Nông dân — Tập I: Mùa thu — Chương 2
Chương 2 / 12 · Bài review Nông dân — Tập I: Mùa thu
Đến lúc này thì khá đông người đã tụ lại trong sân nhà Boryna, cái sân ba mặt vây bằng nhà kho chuồng trại, mặt còn lại ngăn với đường cái bằng một vườn cây. Mấy người đàn bà vừa bàn ra tán vào vừa sửng sốt nhìn con bò khoang đỏ trắng rất lớn đang nằm lăn lộn trên đống phân ngay trước cửa chuồng.
Một con chó già, hơi què, hai bên sườn lỗ chỗ những mảng trụi lông, lúc thì lại ngửi con bò rồi sủa, lúc thì chạy ra hàng rào đuổi xuống đường lũ trẻ trai gái đã trèo lên đấy mà tò mò nhòm vào sân, lúc lại mon men đến chỗ con lợn nái nằm gần nhà tranh, cho bốn con lợn con trắng bú và ủn ỉn khe khẽ.
Vừa tới nơi, Hanka đã chạy thẳng đến chỗ con bò, lập tức vuốt ve mặt và đầu nó.
“Khoang Đỏ ơi là Khoang Đỏ, tội nghiệp con tôi!” chị kêu lên, nước mắt giàn giụa, than vãn không dứt.
Chốc chốc đám đàn bà lại mách chị một phương thuốc mới cho con vật ốm. Lúc thì họ đổ nước muối vào họng nó, lúc thì đổ sữa có nhỏ sáp nến đã làm phép. Người này bảo lấy xà phòng hoà vào nước sữa, người kia bảo chích máu. Nhưng chẳng bài thuốc nào ăn thua. Có lúc con bò ngóc đầu lên, rống dài như van xin người ta cứu, rống đến khi đôi mắt to đẹp có lòng trắng phớt hồng mờ đi, đục hẳn. Rồi kiệt sức vì đau, nó gục cái đầu có sừng xuống, thè lưỡi liếm tay Hanka.
“Hay là nhờ ông Ambrose xem sao, biết đâu ông ấy làm được gì?” một người đàn bà mách.
“Phải đấy, phải đấy, ông ấy rành bệnh tật lắm.”
“Yuzka, chạy đi gọi ông ấy đi. Ông ấy vừa đổ chuông Truyền tin xong, chắc còn quanh quẩn đâu ngoài nhà thờ. Lạy Chúa tôi! Bố mà về thì nổi trận lôi đình cho mà xem! Thế mà,” Hanka nức nở, “có phải lỗi tại chúng tôi đâu!”
Rồi chị ngồi xuống bậc cửa chuồng bò, vạch bầu ngực trắng căng sữa cho đứa bé đang khóc ngằn ngặt đòi ăn, mắt vẫn lo lắng dõi con vật đang quằn quại, chốc chốc lại thấp thỏm liếc qua hàng rào, đợi Boryna về.
Chỉ mấy phút sau Yuzka đã quay lại, báo là ông Ambrose tới, mà quả thật ông tới ngay sau đó. Ông đã gần trăm tuổi, cụt một chân, đi phải chống gậy, nhưng người vẫn thẳng đuỗn như cây sào. Mặt ông khô đét, nhăn nheo như củ khoai để đến mùa xuân, cạo râu nhẵn nhụi nhưng chằng chịt sẹo; tóc trắng như sữa, từng túm dài xoã xuống trán và buông tới vai. Ông đi thẳng đến chỗ con bò, xem xét rất kỹ.
“Ố ồ!” ông nói. “Xem chừng lát nữa nhà này có thịt tươi mà ăn rồi.”
“Ôi, ông làm phúc chữa cho nó khỏi với!” Jozia kêu lên. “Con bò đáng hơn ba trăm _zloty_[7]... lại đang chửa nữa chứ! Ông giúp nhà cháu với! Khổ thân tôi! Khổ thân tôi!”
-----
Chú thích 7:
_Zloty._ Một đồng tiền Ba Lan, xưa đáng chừng bảy xu.
Ambrose rút ra một con dao chích, mài lên ống ủng, giơ lưỡi dao lên soi trời xem đã sắc chưa, rồi rạch một mạch máu ở bụng con Khoang Đỏ. Nhưng máu không vọt ra; chỉ vài giọt đen sì lấm tấm bọt rỉ ra chầm chậm.
Ai nấy đứng vây quanh, nghển cổ ra, nín thở mà nhìn.
“Muộn rồi!” ông rầu rầu nói. “Ừ, con vật tội nghiệp sắp thở hắt ra rồi. Chắc là dịch trâu bò hay bệnh gì đại loại thế. Đáng lẽ vừa thấy nó khang khác là phải cho gọi tôi ngay. Đàn bà các người là thế! Chỉ được cái hay cằn nhằn với khóc lóc! Đến lúc cần làm thì chỉ biết be be. Cả một bầy cừu cái!”
Ông nhổ toẹt một cái ra chiều khinh bỉ, ngó thêm lần nữa vào mắt và lưỡi con bò, quệt hai bàn tay đầy máu vào bộ da mượt của nó rồi sửa soạn đi về.
“Tôi chả kéo chuông tiễn nó đâu; để nồi niêu nhà các người khua thay vậy.”
“Cha với anh Antek về kia kìa!” Yuzka reo lên, vội chạy ra đón, khi từ đầu kia cái ao vọng lại tiếng bánh xe lóc cóc và một cỗ xe dài với đôi ngựa hiện ra, in bóng sẫm trên quầng bụi đỏ rực bốc lên trong ánh mặt trời sắp lặn.
“Cha ơi, cha ơi! Con Khoang Đỏ sắp chết rồi!” cô gọi với. Ông vừa vòng qua bờ ao. Antek đã xuống đi bộ đằng sau; cây thông chở trên xe dài quá, phải có người đỡ.
“Đừng có phí hơi nói nhảm,” ông càu nhàu đáp, quất ngựa.
“Ông Ambrose chích máu rồi — không ăn thua. Đổ sáp nến vào họng — cũng không ăn thua. Muối — vô ích... Chắc chắn là dịch trâu bò rồi. Thằng Vitek bảo lão gác rừng đuổi đàn bò ra khỏi rặng cây, thế là con Khoang Đỏ tự dưng nằm vật xuống rên; nó phải dắt về đây.”
“Con Khoang Đỏ, con bò tốt nhất nhà! Quân súc sinh! Quỷ tha ma bắt cái lối chăn dắt của chúng bay đi!”
Ông ném dây cương cho con trai rồi chạy tới, tay lăm lăm cái roi.
Đám đàn bà giãn ra. Vitek, nãy giờ vẫn thản nhiên làm việc quanh nhà, sợ rúm cả người, chạy tọt ra vườn. Đến Hanka cũng đứng vụt dậy trên bậc cửa, hoang mang thất thần.
Ông già Boryna nhìn con bò hồi lâu rồi quát lên:
“Đúng rồi, nó đi đứt rồi, mà là tại chúng nó! Quân đàn bà bẩn thỉu! Ăn thì nhanh, còn trông nom thì chẳng bao giờ! Con vật đẹp thế! Chỉ vắng nhà một bước là y như rằng có tai có vạ.”
Hanka lí nhí phân trần: “Nhưng cả buổi chiều con đi dỡ khoai ngoài đồng mà.”
Ông quay phắt sang chị, giận dữ: “Mày ấy à! Mày có bao giờ thấy cái gì hỏng hóc không? Của tao thì mày có thèm đoái hoài lấy một tí không? Con bò như thế, tìm đỏ mắt cũng chẳng ra — ừ, ngay cả ở trại dinh điền cũng vậy!”
Ông còn ta thán một lúc lâu, xem xét con bò, thử kéo nó đứng dậy, vạch mồm nó ra xem. Con vật thở nặng nhọc, cổ họng khò khè. Máu đã ngừng chảy hẳn, đọng thành từng cục đen cứng như than xỉ.
“Biết làm sao bây giờ? Phải chọc tiết nó thôi: vớt vát được đồng nào hay đồng ấy.”
Quyết định xong, ông vào kho lúa lấy cái hái. Mài mấy vòng trên hòn đá mài kê dưới mái hiên chuồng bò, ông cởi áo ngoài, xắn tay áo sơ mi, rồi bắt tay vào cái việc rùng rợn ấy.
Hanka và Yuzka bật khóc khi con Khoang Đỏ, như biết cái chết đã kề bên, ngóc cái đầu nặng trịch lên, rên khe khẽ rồi đổ vật xuống, cổ họng đứt lìa. Bốn chân nó giật lên co quắp một hai cái.
Con chó liếm máu, thứ máu đã bắt đầu đông lại.
Antek vừa tới, cáu kỉnh nói với người vợ đang khóc:
“Khóc cái nỗi gì, đồ ngốc? Bò của cha thì cha mất, chứ nhà mình mất gì!”
Rồi anh bắt tay tháo ngựa, để Vitek dắt vào chuồng.
“Khoai được không?” Boryna hỏi, trong lúc rửa tay bên giếng.
“Sao lại không được? Chừng hai chục bao,” Antek đáp.
“Ngay hôm nay phải chở hết về.”
“Thế thì cha chở lấy,” Antek nói. “Con mệt lử, sắp gục đến nơi rồi. Con ngựa ngoài lại què một chân trước.”
“Yuzka, ra bảo Kuba thôi đào khoai. Bảo nó thắng con ngựa cái tơ vào thay con ngựa ngoài, rồi chở khoai về ngay hôm nay. Nhỡ trời mưa thì khốn.”
Boryna sôi lên vì tức tối và cay đắng. Chốc chốc ông lại ra đứng nhìn con bò bị chọc tiết mà chửi rủa tục tằn. Rồi ông sải bước ngang sân, ngó vào chuồng bò, vào kho lúa, vào khắp các lán trại, cú mất mát làm ông rối trí đến mức không biết mình đang làm gì.
“Vitek! Vitek!” cuối cùng ông gầm lên, tay tháo cái thắt lưng da bản to quanh bụng. Nhưng Vitek không thưa.
Hàng xóm đã tản đi hết, biết rằng nỗi xót của lớn đến thế thì dễ kết thúc bằng đòn roi, mà Boryna thì chưa bao giờ ngại đánh nhau. Song hôm nay ông chỉ chửi bới nguyền rủa mà thôi.
Đi về phía nhà, ông gọi vọng qua cửa sổ mở: “Hanka, dọn cho tao cái gì ăn!” rồi bước vào gian của mình.
Nhà tranh này cũng như mọi nhà nông dân khác, chia làm hai nửa bởi một lối đi rất rộng ở giữa. Phía sau trông ra sân; bốn cửa sổ đằng trước trông ra vườn cây và đường cái. Boryna và cô con gái Yuzka ở nửa phía vườn; Antek cùng vợ con ở nửa bên kia; còn thằng chăn bò và người làm thì ngủ trong chuồng ngựa.
Gian phòng lúc này đã tối dần, vì ánh sáng lọt vào chẳng được bao nhiêu qua mấy ô cửa sổ bé tí, lại thêm mái hiên che rợp và vườn cây phía ngoài. Chỉ còn thấy ánh lấp lánh của mặt kính che các bức ảnh thánh treo thành từng hàng sẫm trên bức tường quét vôi trắng. Phòng tuy rộng mà trông hẹp lại vì trần thấp, vì những cây xà lớn đỡ trần, và vì đồ đạc chật ních khắp nơi, chỉ chừa một khoảnh trống quanh cái bếp lò to có mái che dựng sát bức vách phía lối đi.
Boryna cởi ủng ở đó, rồi bước vào một cái buồng xép tối om, khép cửa lại sau lưng. Ông gỡ tấm ván che một ô kính nhỏ, và tức thì ánh chiều tà ùa vào, giội đầy buồng thứ ánh sáng đỏ như máu.
Đó là một buồng chứa đồ chật hẹp, ngổn ngang đồ đạc trong nhà. Người ta gác ngang mấy cây sào, trên treo lủng lẳng nào vải sọc nào áo _sukmana_;[8] lại có những đống sợi xám để kéo, những tấm lông cừu cuộn thành bó xỉn màu, và mấy bao lông chim. Ông lấy một chiếc _sukmana_ trắng và một cái thắt lưng đỏ chói, rồi lục lọi rất lâu trong mấy cái thùng đựng đầy hạt; lục cả trong một góc, dưới đống đồ tạp nham — da với sắt lẫn lộn vào nhau. Nhưng nghe tiếng Hanka ở phòng bên, ông vội đậy tấm ván che lại, rồi lại quay ra sờ soạng trong mấy thùng lúa.
-----
Chú thích 8:
_Sukmana_ — chiếc áo dài của nông dân Ba Lan. — _Chú của người dịch._
Bữa tối của ông, một nồi bắp cải hầm thịt ba chỉ tướng, giờ đang bốc khói trên chiếc ghế dài ngay dưới cửa sổ. Mùi thức ăn ấy quyện trong không khí với mùi trứng đánh đựng trong cái đĩa lớn kề bên.
“Sáng nay thằng Vitek lùa bò đi đâu?” ông hỏi, cắt một miếng tướng từ ổ bánh mì to bằng cái sàng lớn nhất.
“Ra rặng cây của dinh điền; rồi lão gác rừng đuổi ra.”
“Quân thối tha! Chính chúng nó giết con Khoang Đỏ!”
“Vâng, nó chạy mệt quá, nóng người quá, nên bên trong sinh viêm.”
“Quân chó đói! Chúng ta có quyền chăn bò ở đấy. Giấy trắng mực đen ghi rành rành, chữ to bằng con bò mộng: thế mà lần nào chúng nó cũng đuổi, lại bảo mình chẳng có quyền gì ở đấy.”
“Nhà khác chúng nó cũng làm thế. Thằng con nhà Valek cũng bị chúng nó đánh cho một trận nhừ tử.”
“Hừ! Tao sẽ đâm đơn ra toà, không thì lên tận quan Ủy viên. Nó đáng ba trăm _zloty_, chẳng kém một _grosz_ nào!”
“Đúng thế, đúng thế,” Hanka phụ hoạ, nhẹ cả người khi thấy cha chồng đã bớt giận mình.
“Bảo thằng Antek chở khoai về xong là phải lo ngay con bò — lột da rồi xẻ thịt ra. Tao ở nhà trưởng làng về sẽ đỡ một tay. Mấy tảng thịt thì treo lên xà nhà, cho chó với chuột bọ khỏi với tới.”
Ăn xong, ông đứng dậy sửa soạn thay đồ để đi, nhưng người nặng trịch, mắt díp lại, nên cứ nguyên quần áo ngả lưng xuống giường, định chỉ chợp mắt một lát.
Hanka dọn dẹp, chốc chốc lại ra cửa sổ liếc trộm Antek đang ăn tối dưới mái hiên trước nhà. Anh ngồi cách cái đĩa một quãng đàng hoàng, xúc từng thìa một, thìa cạ vào thành đĩa nghe cồm cộp mà vẫn thong thả. Thỉnh thoảng anh lại đưa mắt nhìn ra ao, mặt nước lấp lánh những vòng sóng tím và vàng chuyển động, óng ánh trong ráng chiều. Giữa những vòng sóng ấy, như mây trắng quanh cầu vồng, một đàn ngỗng bơi qua, kêu quàng quạc, mỏ phun ra những tia nước đỏ như máu long lanh tựa ngọc.
Cả làng đang sôi động, người qua kẻ lại đông đúc. Trên con đường hai bên bờ ao, bụi bốc mù và xe bò lóc cóc; đàn bò rống ì ộp đứng ngập đến đầu gối trong ao, thong thả uống nước rồi ngẩng những cái đầu nặng nề lên, nước từ hàm chúng ròng ròng chảy xuống như những chuỗi ngọc. Trong khi đó, ở bờ bên kia, đám đàn bà giặt giũ đang làm việc, tiếng chày họ vung lên đập vào vải lanh nghe chan chát.
“Anh Antek, anh bổ củi giúp tôi với; một mình tôi không kham nổi,” vợ anh rụt rè nói, vì gã chẳng ngại gì mà không văng cho chị một câu chửi — thậm chí một cái tát — chỉ vì một cớ cỏn con.
Anh chẳng buồn đáp lấy một tiếng, làm như không nghe thấy. Chị không dám nhắc lại, chỉ ra bổ lấy mấy thanh củi vụn trong sức mình, còn anh, bẳn gắt và rã rời sau một ngày quần quật, ngồi nhìn sang bên kia ao, nơi một ngôi nhà lớn sáng lên với những bức tường quét vôi trắng và những ô kính hắt ánh chiều tà. Một bờ rào đá thấp chạy quanh mảnh vườn, trên rào mấy khóm thược dược gật gù, nổi bật hẳn trên nền tường trắng của ngôi nhà; và trước nhà, một bóng người cao lớn từ dưới vòm cây trong vườn đi ra, khuất vào lối hiên trước khi kịp nhận ra là ai.
Từ chỗ ngồi ngoài hiên, Antek nghe tiếng cha ngáy mà gầm gừ giận dữ. “Ông chủ thì ngủ; còn _mày_, cày đi, thằng làm thuê, cày nữa đi!”
Anh ra sân, lại đưa mắt nhìn con bò.
“Bò của cha, nhưng mình cũng mất chứ chẳng không,” anh bảo vợ; chị đã thôi bổ củi, ra chỗ chiếc xe Kuba vừa đánh về.
“Hầm chưa xong, chưa cất khoai được; phải đổ tạm ra sân đập lúa thôi.”
“Nhưng cha bảo anh phải lột da con bò rồi xẻ thịt ngay trên sân đập lúa, có Kuba phụ cho.”
“Đủ chỗ cho cả bò lẫn khoai,” Kuba lẩm bẩm, mở toang cửa kho lúa.
“Tôi,” Antek nói, “đâu phải thằng làm lò mổ mà đi lột xác súc vật!”
Không ai nói thêm gì nữa; khoai đổ xuống nền kho lúa lộp bộp ầm ĩ.
Mặt trời đã lặn, nhưng màu máu sẫm và màu vàng tàn của ráng chiều còn in mờ mờ xuống mặt ao; nước lặng chỉ khẽ rung, ánh lên đỏ au cùng một tiếng rì rầm buồn ngủ.
Chẳng mấy chốc, làng chìm trong bóng tối và lặng ngắt cái yên tĩnh sâu của một đêm thu. Những mái nhà tranh như nhỏ lại, tựa hồ lún xuống đất, hay tan vào đám cây mơ màng rủ trên đầu, hay lẫn làm một với những bờ rào xám vây quanh. Antek và Kuba khiêng khoai. Hanka và Yuzka tất bật việc nhà, lùa ngỗng về chuồng hay cho lợn ăn — lũ lợn ụt ịt đòi ăn ngay ngoài lối hiên. Rồi đến lúc vắt sữa bò. Vitek vừa lùa bò ở bãi chăn về, đã bỏ ít cỏ khô lên máng trước mặt chúng cho chúng đứng yên trong lúc vắt.
Yuzka vừa bắt tay vào con bò đầu tiên thì Vitek hỏi, giọng khẽ và run: “Yuzka này, ông chủ giận lắm hả?”
“Ôi trời! Giận chứ sao không! Ông định cho mày một trận nên thân!” cô bé đáp, quay mặt về phía ánh sáng rồi đưa tay ra đỡ, vì con bò bị ruồi quấy cứ ve vẩy đuôi, quật cả vào người.
“Nhưng tại tôi à, khi người gác rừng đuổi chúng tôi ra? Ông ta suýt nện tôi nữa, may mà tôi chạy thoát. Rồi nó nằm vật xuống, rống lên rên rỉ, nên tôi phải dắt nó về.”
Nó không nói gì thêm, nhưng Yuzka nghe tiếng nó sụt sịt, khóc rấm rứt.
“Vitek! Mày khóc như con bê ấy. Thôi đi! Bộ cha đánh mày lần đầu đấy à?”
“Đâu phải, nhưng tôi chịu đòn không nổi; lần nào tôi cũng sợ.”
“Ngốc thế! Thằng to xác thế mà cũng sợ? Nhưng thôi, tao sẽ nói lại đầu đuôi với cha cho.”
“Thật không, Yuzka?” nó reo lên mừng rỡ.
“Thật mà, Vitek; đừng sợ nữa!”
“Nếu thế, — thì đây, con chim này cho Yuzka,” nó thì thầm, khoái chí, rồi lôi trong ngực áo ra một món đồ chơi kỳ diệu. “Nhìn xem, nó tự đi được đấy!”
Nó đặt con chim lên bậc cửa rồi lên dây cót. Con chim nhấc đôi chân dài, lắc lắc đầu, bắt đầu bước đi.
“Ôi trời! Con cò! Mà đi cứ như thật!” Yuzka kêu lên kinh ngạc, đặt xô sữa sang bên, ngồi thụp xuống, mê mẩn nhìn.
“Chao, mày khéo tay ghê, làm được cả cái này! Nó tự đi được thật à?”
“Tự đi chứ, Yuzka; có điều phải lên dây bằng cái chốt gỗ này. Xem kìa! Nó vênh vang y như ông lớn vừa ăn no!” Nó xoay con chim lại. Con chim nhấc cẳng dài, ra vẻ trịnh trọng đến buồn cười, cứ nghênh ngang bước, cổ đưa tới đưa lui.
Cả hai phá lên cười, thích thú với những cử động ấy; chốc chốc Yuzka lại đưa mắt nhìn thằng bé đầy thán phục.
Bỗng Boryna cất tiếng gọi Yuzka từ ngoài nhà.
“Con đây,” cô bé đáp.
“Ra đây cha bảo.”
“Con không ra được; con đang vắt sữa.”
“Ừ thì,” ông nói, “cha sang nhà trưởng làng đây,” rồi ngó vào trong chuồng tối, nói thêm: “Cái thằng, cái thằng con hoang ấy, nó không ở đây chứ?”
“Ơ, cha hỏi Vitek ạ? Nó đi với anh Antek rồi,” cô bé vội vàng đáp, trong bụng thấp thỏm, vì Vitek đã sợ hết hồn, thu người nấp sau lưng cô.
“Trốn rồi!... Đúng là quân súc sinh... để mất cả một con bò như thế!” ông gầm gừ, quay vào nhà khoác chiếc _sukmana_ trắng mới và đội chiếc mũ đen chóp cao. Rồi thắt cái đai đỏ thẫm, ông đi về phía cối xay.
“Việc còn bời bời ra đấy!” ông tự nhủ trong lúc bước đi; “củi cả mùa đông chưa chở về, mấy đám ruộng chưa gieo, bắp cải thì còn phơi ngoài trời! Đất khoai cũng phải cày, đất yến mạch cũng phải cày. Lạy Chúa! Việc của người ta chẳng bao giờ hết; cứ như con bò dưới ách. Lại còn cái vụ kiện nữa chứ!... Quả là quân đàn bà hư thân: tôi mà ngủ với nó ư!... Cho cái lưỡi nó thối rữa ra, đồ đê tiện!” Ông nhổ toẹt một bãi đầy căm tức, nhồi tẩu, rồi khó nhọc quẹt một que diêm ẩm vào ống quần cho bén lửa.
Rồi ông lững thững đi, đầu vẫn nặng những lo toan và cái chết của con bò.
Giờ ông trơ trọi như cái cột mốc bên đường. Chẳng có ai để mà than thở, mà kể lể.... Cái gì cũng một mình nghĩ, một mình quyết, một mình lo — kiếp chó má!... Chẳng bao giờ có người để nói, cũng chẳng ai bày vẽ hay đỡ đần cho ... thành thử mất mát cứ chồng lên mất mát!
Xóm làng đã nhá nhem. Qua những cánh cửa và ô cửa sổ mở toang (vì tối ấy trời còn ấm), từ các bếp lửa hắt ra những vệt sáng, cùng mùi khoai luộc, mùi cháo rưới mỡ tóp thịt muối. Nhiều người ăn tối ngay ngoài lối hiên, có nhà ngồi hẳn ngoài sân, chuyện trò rôm rả trong tiếng thìa lách cách.
Boryna chậm bước; những chuyện vừa qua làm ông rã rời, rồi ý nghĩ về người vợ ông chôn hồi mùa xuân lại trở về, khiến ông phải nuốt một tiếng nấc.
“Ôi chao! Giá mà _bà ấy_ — đêm nay sao tôi nhớ bà ấy rõ thế! — giá bà ấy còn đây, con Khoang Đỏ đâu đến nỗi chết. Phải, bà ấy đúng là người biết vun vén, người đàn bà hiếm có. Đành rằng miệng lưỡi sắc như dao, chẳng mấy khi có lấy một lời tử tế với ai: nhưng vẫn là người vợ tốt, biết quán xuyến.” Rồi ông thầm đọc một lời kinh cầu cho linh hồn bà, lòng đau nhói khi nhớ về những ngày đã qua.
Ngày trước, mỗi bận ông về nhà rã rời mệt nhọc, bà đều dành cho ông thứ ngon nhất; lắm khi bà còn giấu bọn trẻ, lén dúi cho ông mấy khúc dồi thơm phức để phần riêng. Rồi chẳng hiểu sao dạo ấy nhà cửa cứ thịnh lên. Bê con, ngỗng con, lợn sữa sinh sôi; đến phiên chợ là có khối thứ đem ra tỉnh; trong nhà lúc nào cũng sẵn tiền mặt, lại còn để dành phòng khi cơ nhỡ.
Còn bây giờ?
Antek thì lúc nào cũng kéo về phía mình, thằng con rể thợ rèn cũng thế — hễ có dịp là moi của ông cho bằng được. Yuzka ư? — Con bé mảnh khảnh, trong đầu toàn cám chứ óc iếc gì; mà cũng phải, nó chưa đầy mười tuổi. Còn Hanka? Chập chờn như con thiêu thân, ốm o quanh năm, chẳng làm gì ngoài rên rỉ như con chó.
Thế là cái gì cũng lụn bại. Hôm nay phải giết con Khoang Đỏ, mùa gặt thì chết một con lợn; quạ lại tha đi bao nhiêu ngỗng con, còn lại có nửa đàn. Mất mát là thế! Tai ương là thế! Của cải trong tay cứ hao đi, chảy tuột như nước qua cái rá!
“Nhưng ta không chịu thua!” ông gần như gào lên: “còn cựa được chân tay này thì một mẫu đất ta cũng không nhường cho ai hết!”
“Ngợi khen Chúa Giêsu Kitô!” có người chào ông khi ông đi qua.
“Đời đời chẳng cùng!” ông buột miệng đáp, rồi rẽ khỏi đường cái vào một con ngõ rào dài hun hút, cuối ngõ, lùi khá xa đường lớn, là nhà tranh của trưởng làng.
Các ô cửa sổ sáng trưng. Lũ chó nhao lên sủa, còn Boryna thì đi thẳng vào gian nhà trên.
“Trưởng làng có nhà không?” ông hỏi một người đàn bà đẫy đà đang quỳ bên chiếc nôi, cho con bú.
“Chưa, nhưng cũng sắp về thôi. Ông Matthias ngồi chơi đã; với lại còn người khác cũng đang đợi kia kìa.” Người đàn bà hất cằm về phía một người ăn mày ngồi cạnh bếp lửa — ông lão mù ta đã gặp trước đây, có con chó dắt đường. Mấy thanh dăm cháy trên bếp hắt thứ ánh đỏ gay gắt lên khuôn mặt to bè cạo nhẵn, lên cái đỉnh đầu hói và đôi mắt mở trừng trừng, phủ một lớp màng trắng, bất động dưới hàng lông mày bạc.
“Chúa dẫn cụ từ đâu tới đây thế?” Boryna hỏi, ngồi xuống phía bên kia bếp lửa.
“Từ khắp đầu này cuối kia của thế gian, ông ạ; chứ như tôi thì còn từ đâu được nữa?” câu trả lời cất lên bằng cái giọng kéo dài, ai oán, trong khi chủ nhân của nó — kẻ lắng nghe chăm chú từng tiếng động — rút ra một hộp thuốc hít.
“Ông làm một nhúm cho vui.”
Matthias không từ chối, mà lại bốc một nhúm to đến nỗi hắt hơi liền ba cái, nước mắt trào ra.
“Thuốc gì mà nặng khiếp,” ông nói, lấy khuỷu tay quệt nước mắt.
“Thuốc hít Petersburg đấy, tốt cho mắt lắm. Cầu cho mắt ông cũng được thế!”
“Mai cụ ghé nhà tôi nhé? Tôi vừa giết một con bò.”
“Xin Chúa trả công ông. Ông Boryna phải không nhỉ?”
“Chà! Cụ đoán tài thật.”
“Nghe giọng, nghe cách nói là biết.”
“Nào, đi khắp thiên hạ về, cụ có tin tức gì không?”
“Chà! Tin gì mới được chứ? Có tin lành, có tin dữ, có tin chẳng ra sao. Đời nó vậy. Đến lúc phải cho người ăn mày cái gì thì ai cũng than cũng kể; thế mà tiền rượu vodka thì lúc nào cũng sẵn.”
“Cụ nói phải; đúng y như thế.”
“Hô hô! Tôi lê chân trên cõi đất của Chúa này đủ lâu để biết đôi ba điều chứ.”
“Này cụ,” bà vợ trưởng làng bấy giờ mới hỏi, “thằng bé nhặt được đi theo cụ năm ngoái, giờ ra sao rồi?”
“Chà! Cái quân đê tiện ấy! Nó bỏ trốn, thó của tôi một món kha khá trong bị. Vài người tử tế cho tôi ít tiền, tôi đang đem lên Đức Bà Czestochowa xin lễ, thì cái thằng khốn nạn ấy lấy trộm rồi chuồn mất.... Im nào, Burek! Chắc trưởng làng về đấy.” Và khi sợi dây buộc nó bị giật một cái, con chó thôi sủa.
Ông lão đoán đúng. Trưởng làng bước vào, đứng ngay bậc cửa, quăng cái roi ngựa vào góc nhà rồi quát:
“Mình ơi! Cơm tối! Đói lả rồi đây. Ông Matthias khoẻ chứ? Còn cụ, cụ cần gì?”
“Tôi sang hỏi về cái vụ mai tôi phải ra hầu.”
“Ông cứ thư thả, tôi đợi được. Cho tôi ra ngoài lối hiên cũng xong; hay ông thương tôi già cả, cho ngồi cạnh bếp lửa thì tôi ngồi đấy. Cho tôi ăn với mấy củ khoai hay mẩu bánh, tôi cũng cầu nguyện cho ông đủ như thể ông cho tôi một kopek hay hơn thế.”
“Cụ cứ ngồi. Ăn tối ở đây, muốn ngủ lại đêm cũng được.”
Rồi trưởng làng ngồi vào mâm, trước mặt là đĩa khoai nghiền còn bốc khói, rưới đẫm mỡ tóp thịt muối cho đậm đà; cạnh đó là một liễn sữa chua.
“Ông Matthias ngồi vào đây, có gì ăn nấy với nhà tôi,” bà vợ trưởng làng niềm nở mời, đặt chiếc thìa thứ ba lên bàn.
“Thôi, cảm ơn bà. Ở rừng về tôi đã ăn một bữa no rồi.”
“Thì ông cứ làm lấy một thìa; đêm dạo này dài ra rồi đấy.”
“Kinh đọc cho nhiều, cơm ăn cho no, / Chẳng hại bao giờ, chỉ tốt mà thôi,”
người ăn mày xen vào, ra vẻ răn đời.
Boryna còn khách sáo một lúc, nhưng rốt cuộc mùi thịt muối xộc vào mũi đã thắng. Thế là ông ngồi xuống ăn, nhưng ăn chậm, nhẩn nha, giữ ý giữ tứ lắm.
Con chó của ông lão mù bấy giờ cứ đi lại bồn chồn, rít lên sốt ruột đòi ăn.
“Im nào, Burek! Nhà nông người ta đang ăn tối. Rồi mày cũng có phần, đừng lo.” Ông mù dỗ con chó như thế, tay hơ trên lửa, mũi hít lấy mùi thơm.
Khi cơn đói đã nguôi phần nào, ông trưởng làng quay sang Matthias: “Nghe đâu con Eva kiện ông đấy.”
“Nó! Chà, thật là! Bảo tôi không trả công nó à? Có Chúa trên đầu, tôi trả rồi — trả hơn cả phần nó đáng được. Mà lúc nó đẻ đứa bé ấy, tôi còn tự tay gửi cha xứ một bao yến mạch cho nó làm lễ rửa tội!”
“Nhưng nó bảo chính ông là người——”
“Ối, vô lý hết chỗ nói! Sao, nó điên à? Nó dở người à?”
“Ôhô! Già thế mà tay nghề vẫn còn cứng gớm!” Vợ chồng ông trưởng làng phá lên cười.
“Già thì biết,” ông mù chen vào, “mà biết thì làm được.”
“Nó nói dối như phường du mục! Tôi chưa hề động vào con bé ấy! Nó không nhà không cửa, bị người ta hắt hủi, đến van lạy xin vào ở nhờ — chỉ xin miếng ăn với một góc để ngủ, vì mùa đông sắp tới. Tôi thì chẳng muốn, nhưng bà nhà tôi, giờ đã mất, bảo thôi thì cứ nhận. Nó làm được việc nhà. Đã có người sẵn đấy thì thuê người ở làm gì? Tôi không ưng — thêm một miệng ăn, lại đúng mùa đông, mùa vốn ít việc. Nhưng bà nhà tôi bảo: ‘Ông đừng lo; nó biết dệt vải, dệt bố. Tôi sẽ liệu cho nó không ngồi không, lúc nào cũng có việc này việc nọ cho nó làm.’ Thế là nó ở lại với chúng tôi, người ra người. Rồi chẳng bao lâu thì nó chửa. Mà vấn đề là: thằng nào?”
“Nó bảo là ông.”
“Nó nói thế thì tôi giết nó! Đồ dối trá khốn nạn!”
“Dù sao ông cũng phải hầu toà.”
“Tôi sẽ đi. Cầu Chúa trả công ông đã báo cho tôi. Tôi cứ tưởng chuyện tiền công: nhưng tôi có người làm chứng là tôi đã trả rồi. Dịch vật cái con ấy! Đã lắm mồm lại còn ăn mày! — Trời đất ơi! Hết vạ này đến vạ khác! Tôi chịu sao thấu. Lại còn con bò phải giết! Việc đồng áng thì chưa xong! Mà tôi thì trơ trọi một thân, chẳng có ai trên đời đỡ cho một tay!”
“Ai phải khóc người vợ đã khuất thì khác nào con cừu giữa vòng vây sói,” ông già nhận xét.
“Chuyện con bò tôi nghe rồi; ngoài làng người ta kể.”
“Vụ ấy thì tôi có quyền đòi dinh điền. Nghe nói tay kiểm lâm xua đàn bò chạy. Nó là con tốt nhất nhà tôi — đáng ba trăm zloty — lại đang chửa — chạy dữ quá, đứt hơi, tôi phải giết. Không, tôi không bỏ qua đâu: tôi kiện.”
Nhưng ông trưởng làng vốn thân với dinh điền nên gắng dỗ Boryna nguôi: giận dữ bao giờ cũng là kẻ bày mưu tồi, phải liệu mà đừng làm càn. Rồi để lảng sang chuyện khác, ông nháy mắt với vợ mà rằng:
“Này ông, ông nên lấy vợ đi, có người trông nom cửa nhà.”
“Ơ hay, đùa đấy à? Lễ Đức Mẹ Lên Trời vừa rồi tôi tròn năm mươi tám. Ông mơ mộng gì thế? Mà bà nhà tôi nằm xuống, người còn chưa lạnh trong mồ!”
“Ông cứ lấy một người vợ, hợp tuổi ông, rồi đâu lại vào đấy thôi, ông Matthias ạ,” bà trưởng làng nói, tay bắt đầu dọn bàn.
“Vợ hiền vợ thảo, quả thật là mũ triều thiên của đời chồng,” ông mù nói thêm, tay quờ tìm đĩa thức ăn bà chủ vừa đặt trước mặt.
Boryna ngồi đó, tự hỏi sao ý ấy chưa từng đến trong đầu mình. Chắc chắn là kiếm được một người đàn bà nào đó, mà có còn hơn không.
“Có người,” ông già vừa ăn vừa nói tiếp, “thì ngu ngơ chẳng nói năng gì, có người thì hay cãi cọ, có người thì túm tóc trai làng, có người thì suốt ngày nhảy nhót chạy theo tiếng đàn ngoài quán rượu; nhưng dù sao, đàn ông có vợ vẫn hơn không.”
“Nhưng người ta sẽ nghĩ sao?” Boryna gạn.
“Nghĩ à? Họ nghĩ gì thì nghĩ, họ có trả lại ông con bò hay đỡ đần ông được việc gì không?” bà trưởng làng đốp lại, giọng nóng nảy.
“Hay sưởi ấm giường cho ông?” ông trưởng làng cười. “Con gái ở đây nhiều đến nỗi đàn ông đi một vòng qua các nhà tranh là nóng như hòn than trong bếp lửa.”
“Chà! Cái đồ hư thân! Nhìn ông ta kìa! Giờ lại đang thèm con nào đấy?”
“Con Sophie, con gái lão Gregory, có lẽ được; con bé mảnh mai, xinh xắn, của hồi môn lại khá.”
“Ông Matthias giàu nhất làng này thì cần gì của hồi môn?”
“Của cải ruộng nương, ai chê là nhiều bao giờ?” ông mù hỏi.
“Không,” ông trưởng làng phán, “con gái lão Gregory không hợp với ông ấy — trẻ quá, còn non quá.”
“Thế thì con Catharine, con gái lão Andrew,” bà trưởng làng đưa ra người tiếp theo.
“Có chỗ rồi. Thằng Adam con lão Roch hôm qua đã cho người sang dạm.”
“Vậy thì còn con Veronka, con gái lão Stach.”
“Lắm mồm, hay lê la, lại còn lệch một bên hông.”
“Thế còn bà goá của lão Thomas? Tôi tưởng người ấy thì hợp lắm.”
“Ba đứa con, bốn mẫu ruộng, hai con bò, với cái áo da cừu cũ mà anh Tom tội nghiệp để lại.”
“Hay là con Ulisia, con gái lão Adalbert, nhà cạnh nhà thờ?”
“Con ấy hợp với trai tân thì hơn. Thằng bé nó có giờ đã đủ lớn để đi chăn bò. Nhưng ông Matthias có người chăn bò rồi, cần gì nữa.”
“Còn khối người chưa chồng; chỉ là tôi đang tìm cho ra người xứng.”
“Này bà, bà bỏ sót mất một đứa đúng là dành cho ông ấy đấy.”
“Đứa nào?”
“Thì con Yagna, con gái lão Dominik chứ ai.”
“Ừ nhỉ; tôi quên khuấy mất.”
“Con bé phây phây, lại cao lớn; giậu nào nó ngả lên cũng phải gãy.”
“Yagna!” Boryna nhắc lại — nãy giờ ông vẫn lặng thinh nghe cái danh sách ấy; “nhưng người ta bảo nó hay chạy theo giai.”
“Ai thấy nào? Ai biết nào? Miệng lưỡi thiên hạ nói cho sướng mồm, với lại ghen ăn tức ở,” bà trưởng làng kêu lên, hăng hái bênh.
“Ồ, tôi có bảo nó thế đâu, chẳng qua người ta đồn thế. Thôi, giờ tôi phải về.” Ông sửa lại dây lưng, gắp hòn than hồng châm tẩu, rít hai ba hơi.
“Thế giấy gọi hầu toà hẹn mấy giờ?”
“Chín giờ; giấy trắng mực đen ở toà huyện ghi thế. Ông mà đi bộ thì phải dậy sớm.”
“Tôi đánh con ngựa cái tơ đi, thong thả thôi. Chúa ở cùng ông bà, cảm ơn bữa ăn tử tế và lời khuyên tình láng giềng.”
“Chúa cũng ở cùng ông. Ông cứ ngẫm lại lời chúng tôi nói. Ông chỉ cần gật một tiếng là tôi xách chai rượu sang nhà bà lão dạm hỏi cho; đám cưới sẽ xong trước khi hết mùa Giáng sinh.”
Boryna không đáp một lời, chỉ ném lại cái nhìn từ biệt có thể hiểu ra thế nào cũng được.
“Già mà cưới trẻ, quỷ mừng, vì quỷ có phần,” ông ăn mày mù ngẫm thế khi vét nốt đĩa khoai nghiền. Boryna bước chậm trên đường về, nghiêm túc ngẫm nghĩ lời khuyên vừa nghe. Ở nhà ông trưởng làng, ông đã giữ kỹ, không để lộ ra một dấu hiệu nào rằng cái ý ấy hợp ý mình đến thế. Sao mà lộ được? Ông đâu phải thằng ranh mới nứt mắt, hễ nghe nhắc đến chuyện vợ con là đã muốn nhảy cẫng lên mà reo, mà là một nhà nông đứng tuổi, đường bệ.
Đêm đã trùm kín mặt đất. Sao lấp lánh trong lòng trời thẫm tối như những giọt sương bạc, và mọi vật đều lặng, chỉ thi thoảng có một hai tiếng chó sủa. Lác đác, thưa thớt, vài đốm đèn nhấp nháy xuyên qua hàng cây trong vườn, chốc chốc lại một luồng hơi ẩm thổi lên từ đồng cỏ, làm cành khẽ đưa và lá thầm thì.
Boryna về nhà theo lối khác — lối thẳng, dẫn xuống qua cây cầu, dưới cầu nước ao dồn về phía cối xay, ục ục trong lòng sâu, rồi trút xuống suối. Rồi ông sang bờ bên kia, đi men theo ao, mặt nước ánh lên sẫm tối, hàng cây ven bờ đổ bóng u ám xuống, viền quanh nó một khung gỗ mun; nhưng ở gần giữa ao, nơi bóng nhạt hơn, những vì sao nhấp nháy soi mình như trong tấm gương thép.
Chính Matthias cũng không nói được vì sao lúc ấy ông không đi thẳng về nhà mà lại chọn đường vòng. Ông muốn đi ngang trước nhà Yagna chăng? Cũng có thể ông chỉ định thu xếp lại ý nghĩ và lật đi lật lại mọi chuyện trong đầu.
“Kể ra thì cũng chẳng dở. Mà người ta nói về nó thì đúng cả. Ừ, con bé vâm váp thật!”
Một cơn rùng mình chạy dọc người ông. Quanh ao ẩm và lạnh, mà ông thì vừa từ bếp lửa ấm cúng nhà trưởng làng bước ra.
“Nhà không có đàn bà thì hoặc là mình sạt nghiệp, hoặc là phải sang ruộng cho lũ con,” ông nghĩ, rồi lại: “Mà con bé thì phây phây, đẹp như tranh. Hôm nay mất con bò tốt nhất! ai biết mai lại mất gì nữa? Có lẽ mình nên kiếm người vợ thứ hai; bà trước để lại thừa đồ mặc cho nó. Nhưng cái bà goá nhà Dominik... mụ ấy độc lắm! — Ba đứa, mười lăm mẫu: chia cho Yagna chừng năm mẫu, chưa kể phần nhà và phần gia súc. Năm mẫu ruộng — đúng mấy thửa bên kia ruộng khoai nhà mình. Gộp với ruộng mình thì gần ba mươi lăm mẫu. Một khoảnh đất ra trò!”
Ông xoa hai tay, sửa lại dây lưng. “Cả làng chỉ còn mỗi lão chủ cối xay giàu hơn mình. Sang năm mình bón phân, cày hết đất trồng lúa mì. Phải tậu thêm một con ngựa. Với một con bò nữa, thay cho con Khoang tội nghiệp. — Ồ, mà lúc ấy nó đã dắt bò của nó về rồi....”
Ông cứ thế mà ngẫm, mà tính, mà mơ những giấc mơ của nhà nông, cho đến khi thấy ý nghĩ nặng quá, cái đầu chứa không xuể. Vì ông sắp xếp từng chi tiết một, đúng kiểu một người nông dân tinh khôn, và cân nhắc xem có bỏ sót điều gì hệ trọng không.
“Lũ ranh ấy thế nào cũng làm om lên!” ông tự nhủ, nghĩ đến đàn con. Nhưng vừa nghĩ thế thì một đợt sóng tự tin không gì lay nổi ập tới, lập tức tràn đầy lòng ông và làm ông quyết hẳn ý định, dù tới lúc ấy ông vẫn còn phân vân chưa ngã ngũ.
“Đất là đất của mình. Đứa nào dám đòi của mình xem nào! Không ưng thì cứ việc....” Đến đây ông ngừng bặt, vì lúc ấy ông đang đứng trước căn nhà tranh Yagna ở.
Đèn còn chưa tắt, một vệt sáng dài từ cửa sổ mở hắt ra, xuyên qua bụi thược dược và hàng giậu, rọi xuống mặt đường. Boryna đứng trong bóng tối, đưa mắt nhìn vào trong nhà.
Hẳn là bếp đang đỏ lửa to, vì nghe rõ tiếng củi thông nổ lép bép; gian nhà rộng, tuy các góc còn tối mờ, chỗ nào cũng đầy một thứ ánh sáng đo đỏ. Bà lão ngồi thu lu sát bếp lửa, đọc to cái gì đó; còn Yagna chỉ mặc mỗi cái áo lót, mặt quay ra cửa sổ, tay xắn lên tận vai, đang vặt lông một con ngỗng sống.
“Con bé ưa nhìn thật!” ông nghĩ.
Chốc chốc cô lại ngẩng đầu, nghe đọc, rồi thở dài thườn thượt. Đoạn lại cắm cúi vặt lông ngỗng, mà vặt mạnh tay đến nỗi con vật đau, kêu quang quác, giãy khỏi tay cô, đập cánh loạn khắp nhà, lông bay tứ tung. Nhưng chỉ lát sau cô đã ghì được nó, kẹp chặt giữa hai đầu gối, con ngỗng chỉ còn kêu được mấy tiếng yếu ớt, và từ ngoài hành lang với ngoài sân có những tiếng kêu khác đáp lại.
“Con bé đẹp thật,” ông ngẫm rồi rảo bước đi nhanh, vì máu đã dồn lên đầu. Ông đưa tay lên trán, vừa đi vừa thắt chặt lại dây lưng.
Ông đã vào trong cổng nhà mình, đã qua khỏi hàng rào, thì ngoái nhìn về phía nhà Yagna, ở đối diện bên kia mặt nước. Vừa lúc ấy có ai đó đi ra, vì một tia sáng loé lên từ cánh cửa vừa mở rọi xuống mặt ao. Nghe tiếng chân nặng nề bước thình thịch, tiếng nước trong thùng khoả ộc ạch; rồi sau rốt, giữa bóng tối và làn sương từ đồng cỏ dâng lên, một giọng cất tiếng hát theo điệu chậm:
“Giữa hai ta dòng nước cuộn, ôi sầu! Đứng bên này gửi nụ hôn sao đây? Thôi thả nó trôi trên một chiếc lá, Đưa mối tình sang tới người ta thương.”
Ông đứng nghe hồi lâu, nhưng không còn nghe giọng hát ấy nữa; rồi lát sau mọi ngọn đèn đều tắt.
Trăng, lúc này đã tròn, đã lên khỏi ngọn rừng, dát bạc lên các tán cây, rót ánh sáng qua kẽ cành xuống mặt ao, và ghé nhìn vào cửa sổ những căn nhà tranh. Chó không sủa nữa. Một sự tĩnh lặng khôn dò đã phủ xuống làng và xuống muôn vật.
Ông Boryna đi một vòng quanh sân, ngó qua mấy con ngựa đang phì phì nhai cỏ, rồi thò đầu vào chuồng bò, cửa để ngỏ vì trời nóng. Mấy con bò nằm nhai lại, kêu ọ ẹ khe khẽ, thứ tiếng chỉ loài bò mới có.
Ông đóng cửa kho lúa, bỏ mũ xuống, bước vào nhà và đọc kinh tối, lầm rầm nửa thành tiếng. Cả nhà đã ngủ cả. Ông lặng lẽ cởi áo quần rồi lên giường ngay.
Nhưng ông không sao ngủ được. Chăn nóng quá, ông phải kéo tuột nó khỏi chân. Đầu óc lại ngổn ngang bao nhiêu chuyện phiền lòng, lo nghĩ. Vả lại, trong người ông cũng chẳng được khoẻ.
“Sữa chua,” ông lẩm bẩm, “mình vẫn nói mãi rồi, tối mà ăn vào là không tốt.”
Rồi ông nghĩ đến đám con cái, ngẫm đi ngẫm lại những lời người ta bàn về Yagna, cho đến khi tất cả rối tung lên, lộn xộn cả trong đầu. Ông chẳng biết phải làm thế nào, và suýt nữa (như thói quen thuở trước) đã cất tiếng hỏi ý người nằm ở chiếc giường bên kia:
“Mary! Tôi có nên lấy vợ hay không đây?”
Nhưng ông kịp nhớ ra rằng bà Mary của ông đã nằm ngoài nghĩa địa nhà thờ từ dạo mùa xuân. Ở giường bên chỉ có Yuzka, đang ngủ và thở nặng nhọc. Còn ông thì trơ trọi một mình, khốn khổ, trên đời chẳng còn ai để hỏi han. Thế là ông thở dài một hơi, làm dấu thánh giá, rồi đọc mấy kinh Kính Mừng cho linh hồn người đã khuất và cho các linh hồn tín hữu nơi luyện ngục.