Ngôi nhà và thế giới — Chương 5

Chương 5 / 12 · Bài review Ngôi nhà và thế giới

Chuyện của Nikhil · IV

MỌI THỨ đang gợn sóng và dập dềnh cùng con nước tháng Tám. Những mầm lúa non có cái bóng mượt như tay chân trẻ thơ. Nước đã tràn vào khu vườn cạnh nhà chúng tôi. Ánh sáng buổi sớm, như tình yêu của bầu trời xanh, được rót hào phóng xuống mặt đất… Sao tôi không hát nổi? Nước dòng sông xa đang lấp lánh ánh sáng; lá cây lóng lánh; những thửa ruộng lúa, với những cơn rùng mình chợt đến chợt đi, vỡ ra thành những ánh vàng; và trong bản giao hưởng mùa Thu ấy, chỉ mình tôi là không có tiếng. Nắng của thế gian đập vào tim tôi, nhưng không được hắt trở lại.

Khi nhận ra mình thiếu khả năng biểu lộ, tôi hiểu vì sao mình bị tước đoạt. Ai chịu nổi việc ở bên tôi ngày đêm không dứt? Bimala tràn đầy sinh lực của sự sống, nên với tôi nàng chưa bao giờ cũ đi dù chỉ một khoảnh khắc, suốt chín năm đời vợ chồng.

Đời tôi chỉ có những vực sâu câm lặng; chứ không có dòng chảy rì rầm. Tôi chỉ biết nhận: chứ không truyền được chuyển động. Và bởi thế ở bên tôi cũng như nhịn ăn. Hôm nay tôi nhận ra rõ ràng rằng Bimala đã héo mòn vì một nạn đói bầu bạn.

Vậy thì tôi trách ai? Như Vidyapati, tôi chỉ có thể than:

Tháng Tám rồi, trời vỡ ra thành cơn mưa cuồng nhiệt; Than ôi, nhà ta trống không.

Ngôi nhà tôi, giờ tôi mới thấy, được dựng lên để mà trống, bởi cửa nó không mở được. Nhưng cho đến nay tôi chưa từng biết rằng vị thần của nó vẫn ngồi ở bên ngoài. Tôi đã tin một cách âu yếm rằng nàng đã nhận lễ hiến của tôi, và đáp lại bằng ân huệ của nàng. Nhưng than ôi, nhà tôi bấy lâu vẫn trống không.

Hằng năm, vào quãng này, chúng tôi vẫn có lệ xuống thuyền nhà mà đi trên vùng nước rộng Samalda. Tôi vẫn bảo Bimala rằng một bài hát phải trở về điệp khúc của nó hết lần này đến lần khác. Điệp khúc gốc của mọi bài hát nằm trong Tự nhiên, nơi ngọn gió nặng hơi mưa đi qua dòng nước gợn sóng, nơi mặt đất xanh, kéo tấm màn bóng râm che mặt mình, ghé tai sát vào dòng nước đang nói. Ở đó, vào lúc khởi đầu thời gian, một người đàn ông và một người đàn bà đã gặp nhau lần đầu — không phải trong bốn bức tường. Và bởi vậy hai chúng tôi phải trở về với Tự nhiên, ít nhất mỗi năm một lần, để lên lại dây tình yêu của mình theo cái nốt thuần khiết đầu tiên của cuộc gặp gỡ giữa hai trái tim.

Hai năm đầu sau ngày cưới tôi ở Calcutta để đi thi. Nhưng từ năm sau đó trở đi, bảy năm liền không đứt, chúng tôi đã mừng ngày hợp hôn của mình giữa những đoá súng nở. Nay bắt đầu quãng tám tiếp theo của đời tôi.

Tôi khó lòng làm ngơ trước việc năm nay cũng chính tháng Tám ấy lại về. Tôi tự hỏi Bimala có nhớ không? — nàng chẳng nhắc tôi lấy một lời. Quanh tôi mọi thứ đều câm.

Tháng Tám rồi, trời vỡ ra thành cơn mưa cuồng nhiệt; Than ôi, nhà ta trống không.

Ngôi nhà trở nên trống trải vì đôi lứa xa nhau thì trong lòng cái trống ấy vẫn còn tiếng nhạc. Nhưng ngôi nhà trống vì hai trái tim đã rời nhau thì cái lặng của nó thật khủng khiếp. Ngay cả tiếng kêu đau ở đó cũng thành lạc lõng.

Tiếng kêu đau ấy phải được làm cho im trong tôi. Chừng nào tôi còn tiếp tục đau khổ, chừng ấy Bimala sẽ chẳng bao giờ có được tự do thật. Tôi phải giải thoát nàng hoàn toàn, nếu không tôi sẽ chẳng bao giờ giành được tự do của mình khỏi cái giả dối…

Tôi nghĩ mình đã tới bờ của việc hiểu ra một điều. Loài người đã quạt cho ngọn lửa tình yêu giữa đàn ông và đàn bà bùng lên đến mức nó vượt quá lãnh địa chính đáng của nó, và bây giờ, ngay cả nhân danh chính nhân loại, họ cũng không kéo nổi nó về trong tầm kiểm soát. Sự thờ phụng của con người đã biến đam mê của hắn thành ngẫu tượng. Nhưng trước điện thờ ấy không được có thêm những cuộc hiến tế người nữa…

Sáng nay tôi vào buồng ngủ lấy một cuốn sách. Đã lâu tôi không vào đó vào ban ngày. Một cơn nhói chạy qua người tôi khi hôm nay đưa mắt nhìn quanh, trong ánh sáng ban mai. Trên mắc áo treo một tấm _sari_ của Bimala, đã xếp li sẵn để mặc. Trên bàn trang điểm là nước hoa, lược, kẹp tóc của nàng, và cùng với chúng, vẫn còn đó, hộp son đỏ của nàng! Phía dưới là đôi hài nhỏ xíu thêu chỉ vàng.

Có lần, ngày trước, khi Bimala còn chưa bỏ được thói ngại đi giày, tôi đã đặt mua đôi hài này từ Lucknow về để dụ nàng. Lần đầu tiên nàng ngượng đến muốn ngã, chỉ để đi từ phòng ra hiên bằng đôi hài ấy. Từ bấy đến nay nàng đã đi mòn nhiều đôi giày, nhưng vẫn giữ như báu vật đôi này. Lần đầu đưa hài cho nàng xem, tôi đã trêu nàng về một thói quen kỳ lạ của nàng: “Anh bắt quả tang em cúi nhận bụi dưới chân anh, tưởng anh ngủ! Đây là lễ vật thờ phụng của anh, để giữ cho bụi khỏi bám vào chân vị thần đang thức của anh.” “Anh không được nói những điều như thế,” nàng phản đối, “không thì em chẳng bao giờ đi giày anh cho đâu!”

Cái buồng ngủ này của tôi — nó có một bầu không khí tinh vi đi thẳng vào tim tôi. Chưa bao giờ tôi ý thức được như hôm nay rằng trái tim khát khô của tôi đã đâm rễ ra bám quanh từng vật quen thuộc một đến thế nào. Chặt đứt cái rễ chính, tôi thấy, vẫn chưa đủ để giải phóng một đời người. Ngay cả đôi hài bé nhỏ này cũng đủ níu người ta lại.

Đôi mắt lang thang của tôi rơi xuống cái hốc tường. Chân dung tôi ở đó vẫn y nguyên như cũ, mặc dù những bông hoa rắc quanh nó đã héo đen! Trong tất cả mọi thứ trong phòng, lời chào của chúng là điều tôi thấy chân thành. Chúng còn ở đó chỉ vì người ta thấy chẳng bõ công dọn đi. Không sao; hãy để tôi đón chào sự thật, dù nó khoác bộ áo khô héo thảm hại đến thế, và hãy trông tới cái ngày tôi làm được điều đó mà chẳng xao động, y như tấm ảnh của tôi.

Trong lúc tôi đứng đó, Bimal từ phía sau bước vào. Tôi vội rời mắt khỏi hốc tường mà nhìn lên giá sách, lẩm bẩm: “Anh vào lấy cuốn Nhật ký của Amiel.” Việc gì tôi phải tự nguyện giải thích? Tôi thấy mình như một kẻ có lỗi, một kẻ xâm nhập, đang dò xét một bí mật không dành cho mình. Tôi chẳng dám nhìn thẳng mặt Bimal, mà vội vã đi ra.

V

Tôi vừa khám phá ra rằng giả vờ ngồi đọc trong phòng ngoài thì vô ích, và rằng việc bắt mình bận tâm vào bất cứ chuyện gì cũng ngoài tầm tôi — đến mức mọi ngày tương lai của tôi xem chừng sẽ đông cứng lại thành một khối đặc mà đè nặng lên ngực tôi vĩnh viễn — thì Panchu, một tá điền của một _zamindar_ láng giềng, tìm đến tôi với một rổ dừa đầy và cúi chào tôi thật sâu.

“Sao thế, Panchu,” tôi nói. “Cái này để làm gì vậy?”

Tôi biết Panchu là nhờ thầy tôi. Anh ta nghèo xơ xác, mà tôi thì cũng chẳng ở vào thế làm được gì cho anh ta; nên tôi đoán món quà này là để xin một khoản giúp anh chàng tội nghiệp ấy đắp đổi qua ngày. Tôi lấy ít tiền trong ví chìa ra cho anh ta, nhưng anh ta chắp tay phản đối: “Con không nhận được đâu, thưa ông!”

“Ơ, có chuyện gì thế?”

“Con xin thưa thật, thưa ông. Có lần túng quá, con đã ăn trộm mấy quả dừa trong vườn nhà ta. Con đang già đi rồi, ngày nào cũng có thể chết, nên con đến trả lại.”

Nhật ký của Amiel hôm ấy hẳn chẳng giúp gì được cho tôi. Nhưng mấy lời của Panchu làm lòng tôi nhẹ đi. Trên đời còn nhiều điều hơn là chuyện đàn ông đàn bà hợp hay tan. Thế giới lớn trải ra xa lắm, và người ta chỉ đo được đúng những vui buồn của mình khi đứng giữa lòng nó.

Panchu một lòng với thầy tôi. Tôi biết rõ anh ta xoay xở kiếm sống thế nào. Ngày nào anh cũng dậy trước rạng đông, mang một rổ lá _pan_, mấy bó thuốc lá vấn, chỉ bông màu, những chiếc lược con, gương soi và các thứ đồ lặt vặt mà đàn bà trong làng ưa thích, rồi lội qua vùng đầm nước ngập đến gối mà sang khu người Namasudra. Ở đó anh đổi hàng lấy gạo, thứ đem về được nhiều hơn giá tiền của chúng một chút. Nếu về sớm được thì ăn vội bữa cơm rồi anh lại đi, sang nhà người bán kẹo, phụ đập đường làm bánh. Vừa về đến nhà là anh ngồi vào làm vòng ốc, cặm cụi thường đến tận nửa đêm. Tất cả cái cực nhọc tàn nhẫn ấy chẳng kiếm nổi cho anh và gia đình hai bữa ăn đạm bạc mỗi ngày trong hơn nửa năm. Cách ăn của anh là bắt đầu bằng một hơi nước uống cho no bụng, và món chính của anh là thứ chuối hột rẻ nhất. Vậy mà cả nhà vẫn phải chịu mỗi ngày một bữa trong quãng thời gian còn lại của năm.

Có dạo tôi đã tính chu cấp thường xuyên cho anh ta. “Nhưng,” thầy tôi nói, “món con cho có thể huỷ hoại con người ấy, chứ không huỷ được cái cực trong phận anh ta. Mẹ Bengal đâu chỉ có mỗi một Panchu này. Nếu sữa trong ngực bà đã cạn thì cái đó không thể tiếp từ bên ngoài vào.”

Đó là những ý nghĩ khiến người ta phải dừng lại, và tôi quyết định dốc mình vào việc tìm lời giải. Ngay hôm ấy tôi nói với Bimal: “Chúng ta hãy hiến đời mình cho việc nhổ tận gốc nỗi khổ này ở xứ ta.”

“Anh là Hoàng tử Siddharta của em, em thấy rồi,” nàng cười đáp. “Nhưng anh đừng để dòng thác cảm xúc của anh cuốn phăng luôn cả em đấy nhé!”

“Siddharta phát nguyện một mình. Anh muốn nguyện của chúng ta là một giao ước chung.”

Cái ý ấy tan đi trong câu chuyện. Sự thật là trong thâm tâm Bimala là cái người ta gọi là một “mệnh phụ”. Dù nhà nàng chẳng khá giả, nàng sinh ra đã mang cốt cách một Rani. Nàng chẳng chút nghi ngờ rằng có một đơn vị đo thấp hơn dành cho những gian truân khốn khó của “tầng lớp dưới”. Thiếu thốn, dĩ nhiên, là một nét thường trực trong đời họ, nhưng với họ nó không nhất thiết có nghĩa là “thiếu thốn”. Chính sự nhỏ bé của họ che chở họ, như bờ ao che chở vũng nước; nới rộng bờ ra thì chỉ phơi thêm bùn.

Sự thật là Bimala mới chỉ bước vào nhà tôi, chứ chưa bước vào đời tôi. Tôi đã phóng đại nàng lên đến thế, dành cho nàng một chỗ lớn đến thế, nên khi mất nàng thì cả lối sống của tôi trở nên chật hẹp tù túng. Tôi đã gạt mọi thứ khác vào một xó để lấy chỗ cho Bimala — bị chiếm hết tâm trí như tôi đã bị, vào việc điểm trang cho nàng, may mặc cho nàng, dạy dỗ nàng và quẩn quanh bên nàng ngày đêm; mà quên mất nhân loại lớn lao đến đâu và đời một con người quý giá cao cả đến nhường nào. Khi những chuyện thường ngày lấn át được con người, thì Sự Thật bị bỏ khuất và tự do bị bỏ lỡ. Bimala đã làm cho những chuyện thường ngày ấy quan trọng đến mức đau đớn, đến nỗi sự thật vẫn bị che khuất khỏi tôi. Chính vì thế tôi chẳng thấy có khe hở nào trong nỗi khổ của mình, và trải cái điểm trống rỗng nhỏ xíu này của tôi ra khắp thế gian. Và thế là, suốt mấy giờ trong buổi sáng mùa Thu này, cái điệp khúc ấy cứ ngân trong tai tôi:

Tháng Tám đã về, và trời vỡ ra thành cơn mưa cuồng nhiệt; Than ôi, nhà ta trống không.

Chuyện của Bimala · XI

Sự đổi thay chỉ trong một khoảnh khắc đã ập xuống tâm hồn Bengal thật ghê gớm. Như thể sông Hằng đã chạm vào đống tro của sáu vạn người con của Sagar, thứ tro mà không ngọn lửa nào nhóm dậy nổi, không dòng nước nào khác nhào lại được thành đất sét sống. Đống tro của một Bengal đã tắt bỗng lên tiếng: “Ta đây.”

Tôi có đọc ở đâu đó rằng ở Hy Lạp cổ có một nhà điêu khắc may mắn được truyền sự sống vào pho tượng do chính tay ông tạc. Nhưng ngay trong phép lạ ấy vẫn có tiến trình hình thể đi trước sự sống. Còn ở đây, trong đống tro cằn này thì sự thống nhất nằm ở đâu? Giá chúng cứng như đá thì ta còn có thể hy vọng một hình thể nào đó hiện ra, y như Ahalya, dù đã hoá đá, rốt cuộc vẫn giành lại được thân phận con người. Nhưng đám tro tản mác này hẳn đã rơi xuống bụi qua kẽ những ngón tay Đấng Tạo Hoá, để rồi bị gió thổi tứ tán. Chúng đã bị chất thành đống, nhưng chưa bao giờ được hợp nhất. Vậy mà trong cái ngày đã đến với Bengal này, ngay cả cái tập hợp rời rạc ấy cũng đã thành hình, và dõng dạc như sấm tuyên bố ngay trước cửa nhà chúng tôi: “Ta đây.”

Làm sao chúng tôi không nghĩ rằng tất cả những cái đó là siêu nhiên? Khoảnh khắc ấy trong lịch sử chúng tôi dường như đã rơi vào tay chúng tôi như một viên ngọc rơi từ vương miện của một vị thần say. Nó chẳng giống gì quá khứ của chúng tôi; nên chúng tôi bị dẫn tới chỗ hy vọng rằng mọi thiếu thốn và khốn khổ của mình sẽ biến mất nhờ bùa phép của một câu thần chú nào đó, rằng với chúng tôi không còn đường ranh nào giữa cái khả dĩ và cái bất khả. Mọi thứ dường như đang nói với chúng tôi: “Nó đang đến; nó đã đến rồi!”

Thế là chúng tôi đi tới chỗ ấp ủ niềm tin rằng lịch sử của mình chẳng cần đến ngựa, mà như cỗ xe của nhà trời, nó sẽ chuyển động bằng chính sức mạnh vốn có của nó — Ít ra thì cũng chẳng phải trả công cho người đánh xe; chỉ cần rót đầy chén rượu cho ông ta hết lần này đến lần khác. Và rồi ở một thiên đường bất khả nào đó, cái đích của những hy vọng chúng tôi sẽ được chạm tới.

Chồng tôi không phải hoàn toàn không xao động, nhưng suốt cơn phấn khích của chúng tôi thì chính cái mạch buồn trong anh mới là cái cứ sâu thêm mãi. Anh dường như trông thấy một điều gì đó ở bên kia cái hiện tại đang dâng trào.

Tôi nhớ một hôm, giữa những cuộc tranh luận anh vẫn liên miên có với Sandip, anh nói: “Vận may đến tận cổng nhà ta mà xưng danh, chỉ để chứng tỏ rằng ta không có sức mà đón nhận nó — rằng ta đã không chuẩn bị sẵn mọi thứ để có thể mời nó vào nhà.”

“Không,” Sandip đáp. “Anh nói như một kẻ vô thần vì anh không tin vào các vị thần của chúng ta. Với chúng tôi thì đã hiện rõ rành rành rằng Nữ Thần đã đến cùng ân huệ của người, vậy mà anh còn ngờ vực những dấu hiệu hiển nhiên về sự có mặt của người.”

“Chính vì tôi tin mạnh mẽ vào Thượng đế của tôi,” chồng tôi nói, “nên tôi mới thấy chắc chắn rằng chúng ta còn thiếu sự chuẩn bị để thờ phụng người. Thượng đế có quyền năng ban ân huệ, nhưng chúng ta phải có sức mà nhận lấy nó.”

Kiểu nói ấy của chồng tôi chỉ làm tôi bực. Tôi không nhịn được mà xen vào: “Anh cho rằng cơn phấn khích này chỉ là ngọn lửa của cơn say, nhưng chẳng phải cơn say, đến một mức nào đó, cũng cho người ta sức mạnh sao?”

“Phải,” chồng tôi đáp. “Nó có thể cho sức mạnh, nhưng không cho vũ khí.”

“Nhưng sức mạnh là quà tặng của Thượng đế,” tôi nói tiếp. “Còn vũ khí thì mấy anh thợ máy cung cấp được.”

Chồng tôi mỉm cười. “Mấy anh thợ máy sẽ đòi công trước khi giao hàng,” anh nói.

Sandip ưỡn ngực mà đáp trả: “Anh khỏi lo chuyện đó. Công của họ sẽ được trả.”

“Tôi sẽ đặt nhạc hội khi tiền đã trả xong, chứ không phải trước đó,” chồng tôi đáp.

“Anh đừng tưởng chúng tôi phải trông vào lòng hào phóng của anh mới có nhạc,” Sandip khinh khỉnh nói. “Hội của chúng tôi ở trên mọi khoản chi trả.”

Rồi bằng cái giọng đục của mình, hắn cất tiếng hát:

“Người tình của ta, kẻ yêu bằng thứ tình không định giá, khinh mọi khoản trả, Thổi trên cây sáo mộc mua chẳng mất tiền, Mà kéo tim ta đi mất.”

Rồi hắn cười quay sang tôi mà nói: “Nếu tôi hát, thưa Ong Chúa, thì chỉ để chứng minh rằng khi âm nhạc đã vào đời một người thì thiếu giọng hay chẳng hề gì. Khi ta hát chỉ nhờ vào chỗ mình đúng nhịp đúng phách, thì bài hát bị hạ thấp. Nay cả một dòng lũ âm nhạc đã tràn qua xứ sở chúng ta, thì cứ để Nikhil ngồi tập gam, còn chúng ta thì đánh thức đất nước dậy bằng những giọng vỡ của mình:

“Nhà ta kêu lên: Đi ra ngoài làm gì cho mất sạch? Đời ta bảo: Tất cả những gì ngươi có, hãy quăng theo gió! Nếu phải mất sạch thì hãy mất sạch: nói cho cùng nó đáng giá gì? Nếu phải rước lấy tan hoang, thì hãy để ta rước lấy mà cười; Bởi cái ta tìm là ngụm rượu chết của sự bất tử.

“Sự thật là, Nikhil ạ, tất cả chúng ta đều đã mất trái tim mình. Chẳng ai còn giữ nổi chúng ta trong bờ cõi của cái dễ dàng khả dĩ nữa, giữa lúc chúng ta lao tới cái bất khả đến vô vọng.

“Những kẻ muốn kéo chúng ta lại, Chúng chẳng biết niềm vui đáng sợ của sự liều lĩnh. Chúng chẳng biết rằng chúng ta đã nhận được tiếng gọi Từ cuối con đường quanh co. Tất cả những gì tốt lành, ngay ngắn, gọn gàng — Hãy để chúng đổ nhào xuống bụi.”

Tôi tưởng chồng tôi sẽ tiếp tục cuộc tranh luận, nhưng anh lặng lẽ đứng dậy khỏi ghế rồi bỏ chúng tôi mà đi.

Cái đang khuấy động trong tôi chẳng qua chỉ là một biến tấu của cơn đam mê bão tố bên ngoài, thứ đang quét qua xứ sở từ đầu này sang đầu kia. Cỗ xe của kẻ cầm nắm số phận tôi đang đến rất nhanh, và tiếng bánh xe của nó dội vang trong con người tôi. Tôi thường trực có cảm giác rằng một điều phi thường nào đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào, mà trách nhiệm về nó lại chẳng thuộc về tôi. Chẳng phải tôi đã bị nhấc ra khỏi cái mặt phẳng nơi người ta phải cân nhắc đúng sai và cảm xúc của kẻ khác hay sao? Tôi đã bao giờ muốn điều này chưa — tôi đã bao giờ chờ đợi hay hy vọng một điều như thế chưa? Hãy nhìn suốt đời tôi rồi nói cho tôi biết, tôi có phải chịu trách nhiệm chút nào không.

Suốt quá khứ của mình tôi đã trước sau như một trong lòng tận tuỵ — nhưng rốt cuộc đến khi nhận ân huệ thì lại hiện ra một vị thần khác! Và cũng như xứ sở vừa tỉnh giấc, với tiếng _Bande Mataram_ của nó, rùng mình chào cái tương lai chưa thành hình trước mặt, thì mọi mạch máu và dây thần kinh của tôi cũng phát đi những cơn chấn động chào đón cái không ai nghĩ tới, cái không ai biết, cái Người Lạ nài nỉ ấy.

Một đêm tôi rời giường, lẻn khỏi phòng ra sân thượng lộ thiên. Bên kia bức tường vườn nhà tôi là những cánh đồng lúa đang chín. Qua những khoảng trống giữa các lùm cây trong làng về phía Bắc, có thể thoáng thấy dòng sông. Cả khung cảnh ấy ngủ trong bóng tối như cái phôi mờ mịt của một cuộc sáng tạo tương lai nào đó.

Trong cái tương lai ấy tôi thấy đất nước tôi, một người đàn bà như chính tôi, đang đứng chờ đợi. Nàng đã bị lôi ra khỏi góc nhà mình bởi tiếng gọi bất chợt của một Cái Không Biết nào đó. Nàng chẳng có thì giờ dừng lại hay ngẫm nghĩ, cũng chẳng kịp thắp cho mình một ngọn đuốc, mà đã lao về phía trước vào bóng tối. Tôi biết rõ lắm, cả linh hồn nàng đáp lại tiếng sáo xa xăm gọi nàng như thế nào; ngực nàng phập phồng ra sao; nàng cảm thấy mình đã tới gần nó, không, nó đã là của nàng rồi, đến mức có nhắm mắt mà chạy cũng chẳng sao. Nàng không phải một người mẹ. Chẳng có tiếng con đói nào gọi nàng, chẳng có mái nhà nào phải thắp đèn khi chiều xuống, chẳng có việc nhà nào phải làm. Vậy nên nàng hối hả đến chỗ hẹn, bởi đây là xứ sở của các Thi sĩ Vaishnava. Nàng đã rời nhà, quên hết bổn phận gia đình; nàng chẳng có gì ngoài một nỗi khao khát không dò được đáy đang hối thúc nàng đi — bằng con đường nào, tới đích nào, nàng chẳng buồn tính.

Tôi cũng bị chiếm hữu bởi đúng một nỗi khao khát như thế. Tôi cũng đã mất nhà và mất luôn cả lối. Cả cái đích lẫn phương tiện với tôi đều đã thành mờ mịt như nhau. Chỉ còn lại nỗi khao khát và sự hối hả lao đi. Ôi! Kẻ lang thang khốn khổ trong đêm ơi, khi rạng đông ửng đỏ ngươi sẽ chẳng thấy một dấu vết nào của con đường quay lại. Nhưng quay lại làm gì? Cái chết cũng được việc như thường. Nếu cái Bóng Tối đã thổi lên tiếng sáo kia dẫn tới sự huỷ diệt, thì bận lòng chi đến chuyện sau này? Khi tôi đã hoà vào cái đen của nó thì chẳng còn tôi, chẳng còn tốt xấu, chẳng còn tiếng cười, chẳng còn nước mắt nữa!

XII

Ở Bengal, bộ máy thời gian đột nhiên chạy hết công suất như thế, nên những việc vốn khó lại hoá dễ, cái nọ tiếp cái kia. Chẳng còn gì kìm lại được nữa, ngay cả ở góc quê chúng tôi. Ban đầu huyện chúng tôi tụt lại phía sau, vì chồng tôi không muốn ép buộc dân làng. “Ai hy sinh vì đất nước mình thì quả thật là người phụng sự nó,” anh vẫn nói, “nhưng ai nhân danh nó mà cưỡng ép người khác hy sinh thì là kẻ thù của nó. Họ chặt tự do ở gốc để giành lấy nó ở ngọn.”

Nhưng khi Sandip về đây ở, và các môn đồ của hắn bắt đầu đi khắp vùng, diễn thuyết ở các thị trấn và chợ búa, thì những đợt sóng phấn khích cũng cuộn tới chỗ chúng tôi. Một nhóm trai trẻ trong vùng theo hắn, có cả những đứa vốn nổi tiếng là nỗi nhục của làng. Nhưng ánh sáng của lòng nhiệt thành chân thật nơi chúng đã thắp chúng lên, cả bên trong lẫn bên ngoài. Trở nên rất rõ rằng khi ngọn gió trong lành của một niềm vui và niềm hy vọng lớn quét qua một xứ sở, thì mọi bẩn thỉu mục ruỗng đều được rửa sạch. Quả thật khó cho con người sống thẳng thắn, ngay ngắn và lành mạnh, khi đất nước họ đang quằn quại trong chán nản.

Bấy giờ mọi con mắt đổ dồn về chồng tôi, bởi chỉ mỗi điền trang của anh là đường, muối và vải ngoại chưa bị đuổi đi. Đến các viên chức của điền trang cũng bắt đầu thấy ngượng ngập và xấu hổ vì chuyện đó. Vậy mà, ít lâu trước, khi chồng tôi bắt đầu đưa hàng nội về làng, anh đã bị người già kẻ trẻ như nhau lén lút lẫn công khai chê là dại. Khi _Swadeshi_ chưa thành thứ để khoe khoang, chúng tôi đã khinh nó bằng cả tấm lòng.

Chồng tôi đến giờ vẫn gọt bút chì Ấn Độ bằng con dao Ấn Độ của anh, vẫn viết bằng bút sậy, vẫn uống nước bằng cái bình đồng thau, và vẫn làm việc ban đêm dưới ánh một ngọn đèn dầu thầu dầu kiểu cũ. Nhưng cái thứ _Swadeshi_ nhạt nhẽo như nước ốc ấy của anh chưa bao giờ hấp dẫn chúng tôi. Trái lại, chúng tôi vẫn luôn thấy xấu hổ vì đồ đạc thô kệch, lỗi mốt trong các phòng tiếp khách của anh, nhất là khi anh mời quan huyện, hay bất cứ người Âu nào khác, làm khách.

Chồng tôi vẫn coi nhẹ những lời phản đối của tôi. “Việc gì để mấy chuyện vặt ấy làm em bực?” anh cười nói.

“Họ sẽ nghĩ chúng ta là man di, hay ít nhất cũng là thiếu tinh tế.”

“Nếu họ nghĩ thế, anh sẽ trả lại họ bằng cách nghĩ rằng cái tinh tế của họ không sâu hơn lớp da trắng của họ.”

Chồng tôi để trên bàn viết một cái nồi đồng thường, dùng làm bình cắm hoa. Đã nhiều lần, khi nghe tin có khách Âu, tôi lẻn vào phòng anh mà thay vào đó một chiếc bình pha lê kiểu Âu. “Này Bimala,” cuối cùng anh phản đối, “cái nồi đồng ấy chẳng ý thức gì về chính nó, y như mấy bông hoa kia; còn cái bình này thì rêu rao mục đích của nó to đến mức nó chỉ hợp với hoa giả.”

Chỉ mỗi Bà Cả là chiều những ý thích kỳ khôi của chồng tôi. Có lần chị hớt hải chạy tới: “Ối chú ơi, chú nghe chưa? Có mấy loại xà phòng Ấn Độ đẹp lắm mới ra! Cái thời xa hoa của chị qua rồi; nhưng nếu chúng không có mỡ động vật thì chị cũng muốn dùng thử.”

Kiểu ấy làm mặt chồng tôi rạng hết cả lên, và cả nhà ngập trong hương liệu với xà phòng Ấn Độ. Xà phòng cơ đấy! Chúng giống mấy cục xút hơn. Mà chẳng lẽ tôi không biết rằng thứ chị dâu tôi dùng cho chính mình vẫn là xà phòng Âu như cũ, còn mấy thứ kia thì đem cho đám hầu gái giặt quần áo?

Lần khác thì: “Ối chú ơi, chú kiếm cho chị mấy cái quản bút Ấn Độ mới ấy với.”

“Chú” của chị lại sủi bọt lên như thường, và phòng Bà Cả ngổn ngang đủ thứ que ghê rợn mang danh quản bút _Swadeshi_. Chẳng phải chúng có ích gì cho chị, vì đọc và viết không thuộc phần chị. Ấy thế mà trong hộp bút của chị vẫn nằm đúng cái quản bút ngà ấy, cái duy nhất từng được cầm tới.

Sự thật là tất cả những cái đó nhằm chọc vào tôi, vì tôi không chịu theo chồng trong những trò kỳ khôi của anh. Có vạch ra sự giả dối của chị dâu tôi cũng vô ích; chỉ cần tôi vừa chạm tới là mặt chồng tôi đanh lại. Cứ thử cứu những người như thế khỏi bị lừa mà xem, chỉ tổ chuốc vạ vào thân!

Bà Cả thích may vá. Một hôm tôi không nhịn được mà buột ra: “Chị giả dối quá đi mất! Có mặt ‘chú’ chị thì mới nhắc đến kéo _Swadeshi_ chị đã chảy nước miếng, thế mà lần nào may chị cũng dùng đồ Anh.”

“Hại gì?” chị đáp. “Em không thấy chú ấy vui đến thế nào à? Chị em mình lớn lên trong nhà này, từ hồi chú ấy còn là thằng bé. Chị đơn giản là không chịu nổi như em cái cảnh nụ cười rời khỏi mặt chú ấy. Tội nghiệp, chú ấy chẳng có thú vui nào ngoài cái trò chơi bán hàng này. Em là thứ men say duy nhất của chú ấy, mà rồi em sẽ là chỗ tàn của chú ấy!”

“Chị nói gì thì nói, sống hai mặt là không phải,” tôi vặn lại.

Chị dâu tôi cười phá lên ngay trước mặt tôi. “Ôi cái Bà Bé ngây thơ bé bỏng của chúng ta! — thẳng như cái thước của ông giáo, phải không? Nhưng đàn bà không được đúc theo lối ấy. Đàn bà mềm và dẻo, để có thể cong mà không thành cong queo.”

Tôi không sao quên được mấy chữ ấy: “Em là thứ men say của chú ấy, và rồi sẽ là chỗ tàn của chú ấy!” Hôm nay tôi thấy — nếu một người đàn ông nhất định phải có một thứ men say nào đó, thì xin đừng để nó là một người đàn bà.

XIII

Suksar, nằm trong điền trang chúng tôi, là một trong những đầu mối buôn bán lớn nhất huyện. Bên này một dải nước là chợ họp hằng ngày; bên kia là chợ phiên. Vào mùa mưa, khi dải nước ấy nối với sông và thuyền bè vào được, thì hàng đống sợi bông và hàng len cho mùa đông sắp tới được chở về bán.

Giữa lúc lòng nhiệt thành của chúng tôi lên cao nhất, Sandip đặt ra nguyên tắc rằng mọi hàng ngoại, cùng với con quỷ ảnh hưởng ngoại bang, phải bị đuổi khỏi lãnh địa của chúng tôi.

“Dĩ nhiên rồi!” tôi nói, xắn tay chuẩn bị một trận.

“Tôi đã nói qua với Nikhil về việc đó,” Sandip nói. “Anh ấy bảo tôi rằng anh ấy không ngại diễn thuyết, nhưng anh ấy sẽ không chấp nhận cưỡng ép.”

“Việc đó để tôi lo,” tôi nói, với một ý thức đầy kiêu hãnh về quyền lực của mình. Tôi biết tình yêu chồng tôi dành cho tôi sâu đến đâu. Giá còn tỉnh trí, hẳn tôi thà để mình bị xé thành trăm mảnh còn hơn viện đến cái quyền ấy, vào một lúc như thế. Nhưng Sandip thì phải được thấy toàn bộ sức mạnh _Shakti_ của tôi.

Bằng cái lối không sao cưỡng nổi của mình, Sandip đã khắc vào đầu tôi rằng Năng Lượng vũ trụ hiển lộ ra với mỗi cá nhân dưới hình hài một mối duyên đặc biệt nào đó. Triết học Vaishnava, hắn nói, nói đến _Shakti_ của Niềm Vui trú ngụ trong tim cuộc sáng tạo, mãi mãi cuốn hút trái tim Người Tình Vĩnh Cửu của nàng. Con người luôn khao khát đưa cái _Shakti_ ấy ra khỏi những vực khuất trong bản tính mình, và những ai trong chúng ta làm được điều đó thì lập tức hiểu rõ ý nghĩa của khúc nhạc từ trong Bóng Tối vọng lại. Rồi hắn bật ra hát:

“Cây sáo của ta, vốn bận rộn với khúc hát của mình, Nay lặng đi khi hai ta đứng đối diện. Tiếng gọi của ta đã tìm ngươi từ trời này sang trời khác Khi ngươi còn ẩn mình; Nhưng bây giờ mọi tiếng kêu của ta đều tìm thấy nụ cười của nó Trên gương mặt người ta yêu dấu.”

Nghe những ẩn dụ của hắn, tôi đã quên rằng mình chỉ là Bimala tầm thường giản dị. Tôi là _Shakti_; và cũng là hiện thân của niềm vui Vũ Trụ. Chẳng gì trói được tôi, chẳng gì là bất khả với tôi; bất cứ thứ gì tôi chạm vào cũng có được sự sống mới. Thế giới quanh tôi là một cuộc sáng tạo mới mẻ của chính tôi; bởi này xem, trước khi trái tim tôi đáp lại mà chạm vào nó, làm gì có cả kho vàng ấy trên bầu trời mùa Thu! Và người anh hùng này, người phụng sự đất nước chân chính này, kẻ sùng bái tôi này — cái trí tuệ rực lửa này, cái năng lượng cháy bỏng này, cái thiên tài chói sáng này — hắn cũng là do tôi tạo ra từng khoảnh khắc một. Chẳng phải tôi đã thấy sự có mặt của mình rót sinh khí mới vào hắn hết lần này đến lần khác đó sao?

Hôm nọ Sandip xin tôi tiếp một cậu trai trẻ tên Amulya, một môn đồ nhiệt thành của hắn. Chỉ trong một khoảnh khắc tôi thấy một ánh sáng mới loé lên trong mắt cậu bé, và biết rằng cậu cũng đã trông thấy _Shakti_ hiển hiện, rằng sức sáng tạo của tôi đã bắt đầu làm việc trong máu cậu. “Bà làm phép thuật gì thế!” hôm sau Sandip kêu lên. “Amulya không còn là một thằng bé nữa, bấc đời nó đã bốc lửa cả rồi. Ai giấu nổi ngọn lửa của bà dưới mái nhà bà? Sớm muộn từng người một sẽ bị nó châm vào, và khi mọi ngọn đèn đều sáng thì cả xứ sở sẽ có một hội _Dewali_ tưng bừng biết mấy!”

Loá mắt vì chính vinh quang của mình, tôi đã quyết ban cho kẻ sùng bái tôi cái ân huệ ấy. Tôi tự tin quá mức rằng chẳng ai cản nổi tôi giành thứ tôi thật sự muốn. Khi trở về phòng sau cuộc chuyện trò với Sandip, tôi xoã tóc ra rồi bới lại. Cô Gilby đã dạy tôi một lối chải hất tóc lên từ gáy rồi vấn thành búi trên đỉnh đầu. Kiểu ấy chồng tôi rất thích. “Tiếc thật,” có lần anh nói, “rằng Trời lại chọn cái anh tồi tàn này, thay vì thi sĩ Kalidas, để bày ra mọi kỳ diệu nơi cái gáy của một người đàn bà. Nhà thơ hẳn sẽ ví nó với một cuống hoa; còn anh thì thấy nó là một ngọn đuốc, giơ cao ngọn lửa đen là mái tóc em.” Rồi anh… nhưng sao, ôi sao tôi lại quay về với tất cả những cái đó?

Tôi cho gọi chồng tôi. Ngày trước tôi có thể bịa ra một trăm lẻ một cái cớ, hay dở gì cũng được, để anh đến với tôi. Nay tất cả những cái đó đã ngừng bao ngày, nên tôi đã mất luôn cái nghệ thuật bịa cớ.

Chuyện của Nikhil · VI

Vợ Panchu vừa chết vì bệnh lao kéo dài. Panchu phải làm một lễ thanh tẩy để rửa sạch tội mình và lấy lòng cộng đồng. Cộng đồng đã tính toán rồi báo cho anh biết rằng lễ ấy tốn một trăm hai mươi ba rupee.

“Thật vô lý!” tôi kêu lên, giận lắm. “Đừng chịu thế, Panchu. Họ làm gì được anh nào?”

Ngước lên nhìn tôi bằng đôi mắt nhẫn nhục như mắt một con vật thồ đã kiệt sức, anh nói: “Con còn đứa con gái lớn, thưa ông, rồi phải gả nó. Mà lễ cho vợ con tội nghiệp cũng phải làm cho trót.”

“Ngay cả nếu tội là của anh, Panchu ạ,” tôi nghĩ thành lời, “thì chắc chắn anh cũng đã chịu đủ vì nó rồi.”

“Đúng thế, thưa ông,” anh hồn nhiên tán thành. “Con đã phải bán một phần ruộng và cầm nốt phần còn lại để trả tiền thuốc. Nhưng những thứ phải cúng cho các thầy Bà La Môn thì chẳng có đường nào thoát.”

Tranh cãi thì ích gì? Tôi tự hỏi bao giờ mới đến lúc thanh tẩy cho chính những người Bà La Môn có thể nhận những lễ vật như thế?

Sau cơn bệnh và đám tang của vợ, Panchu, vốn đã chông chênh bên bờ nạn đói, nay hụt hẳn chân. Trong một nỗ lực tuyệt vọng tìm chút an ủi nào đó, anh đâm ra ngồi dưới chân một ông tu sĩ khất thực, và học được đủ triết lý để quên rằng con mình đang đói. Có một dạo anh ngâm mình trong cái ý rằng đời là phù hư, và nếu nó chẳng có khoái lạc nào thì đau khổ cũng chỉ là ảo tưởng. Rồi rốt cuộc, một đêm anh bỏ lũ con nhỏ lại trong túp lều xiêu vẹo, mà lên đường lang thang theo ý mình.

Hồi ấy tôi chẳng hay biết gì về chuyện này, bởi đúng lúc đó trong lòng tôi đang diễn ra cả một cuộc khuấy biển sữa của thần và quỷ. Thầy tôi cũng chẳng kể rằng ông đã đưa lũ con bị bỏ rơi của Panchu về dưới mái nhà mình mà nuôi, dù ông sống một mình và cả ngày còn phải lo trường lớp.

Một tháng sau Panchu trở về, cơn sốt tu hành đã sờn đi khá nhiều. Đứa con trai lớn và đứa con gái lớn của anh rúc vào lòng anh mà khóc: “Bấy nay cha đi đâu?” Thằng út ngồi đầy lòng anh; đứa con gái thứ hai chồm lên lưng anh, hai tay ôm cổ; và cả nhà cùng khóc. “Ôi thưa ông!” cuối cùng Panchu nức nở nói với thầy tôi. “Con không đủ sức cho lũ nhỏ này ăn no — mà con cũng không được tự do bỏ chúng mà đi. Con đã phạm tội gì mà bị quất roi thế này, tay chân bị trói thế này?”

Trong lúc ấy thì sợi dây buôn bán nhỏ nhoi của Panchu đã đứt, và anh thấy mình không nối lại được. Anh bám lấy mái nhà thầy tôi, nơi đã đón anh khi anh trở về, mà chẳng nói một lời về chuyện quay lại nhà mình. “Này Panchu,” cuối cùng thầy tôi buộc phải nói. “Nếu anh không trông nom túp lều của anh thì nó sẽ đổ sập mất. Tôi sẽ cho anh vay ít tiền để anh buôn bán vặt, rồi trả dần cho tôi.”

Panchu không lấy làm mừng lắm — chẳng lẽ trên đời chẳng có cái gọi là làm phúc sao? Và khi thầy tôi bảo anh viết giấy nhận tiền, anh thấy cái ân huệ đòi hoàn lại này chẳng đáng nhận là bao. Nhưng thầy tôi không muốn cho một món quà bề ngoài mà để lại một món nợ bên trong. Huỷ lòng tự trọng của một người là huỷ đẳng cấp của người ấy, đó là ý ông.

Sau khi ký giấy, cái vái của Panchu với thầy tôi bớt cung kính đi nhiều — phần cúi nhận bụi dưới chân đã bị bỏ. Điều đó làm thầy tôi mỉm cười; ông chẳng mong gì hơn là phép lịch sự bớt cúi thấp đi. “Kính trọng cho đi và nhận lại thì quả thật cân bằng được sổ sách giữa người với người,” ông nói thế, “còn sùng bái thì là trả thừa.”

Panchu bắt đầu mua vải ở chợ rồi mang bán rong khắp làng. Quả thật anh chẳng thu được mấy tiền mặt, nhưng những thứ anh đổi được — gạo, đay và nông sản khác — thì dùng để trừ dần vào sổ nợ. Trong hai tháng anh đã trả được một kỳ nợ cho thầy tôi, và kèm theo đó cái vái của anh cũng nông đi tương ứng. Hẳn anh đã bắt đầu thấy rằng bấy lâu mình đã sùng bái như một vị thánh một con người chẳng qua cũng chỉ là người, thậm chí còn chưa vượt lên nổi sức hút của đồng tiền.

Trong lúc Panchu đang bận bịu như thế thì trọn cú va của con lũ _Swadeshi_ giáng xuống anh.

VII

Đang kỳ nghỉ, nhiều thanh niên trong làng và vùng lân cận đã từ trường học và đại học về nhà. Chúng hào hứng gắn mình vào quyền lãnh đạo của Sandip, và có đứa, vì thừa nhiệt tình, đã bỏ hẳn việc học. Nhiều đứa trong đám ấy từng học miễn phí ở trường tôi mở tại đây, và có đứa còn nhận học bổng đại học của tôi ở Calcutta. Chúng kéo cả bọn tới đòi tôi phải đuổi hàng ngoại khỏi chợ Suksar của tôi.

Tôi bảo chúng rằng tôi không làm việc đó.

Chúng mỉa: “Sao thế, thưa Maharaja, ngài sợ lỗ quá chăng?”

Tôi không để ý đến sự xúc phạm trong giọng chúng, và đang định đáp rằng người chịu lỗ sẽ là những người buôn bán nghèo và khách hàng của họ, chứ không phải tôi, thì thầy tôi, đang có mặt ở đó, chen vào.

“Phải, người chịu lỗ sẽ là ông ấy — chứ không phải các anh, cái đó thì đã rõ,” ông nói.

“Nhưng vì đất nước thì…”

“Đất nước không có nghĩa là đất đai, mà là những con người trên đó,” thầy tôi lại ngắt lời. “Các anh đã từng phí lấy một cái liếc mắt vào chuyện đang xảy ra với họ chưa? Vậy mà bây giờ các anh lại đi ra lệnh cho họ phải ăn thứ muối nào, mặc thứ áo nào. Cớ gì họ phải chịu cái cường quyền ấy, và cớ gì chúng ta lại để các anh làm thế?”

“Nhưng chính chúng cháu cũng đã chuyển sang dùng muối, đường và vải Ấn Độ rồi.”

“Các anh muốn làm gì thì làm để xả cơn bực dọc, để giữ cho cơn cuồng tín của mình. Các anh khá giả, các anh chẳng cần bận tâm đến cái giá. Người nghèo không muốn đứng chắn đường các anh, nhưng các anh cứ nhất định bắt họ chịu sự cưỡng ép của mình. Thực trạng là từng khoảnh khắc của họ đều là một cuộc vật lộn sống chết để kiếm miếng ăn; các anh còn chẳng hình dung nổi vài đồng xu có ý nghĩa gì với họ — giữa các anh và họ có gì chung đâu. Cả quá khứ của các anh trôi qua trong một toa hạng trên, và giờ các anh bước xuống để dùng họ làm công cụ trút cơn giận của mình. Tôi gọi đó là hèn.”

Chúng đều là học trò cũ của thầy tôi, nên chẳng dám hỗn, dù đang run lên vì phẫn nộ. Chúng quay sang tôi. “Vậy thưa Maharaja, ngài sẽ là người duy nhất đặt chướng ngại trên đường tới điều mà đất nước muốn đạt được sao?”

“Tôi là ai mà dám làm một việc như thế? Chẳng phải tôi thà bỏ mạng để giúp nó hay sao?”

Cậu sinh viên M.A. cười một nụ cười méo mà hỏi: “Chúng cháu xin phép hỏi thật ra ngài đang làm gì để giúp ạ?”

“Tôi đã nhập sợi bông do nhà máy Ấn Độ dệt và để bán ở chợ Suksar của tôi, đồng thời cũng gửi từng kiện sang các chợ thuộc các _zamindar_ láng giềng.”

“Nhưng chúng cháu đã tới chợ của ngài, thưa Maharaja,” chính cậu sinh viên ấy kêu lên, “và thấy chẳng ai mua thứ sợi ấy.”

“Đó không phải lỗi của tôi, cũng chẳng phải lỗi của cái chợ. Nó chỉ cho thấy cả nước chưa hề thề như các anh.”

“Chưa hết,” thầy tôi nói tiếp. “Nó cho thấy điều các anh cam kết chẳng qua là quấy nhiễu người khác. Các anh muốn những người buôn vốn chưa thề gì cả phải mua thứ sợi ấy; những người thợ dệt vốn chưa thề gì cả phải dệt nó lên; rồi rốt cuộc hàng của họ bị tống cho những người tiêu dùng cũng chưa thề gì cả. Bằng cách nào? Bằng tiếng gào của các anh, và sự áp bức của đám _zamindar_. Kết quả: chính nghĩa thì về hết phần các anh, còn thiếu thốn thì về hết phần họ!”

“Và chúng cháu xin phép hỏi thêm, phần thiếu thốn của thầy là gì ạ?” một cậu sinh viên khoa học truy tiếp.

“Các anh muốn biết chứ gì?” thầy tôi đáp. “Chính Nikhil là người phải ôm lấy chỗ sợi máy Ấn Độ ấy; ông ấy đã phải mở một trường dệt để có người dệt nó; và cứ theo những kỳ tích kinh doanh chói lọi trước đây của ông ấy mà đoán, thì đến lúc vải của ông ấy rời khung cửi, giá thành của chúng sẽ ngang vải dệt sợi vàng; nên có lẽ chúng chỉ dùng được làm rèm cho phòng khách của ông ấy, dù mỏng đến mức chẳng che nổi ông ấy. Khi nào các anh chán lời thề của mình, chính các anh sẽ là người cười to nhất trước hiệu quả nghệ thuật của chúng. Mà nếu tay nghề làm ra chúng có bao giờ được đánh giá đúng, thì người đánh giá sẽ là dân ngoại quốc.”

Tôi biết thầy tôi cả đời, nhưng chưa bao giờ thấy ông xúc động đến thế. Tôi thấy được rằng nỗi đau đã lặng lẽ tích lại trong lòng ông một thời gian, chỉ vì tình thương quá lớn của ông dành cho tôi, và cái điềm tĩnh vốn thành nếp của ông đã bị ngấm ngầm bào mòn tới điểm gãy.

“Thầy là bậc trên của chúng cháu,” cậu sinh viên y khoa nói. “Chúng cháu mà đôi co với thầy thì thật không phải phép. Nhưng xin thầy nói cho, cuối cùng thì có phải ngài đã quyết không tống hàng ngoại khỏi chợ của mình không ạ?”

“Tôi sẽ không,” tôi nói, “bởi chúng không phải của tôi.”

“Bởi thế thì ngài sẽ lỗ!” cậu sinh viên M.A. cười.

“Bởi người nào chịu lỗ thì người ấy phán xử đúng nhất,” thầy tôi vặn lại.

Cùng một tiếng hô _Bande Mataram_, chúng bỏ chúng tôi mà đi.