Người có của — Lời tựa năm 1922 và các lời đề tặng
Chương 1 / 33 · Bài review Người có của
TẶNG VỢ TÔI: TÔI XIN ĐỀ TẶNG NÀNG TRỌN BỘ TRƯỜNG THIÊN FORSYTE, VÌ TIN RẰNG TRONG TẤT CẢ CÁC TÁC PHẨM CỦA TÔI, ĐÂY LÀ TÁC PHẨM ÍT BẤT XỨNG NHẤT VỚI NGƯỜI MÀ NẾU KHÔNG CÓ SỰ KHÍCH LỆ, CẢM THÔNG VÀ PHÊ BÌNH CỦA NÀNG, TÔI HẲN KHÔNG BAO GIỜ CÓ THỂ TRỞ THÀNH DÙ CHỈ MỘT NHÀ VĂN NHƯ TÔI HIỆN NAY.
“Bộ trường thiên Forsyte” vốn là nhan đề dành cho phần nay được gọi là “Người có của”; và việc dùng nó làm nhan đề cho toàn bộ biên niên sử gia đình Forsyte đã chiều theo tính bám giữ kiểu Forsyte vốn có trong tất cả chúng ta. Người ta có thể phản đối chữ trường thiên, với lý do nó gợi hàm ý anh hùng, mà trong những trang sách này lại chẳng có bao nhiêu chất anh hùng. Nhưng chữ ấy được dùng với một vẻ mỉa mai thích đáng; và xét cho cùng, câu chuyện dài này, dẫu có nói về những con người khoác áo đuôi tôm, diện xiêm áo diêm dúa, sống trong một thời đại mạ vàng, cũng không phải không có sức nóng căn cốt của xung đột. Nếu chiết giảm tầm vóc khổng lồ và thói khát máu của người xưa như họ đã truyền lại đến chúng ta qua truyện thần tiên và huyền thoại, thì con người trong những thiên truyện cổ, xét về bản năng chiếm hữu, chắc chắn cũng là những Forsyte, và cũng chẳng chống đỡ nổi sự xâm nhập của Cái Đẹp và Đam Mê hơn Swithin, Soames, hay ngay cả Jolyon trẻ. Và nếu những hình tượng anh hùng, trong những ngày chưa từng có thật, dường như nổi bật khỏi khung cảnh chung theo một cung cách không xứng hợp với một Forsyte thời Victoria, thì ta vẫn có thể tin chắc rằng ngay thuở ấy bản năng bộ tộc đã là sức mạnh hàng đầu, và “gia đình”, cùng ý thức về mái nhà và tài sản, vẫn có sức nặng như cho đến tận ngày nay, bất chấp mọi nỗ lực gần đây nhằm “nói cho chúng mất đi”.
Đã có biết bao người viết thư quả quyết rằng gia đình họ chính là nguyên mẫu của các Forsyte, đến nỗi người ta gần như được khuyến khích tin rằng một giống loài tưởng tượng quả thực có tính điển hình. Phong tục đổi thay, lề thói biến chuyển, và “nhà Timothy trên đường Bayswater” trở thành một tổ ấm không sao tin nổi, trừ những điều cốt yếu; chúng ta sẽ chẳng còn gặp lại một nơi như thế, mà có lẽ cũng chẳng còn gặp một người như James hay cụ Jolyon. Thế nhưng những con số của các Hội Bảo hiểm và những lời phán của các Quan tòa hằng ngày vẫn khiến ta yên tâm rằng thiên đường trần thế của mình còn là một khu bảo tồn trù phú, nơi hai kẻ xâm nhập hoang dã là Cái Đẹp và Đam Mê lẻn vào, cuỗm mất sự an toàn ngay dưới mũi chúng ta. Chắc chắn như một con chó sẽ sủa vào đoàn kèn đồng, cái Soames căn cốt trong bản tính con người sẽ mãi bất an vùng dậy chống lại sự tan rã lởn vởn quanh những nếp gấp của quyền sở hữu.
“Hãy để Quá khứ đã chết chôn cất những gì đã chết của nó” hẳn sẽ là một câu chí lý hơn, nếu Quá khứ có bao giờ chết. Sự dai dẳng của Quá khứ là một trong những phúc lành bi hài mà mỗi thời đại mới đều phủ nhận, khi nó ngạo nghễ bước lên sân khấu, oang oang tuyên bố mình hoàn toàn mới mẻ.
Nhưng chẳng Thời đại nào mới mẻ đến thế! Bản tính Con người, bên dưới những kiểu cách và y phục luôn đổi thay, vẫn là và sẽ mãi là một Forsyte đậm nét; mà xét cho cùng, nó còn có thể là một giống vật tệ hơn nhiều.
Ngoảnh nhìn lại thời Victoria, mà độ chín, sự suy tàn và “sụp-đổ-của” nó phần nào được khắc họa trong “Bộ trường thiên Forsyte”, giờ đây ta thấy mình chẳng qua chỉ nhảy từ chảo rán vào lửa. Sẽ khó lòng chứng minh được rằng tình cảnh nước Anh năm 1913 khá hơn năm 1886, khi các Forsyte tụ họp tại nhà cụ Jolyon để mừng lễ đính hôn của June với Philip Bosinney. Và vào năm 1920, khi dòng họ lại quây quần để chúc phúc cho cuộc hôn nhân của Fleur với Michael Mont, tình trạng nước Anh chắc chắn cũng quá nung chảy và kiệt quệ, chẳng khác nào trong thập niên tám mươi nó đã quá đông cứng và lợi tức quá thấp. Nếu những thiên biên niên này thực sự là một công trình nghiên cứu khoa học về thời kỳ chuyển tiếp, hẳn người ta đã phải chú trọng đến những nhân tố như sự phát minh ra xe đạp, xe hơi và máy bay; sự xuất hiện của báo chí giá rẻ; sự suy tàn của đời sống thôn quê và sự bành trướng của đô thị; sự ra đời của Điện ảnh. Thực ra, con người hoàn toàn không thể kiểm soát những phát minh của chính mình; giỏi lắm họ chỉ phát triển được khả năng thích nghi với những điều kiện mới do các phát minh ấy tạo ra.
Nhưng câu chuyện dài này không phải một công trình nghiên cứu khoa học về một thời đại; đúng hơn, nó là hiện thân gần gũi của sự xáo động mà Cái Đẹp gây nên trong đời sống con người.
Hình tượng Irene—như độc giả có lẽ đã nhận thấy—không bao giờ hiện diện, trừ khi qua cảm quan của những nhân vật khác, là sự kết tụ của Cái Đẹp gây xáo động khi va chạm với một thế giới chiếm hữu.
Tôi nhận thấy rằng, khi lội dần qua những vùng nước mặn của Bộ trường thiên, độc giả càng lúc càng có khuynh hướng thương hại Soames, và tưởng rằng làm thế tức là chống lại cảm thức của người sáng tạo ra anh ta. Hoàn toàn không phải! Người ấy cũng thương hại Soames; bi kịch đời anh là cái bi kịch vô cùng giản dị, không sao chế ngự nổi, của một kẻ không thể được yêu, nhưng da lại chưa đủ dày để hoàn toàn không ý thức được điều đó. Ngay cả Fleur cũng không yêu Soames theo cách anh cảm thấy mình đáng được yêu. Nhưng khi thương hại Soames, có lẽ độc giả lại sinh ác cảm với Irene: Xét cho cùng, họ nghĩ, anh ta đâu phải người xấu, đó đâu phải lỗi của anh ta; nàng lẽ ra phải tha thứ cho anh ta, vân vân!
Và vì đứng về một phía, họ không còn nhận ra sự thật giản dị nằm dưới toàn bộ câu chuyện: khi sức hấp dẫn giới tính hoàn toàn và dứt khoát vắng bóng ở một người trong một cuộc kết hợp, thì không một lượng thương hại, lý trí, bổn phận hay bất cứ thứ gì khác có thể thắng nổi sự ghê sợ vốn hàm chứa trong Tự nhiên. Nó có nên thắng nổi hay không là chuyện ngoài lề; bởi trên thực tế, điều ấy chẳng bao giờ xảy ra. Và ở những chỗ Irene có vẻ lạnh lùng, tàn nhẫn, như tại Bois de Boulogne hay Phòng tranh Goupenor, nàng chẳng qua chỉ sáng suốt nhìn thẳng vào thực tế—biết rằng nhượng một inch nhỏ nhất cũng là mở đường cho cái ell không thể chấp nhận, ghê tởm.
Một lời phê bình có thể dành cho giai đoạn cuối của Bộ trường thiên là lời trách rằng Irene và Jolyon—hai kẻ nổi loạn chống lại quyền sở hữu ấy—lại đòi quyền sở hữu tinh thần đối với con trai mình là Jon. Nhưng xét theo cách câu chuyện được kể, đó sẽ là sự bắt bẻ quá mức. Không người cha, người mẹ nào có thể để chàng trai cưới Fleur mà không cho chàng biết sự thật; và chính sự thật quyết định Jon, chứ không phải lời thuyết phục của cha mẹ chàng. Hơn nữa, Jolyon thuyết phục không phải vì bản thân mình, mà vì Irene; còn lời thuyết phục của Irene rốt cuộc chỉ được nhắc đi nhắc lại thành: “Đừng nghĩ đến mẹ, hãy nghĩ đến chính con!” Việc Jon, sau khi biết sự thật, có thể thấu hiểu cảm xúc của mẹ mình, khó lòng bị xem một cách công bằng là bằng chứng rằng xét cho cùng, nàng vẫn là một Forsyte.
Nhưng dẫu sự va chạm của Cái Đẹp và những đòi hỏi của Tự do với một thế giới chiếm hữu là mối bận tâm chính của Bộ trường thiên Forsyte, tác phẩm vẫn không thể thoát khỏi lời cáo buộc rằng nó đã ướp xác tầng lớp trung lưu thượng lưu. Cũng như người Ai Cập cổ đặt quanh xác ướp những vật cần thiết cho kiếp sống mai sau, tôi đã cố đặt bên cạnh hình bóng các cô Ann, Juley và Hester, Timothy và Swithin, cụ Jolyon và James, cùng các con trai của họ, những gì sẽ bảo đảm cho họ một chút sự sống ở đời sau, một chút dầu thơm trong miền Gilead hối hả của một thứ “Tiến bộ” đang tan rã.
Nếu tầng lớp trung lưu thượng lưu, cùng các tầng lớp khác, đã được định sẵn sẽ “tiến bước” vào cõi vô hình dạng, thì ở đây, được ngâm giữ trong những trang sách này, nó nằm dưới lớp kính cho khách nhàn du ngắm nhìn trong bảo tàng Văn chương rộng lớn mà bài trí hỗn độn. Ở đây nó yên nghỉ, được bảo tồn trong chính thứ nước cốt của mình: Ý thức Sở hữu. 1922.
của JOHN GALSWORTHY “........Ngài sẽ trả lời: Những kẻ nô lệ là của chúng ta.....” —Người lái buôn thành Venice. TẶNG EDWARD GARNETT