Người có của — Chương 32: Irene trở về

Chương 33 / 33 · Bài review Người có của

Sau khi bỏ lại James và cụ Jolyon trong nhà xác của bệnh viện, Soames bước vội mà không mục đích qua các phố.

Biến cố bi thảm là cái chết của Bosinney đã làm thay đổi bộ mặt của mọi sự. Cái cảm giác rằng chỉ chậm một phút thôi cũng sẽ tai hại không còn như trước nữa; và giờ đây chàng cũng không dám hé lộ với bất cứ ai chuyện vợ mình bỏ đi, ít nhất là cho tới khi cuộc điều tra tử thi kết thúc.

Sáng hôm ấy chàng đã dậy sớm, trước khi người đưa thư tới, và tự tay lấy những lá thư của chuyến phát đầu tiên ra khỏi hộp. Tuy không có thư của Irene, chàng vẫn tìm được dịp nói với Bilson rằng cô chủ của chị ta đang ở ngoài biển; chàng bảo có lẽ chính mình cũng sẽ xuống đó từ thứ Bảy đến thứ Hai. Nhờ vậy chàng có thời gian để thở, thời gian để không bỏ qua bất cứ cách nào hòng tìm ra nàng.

Nhưng giờ đây, bị cái chết của Bosinney chặn mất mọi đường hành động—cái chết kỳ lạ mà hễ nghĩ tới là như áp một thanh sắt nung vào tim chàng, lại cũng như nhấc khỏi đó một gánh nặng—chàng không biết phải tiêu hết ngày ra sao; chàng lang thang hết phố này sang phố khác, nhìn từng khuôn mặt mình gặp, lòng bị trăm mối lo âu gặm nhấm.

Và trong lúc lang thang, chàng nghĩ đến người đã chấm dứt mọi cuộc lang thang, mọi phen rình rập của mình, và sẽ không bao giờ còn ám quanh nhà chàng nữa.

Ngay từ buổi chiều chàng đã đi ngang những tờ yết báo tin danh tính người chết, rồi mua báo xem họ viết gì. Chàng sẽ bịt miệng họ nếu có thể; chàng đi vào khu City và đóng cửa bàn bạc với Boulter rất lâu.

Trên đường về nhà, khi đi ngang bậc thềm nhà Jobson vào khoảng bốn giờ rưỡi, chàng gặp George Forsyte. George chìa một tờ báo chiều cho Soames và nói:

“Này! Anh đã đọc chuyện về Gã Cướp Biển tội nghiệp chưa?”

Soames lạnh lùng đáp: “Rồi.”

George nhìn chàng chằm chằm. Anh ta chưa bao giờ ưa Soames; giờ đây anh ta quy trách nhiệm cho Soames về cái chết của Bosinney. Soames đã kết liễu chàng—kết liễu chàng bằng chính hành vi thực thi quyền sở hữu đã khiến Gã Cướp Biển phát cuồng trong buổi chiều định mệnh ấy.

Anh ta nghĩ: “Anh chàng tội nghiệp điên lên vì ghen, điên lên vì khát báo thù đến nỗi chẳng nghe thấy chiếc xe buýt hai tầng trong màn sương quái quỷ ấy.”

Soames đã đẩy chàng đến chỗ chết! Và lời phán quyết ấy hiện rõ trong mắt George.

“Ở đây họ nói là tự sát,” cuối cùng anh ta lên tiếng. “_Chuyện ấy_ không đứng vững đâu.”

Soames lắc đầu. “Một tai nạn,” chàng lẩm bẩm.

George siết bàn tay quanh tờ báo rồi nhét dúm nó vào túi. Anh ta không cưỡng được một đòn châm chọc lúc chia tay.

“Hừm! Ở nhà mọi sự vẫn phát đạt cả chứ? Đã có cậu Soames con nào chưa?”

Mặt trắng bệch như bậc thềm nhà Jobson, môi nhếch lên như đang nhe nanh, Soames gạt qua anh ta rồi đi mất....

Về đến nhà, dùng chìa khóa riêng mở cửa bước vào gian tiền sảnh nhỏ sáng đèn, vật đầu tiên đập vào mắt chàng là chiếc ô cán bịt vàng của vợ đang nằm trên chiếc rương đựng thảm. Quăng chiếc áo lông ra, chàng vội vã vào phòng khách.

Rèm đã buông kín cho đêm xuống, một ngọn lửa sáng từ những thanh gỗ tuyết tùng cháy trong lò sưởi, và dưới ánh lửa chàng thấy Irene ngồi ở góc quen thuộc của nàng trên trường kỷ. Chàng khẽ khép cửa rồi tiến về phía nàng. Nàng không nhúc nhích, dường như cũng không nhìn thấy chàng.

“Vậy là em đã trở về?” chàng nói. “Sao em lại ngồi đây trong bóng tối?”

Rồi chàng trông thấy mặt nàng, trắng bệch và bất động đến độ tưởng như máu đã ngừng chảy trong huyết quản; cùng đôi mắt trông lớn lạ thường, giống đôi mắt nâu to rộng, kinh hãi của một con cú.

Co ro trong bộ lông thú xám giữa những chiếc gối tựa của trường kỷ, nàng giống một cách kỳ lạ con cú bị cầm tù, thu mình trong lớp lông mềm bên những chấn song lồng. Dáng đứng mềm mại, thẳng thớm của nàng đã mất, như thể nàng đã bị những cực hình tàn nhẫn làm cho gãy gục; như thể chẳng còn lý do gì để nàng đẹp, mềm mại và đứng thẳng nữa.

“Vậy là em đã trở về,” chàng nhắc lại.

Nàng không hề ngẩng lên, cũng không nói, ánh lửa chập chờn trên dáng người bất động.

Bỗng nàng cố đứng dậy, nhưng chàng ngăn lại; chính lúc ấy chàng hiểu ra.

Nàng đã trở về như một con vật bị thương đến chết, không biết phải đi đâu, không biết mình đang làm gì. Chỉ nhìn dáng nàng co ro trong bộ lông thú cũng đã đủ.

Bấy giờ chàng biết chắc Bosinney đã là tình nhân của nàng; biết nàng đã đọc tin chàng chết—có lẽ cũng như chính chàng, nàng đã mua một tờ báo nơi góc phố lộng gió rồi đọc thấy.

Vậy là nàng đã tự nguyện trở về, trở về cái lồng mà nàng từng mòn mỏi mong thoát khỏi—và khi thấu hết ý nghĩa khủng khiếp của điều ấy, chàng khao khát được hét lên: “Hãy mang cái thân thể đáng ghét mà ta yêu kia ra khỏi nhà ta! Mang khuôn mặt trắng bệch đáng thương, vừa tàn nhẫn vừa dịu dàng ấy đi—trước khi ta nghiền nát nó. Khuất khỏi mắt ta; đừng bao giờ để ta nhìn thấy em nữa!”

Và theo những lời không thốt ra ấy, chàng dường như thấy nàng đứng lên rồi bước đi, như một người đàn bà trong cơn ác mộng kinh hoàng mà nàng đang vùng vẫy để tỉnh khỏi—đứng lên và đi vào bóng tối cùng giá lạnh, không một ý nghĩ về chàng, thậm chí không hề hay biết chàng hiện diện.

Bấy giờ chàng kêu lên, tự phủ nhận điều mình còn chưa thốt ra: “Không; cứ ở đó!” Rồi quay mặt khỏi nàng, chàng ngồi xuống chiếc ghế quen thuộc của mình bên kia lò sưởi.

Họ ngồi trong im lặng.

Và Soames nghĩ: “Tại sao lại ra nông nỗi này? Tại sao ta phải khổ sở đến thế? Ta đã làm gì? Đâu phải lỗi của ta!”

Chàng lại nhìn nàng, co ro như một con chim trúng đạn đang hấp hối, lồng ngực tội nghiệp phập phồng khi hơi thở lìa dần, đôi mắt tội nghiệp nhìn kẻ đã bắn nó bằng một ánh nhìn chậm rãi, dịu dàng, không còn thấy gì, từ biệt tất cả những gì tốt đẹp—mặt trời, không khí và bạn tình của nó.

Họ cứ ngồi như thế bên ánh lửa, trong im lặng, mỗi người một phía lò sưởi.

Và làn khói từ những thanh gỗ tuyết tùng đang cháy mà chàng yêu thích đến thế dường như bóp nghẹt cổ Soames, cho tới khi chàng không chịu nổi nữa. Chàng đi ra tiền sảnh, giật tung cửa để hớp lấy luồng không khí lạnh tràn vào; rồi không mũ, không áo khoác, chàng bước ra quảng trường.

Dọc theo hàng rào khu vườn, một con mèo đói lả vừa cọ mình vừa tiến về phía chàng, và Soames nghĩ: “Khổ đau! Bao giờ nỗi khổ của ta mới chấm dứt?”

Trước một cửa nhà bên kia đường, một người quen của chàng tên Rutter đang cạo bùn khỏi giày, với vẻ như muốn nói: “Ta là chủ ở đây.” Và Soames bước tiếp.

Từ xa trong không khí trong trẻo, chuông của nhà thờ nơi chàng và Irene đã làm lễ cưới đang ngân vang trong buổi “tập chuông” đón Chúa giáng trần, tiếng chuông hòa âm vọng lên trên tiếng xe cộ. Chàng thèm một thứ rượu mạnh, để ru mình vào dửng dưng hoặc kích mình tới cuồng nộ. Giá mà chàng có thể phá tung chính mình, thoát khỏi tấm lưới lần đầu tiên trong đời chàng cảm thấy đang quấn quanh mình. Giá mà chàng có thể buông theo ý nghĩ: “Ly dị cô ta—tống cô ta đi! Cô ta đã quên ngươi. Hãy quên cô ta!”

Giá mà chàng có thể buông theo ý nghĩ: “Hãy để cô ấy đi—cô ấy đã chịu đựng đủ rồi!”

Giá mà chàng có thể buông theo dục vọng: “Hãy biến cô ta thành nô lệ—cô ta đang nằm trong quyền lực của ngươi!”

Giá mà ngay cả lúc này chàng có thể buông theo ảo ảnh chợt đến: “Tất cả những chuyện này có gì quan trọng?” Quên bản thân trong một phút, quên rằng việc mình làm có ý nghĩa, quên rằng bất kể làm gì chàng cũng phải hy sinh một điều gì đó.

Giá mà chàng có thể hành động theo một cơn bốc đồng!

Chàng không thể quên điều gì; không thể buông mình theo một ý nghĩ, ảo ảnh hay dục vọng nào; tất cả đều quá nghiêm trọng, vây quanh chàng quá sát, thành một chiếc lồng không thể phá tung.

Ở phía xa của quảng trường, những đứa trẻ bán báo đang rao những tờ báo chiều; tiếng rao ma quái ấy hòa lẫn, chói nghịch với tiếng chuông nhà thờ.

Soames bịt tai. Ý nghĩ chợt lóe lên rằng nếu không vì một sự ngẫu nhiên, chính chàng chứ không phải Bosinney có thể đang nằm chết, và nàng, thay vì co ro ở đó như con chim trúng đạn với đôi mắt hấp hối kia....

Một vật mềm chạm vào chân chàng; con mèo đang cọ mình vào đó. Và một tiếng nức nở làm chàng rung chuyển từ đầu đến chân bật ra khỏi lồng ngực Soames. Rồi trong bóng tối mọi vật lại lặng im, nơi những ngôi nhà dường như đang nhìn chằm chằm vào chàng, mỗi ngôi đều có ông chủ, bà chủ riêng, cùng một câu chuyện bí mật về hạnh phúc hay buồn đau.

Và bỗng chàng thấy cửa nhà mình đang mở; nổi đen trên ánh sáng từ tiền sảnh là một người đàn ông đứng quay lưng lại. Trong ngực chàng cũng có gì đó trượt xuống, và chàng rón rén tiến sát từ phía sau.

Chàng có thể thấy chiếc áo lông của chính mình bị quăng ngang chiếc ghế gỗ sồi chạm trổ; những tấm thảm Ba Tư; những bát bạc, những hàng đĩa sứ bày dọc theo tường, và người đàn ông lạ mặt đang đứng đó.

Chàng hỏi gắt: “Ông muốn gì?”

Người khách quay lại. Đó là Jolyon trẻ.

“Cửa đang mở,” anh nói. “Tôi có thể gặp vợ anh một lát được không? Tôi có lời nhắn cho cô ấy.”

Soames ném cho anh một cái nhìn nghiêng kỳ lạ.

“Vợ tôi không thể tiếp ai,” chàng lẩm bẩm một cách lì lợm.

Jolyon trẻ dịu dàng đáp: “Tôi sẽ không giữ cô ấy lâu đâu.”

Soames lách qua anh và chắn lối.

“Cô ấy không thể tiếp ai,” chàng nhắc lại.

Ánh mắt Jolyon trẻ phóng qua chàng vào tiền sảnh, và Soames quay lại. Irene đang đứng nơi cửa phòng khách, mắt nàng hoang dại và nôn nóng, môi hé mở, hai tay vươn ra. Trước mắt cả hai người đàn ông, ánh sáng ấy biến khỏi gương mặt nàng; hai tay nàng buông thõng bên mình; nàng đứng như hóa đá.

Soames xoay phắt lại, bắt gặp mắt người khách, và trước ánh nhìn chàng thấy trong đó, một âm thanh như tiếng gầm gừ bật khỏi miệng chàng. Chàng kéo môi ra sau thành bóng ma của một nụ cười.

“Đây là nhà tôi,” chàng nói; “chuyện của tôi, tôi tự lo. Tôi đã nói với anh một lần—giờ tôi nói lại; chúng tôi không tiếp khách.”

Và chàng sập cửa ngay trước mặt Jolyon trẻ.