sao gạt bỏ được ý nghĩ rằng hắn là bạn tôi. Ban đầu tôi chẳng bận tâm gì đến quan điểm của hắn, nhưng gần đây nó bắt đầu làm tôi thẹn và làm tôi đau. Vì thế tôi vẫn cố nói chuyện và tranh luận với hắn hào hứng như xưa, nhưng nghe không thật. Có lúc nó còn đẩy tôi đi xa tới mức gượng gạo mà giả vờ đồng ý với hắn. Nhưng thói đạo đức giả như thế không nằm trong bản tính tôi, mà cũng chẳng nằm trong bản tính Nikhil. Ít ra đó là một điểm chung của hai chúng tôi. Chính vì thế mà dạo này tôi thà không chạm mặt hắn, và đã bắt đầu né tránh sự có mặt của hắn.

Tất cả những cái đó là dấu hiệu của sự yếu đuối. Vừa thừa nhận khả năng có một điều sai là lập tức nó thành có thật, và bóp lấy cổ ta, dù sau đó ta có cố rũ bỏ mọi niềm tin vào nó thế nào. Điều tôi muốn nói thẳng với Nikhil là những chuyện như thế này phải được nhìn thẳng vào mặt — như những Cái Có Thật lớn lao — và cái vốn là Sự Thật thì không được để nó chen vào giữa hai người bạn thật sự.

Không chối được rằng tôi quả đã yếu đi. Không phải cái yếu này đã chinh phục Bimala; nàng đã cháy cánh trong ngọn lửa của toàn bộ sức mạnh nam tính không do dự nơi tôi. Hễ khi nào khói che mờ ánh sáng ấy là nàng cũng hoang mang mà lùi lại. Rồi đến một cơn đảo chiều cảm xúc triệt để, và nàng những muốn lấy lại vòng hoa nàng đã quàng lên cổ tôi, nhưng không lấy lại được; nên nàng chỉ nhắm mắt lại, để khỏi phải nhìn thấy nó.

Nhưng dù sao tôi cũng không được chệch khỏi con đường đã vạch. Bỏ rơi chính nghĩa của đất nước thì không xong, nhất là vào lúc này. Tôi sẽ giản dị biến Bimala thành một với đất nước tôi. Ngọn gió tây cuồn cuộn đã cuốn bay tấm màn lương tri của xứ sở, sẽ cuốn bay tấm màn người vợ khỏi gương mặt Bimala, và trong sự phơi lộ ấy sẽ chẳng có gì đáng thẹn. Con tàu sẽ chòng chành khi chở đám đông băng qua đại dương, giương ngọn cờ đuôi nheo _Bande Mataram_, và nó sẽ làm chiếc nôi cho quyền lực của tôi, cũng như cho tình yêu của tôi.

Bimala sẽ trông thấy một hình ảnh giải thoát uy nghi đến mức những dây trói sẽ tự tuột khỏi người nàng, chẳng chút thẹn thùng, mà nàng cũng chẳng hề hay biết. Bị mê hoặc bởi vẻ đẹp của cái sức mạnh tàn phá khủng khiếp ấy, nàng sẽ không do dự một khoảnh khắc nào mà trở nên tàn nhẫn. Tôi đã thấy trong bản tính Bimala cái tàn nhẫn vốn là sức mạnh cố hữu của sự tồn tại — cái tàn nhẫn mà bằng uy lực không khoan nhượng của nó vẫn giữ cho thế giới đẹp đẽ.

Giá đàn bà được giải phóng khỏi những xiềng xích nhân tạo mà đàn ông đã quàng quanh họ, chúng ta sẽ thấy trên mặt đất hình ảnh sống của Kali, vị nữ thần không biết thẹn, không biết thương. Tôi là kẻ thờ Kali, và một ngày kia tôi sẽ thật sự thờ nàng, bằng cách đặt Bimala lên bàn thờ Huỷ Diệt của nàng. Vì điều đó, để tôi chuẩn bị.

Đường lui đã đóng chặt hoàn toàn với cả hai chúng tôi. Chúng tôi sẽ tàn phá lẫn nhau: sẽ đi tới chỗ căm ghét nhau: nhưng sẽ chẳng bao giờ còn được tự do nữa.