Nông dân — Tập I: Mùa thu — Chương 1

Chương 1 / 12 · Bài review Nông dân — Tập I: Mùa thu

“Ngợi khen Chúa Giêsu Kitô!”

“Đời đời chẳng cùng! — Kìa, bà Agatha đấy à? Bà lại lang thang đi đâu bây giờ thế?”

“Ra ngoài đời, thưa cha, ra ngoài đời rộng lớn!” bà đáp, khua cây gậy một vòng từ đông sang tây.

Cha xứ theo thói quen đưa mắt nhìn về hướng ấy, nhưng phải nhắm lại vì mặt trời chói lóa phía trời tây. Rồi cha nói, giọng thấp xuống và có phần ngập ngừng:

“Nhà Klemba đuổi bà đi à? Hay chỉ là có chút xích mích giữa bà với họ?”

Bà hơi rướn người lên, và trước khi đáp lời, đưa mắt nhìn quanh những cánh đồng trơ trụi mùa thu cùng các mái nhà trong làng lẩn giữa vườn cây ăn trái.

“Không, họ có đuổi tôi đâu; sao mà đuổi được? Họ là người tử tế, lại là chỗ ruột thịt gần. Còn xích mích thì chẳng có. Tự tôi thấy mình nên đi thì hơn, chỉ vậy thôi. ‘Thà nhảy xuống vực còn hơn làm nặng xe người khác.’... Thế là tôi phải đi; ở đấy chẳng có việc gì cho tôi làm. Mùa đông đến nơi rồi, nhưng đã sao? Chẳng lẽ họ cứ cho tôi ăn, cho tôi một góc mà ngủ, trong khi tôi chẳng làm gì ra miếng ăn ấy? Với lại họ vừa cai sữa cho con bê, mà lũ ngỗng con thì ban đêm phải nhốt trong nhà, trời đã trở lạnh rồi. Tôi phải nhường chỗ chứ. Ấy, súc vật cũng là loài Chúa dựng nên cả.... Nhưng họ là người tốt bụng; ít ra mùa hè họ còn giữ tôi lại, không tiếc tôi một góc nhà với một miếng ăn.... Còn mùa đông thì tôi ra ngoài đời rộng lớn, đi xin của bố thí.... Tôi cần bao nhiêu đâu, mà chút ấy thì người tử tế người ta cho.... Nhờ ơn Chúa Giêsu, tôi sẽ cầm cự được đến mùa xuân, lại còn dành dụm được ít nhiều. Chúa Giêsu ngọt ngào nhân lành hẳn chẳng bỏ rơi kẻ khó của Người.”

“Không, Người chẳng bỏ rơi bà đâu,” cha xứ trấn an bà bằng giọng nghiêm trang, lặng lẽ dúi vào tay bà một đồng bạc nhỏ.

“Cảm tạ, cảm tạ, xin Chúa ban phúc cho cha!”

Bà cúi cái đầu run rẩy xuống tận đầu gối cha, nước mắt lăn thành giọt lớn trên khuôn mặt sần sùi, hằn rãnh như những cánh đồng mùa thu vừa cày xong.

Cha xứ thấy lúng túng.

“Bà đi đi, cầu Chúa phù hộ bà đi đường bình an,” cha ấp úng, đỡ bà đứng dậy.

Bàn tay run run làm dấu thánh giá, bà cầm lấy cái bị và cây gậy đầu nhọn, rồi lên đường theo con đường lớn hằn sâu vết bánh xe mà đi về phía rừng, chốc chốc lại ngoái nhìn ngôi làng, nhìn những thửa ruộng người ta đang đào khoai, nhìn khói từ bao nhiêu đống lửa của đám chăn gia súc là là trên gốc rạ.

Cha xứ, trước đó vẫn ngồi trên bánh xe của cái cày, nay lại về chỗ ấy, bốc một nhúm thuốc hít, rồi mở sách nguyện; nhưng mắt cha cứ chốc chốc lại rời khỏi những dòng chữ đỏ mà đưa nhìn khắp vùng đất mênh mông đang thiu thiu trong bình yên mùa thu, hoặc ngước lên bầu trời xanh nhạt, hoặc đảo sang mấy người làm đang chúi mình trên cái cày cha vẫn trông coi.

“Này, Valek! Luống ấy cong rồi!” cha kêu lên, ngồi thẳng dậy, mắt dõi theo từng bước của đôi ngựa cày xám lực lưỡng.

Cha lại quay về với sách nguyện, môi lại mấp máy, nhưng mắt chẳng mấy chốc đã vô tình đảo sang đôi ngựa, hay sang bầy quạ đang thận trọng nhảy nhót, mỏ chìa ra, trong luống cày mới rạch, rồi bay vụt lên mỗi khi có tiếng roi đét hay lúc đôi ngựa quay đầu; sau đó chúng lại nặng nề đáp xuống theo sau lưỡi cày mà mài mỏ vào những tảng đất cứng, khô nẻ vì nắng, vừa được lật lên.

“Valek, quất nhẹ con ngựa cái bên phải một cái; nó tụt lại rồi đấy.”

Cha mỉm cười thấy nó kéo đều trở lại sau khi bị nhắc, và khi đôi ngựa đi tới ven đường, cha đứng bật dậy vỗ vỗ cổ chúng — cử chỉ âu yếm mà lũ vật đáp lại bằng cách vươn mũi về phía mặt cha, hít hà ra chiều mãn nguyện.

“Hét—a—ah!” Valek bấy giờ cất tiếng hô. Rút lưỡi cày sáng loáng như bạc khỏi luống, anh khéo léo nhấc cày lên, quành đôi ngựa lại, rồi cắm thanh thép sáng ngời xuống đất lần nữa. Roi vút một cái, đôi ngựa ghì kéo đến nỗi thanh ngang lại kêu răng rắc; và họ cứ thế đi tới, cày mãi cái dải đất lớn nằm vuông góc với con đường, đổ theo triền dốc mà chạy xuống, chẳng khác nào sợi ngang của một tấm vải gai thô, tới tận cái xóm nhỏ nép mình giữa những tán lá đỏ vàng của vườn cây.

Đã gần cuối thu, nhưng trời vẫn ấm và có phần uể oải. Mặt trời vẫn còn đủ nóng, treo ở phía tây nam trên những cánh rừng, làm cho các bụi cây, mấy cây lê, và cả những tảng đất cứng khô, đổ xuống những cái bóng đậm và lạnh.

Một sự ngọt ngào và thanh bình khôn tả ngự trong không khí, đầy làn bụi vàng óng ánh nắng bay trên những cánh đồng vừa gặt xong; còn trên cao, giữa trời xanh biếc, những đám mây trắng khổng lồ trôi đây đó như các đụn tuyết lớn bị gió giày vò.

Phía dưới, xa hết tầm mắt, là những cánh đồng màu xám nhờ, họp thành một lòng chảo mênh mông viền rừng xanh thẫm, và vắt ngang lòng chảo ấy, như một cuộn tơ lấp lánh dưới nắng, một dòng sông chảy long lanh, quanh co giữa hàng tống quán sủ và liễu trên hai bờ. Giữa xóm làng, dòng sông trải rộng thành một vũng nước lớn hình thuôn, rồi chảy về phương bắc qua một khe đồi. Dưới đáy thung lũng, men theo mặt hồ, là ngôi làng, nắng nhảy nhót trên trăm sắc thu của những vườn cây ăn trái. Từ đó, lên tận mép rừng, chạy dài những dải đất canh tác, những vạt ruộng xám với các lối mòn mảnh như sợi chỉ chen giữa, hai bên mọc lê và mận gai; cái sắc tro chung ấy đây đó được điểm bằng những đám đậu lupin vàng óng thơm hoa, hoặc bằng màu bạc xỉn của lòng một con suối đã cạn; hoặc bằng những con đường cát lặng lẽ, có hàng dương cao rợp bóng, vươn ngược lên phía đồi và rừng.

Cha xứ chợt bị kéo ra khỏi cảnh tượng ấy. Một tiếng bò rống dài, ai oán, vọng lại từ quãng không xa, làm bầy quạ bay vụt lên, chếch về phía ruộng khoai, những cái bóng đen chấp chới đuổi theo chúng trên các thửa đất mới gieo được một phần. Lấy tay che mắt, cha nhìn về phía mặt trời và cánh rừng, thấy một đứa bé gái đang đi lại, dắt bằng sợi thừng một con bò cái lông đỏ to. Đến gần, nó nói: “Ngợi khen Chúa Giêsu Kitô!” rồi định rẽ sang hôn tay cha, nhưng con bò giật nó đi và lại rống lên.

“Cháu dắt nó ra chợ đấy à?” cha xứ hỏi.

“Dạ không, chỉ dắt sang cho con bò đực nhà ông chủ cối xay thôi ạ. — Đứng yên nào, đồ của nợ! Mày phải gió à?” nó kêu lên, hụt cả hơi, cố ghì con vật, nhưng con vật cứ lôi nó đi, tới khi cả hai khuất trong đám bụi mù.

Lát sau, trên con đường cát, có một lão đồng nát Do Thái lê bước nặng nhọc, đẩy chiếc xe cút kít chất nặng đến nỗi chốc chốc lại phải dừng lấy hơi.

“Có gì mới không, Moshek?” cha xứ gọi với.

“Có gì mới ư? Tin lành cho những ai có phần trong đó. Khoai tây, ơn Chúa, được mùa; lúa mạch đen cũng khá, mà bắp cải thì sẽ nhiều. Sướng cho những ai có khoai, có lúa mạch, có bắp cải.” Lão hôn tay áo cha xứ, sửa lại quai đeo xe cút kít, rồi đi tiếp, nhẹ nhõm hơn vì đường bấy giờ đổ xuống một triền dốc thoai thoải. Theo sau lão, giữa lòng đường và trong màn bụi mù do đôi chân lê của lão bốc lên, là một người ăn mày mù, được con chó béo tốt dắt bằng đầu dây. Rồi từ phía rừng, một thằng bé cầm chai đi lại. Trông thấy cha xứ trên đường, nó tránh ra thật xa, cắt ngang cánh đồng theo lối tắt mà đi về phía quán rượu trong làng.

Rồi cũng đi qua một bác nông dân ở xóm bên đang trên đường ra cối xay, và một mụ Do Thái lùa đàn ngỗng. Ai nấy đều ngợi khen Chúa; cha xứ đáp lại bằng đôi lời tử tế và ánh mắt thân tình, rồi họ đi tiếp đường mình.

Bấy giờ mặt trời đã xuống thấp. Cha xứ đứng dậy, gọi Valek: “Cày đến chỗ mấy cây bạch dương rồi thì về. Mấy con vật đáng thương mệt lử cả rồi.”

Đi trên lối mòn giữa các thửa ruộng, cha lẩm nhẩm đọc kinh nhật tụng, chốc chốc lại đưa mắt nhìn quanh cảnh vật, ánh mắt trìu mến và long lanh. Ở ruộng khoai, đám đàn bà làm công đỏ rực thành từng hàng, và khoai trong giỏ họ đổ ào ào xuống xe. Đây đó, đất vẫn đang được cày để gieo. Trên những khoảnh đất bỏ hóa, một đàn bò lang đang gặm cỏ. Sắc tro xám của mấy thửa ruộng đã bắt đầu ngả sang hồng nhờ những lá lúa vừa nhú lên. Trên cỏ đồng vàng úa đã bị gặm sát, đàn ngỗng nổi trắng như những bông tuyết. Xa xa nghe tiếng một con bò rống. Người ta đã nhóm lửa, và những dải khói xanh dài lê thê trên các ruộng lúa. Chỗ khác, bừa đang chạy, mỗi cái kéo theo một đám bụi mờ rồi lắng xuống dưới chân đồi. Từ dưới đám bụi ấy, như bước ra từ một đám mây, một bác nông dân đầu trần chân đất, quấn quanh lưng tấm vải đầy hạt, đang thong thả đi tới, bốc từng nắm hạt mà vãi khắp mặt đất bằng một cử chỉ trang nghiêm, như người ban phép lành. Tới cuối đám ruộng đã cày, bác quay lại và chậm rãi đi ngược lên triền dốc, trước hết nhô lên trên đường chân trời là cái đầu tóc rối bù, rồi đến đôi vai, sau cùng là cả thân người, vẫn với cử chỉ trang nghiêm ấy, phép lành của người gieo hạt, rưới xuống mặt đất một vật thánh, có thể nói vậy — thứ hạt vàng rơi thành nửa vòng cung quanh bác.

Bước chân cha xứ mỗi lúc một thong thả hơn: khi thì dừng lấy hơi, khi thì nhìn đôi ngựa xám của mình, khi lại liếc mấy thằng bé đang ném đá lên một cây lê lớn. Cả bọn chạy ùa lại chỗ cha, giấu tay ra sau lưng, đứa nào cũng hôn tay áo chùng của cha.

Cha xoa mấy cái đầu tóc vàng hoe, nhưng cũng dặn thêm một câu: “Liệu mà đừng làm gãy cành, không thì sang năm chẳng có quả lê nào mà ăn.”

“Chúng con có ném vào quả lê đâu ạ,” một thằng bé bạo hơn cả đáp; “trên cây có tổ quạ.”

Cha xứ đi tiếp với nụ cười thân tình, chẳng mấy chốc đã tới giữa đám người đào khoai.

“Chúa giúp cho công việc bà con!”

“Xin Chúa trả công cha!” họ đồng thanh đáp, rồi kéo cả lại hôn tay vị cha xứ mà họ hằng yêu mến.

“Năm nay Chúa cho được nhiều khoai, cha thấy vậy,” cha nói, chìa hộp thuốc hít đang mở ra mời cánh đàn ông; họ kính cẩn nhận, nhưng không ai hít trước mặt cha.

“Vâng, khoai to bằng đầu mèo, mà mỗi gốc lại được nhiều.”

“Vậy thì giá lợn sẽ lên; nhà nào cũng muốn mua vài con về vỗ.”

“Đắt sẵn rồi ạ. Mùa hè vừa rồi có dịch lợn, giờ phải sang tận bên Phổ mà mua.”

“Phải, phải. Thế khoai bà con đang đào đây là của ai?”

“Của ông Boryna chứ còn ai.”

“Cha chẳng thấy ông ấy ở đây, nên chưa dám chắc.”

“Cha con đang ở trên rừng với nhà con ạ.”

“Ồ, cô đấy à, Hanka? Dạo này thế nào?” cha nói, quay sang một thiếu phụ xinh xắn chít khăn đỏ trên đầu. Chị bước lên, tay đang lấm nên lấy tạp dề chùm lại mà nắm tay cha xứ để hôn.

“Này, thằng bé cha rửa tội hồi mùa gặt sao rồi?”

“Nhờ ơn cha, cháu khỏe và hay chơi lắm ạ.”

“Chúa ở cùng bà con!”

“Và ở cùng cha!”

Cha đi về phía tay phải, nơi có nghĩa địa nằm gần con đường trồng dương ở mé ấy của làng. Họ lặng lẽ nhìn theo cha một lúc, và chỉ khi bóng cha gầy, hơi còng, đã qua bức tường đá thấp và bước vào nhà nguyện nghĩa trang rợp lá vàng lá đỏ của bạch dương và phong, họ mới lại mở miệng.

“Trên đời này chẳng có ai tốt hơn cha,” một người đàn bà nói.

“Đúng thế thật,” Hanka tiếp lời, trút giỏ khoai của mình xuống cái đống vàng nổi bật trên nền đất mới xới và những thân cây khô. “Người ta đã định đưa cha lên tỉnh, nhưng cha tôi cùng ông trưởng làng[3] đi cầu xin Đức Giám mục, thế là họ không lấy được cha. Nhưng đào đi chứ, đào đi: ngày sắp hết mà ruộng cũng sắp xong rồi đấy.”

-----

Chú thích 3:

_Voyt_ — người đứng đầu cộng đồng làng. — _Chú thích của người dịch._

Họ lại lặng lẽ bắt tay vào việc. Chỉ nghe tiếng cuốc lạo xạo trong đất cứng, thỉnh thoảng điểm một tiếng thép chạm đá đánh keng sắc gọn.

Ở đó có chưa đầy hai chục người làm, phần lớn là các bà già và người làm thuê. Cách một quãng, người ta dựng hai đôi cọc bắt chéo, trên đó hai đứa trẻ con quấn trong tã đung đưa như nằm võng, chốc chốc lại khóc ré lên.

“Này, thế là bà lão đi lang thang rồi,” lát sau Yagustynka nói.

“Bà lão? Ai cơ?” Anna hỏi, đứng thẳng người lên.

“Thì bà Agatha già chứ ai.”

“Sao, đi ăn xin à?”

“Chứ còn gì nữa, đi ăn xin đấy! Không, chẳng phải vì thích thú gì đâu. Bà ấy làm quần quật cho họ hàng, hầu hạ chúng nó suốt cả mùa hè; giờ chúng nó cho bà ấy đi — đi hít tí khí trời! Sang xuân bà ấy sẽ về, giỏ đầy đường với chè, lại thêm ít tiền nữa. Ồ, lúc ấy thì chúng nó quý bà ấy lắm, đắp chăn ấm cho bà ấy, bảo bà ấy đừng làm gì, cứ nghỉ cho khoẻ. Ồ, phải! Rồi chúng nó gọi bà ấy là ‘dì’, gọi cho tới khi moi được đồng tiền cuối cùng. Nhưng thu sang là lại chẳng còn chỗ nào cho bà ấy — đến cái lối đi cũng không, đến chuồng lợn cũng không. Ôi cái lũ họ hàng hút máu! Cái lũ thú vật không có tính người!”

Yagustynka trút vào lời ấy nhiều căm giận đến nỗi mặt tím lại trong lúc nói.

Một lão làm thuê — mặt mũi nhăn nhó, người đã kiệt sức — lên tiếng: “Đấy, thấy chưa, câu người ta nói cấm có sai: ‘Gió thì bao giờ cũng tạt vào mặt người nghèo.’”

“Thôi nào bà con, đào đi chứ,” Hanka vội chen ngang; chị không thích câu chuyện đang xoay sang hướng ấy. Nhưng Yagustynka thì không giữ nổi mồm miệng, chỉ lát sau đã ngẩng lên nói:

“Mấy thằng nhà Paches ấy — cũng có tuổi cả rồi; tóc trên đầu thưa hết cả rồi.”

“Thế mà,” một bà khác góp vào, “vẫn cứ ở vậy chưa vợ.”

“Mà con gái ở đây thì bao nhiêu đứa già đi, hoặc phải đi ở cho người ta!”

“Vậy mà nhà ấy có hơn hai chục mẫu Ba Lan, lại thêm một khoảnh đồng cỏ bên kia cối xay.”

“Ừ, nhưng bà mẹ có cho chúng nó lấy vợ không đã, mà có lấy thì có cho chúng nó cái gì không?”

“Phải, chứ rồi ai vắt sữa bò, ai giặt giũ, ai trông nom ruộng nương với lợn gà?”

“Chúng nó phải lo việc nhà cho mẹ với cho Yagna chứ. Không thì làm sao Yagna làm bà lớn được như thế? Ra dáng tiểu thư lắm, lúc nào cũng diện, cũng tắm rửa, cũng soi gương, cũng tết tóc suốt ngày!”

“Với lại tìm người chung giường nữa chứ — trai tráng nào khoẻ mạnh là được tuốt,” Yagustynka thêm vào, cười khẩy đầy ác ý.

“Thằng Joseph Bandech cho người ‘đi hỏi’[4] mang rượu sang, thế mà nó không ưng.”

-----

Chú thích 4:

Hai người đàn ông đến nhà cô gái, thay mặt chàng trai mời rượu; nếu cô gái nâng chén uống mừng chàng, cô được coi như đã hứa hôn.—_Chú thích của người dịch._

“Đồ ôn dịch, cái con nỡm được chiều hư ấy!”

“Cả bà già ấy nữa: lúc nào cũng ở nhà thờ, cũng cầm sách kinh mà đọc, hễ đâu có ngày ân xá[5] là đi bằng được!”

-----

Chú thích 5:

Lễ hội thường niên của địa phương, tổ chức ở mỗi giáo xứ; ai đến nhà thờ dịp ấy thì được hưởng ân xá.—_Chú thích của người dịch._

“Dù sao thì mụ ấy cũng là phù thuỷ. Chứ ai làm bò nhà Vavrek cạn sữa, hử? À, mà thằng bé con nhà Yashek ăn trộm mận trong vườn mụ, mụ lầm bầm rủa nó, chẳng phải nó bị _koltun_[6] ngay đấy sao, người quắt lại, chân tay vẹo vọ?”

-----

Chú thích 6:

_Koltun_ — chứng bệnh làm tóc bết dính, vón thành búi.—_Chú thích của người dịch._

“Ôi, phúc Chúa làm sao xuống nổi cái chỗ có những giống ấy ở?”

“Ngày trước,” Yagustynka nói, “hồi tôi còn chăn bò cho bố tôi, người ta đuổi hạng ấy đi khỏi làng.... Ừ, mà chẳng hề gì cho chúng nó, vì chúng nó có kẻ che chở cả.” Rồi bà hạ giọng, liếc sang Hanka đang cắm cúi đào ở luống đầu, thì thào với mấy người bên cạnh: “Đứa bênh nó trước nhất sẽ là chồng con Hanka đấy; hắn theo Yagna khắp nơi như chó theo chủ.”

“Lạy Chúa! Bà im đi cho. Sao lại nói những chuyện ghê gớm thế! Ấy là xúc phạm đến Chúa, là tội đấy!” mấy bà lắm chuyện thì thào với bà, lưng vẫn cúi mà đào.

“Chứ có phải mình hắn đâu? Cả đám trai làng bám theo nó, như mèo động đực ấy.”

“Ừ thì nó cũng xinh thật: mẩy như con bò tơ được ăn no, mặt trắng như váng sữa, mắt xanh như hoa lanh. Lại khoẻ nữa; khối thằng đàn ông không bằng.”

“Chứ nó có làm gì ngoài ăn với ngủ? Đẹp là phải.”

Một hồi im lặng dài trong lúc họ trút giỏ khoai lên đống. Rồi câu chuyện chuyển sang chuyện khác, cho tới khi thấy Yuzka, con gái ông Boryna, từ làng chạy băng qua những cánh đồng lúa mà tới, thì họ ngừng cả. Nó chạy tới, thở hồng hộc, đứt cả hơi, từ xa đã kêu lên:

“Chị Hanka, về nhà đi: con bò làm sao ấy!”

“Lạy Chúa tôi! Con bò nào?”

“Con Trắng Đỏ.”

Hanka thở phào. “Trời đất! Làm tôi hết cả hồn! Tôi cứ tưởng bò của tôi.”

“Thằng Vitek vừa dắt về; người gác rừng đuổi cả đàn ra khỏi rừng. Nó chạy nhanh quá — nó béo lắm mà — rồi ngã ngay trước cửa chuồng. Chẳng ăn, chẳng uống; chỉ lăn lộn với rống lên thôi. Lạy Chúa tôi!”

“Bố đã về chưa?”

“Chưa, bố chưa về. Ôi lạy Chúa lòng lành! Lại đúng con bò ấy! Mỗi lần vắt được hơn bốn lít sữa. Ôi, chị đi mau lên!”

“Ừ, ừ, đi ngay đây — đi ngay đây!”

Chị lập tức nhấc đứa con ra khỏi tấm vải mắc võng, rồi tất tả đi, hoảng vì cái tin ấy đến mức quên cả buông cái tạp dề đã dùng vén váy lên tận đầu gối cho tiện làm. Và trong lúc chị theo Yuzka, đôi chân trắng cứ loang loáng qua cánh đồng.

Đám người đào khoai, cuốc đưa giữa hai bàn chân, làm chậm lại, vì chẳng còn ai giục hay mắng nữa.

Mặt trời giờ đã ngả hẳn về tây, đỏ rực như bị hun nóng vì đường đi vội vã, treo như một quả cầu đỏ thẫm khổng lồ trên những cánh rừng cao đen sẫm. Hoàng hôn đặc dần và loang ra khắp cảnh vật; đổ đầy luống cày, nấp trong mương rãnh, tụ lại dưới bụi rậm, rồi từ từ tràn khắp mặt đất; làm chết đi, xoá nhoà và lau sạch mọi màu sắc, cho tới khi chỉ còn ngọn cây với mái nhà thờ và gác chuông là còn rực lên những sắc màu lộng lẫy. Nhiều người làm đã lê bước về nhà.

Tiếng gọi nhau, tiếng ngựa hí, tiếng bò rống và tiếng xe lộc cộc, mỗi lúc một to hơn, tràn đầy khoảng chiều yên tĩnh. Nhưng rồi từ gác chuông vọng xuống tiếng chuông ngân báo giờ kinh Truyền Tin; và trước tiếng chuông trầm vang ấy, mọi âm thanh kia đều lặng đi, chỉ còn nghe những lời kinh thì thầm, khe khẽ như tiếng lá rụng.

Rồi đàn gia súc, được lùa về nhà giữa những tiếng hò reo và tiếng hát, chen chúc lộn xộn, kéo dọc các con đường, cuốn lên nhiều bụi đến nỗi chỉ thi thoảng mới thấy những cái đầu to lớn, sừng mọc dày, nhô ra khỏi đám bụi.

Đây đó cừu cũng kêu be be, còn từng đàn ngỗng bay lên khỏi bãi chăn thì lẫn vào ráng chiều phía tây, chỉ còn tiếng kêu quàng quạc chói tai cho biết chúng đang bay.

“Tiếc thật, con Trắng Đỏ lại đang chửa.”

“Cũng may ông Boryna không nghèo.”

“Dù sao cũng tiếc, mất một con vật tốt như thế.”

“Ông Boryna không có vợ, của cải bao nhiêu cũng chảy đi như qua cái rổ.”

“Là vì con Hanka có biết vun vén nhà cửa gì đâu.”

“Ồ, có chứ — vun cho mình nó thôi. Vợ chồng nó ở nhờ nhà ông bố như thể người làm thuê; đứa nào cũng rình xem moi được gì của ông cụ. Còn của nả nhà Boryna thì cứ để chó nó trông!”

“Con Yuzka còn trẻ con, biết gì. Nó làm được gì?”

“Thế thì ông Boryna cứ giao ruộng cho thằng Antek là xong, chứ sao?”

“Phải đấy, rồi sống bằng cái phần chúng nó bố thí cho chắc?” Yagustynka đốp lại, giọng nóng. “Ông già rồi đấy, Vavrek ạ, mà vẫn ngu như thường. Hô hô! Boryna còn cứng cáp chán: lấy vợ nữa được chứ chẳng chơi. Đem hết của cho con thì chỉ có là con lừa.”

“Cứng thì cứng thật, nhưng ngoài sáu mươi rồi.”

“Lo gì, Vavrek; con gái nào mà chả ưng, chỉ cần ông ấy hỏi.”

“Ông ấy chôn hai đời vợ rồi đấy.”

“Thì chôn nốt đời thứ ba, cầu Chúa phù hộ ông ấy! Còn sống ngày nào thì đừng cho con cái một mẩu đất nào; không, đến một gang cũng đừng. Cái quân thối tha! Chúng nó chia phần cho ông ấy tử tế lắm cơ đấy! Bắt ông ấy làm quần quật ngoài ruộng, hay để chết đói, hay đi thật xa mà ăn xin! Ừ, cứ sang hết của cải cho con đi; chúng nó cho vừa đủ mua sợi thừng mà treo cổ, hay buộc hòn đá vào cổ mà nhảy xuống nước!”

“Thôi, tối rồi; về thôi.”

“Ừ, đến lúc rồi; mặt trời lặn rồi.”

Thế là họ vội vác cuốc lên vai, xách giỏ và cà mèn cơm, nối nhau thành một hàng đi theo lối mòn, bà Yagustynka thì vẫn hăng hái rủa xả con cái nhà mình lẫn con cái thiên hạ.

Một cô gái cũng về cùng hướng ấy nhưng theo lối khác, lùa con lợn nái với đàn con, vừa đi vừa hát the thé:

“Ơi chớ lại gần xe ngựa, Chớ nghịch cái trục xe, Chớ để trai nó hôn, Nó tán ngon tán ngọt gì cũng mặc!”

“Nghe con dở hơi kia rống lên kìa, cứ như đang bị lột da sống!”