Nông dân — Tập I: Mùa thu — Chương 3
Chương 3 / 12 · Bài review Nông dân — Tập I: Mùa thu
Khi rạng đông bắt đầu rọi ánh sáng lên những mái nhà tranh, xua đêm đi và làm các vì sao mờ dần, thì quanh nhà ông Boryna đã có người đi lại.
Kuba đã ra khỏi chuồng ngựa. Sương giá phủ trắng mặt đất, trời còn nhá nhem xám; nhưng phía đông đã phô một vệt đỏ rực, và ngọn cây đóng sương cũng đỏ theo. Anh vươn vai khoan khoái, ngáp mấy lần, rồi sang chuồng bò gọi Vitek; đã đến giờ dậy. Nhưng thằng bé chỉ ngẩng cái đầu ngái ngủ lên, thì thào: “Lát nữa thôi, chú Kuba, lát nữa thôi”, rồi lại đặt xuống.
“Thôi, ngủ thêm chút nữa đi, tội nghiệp! Ngủ thêm chút nữa đi!” Kuba đắp cho nó cái áo da cừu rồi tập tễnh bước đi; ngày trước anh ăn một viên đạn vào đầu gối, thành què cả đời. Anh rửa mặt bên giếng, đưa tay vuốt mớ tóc thưa bết lại sau một đêm, rồi quỳ xuống bậc cửa chuồng ngựa mà đọc kinh.
Ông chủ vẫn còn nằm trên giường khi mấy ô cửa sổ nhà tranh ngả sang màu tím trong ráng đỏ ban mai. Tràng hạt trượt qua các ngón tay Kuba; anh đọc kinh rất lâu, mắt vẫn cứ đảo quanh sân, quanh những khung cửa sổ, quanh vườn cây còn nguyên lớp sương giá chưa tan trên thân, và những cây táo trĩu quả to bằng nắm tay. Rồi anh ném cái gì đó vào cái đầu trắng của Lapa, con chó ngủ trong cũi ngay gần đấy; nhưng Lapa chỉ gừ một tiếng, cuộn tròn lại, ngủ tiếp.
“Ơ hay, đồ ranh! Mày định ngủ tới lúc mặt trời lên à?” anh quát, rồi ném hết cái này đến cái khác, cho tới khi con chó chui ra, vươn mình, ngáp một cái, ngoe nguẩy đuôi, lại gần anh rồi ngồi gãi và lấy răng rỉa bộ lông xù.
“Lạy Chúa, con xin dâng lời kinh này lên Chúa và lên hết thảy các thánh của Chúa. Amen.”
Anh đấm ngực mấy lần, đứng lên khỏi chỗ quỳ, rồi gọi Lapa:
“Chà, cái đồ chó đỏng đảnh! Bắt rận mà làm như con gái sắp đi ăn cưới!”
Vốn là người chăm việc, anh bắt tay ngay: kéo xe ra khỏi nhà kho, tra mỡ vào bánh, cho ngựa uống nước, chất cỏ khô đầy máng đến khi chúng khoái chí phì phì và cào móng xuống nền chuồng. Rồi anh ra vựa lấy ít thóc lép trộn nhiều yến mạch ngon, đem đổ vào máng con ngựa cái: nó được cho đứng riêng một ngăn.
“Ăn đi, con bé già ơi, ăn đi; mày sắp có con rồi, phải lấy sức chứ. Ăn đi!” Anh vuốt lên mũi nó; con ngựa cái gác đầu lên vai anh, lấy môi rứt đùa mớ tóc bờm xờm của anh.
“Tới trưa thì mình chở khoai về, rồi chiều đi lấy lá lót chuồng. Đừng lo; một xe lá thì nặng nhọc gì; chớ lo.”
“Còn mày! Mày thì có sẵn một trận đòn ra trò, đồ lười!” anh nói với con ngựa thiến đứng ngay cạnh, đang chúi đầu qua khe ván ngăn nó với máng con ngựa cái.
“Đồ làm thuê, đồ Do Thái! Yến mạch ngon thì mày ngốn cho lắm vào; còn nhấc chân một bước, không có roi thì đừng hòng!”
Anh bỏ qua nó, ngó vào cái máng kê sát tường, nơi cái đầu con ngựa tơ — lông hạt dẻ, có vệt trắng hình mũi tên trên trán — đã nhìn anh từ nãy; nó khẽ hí lên một tiếng.
“Từ từ, con bé, từ từ! Ăn cho no vào; mày còn chở ông chủ lên tỉnh...” Nhưng sườn nó lấm, anh lấy nắm cỏ khô chùi sạch. Ngựa tơ nhớn nhao thế này, đến tuổi cho phối rồi... mà bẩn hết chỗ nói! Suốt ngày đằm bùn như con lợn nái!
Cứ thế, anh vừa làm vừa nói không ngớt, rồi vòng sang chuồng lợn thả đàn lợn đang eng éc đòi ăn. Lapa lẽo đẽo theo sau, ngước nhìn mặt anh đầy thèm thuồng.
“Muốn gì hả? Đây, cho mày miếng bánh ngon này!” Anh rút ở ngực áo ra một miếng bánh mì rồi tung lên. Lapa đớp lấy, chạy tuột về cũi, kẻo đàn lợn giành mất.
“Chà! Cái giống lợn ấy, cũng như lắm người: cái gì không phải của mình cũng cứ chực vơ.”
Trong kho lúa, anh đứng nhìn hồi lâu con bò đã xẻ tư treo trên xà.
“Con vật chẳng biết nghĩ. Đến lượt mày cũng đi. Mai là vào nồi cả. Tội nghiệp! Rốt cuộc mày thành bữa trưa Chủ nhật cho bọn tao.”
Thở dài thèm thuồng nghĩ tới bữa tiệc sắp tới, anh đi đánh thức Vitek. “Sắp mọc mặt trời rồi. Dậy, lùa bò ra bãi cỏ đi.”
Vitek chẳng muốn dậy; nó cuộn cái áo da cừu quanh mình mà càu nhàu; nhưng cuối cùng cũng ngồi lên, lê bước ngái ngủ ra sân.
Ông chủ ngủ quên; mặt trời đã lên, biến sương giá thành bụi hồng ngọc, biến mỗi ô kính, mỗi vũng nước thành tấm gương lửa, mà trong nhà vẫn chưa ai ló ra.
Vitek ngồi trên bậc cửa chuồng bò, vừa gãi vừa ngáp ầm ĩ. Lũ sẻ đã từ mái nhà sà xuống giếng, đang tắm trong máng. Nó bắc thang, trèo lên xem mấy tổ én dưới mái hiên; trên ấy im ắng quá, nó sợ chúng chết rét. Mấy con én nằm đấy, cứng đờ. Nó nhẹ tay nhặt từng con, đút vào trong ngực áo.
“Chú Kuba, chú xem này! Chúng chết rồi!” Nó chìa ra mấy cái xác cứng đơ. Kuba cầm từng con, áp vào tai, hà hơi lên mắt chúng, rồi phán:
“Chỉ tê cóng vì rét đêm qua thôi. Đồ ngốc, giờ này còn chưa chịu bay đi xứ ấm! Thôi, kệ!” Rồi anh trở lại với công việc.
Vitek ngồi trước nhà, chỗ nắng dội xuống bức tường quét vôi trắng, ruồi đã bò lổm ngổm. Nó lấy ra những con én đã hồi lại chút ít nhờ hơi ấm trong người; nó hà hơi, banh mỏ chúng ra, mớm nước bằng chính đôi môi ấm của mình, cho tới khi chúng tỉnh hẳn, mở mắt, vùng vẫy đòi đi. Rồi nó nhanh tay chộp một con ruồi trên tường, mớm cho con chim và thả nó bay.
“Về với mẹ mày đi, bay đi!” nó bảo, trong khi mấy con én non đậu trên rui chuồng bò, rỉa lông rỉa cánh và ríu rít như thể cảm ơn.
Lapa ngồi chồm hỗm trên hai chân sau, nhìn chăm chú, thỉnh thoảng lại rên ư ử, chạy theo mấy bước mỗi khi có con chim vỗ cánh bay đi để chực vồ, rồi lại quay về xem tiếp.
“Vồ thế thì bằng vồ gió,” Vitek nói, mải mê cứu lũ én đến nỗi không hay ông Boryna đã đi vòng quanh nhà tới, mãi đến khi ông đứng ngay trước mặt.
“A! Cái thằng ranh bẩn thỉu! Mày chơi chim hả?”
Thằng bé bật dậy toan chạy; nhưng ông chủ đã tóm chặt cổ áo nó, còn tay kia thì tháo sợi dây da dày bản vẫn thắt làm thắt lưng.
“Ối, đừng đánh con, đừng đánh con, con lạy ông!” thằng khốn khổ chỉ kêu được có thế.
“Mày là thứ chăn bò gì thế, hử? — Chăn nom gia súc kiểu ấy hử? — Làm mất của tao con bò tốt nhất, hử? — Đồ con rơi! — Đồ ngơ ngẩn Warsaw!” Rồi ông quật túi bụi, hễ trúng đâu thì trúng; sợi dây da rít lên trong không khí, thằng bé quằn quại như con lươn, gào xin tha.
“Đừng! Lạy Chúa! Ông ấy giết con! Ông chủ ơi! Lạy Chúa Giêsu, thương con với!”
Hanka thò đầu ra xem có chuyện gì; Kuba nhổ toẹt một cái, ghê tởm, rồi lui vào chuồng ngựa.
Ông Boryna cứ ra sức quật, ghi cái mất mát của mình lên da thịt thằng bé cho hả, còn Vitek thì gào rú hết cỡ. Cuối cùng thằng khốn cũng vùng thoát khỏi tay ông chủ, hai tay ôm mông, chạy ra phía hàng rào, vừa chạy vừa gào: “Ông ấy giết tôi rồi! Trời ơi! Ông ấy giết tôi rồi!”, còn mấy con én vẫn nằm trong ngực áo thì rơi ra, vãi dọc đường.
Vẫn còn hầm hè dọa nó, ông Boryna quay vào nhà, ngó sang buồng của Antek.
“Gì thế này!” ông thấy con thì quát. “Còn nằm ườn, mặt trời lên lâu rồi đấy?”
“Con phải nghỉ chứ. Hôm qua mệt gần chết.”
“Tao lên toà. Mày lo chở khoai về; xong việc ấy thì cho người nhà đi lấy lá lót chuồng. Còn mày thì đóng nẹp quanh nhà làm áo chống rét cho mùa đông đi.”[9]
-----
Chú thích 9:
Nông dân Ba Lan, để nhà tranh ấm hơn về mùa đông, dựng quanh nhà một thứ hàng rào nẹp gỗ cao hơn một thước, rồi nhồi khoảng trống ở giữa bằng cỏ khô, lá khô, cành cây, v.v., thường trộn thêm đất sét.—_Chú thích của người dịch._
“Cha cứ làm lấy; bên nhà con không có gió.”
“Tuỳ mày. Tao làm bên tao; còn mày, cái ngài lười biếng ấy, cứ việc mà rét.”
Ông đóng sầm cửa, bước vào buồng mình. Bếp đã nhóm lửa, Yuzka thì sắp đi vắt sữa bò.
“Dọn bữa sáng ngay cho tao: tao phải đi.”
“Con có phân thân được đâu, cũng chẳng làm hai việc một lúc được.”
Rồi nó đi ra.
“Chẳng được lấy một phút yên! Cứ phải chửi, phải gây gổ với hết thảy mọi người,” ông lẩm bẩm một mình, rồi mặc quần áo, bụng dạ hết sức khó chịu. Cãi vã với thằng con thì chẳng bao giờ dứt, đến nỗi mỗi lời buông ra là hai bên chực nhảy bổ vào nhau — hay tệ hơn — chực nói một câu đâm vào người như dao! Càng nghĩ, ông càng bực, không nhịn được, cứ rít trong miệng mà chửi, quăng đôi ủng chỗ này chỗ kia trên nền nhà.
“Chúng nó phải nghe tao mới đúng, thế mà chúng không nghe. Vì cớ gì chứ?” ông tự hỏi.
“Chắc tại phải có cái gậy, một cái gậy ra trò, mới trị nổi chúng. Đáng lẽ tao phải dùng đến từ lâu rồi. Nhưng tao ngại làm to chuyện cho cả làng dòm ngó, nên không nỡ. Vì tao có phải thằng cày thuê rách rưới đâu; ba chục mẫu là của tao. Tao cũng chẳng thuộc dòng dõi hèn kém gì; Boryna là cái tên có tiếng. — Thế mà tử tế với chúng chỉ là đổ đi!” Rồi ông nhớ đến thằng con rể, tay thợ rèn, kẻ đang xúi bẩy mọi người chống lại ông, cứ nằng nặc đòi cho bằng được sáu mẫu ruộng lúa và một mẫu rừng, còn bảo phần còn lại thì hắn “sẵn lòng đợi”.
“Nghĩa là đợi tới lúc tao chết! Ừ phải,” ông cay đắng nghĩ, “mày cứ việc mà đợi, thằng kia! Tao còn sống thì mày đừng hòng ngửi được một tí đất nào của tao! Mày khôn quá hoá!”
Khi Yuzka vắt sữa xong vào nhà, nồi khoai đã sôi, và bữa sáng dọn ra chẳng mấy chốc.
“Yuzka, thịt thì tự tay mày bán! Mai là Chủ nhật, cả làng biết nhà mình có thịt, thế nào cũng kéo đến. Nhưng nhớ đấy, không bán chịu! Phần đùi sau thì để nhà ăn. Mày gọi ông Ambrose tới ướp muối, muối chua cho.”
“Nhưng anh thợ rèn cũng làm được việc ấy mà.”
“Nó lấy phần của nó cho mà xem — phần con sói xẻ con cừu ấy!”
“Nhưng chị Magda sẽ tủi. Bò nhà mình mà; chị ấy chẳng được gì sao?”
“Thế thì cắt một miếng gửi cho con Magda: nhưng đừng gọi thằng thợ rèn tới.”
“Cha ơi, cha tốt quá!”
“Được rồi, con bé. Ở nhà trông nom cho tử tế, tao sẽ mua cho cái bánh mì ngọt hay cái gì đó ở tỉnh về.”
Ông ăn một bữa khá no, thắt lưng lại, vuốt cho phẳng mớ tóc thưa bù xù, cầm lấy cây roi rồi đưa mắt nhìn quanh phòng.
“Có quên gì không nhỉ?”
Ông cũng đã toan ngó vào buồng trong, nhưng mắt Yuzka đang nhìn: thế là ông chỉ làm dấu thánh giá rồi đi ra.
Ngồi lên xe, dây cương trong tay, ông còn dặn thêm Yuzka một câu, lúc ấy nó đang đứng ở hiên.
“Đào khoai xong thì bảo họ đi cào lá lót chuồng: giấy phép giắt sau bức tranh ấy... Rồi dặn họ chặt lấy mấy cây thông non hay cây trăn: rồi sẽ dùng đến.”
Xe vừa ra tới hàng rào thì Vitek ló mặt ra giữa những gốc táo.
“Suýt quên... Vitek! Prrru, prrru! Vitek, tao bảo! Mày lùa đàn bò ra đồng cỏ... Trông nom cho tử tế, không thì ăn một trận đòn nhớ đời.”
“Ối, ông cứ việc mà hôn cái——” thằng bé hỗn hào gào lên rồi biến mất sau kho lúa.
“Láo vừa thôi! Tao mà xuống xe thì mày biết tay!”
Ông rẽ phải vào con đường chạy qua nhà thờ. Mặt trời lúc này đã lên trên những mái nhà, tia nắng mỗi lúc một gắt. Từ mái rạ, hơi nước bốc lên, nước nhỏ giọt xuống; nhưng trong bóng những bờ giậu và rãnh nước, sương giá vẫn trắng. Trên mặt ao, lớp sương mỏng buổi sớm đã mỏng thêm; nước sủi tăm và lấp lánh dưới nắng.
Trong làng, vòng quay công việc thường ngày đã bắt đầu. Người ta hoạt bát và hăng hái hơn thường lệ trong buổi sáng sáng sủa mát lạnh này: kẻ kéo từng tốp ra đồng cuốc đất, vác cuốc và cuốc chim, xách giỏ đựng đồ ăn; kẻ đi cày những thửa ruộng còn trơ rạ; kẻ chở bừa trên xe, bao tải đầy thóc giống; lại có người men đường vào rừng lấy lá lót chuồng, vác bồ cào trên vai. Hai bên bờ ao, tiếng ồn mỗi lúc một lớn, khi các con đường chẳng mấy chốc chật ních gia súc lùa ra bãi cỏ; chó sủa, người quát, và bụi dày mà sương đêm mới chỉ dằn xuống được phần nào lại bốc lên trên đường cái.
Boryna thận trọng lách qua đám gia súc, chốc chốc lại vung roi đen đét vào con cừu hay con bê nào lơ ngơ tạt ngang lối con ngựa cái tơ; cuối cùng ông cũng thoát khỏi cả đàn, và tới gần nhà thờ, nhà thờ khuất sau một lũy lớn cây đoạn và cây tiêu huyền, lá vàng xỉn. Từ đó ông rẽ ra một con đường rộng hơn, hai bên trồng những hàng dương khổng lồ.
Chuông đã đổ báo lễ bắt đầu, và tiếng đàn nhà thờ nghèn nghẹt vọng ra từ bên trong; ông bỏ mũ và thầm đọc một lời kinh sốt sắng.
Đường vắng, lá rụng phủ đầy, trải như một tấm thảm vàng úa lên mọi hố sâu, mọi vệt bánh xe lún và những cái rễ cây xù xì nổi trên mặt đường: tấm thảm bị bóng hàng dương đổ xuống kẻ thành sọc, khi mặt trời chiếu ngang qua lối đi.
“Đi nào! con bé của ta, đi nào!” Ông vung roi, vì đường dốc lên, tuy thoai thoải, về phía rừng đen thẫm ở đằng xa.
Sự tĩnh lặng làm Boryna ríu mắt; ông nhìn qua hàng cột dương ra những cánh đồng đẫm ánh hồng, và cố nghĩ về lời tố cáo của Eva và cái chết của con Đỏ-Trắng; nhưng cơn buồn ngủ cứ kéo đến, không cưỡng nổi. Chim ríu rít trên cành; gió rì rào qua ngọn cây, chỗ này chỗ kia thả xuống một chiếc lá, như con bướm vàng, xoay tròn rồi đậu xuống đường, hay xuống một bụi kế bám bụi, những con mắt rực lửa của nó gan góc mở ra đón nắng. Và những cây dương chuyện trò với nhau, khẽ rì rầm đưa cành, rồi lặng đi.
Mãi tới khi vào tới rừng, ngựa dừng lại, ông mới tỉnh hẳn.
“Lúa ở đây lên đẹp đấy,” ông ngẫm nghĩ, nheo mắt về phía mặt trời nhìn những thửa ruộng xám, phủ lớp sương màu gỉ sắt của mạ lúa mạch đen đang nhú.
“Đất tốt, lại liền ngay đất mình — cứ như trời đặt sẵn ở đấy vậy! — Lúa mạch đen này, ta chắc mới gieo chưa lâu.” Ông đưa mắt thèm thuồng nhìn những khoảnh ruộng vừa bừa xong, rồi thở dài một tiếng, đi vào rừng.
Nhưng ở đây, ngọn gió lạnh buốt tạt vào mặt đã xua tan hẳn cơn mơ màng.
Khu rừng rất già và rất lớn. Nó đứng đó, rậm và kín, trong vẻ uy nghi của tuổi tác hòa với sức mạnh. Gần như toàn thông; nhưng không hiếm khi hiện ra một cây sồi cổ thụ tán rộng, hay mấy cây bạch dương, trong tấm áo vỏ trắng, thả mớ lá vàng rối bời phất phơ trong gió. Những tầng cây thấp — cây phỉ, cây trăn lùn và cây dương lá rung — chen chúc quanh những thân thông đỏ vạm vỡ, dày đặc và cành lá quấn vào nhau đến nỗi nắng hiếm khi chạm được xuống đất, nơi những tia nắng như đang bò, tựa lũ côn trùng sặc sỡ, trên rêu và trên đám dương xỉ đỏ úa.
“Tất cả chỗ này là của mình. Bốn mẫu,” ông nghĩ, mắt ngốn lấy cánh rừng, hả hê ngắm những cây gỗ tốt nhất.
“Chà! Chúa chẳng để ai ức hiếp ta! Mà ta cũng chẳng để người ta ức hiếp ta đâu! Người bên dinh điền thì bảo phần của chúng ta là quá nhiều: chúng ta lại thấy còn quá ít. — Để xem nào: bốn mẫu của mình, với một mẫu của Yagna; bốn với một là… Đi nào! đồ ngu! Sợ mấy con ác là à?” Ông vụt roi đét một cái; vì trên cây Khô, nơi tượng Chúa chịu nạn treo trên đó, mấy con ác là cãi nhau dữ dội đến mức con ngựa cái tơ vểnh tai lên rồi đứng khựng lại.
“‘Ác là cãi nhau, thế nào cũng mưa,’” ông lẩm bẩm, rồi vài roi nữa giục con ngựa chạy nước kiệu.
Lúc ấy đã quá tám giờ, vì người ngoài đồng đang ngồi ăn sáng, thì ông tới Timow: một thị trấn nhỏ có những phố hẹp vắng tanh, hai bên là các ngôi nhà xiêu vẹo, như hàng dãy mụ bán hàng già nua — chạy dọc theo những rãnh nước đầy rác, đầy trẻ con Do Thái lem luốc, và lợn.
Ông vừa vào tới nơi, đám đàn ông đàn bà Do Thái đã xúm lại quanh ông, hau háu nhòm vào xe, sục tay vào đám rơm lót — cả dưới ghế ngồi — xem có gì ông định bán không.
“Xéo đi, quân ghẻ lở!” ông gầm gừ, rẽ vào chợ, nơi dưới bóng vài cây dẻ ngựa già cỗi đang lụi dần ở giữa quảng trường, ngót hai chục cỗ xe đã đỗ, ngựa tháo ách.
Ông đánh xe vào giữa đám ấy, phủi rơm khỏi áo, rồi đi thẳng tới hiệu cắt tóc của Mordko để cạo râu. Lát sau ông bước ra, mặt nhẵn nhụi, chỉ có một vết đứt ở cằm, dán mảnh giấy, máu vẫn rịn qua.
Tòa chưa mở cửa; nhưng trước tòa nhà đứng ngay trong khu chợ, đối diện một nhà thờ rất lớn, đã có khá đông người tụ tập, kẻ ngồi trên bậc thềm mòn vẹt, kẻ tựa ngoài cửa sổ. Đàn bà ngồi xổm dọc bức tường trắng, chuyện gẫu với nhau, những cái tạp dề đỏ họ trùm đầu lúc đi đường nay đã tụt xuống vai.
Boryna nhìn thấy Eva tay dắt thằng con trai, xung quanh là những người làm chứng cho ả. Cơn giận trào lên trong ông. Ông khinh bỉ nhổ toẹt một cái, rồi lui vào hành lang chạy suốt dãy phòng ở riêng của các quan chức. Phòng xử ở bên trái; viên lục sự chiếm phía bên phải.
Vừa lúc ấy, gã đầy tớ Yacek bước qua ngưỡng cửa khu nhà ở, tay bưng cái ấm samovar, thổi hăng đến nỗi nó nhả khói như ống khói nhà máy. Chốc chốc, từ cuối hành lang ám khói lại cất lên một giọng the thé cáu kỉnh.
“Yacek! giày của các cô đâu!”
“Có ngay, có ngay ạ.”
Cái samovar lúc này đang xì xì, phun lửa, cháy như núi lửa.
“Yacek! nước cho ông chủ rửa mặt!”
“Vâng, vâng, ngay đây, ngay đây ạ!”
Mồ hôi nhễ nhại, đầu óc rối bời, gã chạy ngược chạy xuôi khắp hành lang đến vang cả lên, rồi quay lại thổi ấm, rồi lại tất tả đi; vì bà chủ lúc này đã the thé:
“Yacek, quân trời đánh, tất của ta đâu?”
“Cái samovar quỷ tha ma bắt này!”
Cảnh ấy còn kéo dài thêm một lúc nữa; nhưng cuối cùng cửa phòng xử mở ra, người ta ùa vào, chật cứng gian phòng lớn quét vôi trắng.
Yacek lại có mặt ở đó, giờ trong vai mõ tòa: chân đất, nhưng mặc áo vét xanh sẫm và quần cùng màu, khuy đồng. Mặt đỏ gay mồ hôi ròng ròng, gã lấy tay áo quệt trong khi luồn ra sau cái chấn song đen chia gian phòng làm hai. Lắc đầu như con ngựa bị ruồi trâu đốt (vì tóc gã màu cát cứ xõa xuống mắt, xọc cả vào mắt), gã ngồi nghỉ một lát bên cạnh cái lò sưởi to lát gạch men xanh, sau khi thận trọng ghé mắt nhìn sang phòng bên.
Người vào đông đến nỗi phòng chật ních. Họ ép vào chấn song đến rung cả lên, rồi một lúc sau bắt đầu chuyện trò, tiếng rì rầm chẳng mấy chốc lấp đầy cả gian phòng.
Ngoài cửa sổ, đám Do Thái réo gọi ầm ĩ; bên trong, đàn bà oang oang kể lể nỗi oan ức, rồi lại càng oang oang khóc lóc; nhưng nỗi oan ức ấy là gì thì chẳng ai hiểu nổi. Người nọ sát người kia, như một ruộng anh túc đỏ hay ruộng lúa mạch đen, dập dờn trước gió, xào xạc thì thầm; tất cả xúm xít vào nhau.
Chính lúc ấy Eva trông thấy Boryna đứng thẳng người bên chấn song, liền chửi rủa ông tới tấp, đến mức chạm nọc ông, khiến ông nóng mặt đáp lại:
“Câm mồm, đồ chó cái, không tao nện cho một trận mẹ mày cũng chẳng nhận ra mặt!”
Eva điên tiết, chồm tới cào ông, cố lách qua đám đông để với tới; nhưng khăn trùm của ả rơi xuống, thằng bé thì khóc thét lên. Chuyện gì có thể xảy ra, chẳng ai biết được: vì đúng lúc ấy Yacek chồm dậy, mở cánh cửa bên trong, và hô:
“Im mồm, quân nhà quê! Tòa vào.”
Đúng vậy thật: ông chủ điền vạm vỡ ở Raciborowice, theo sau là hai vị phụ thẩm và viên lục sự. Viên lục sự ngồi xuống chiếc bàn kê một bên, sắp lại giấy tờ, rồi đưa mắt nhìn các quan tòa đeo dây chuyền vàng vào cổ và ngồi vào chỗ bên chiếc bàn lớn phủ dạ đỏ thẫm.
Lập tức im phăng phắc đến nỗi nghe rõ mồn một tiếng người tán chuyện ngoài cửa sổ; và phiên xử bắt đầu.
Đơn kiện đầu tiên do một viên cảnh binh đưa ra, kiện một người buôn bán nhỏ về chuyện để sân nhà mất vệ sinh. — Kết án vắng mặt.
Rồi đến vụ một thằng bé bị đánh đòn vì thả ngựa ăn cỏ ba lá. — Hòa giải: năm rúp cho người mẹ; một bộ áo vét và quần mới cho thằng bé.
Một đơn kiện lấn bờ khi cày. — Không có chứng cứ: bác đơn.
Vụ trộm gỗ trong khu rừng thuộc quyền sở hữu của chính quan tòa: nguyên đơn là viên quản lý; bị đơn là dân làng Rokiciny. — Phạt tiền, không nộp thì hai tuần tù. Họ tuyên bố kháng án, và làm ầm lên về sự bất công của bản án, rằng họ vốn có quyền chung được lấy củi trong rừng, đến mức quan chánh thẩm phải ra hiệu cho Yacek, và gã rống lên:
“Im lặng! Im lặng trước tòa! Đây không phải quán rượu!”
Cứ thế, hết vụ này đến vụ khác, như luống cày nối luống cày, được giải quyết, nói chung đều đặn và khá êm, chỉ đôi lúc có tiếng than vãn, nức nở, hay cả tiếng chửi rủa; nhưng những tiếng ấy lập tức bị Yacek dẹp đi.
Một số người đã rút ra; nhưng người khác kéo vào còn đông hơn, đến nỗi tất cả đứng chen như cọng lúa trong bó. Không ai nhúc nhích được, và trời nóng ngột ngạt, tới mức quan tòa phải ra lệnh mở cửa sổ.
Và bây giờ đến vụ Bartek Koziol, người làng Lipka, bị tố ăn trộm một con lợn nái của Martianna Paches, con gái ông Anthony. Người làm chứng: chính Martianna nói trên, con trai bà là Simon, Barbara Pyesek, v.v.
“Người làm chứng có mặt đủ chưa?” một vị phụ thẩm hỏi.
“Có chúng tôi đây ạ,” tiếng đáp đồng thanh.
Boryna từ nãy vẫn kiên nhẫn đứng riêng một chỗ, sát chấn song; nhưng lúc này ông lại gần bà Paches chào hỏi; vì bà chẳng phải ai khác, chính là vợ góa của Dominik, mẹ Yagna.
“Bị đơn lên trước chấn song.”
Một người nông dân thấp bé chen lên.
“Anh là Bartek Koziol phải không?”
Gã nông dân, ra chiều ngơ ngác, gãi mái tóc dày cắt tròn; một nụ cười ngớ ngẩn giật giật trên khuôn mặt khô, nhẵn râu, và đôi mắt nhỏ viền đỏ cứ nhảy như sóc từ ông quan tòa này sang ông quan tòa khác.
Thấy gã không đáp, quan tòa nhắc lại câu hỏi.
“Phải ạ, phải ạ, chính hắn đấy ạ; hắn là Bartek Koziol, bẩm tòa tôn kính!” một mụ đàn bà nặng nề kêu lên, chen được vào trong chấn song.
“Mụ muốn gì?”
“Bẩm tòa, tôi là vợ của cái thân tội nghiệp này, Bartek Koziol ạ”; rồi chìa hai tay, lòng bàn tay úp xuống sàn, mụ cúi gập đến nỗi cái mũ diềm chạm cả vào bàn các quan tòa.
“Mụ là người làm chứng à?”
“Người làm chứng ạ? Không, nhưng bẩm…”
“Mõ tòa, đưa mụ ấy ra ngoài chấn song.”
“Ra đi, mụ kia; chỗ này không phải chỗ của mụ.”
Gã tóm vai mụ đẩy ngược ra.
“Bẩm tòa tôn kính,” mụ kêu, “chồng tôi nặng tai lắm ạ!”
“Ra ngay, không tôi làm mạnh tay bây giờ!” Yacek gầm lên, ẩn mụ vào chấn song đến mức mụ rên lên vì đau.
“Đi cho êm chuyện; chúng tôi sẽ nói to đủ cho lão Koziol nhà mụ nghe.”
Cuộc thẩm vấn bắt đầu.
“Tên anh là gì?”
“Tên tôi ấy à? Hẳn các ông biết rồi, chứ không thì gọi tôi làm sao được. Hay các ông muốn hỏi tên tục của tôi?”
“Đồ đần! Khai tên ra,” quan tòa không lay chuyển, nói.
“Bartek Koziol, bẩm tòa tôn kính,” vợ gã khai thay.
“Bao nhiêu tuổi?”
“Tôi nhớ làm sao được? Mình ơi, tôi bao nhiêu tuổi nhỉ?”
“Sang xuân là năm mươi hai, tôi chắc thế.”
“Làm ruộng phải không?”
“Ồ, phải: ba mẫu đất cát pha với một con bò; nông dân cừ khôi lắm đấy!”
“Đã bị kết án bao giờ chưa?”
“Kết án ạ?”
“Anh đã bao giờ phải ngồi tù chưa?”
“Ý ông là bị tội ấy ạ? — Mẹ ơi, con có bao giờ ngồi tù không?”
“Có chứ, Bartek, có đấy — tại mấy người bên dinh điền thối tha ấy, vì một con cừu chết.”
“À, phải rồi, có thật. — Tôi nhặt được một con cừu chết ngoài bãi chăn. Chứ chẳng lẽ để chó tha đi ăn à? Thế là tôi lấy; rồi họ kiện tôi, thề sống thề chết là tôi ăn trộm con vật ấy, tòa bèn tuyên án. Họ tống tôi vào tù, tôi phải nằm trong đó. — Nhưng oan lắm — oan lắm!” anh ta nói khẽ, đưa mắt liếc sang vợ.
“Anh bị tố cáo đã ăn trộm một con lợn nái, tài sản của Martianna Paches: bắt nó ngoài đồng, lùa về nhà tranh của anh, rồi giết thịt và ăn. Anh biện bạch gì không?”
“Tôi không hề ăn. Nếu tôi ăn thì xin Chúa bỏ rơi tôi trong giờ lâm tử! Tôi mà ăn nó ư? — Chà, thật là!”
“Anh biện bạch gì không?”
“Ồ... biện bạch ạ? — Con có gì phải nói không, mẹ? — À, con nhớ ra rồi. — Vâng: vô tội. Tôi không ăn con lợn nái ấy, còn cái mụ Martianna, vợ góa lão Dominik kia, thì đúng là con chó sủa!”
“Ôi, đàn ông sao lại có kẻ dối trá đến thế!” mụ Dominik thở dài.
“Hãy nói xem con lợn nái nhà Paches vào nhà anh bằng cách nào.”
“Vào nhà tôi — lợn nái nhà Paches ạ? — Mẹ ơi, ông lớn đáng kính vừa nói gì thế?”
“Thì, Bartek, ông ấy hỏi con về con lợn đã đi theo con về nhà mình đấy.”
“Ồ, tôi biết... giờ thì tôi biết rồi. Xin quý tòa đáng kính lượng thứ cho tôi, và nghe điều tôi đã nói, nay xin nhắc lại. — Đó là một con lợn chứ không phải lợn nái; một con lợn trắng, có mảng đen quanh đuôi... hay thấp hơn một chút.”
“Được, nhưng nó vào nhà anh bằng cách nào?”
“Vào nhà tôi ạ? Tôi xin kể lại đúng như sự việc đã xảy ra, để quý tòa tôn kính và bà con có mặt đây thấy rằng tôi vô tội, còn mụ Dominik là con digan dối trá, một mụ đàn bà đanh đá đáng nguyền rủa, quen thói được chiều.”
“Dối trá... Xin Đức Mẹ Rất Thánh cho mày chết bất đắc kỳ tử, chết mà chẳng kịp xưng tội!” mụ đàn bà bật ra, thở dài não nuột, mắt liếc lên bức ảnh Đức Trinh Nữ treo ở góc nhà. Rồi mụ nắm chặt nắm tay gầy guộc, giơ về phía anh ta mà rít lên:
“Ôi cái quân ăn trộm lợn! Đồ đểu cáng, mày ấy!” và mụ xòe những móng vuốt ra như sắp cào vào mặt anh ta.
Đến đây vợ Bartek xen vào, gào lên:
“Muốn thế à? Muốn động vào chồng tôi hả, con mụ mất nết, đồ phù thủy, đồ hành hạ chính con đẻ của mình!”
“Im lặng,” quan tòa ra lệnh.
“Câm mồm lại khi quan tòa đang nói, không tôi tống cổ cả hai ra ngoài bây giờ!” Yacek chêm vào, một tay giữ quần; dây đeo quần của gã đã tuột.
Trật tự lập lại; hai mụ già suýt nữa thì lao vào cắn xé nhau, nay đứng câm lặng, tuy mắt vẫn quắc lên và hơi thở còn hằn học.
“Giờ nói đi, Bartek, kể hết sự thật cho tòa nghe.”
“Vâng, sự thật, đúng sự thật, trong veo như pha lê. Như thể tôi đang xưng tội vậy. — Sự tình là thế này...”
“Lục cho kỹ trong đầu ấy,” Magda, vợ anh ta, xen vào, “kẻo lại quên mất điều gì.”
“Tôi lục đây, Magda. — Sự tình là thế này. Tôi đang đi trên đường (dạo ấy là mùa xuân, tôi đi sát cánh cỏ ba lá nhà Boryna, vừa qua khỏi Hang Sói)... Tôi cứ đi, miệng đọc kinh, vì trời sắp tối. — Đang đi thì tôi nghe... không biết là tiếng gì nữa? Tôi tự hỏi. Có tiếng ụt ịt hay không?... Tôi ngoái lại nhìn, chẳng thấy gì: im phăng phắc. Hay là quỷ bám theo tôi?... Tôi lại đi, rùng mình vì sợ, đọc một kinh Kính Mừng... Lại nữa — tiếng ụt ịt! Tôi bèn tự nhủ chắc chỉ là con lợn nái, hay là con lợn thôi... Nhưng tôi bước dăm bước sang bên, vào ruộng cỏ ba lá; và tôi thấy gì nào? Có cái gì đó đi theo tôi. Tôi dừng, nó cũng dừng. Một vật trắng, dài, chân thấp lè tè; hai mắt nó rực lên như mắt mèo rừng hay mắt quỷ... Tôi làm dấu thánh giá; người nổi da gà, tôi rảo chân. Vì tôi chẳng biết đó là giống gì mà đi rình mò ban đêm như thế. Với lại, ai chả biết, Hang Sói là chỗ có ma.”
“Đúng thật đấy,” vợ anh ta nhận xét; “năm ngoái lão Sikora đi qua đó ban đêm, có cái gì bóp cổ lão, quật ngã lão, đánh cho một trận đến nỗi nằm liệt giường nửa tháng.”
“Im nào, Magda. — Thế là tôi cứ đi, đi mãi, đi mãi, cái vật ấy vẫn chạy theo sau — và cứ ụt ịt! Vừa lúc trăng ló ra sáng rõ, tôi mới trông thấy. — Kìa, một con lợn, chẳng quỷ quái gì sất!... Tôi phát cáu; cái giống ngu ngốc ấy làm gì mà dọa tôi khiếp thế? Thế là tôi ném cho nó một que củi rồi nhắm nhà mà về, theo lối giữa ruộng củ cải nhà Michael và ruộng lúa mì nhà Boryna, rồi giữa ruộng ngô nhà Thomas và ruộng yến mạch nhà Yashek (thằng ấy năm ngoái bị bắt đi lính, vợ nó hôm qua vừa đẻ)... Con lợn vẫn chạy theo tôi như con chó chạy theo chủ, rồi tạt sang một bên, vào vạt khoai nhà Dominik, ụt ịt suốt dọc đường. Tôi rẽ, đi theo lối tắt xiên qua đồng: nó vẫn theo. — Người tôi nóng ran. Lạy Chúa! Con lợn nái quái lạ! — Mà biết đâu chẳng phải lợn nái! Tôi vòng qua chỗ cây thánh giá, con lợn vẫn bám. Tôi nhảy qua mương: nó cũng nhảy! Rồi tôi đi tới mấy gò đất bên kia cây thánh giá... Nó vẫn theo! Rồi tôi chạy qua rặng lê, nó luồn vào giữa hai chân tôi làm tôi ngã chúi... Tôi ngờ hay nó là con lợn bị quỷ ám! Tôi vừa lóp ngóp dậy thì nó đã chạy lên trước tôi, đuôi vểnh ngược. ‘Cút đi, đồ của nợ!’ tôi bảo. Nhưng nó chẳng rời tôi: nó đi thẳng về nhà tôi, đúng ngay nhà tôi! Nó qua hàng rào, thưa quý tòa đáng kính! Qua rào vào lối đi, rồi vào buồng qua cái cửa để ngỏ. Có Chúa chứng giám! Amen!”
“Thế rồi anh giết thịt và ăn nó, phải không?” quan tòa mỉm cười hỏi.
“Giết? Ăn ạ? — Thì biết làm sao được? Một ngày trôi qua: con lợn không chịu đi. Một tuần trôi qua, không tài nào tống nó đi được: đuổi là nó lại quay về, kêu eng éc. Vợ tôi có gì cũng cho nó ăn. Chẳng lẽ để nó chết đói? Nó cũng là loài Chúa dựng nên như chúng tôi thôi... Nhưng xin quý tòa đáng kính rộng lượng xét cho: tôi, một thằng mồ côi nghèo, thì biết làm gì với nó? Chẳng ai đến nhận con vật ấy, nhà tôi thì túng thiếu; mà nó ăn, ăn mãi... ít ra cũng bằng hai con lợn khác gộp lại. Rồi sao nữa? Một tháng nữa thì nó ăn hết cả cửa cả nhà, ăn cả đến da thịt chúng tôi mất... Vậy chúng tôi biết làm gì? Chỉ còn nước ăn nó, không thì bị nó ăn. — Thế là chúng tôi làm; nhưng chỉ ăn được một ít thôi; vì cả làng nghe tin, mụ Dominik kêu lên Soltys,[10] rồi dẫn Soltys tới, lấy đi sạch.”
-----
Chú thích 10:
_Soltys_ — trưởng làng. — _Chú thích của người dịch._
“Sạch cơ đấy!” mụ Dominik giận dữ ngắt lời. “Thế còn hai cái đùi sau đi đâu?”
“Hỏi con Kruchek với mấy con chó kia ấy. Đêm ấy chúng tôi để trong kho lúa. Lũ chó thì rình sẵn, cửa lại có cái lỗ; thế là chúng chui vào, chén một bữa no nê cái... món mà người ta tố tôi ăn trộm.”
“Thế con lợn nái tự nó đi theo mày đấy hả? Chuyện ấy kể cho thằng ngu nghe, đừng kể cho tòa! Quân trộm cắp đểu giả! Ai lấy con cừu đực của lão xay bột? Ai trộm ngỗng của cha xứ? Nói xem, ai?”
“Mụ thấy tận mắt à? Thấy tận mắt à?” vợ Koziol rít lên, xông tới định giơ móng tay ra. Nhưng mụ kia vẫn không tha:
“Ai khoét hầm khoai của người chơi đàn nhà thờ? Ai vơ hết mọi thứ mất tích trong làng — nào ngỗng con, nào gà, nào cào, nào cuốc?”
“Đồ thối tha! Còn hồi mụ còn con gái, mụ làm những trò gì — đúng cái trò con Yagna nhà mụ giờ đang làm với đám trai cày ấy — ôi, giờ chẳng ai nhắc lại cho mụ nhớ, cái quân đĩ thõa như mụ!”
Câu ấy đâm trúng chỗ đau nhất của mụ Dominikova. “Mày dám réo tên con Yagna nhà tao!” mụ gầm lên điên tiết. “Mày dám! Tao đấm cho răng mày rụng vào họng bây giờ!”
“Im mồm, cái quân đàn bà hư đốn! Không tôi phải đuổi ra ngoài đấy!” Yacek nói để dẹp yên hai mụ, một tay vẫn giữ quần.
Rồi tòa nghe các nhân chứng.
Mụ Dominikova, người đứng kiện, nói trước. Mụ hạ giọng, lấy giọng ngoan đạo, chốc chốc lại xin Đức Mẹ Chenstohova chứng giám. Mụ quả quyết con lợn nái là của mụ, rằng lão Koziol đã bắt trộm nó ngoài bãi cỏ nơi nó đang ăn. Mụ không xin quý tòa đáng kính trừng phạt lão vì tội ấy — thà xin Chúa bắt lão nằm luyện ngục lâu hơn! — mà (đến đây mụ cất giọng to hết mức) vì lão đã trút những lời nhục mạ bẩn thỉu đến thế, lại giữa chốn đông người, lên đầu Yagna và lên đầu mụ.
Simon, con trai mụ Dominikova, hai tay chắp lại giấu dưới cái mũ như người đang đọc kinh trong nhà thờ, mắt lúc nào cũng dán vào quan tòa, làm chứng tiếp sau, giọng đều đều rầu rĩ, rằng con lợn nái là của mẹ anh ta, rằng nó trắng toàn thân, có mảng đen quanh đuôi, một bên tai bị con Lapa, chó nhà Boryna, cắn rách hồi mùa xuân năm ngoái, hôm ấy nó kêu inh đến nỗi anh ta đứng trong kho lúa cũng nghe thấy.
Rồi đến lượt các nhân chứng khác, ai nấy đều xác nhận lời anh ta, trong khi Magda qua song chắn tuôn ra những lời chối cãi và nguyền rủa, còn mụ Dominikova thì mắt cứ dán vào bức ảnh thánh, hoặc vào lão Koziol — lão chăm chú nghe, ánh mắt khi thì phóng sang các nhân chứng, khi thì sang vợ.
Đám người dự phiên tòa lắng nghe hết sức thích thú, chốc chốc lại rộ lên tiếng xì xào, một lời bình mỉa mai, hay một tràng cười, đều bị Yacek dẹp thẳng tay.
Vụ án được xét cặn kẽ, và chỉ ngã ngũ sau khi tòa nghỉ để bàn bạc; trong lúc ấy người ta tản ra hành lang và ra ngoài nhà, kẻ hít thở chút khí trời, kẻ ăn uống qua loa, kẻ nói chuyện với nhân chứng, kẻ kể lể nỗi oan ức của mình; lại có kẻ than trời về sự bất công bằng những lời chửi rủa dữ dội, như vẫn thường thấy trong những dịp như thế.
Nghị án xong, tuyên án xong, đến lượt vụ của ông Boryna. Eva đứng lên giữa tòa, tay đung đưa đứa con. Nước mắt như mưa, chị ta kể lại chuyện mình đến ở làm cho nhà ông, làm đến rạc cả chân, mà chẳng được lấy một lời tử tế, chẳng có lấy một xó mà ngủ, không, cũng chẳng được ăn cho đủ no, đến nỗi phải xin ăn hàng xóm, rồi ông không trả công, lại đuổi chị ta đi, đuổi cả con đẻ của ông, ra đường ra sá. — Đến đây chị ta òa lên khóc cay đắng, sụp xuống dưới chân các quan tòa mà kêu gào.
“Thưa quý tòa đáng kính, người ta làm khổ con như thế đấy: mà đứa bé này là con ông ấy!”
Ông Boryna phẫn nộ lầm bầm: “Nó nói dối, đúng cái đồ khốn nạn ấy.”
“Dối ư? Cả làng Lipka biết cả đấy...”
“Biết mày là con lẳng lơ, đồ đĩ rạc!”
“Ôi thưa quý tòa đáng kính! Thế mà ông ấy vẫn gọi con là Yevka, còn gọi những tiếng âu yếm hơn nữa; đi tỉnh về là mua cho con chuỗi hạt, hết lần này lần khác lại mua bánh mì tròn; rồi bảo: ‘Của mình đây, Yevka, của mình đây, cưng của tôi!’ Thế mà bây giờ... Ôi Chúa Giêsu! Ôi Chúa Giêsu!”
Nói rồi chị ta rống lên.
“Đồ digan đĩ thõa! Sao không bảo luôn là tao mang cho mày cả cái đệm lông, rồi kêu: ‘Đắp mà ngủ đi, Yevka, ngủ đi!’”
Cả phòng cười ồ lên.
“Sao, ông không hứa thế à? Có gì mà ông chẳng hứa với con?”
“Lạy Chúa tôi!” ông Boryna kêu lên, vừa giận vừa sững sờ. “Quái gở quá thể! Thế mà sét vẫn chưa đánh nó!”
“Thưa quý tòa, cả thiên hạ đều biết chuyện này là có thật: cả làng Lipka làm chứng được là con nói thật. Xin cho các nhân chứng nói, cho họ làm chứng!” chị ta gào lên, nước mắt và những lời kêu than tuôn ra như bão.
Nhưng thực ra, tất cả những gì họ nói cũng chỉ là dăm câu chuyện phiếm và lời đàm tiếu ác ý: thế là chị ta lại xoay ra đưa những bằng cớ mình có. Đến nước cuối cùng, chị ta giơ đứa bé lên, phơi nó trước mắt các quan tòa, trong khi nó đạp hai cái chân trần lên trời mà gào tướng.
“Quý tòa đáng kính,” chị ta kêu lên, “cứ trông tận mắt mà xem nó là con ai: cái mũi củ khoai này là của ai, đôi mắt nâu xám nhèm nhèm này là của ai? Ông Boryna với nó giống nhau như hai giọt nước.”
Nhưng chừng ấy thì tòa cũng không giữ nổi vẻ nghiêm; còn đám người dự thì cười lăn cười bò khi đem đứa bé ra so với ông Boryna. Những câu bông đùa tuôn ra không dứt.
“Cô ả xinh gớm nhỉ. Trông hệt con chó lột da!”
“Ông góa Boryna cưới quách nó đi: thằng cu sau này chăn lợn là vừa.”
“Chứ gì nữa, tóc nó rụng trụi như bò vào mùa xuân ấy.”
“Ả đẹp đẽ gớm! Đem cắm làm bù nhìn giữa ruộng kê, chim chóc khiếp vía chạy hết.”
“Mặt nó nhoe nhoét những mỡ với ghét.”
“Tại nó tiết kiệm đấy chứ: mỗi năm rửa mặt một lần cho đỡ tốn xà phòng!”
“Chả trách; nó bận lắm, còn phải đi nhóm lò cho mấy nhà Do Thái nữa mà.”[11]
-----
Chú thích 11:
Người Do Thái chính thống bị cấm nhóm lửa vào ngày Sabbath, kể cả giữa mùa đông. Vì thế họ thuê một người đàn bà nghèo nào đó đi khắp lượt, nhóm lò sưởi hộ họ trong ngày ấy.—_Chú thích của người dịch._
Mỗi lúc họ một chua ngoa cay độc thêm, còn Eva thì đứng chết lặng, mắt đờ đẫn như mắt con chó bị săn đuổi, đưa nhìn quanh đám đông, đầu óc lờ mờ xoay đi xoay lại điều gì đó, thì bà Dominikova lên tiếng thật to: “Im hết đi! Xỉa xói một kẻ khốn khổ như nó là mắc tội đấy!” Lập tức cả đám im bặt, và không ít người lộ rõ vẻ ngượng.
Nhưng lời buộc tội đã hoàn toàn thất bại.
Ông Boryna thấy nhẹ hẳn cả người. Dẫu vô can, ông vẫn sẽ nhức nhối cả vì cái tiếng xấu của một bản án lẫn vì gánh nặng phải bỏ tiền nuôi thằng bé; vả lại, ông nghĩ, luật pháp cũng lắm phen phạt người ngay thay cho kẻ có tội: biết đâu mà lần. Ông biết khối vụ như thế.
Ông rời đó ngay, đợi bà Dominikova ra cùng, rồi lại ngẫm nghĩ đầu đuôi câu chuyện. Ông không sao hiểu nổi vì cớ gì Eva lại đi vu cho ông.
“Không, chẳng phải nó nghĩ ra đâu; nó không đủ đầu óc. Phải có kẻ nào xúi.—Mà kẻ nào mới được chứ?”
Ông cùng bà Dominikova và Simon vào một quán rượu làm chén rượu với miếng lót dạ; vì đã quá trưa. Bà Dominikova bóng gió rằng cả vụ này là do tay thợ rèn, con rể ông, bày ra; nhưng điều ấy thì ông không tin nổi.
“Hắn được cái gì ở đó?”
“Được cái thú hành hạ ông, làm ông ê mặt, biến ông thành trò cười. Cái ngữ ấy sẵn sàng lột da người ta khi còn sống, chỉ để lấy sướng thôi!”
“Cái thói thù vặt của con Eva ấy—tôi chịu, không hiểu nổi. Tôi có làm gì hại nó đâu; đã thế, hôm rửa tội cho đứa con hoang của nó, tôi còn biếu cha một bao yến mạch!”
“Thì nó ở cho lão chủ cối xay; lão chủ cối xay lại một duộc với thằng thợ rèn.—Ông không thấy sao?”
“Thấy, nhưng vẫn không lý giải nổi.—Làm chén nữa chứ?”
“Vâng, mời ông; nhưng ông uống trước đi, ông Matthias.”
Họ uống thêm chén nữa, rồi chén thứ ba, đánh hết thêm một cân xúc xích với nửa ổ bánh mì; rồi ông Boryna mua một mớ bánh mì tròn cho Yuzka và sửa soạn ra về.
“Đi cùng tôi, bà Dominikova; ta trò chuyện đôi câu. Đi một mình chán lắm.”
“Được thôi; nhưng để tôi vào nhà thờ đọc mấy lời kinh đã.”
Bà quay ra ngay, rồi họ lên đường.
Mặt trời đã ngả về tây khi họ tới cánh rừng.
Thi thoảng họ trao đổi vài câu, nhưng chỉ cho phải phép: ngồi cạnh nhau mà lặng thinh ủ rũ thì coi sao được. Song họ cũng chỉ nói vừa đủ để khỏi ngủ gật, và để “giữ cho cái lưỡi khỏi khô”, như người ta vẫn bảo.
Ông Boryna quất con ngựa cái tơ, lúc này đã ướt đẫm mồ hôi, vừa mệt vừa nóng nên đi chậm quá. Chốc chốc ông lại huýt sáo, rồi lại lặng thinh, nghiền ngẫm cân nhắc chuyện gì đó trong đầu, tính toán đủ điều: không ít lần liếc trộm bà già với cái mặt khô cứng, bất động và hằn nếp nhăn, sắc như sáp tẩy trắng. Hai hàm móm của bà mấp máy, như đang lầm rầm đọc kinh. Có lúc bà kéo cái tạp dề đỏ buộc quanh cổ lên che thêm vầng trán; vì nắng chiếu thẳng vào mặt. Bà ngồi bất động, chỉ có đôi mắt nâu xám là ánh lên.
“Khoai tây bà đào hết chưa?” cuối cùng ông hỏi.
“Hết rồi. Mà được mùa ra trò.”
“Thế thì bà nuôi lợn càng dễ.”
“Tôi đang vỗ một con; đến kỳ hội hè trước Mùa Chay là vừa.”
“Phải, phải.—Nghe nói thằng Valek con lão Rafal đã cho người mang rượu tới dạm hỏi nhà bà.”
“Có, mà mấy đám khác cũng thế; nhưng họ mất tiền toi. Không, con Yagna nhà tôi không dành cho hạng ấy.”
Bà ngẩng đầu, nhìn thẳng vào mắt ông, sắc như mắt diều hâu. Nhưng ông Boryna, người đã từng trải, không luống cuống như một gã trai trẻ. Ông đón cái nhìn ấy bằng vẻ bình thản khôn dò. Hồi lâu chẳng ai nói gì; xem chừng hai bên đua nhau xem ai lì lợm im lặng hơn.
Ông Boryna mà mở lời trước thì không tiện. Làm sao ông—một người đã quá tuổi trung niên, thuộc hàng đầu trong làng Lipka—lại buột miệng nói toạc với bà rằng ông đã phải lòng con Yagna nhà bà? Dẫu vậy, vốn tính nóng, ông thấy máu giận dồn lên, cứ phải mặc cả rồi vòng vo mãi thế này.
Bà Dominikova thấy ông bực, và biết vì sao; nhưng bà chẳng chịu gỡ cho ông lấy một lời, cứ lặng lẽ nhìn ông. Rốt cuộc, để có cái mà nói, bà bảo:
“Trông ông nóng nực như đang mùa gặt ấy.”
“Thì tôi nóng thật.”
Mà quả thật trời nóng lắm. Rừng vây bốn phía; bức tường cây kín mít không cho lọt một hơi gió, còn mặt trời thì đốt dữ đến nỗi những ngọn cây bị nắng thiêu rũ xuống mặt đường, trong khi từ các vũng nước đang cạn và lớp lá sồi khô dưới đất bốc lên một mùi ngai ngái như mùi nấm, xộc lên mũi.
“Ông biết không,” bà già nói, “tôi, mà người khác cũng vậy, vẫn thường lấy làm lạ: sao một người như ông, tiếng tăm trong làng như thế, giàu có như thế, giỏi giang hơn hẳn thiên hạ như thế—lại chẳng màng giữ một chức phận gì?”
“Bà bảo tôi chẳng màng là đúng. Cái chức ấy lợi lộc gì cho tôi? Tôi từng làm Soltys ở đây ba năm: tốn ra trò. Thiệt nhiều đến nỗi vợ tôi phát cáu với tôi.”
“Bà ấy nói phải. Làm chức việc thì bao giờ cũng phải vừa được tiếng vừa được miếng chứ.”
“Cảm ơn bà! Vinh dự lắm chứ, phải khom lưng trước bọn cảnh binh, phải cúi rạp trước từng gã thư lại, từng thằng sai nha ở toà.... Rồi thuế không nộp đủ, hay cái cầu hỏng, hay con chó bị càng xe quật mà phát dại, thì ai chịu tội? Thì cứ Soltys chứ ai! Còn miếng nữa! Bao nhiêu là gà, là ngỗng, là hàng chục quả trứng tôi đã phải đem nộp cho đám thư lại với các quan trên huyện!”
“Ông nói đúng; nhưng ông trưởng làng Peter ở đây thì chẳng có gì để than. Ông ta tậu thêm được ruộng, lại dựng cả kho lúa.”
“Ừ; nhưng đến lúc thôi làm trưởng làng, ông ta xoay xở ra sao?”
“Vậy ra ông cho rằng....”
“Ồ, tôi mở mắt đấy chứ, cũng nhìn ra dăm ba điều.”
“Ông ta kiêu ngạo hết chỗ nói, lại còn lục đục với cha xứ.”
“Mà ông ta có nên cơm cháo gì thì cũng nhờ vợ cả: bà ấy mới thật là trưởng làng, mọi con bài đều nằm trong tay bà ấy.”
Lại im lặng, lâu bằng một bài pater noster dài.
“Ông này,” cuối cùng bà nói, thật thủng thẳng, “ông không định cho người mang rượu đi dạm hỏi nhà nào sao?”
“Chà, cái nết ham đàn bà rời tôi lâu rồi: tôi già rồi.”
“Đừng nói lời hão. Đàn ông chỉ già khi không đi lại được nữa, không tự đưa nổi thìa lên miệng, và chẳng ngồi được đâu ngoài xó bếp. Chứ tôi từng thấy ông vác cả bao lúa mạch đen trên vai đấy!”
“Cho là tôi còn khoẻ đi: nhưng ai thèm lấy tôi?”
“Chưa thử thì ông biết thế nào được.”
“Vả lại con cái tôi lớn cả rồi, tôi đâu thể vơ đại con bé nào cũng được.”
“Ông cứ làm một tờ cho đất, thì đến đứa tử tế nhất cũng chẳng chối từ.”
“Tờ cho đất! Vì một khoảnh ruộng, con gái sẵn sàng lấy cả thằng ăn mày ngoài thềm nhà thờ.”
“Thế còn đàn ông? Chắc họ chẳng thèm lấy con gái có của hồi môn chắc?”
Ông không đáp, chỉ quất cho con ngựa tơ phi nước đại.
Lại một quãng im lặng, mãi tới lúc ra khỏi rừng, lên con đường hai bên trồng dương, ông Boryna mới bật lên:
“Quỷ tha ma bắt cái thời buổi bây giờ đi! Cái gì cũng phải trả tiền, đến một lời tử tế cũng phải trả! Tệ đến mức không thể tệ hơn. Con cái còn dám chống lại cha mẹ; chẳng đâu còn phép tắc, ai cũng chực nuốt sống nhau! Quân chó má!”
“Ngu cả lũ, chẳng nhớ rằng rồi ai nấy cũng nằm chung một mảnh đất thánh.”
“Vừa mới ra dáng người lớn đã dám cãi vào mặt bố, oang oang đòi chia ruộng; trẻ thì chỉ giỏi giễu già. Quân mất dạy, coi cái làng mình là cái xó, khinh hết mọi lề lối xưa, mà có đứa—có đứa đấy—còn xấu hổ vì bộ quần áo nhà quê của mình nữa!”
“Chỉ tại chúng không còn biết kính sợ Chúa.”
“Tại thế hay không tại thế, thì mọi sự cũng hỏng cả.”
“Và chắc chắn chẳng khá lên được.”
“Phải khá chứ! Nhưng ai bắt được người ta ăn ở cho phải?”
“Sự phán xét của Chúa! Vì này, Ngày Ấy sẽ đến, và Người sẽ phạt chúng!”
“Phải, nhưng trước Ngày Ấy, bao nhiêu kẻ đã hư mất rồi!”
“Thời buổi tệ đến thế, thà có trận dịch còn hơn.”
“Thời buổi tệ, mà người cũng tệ. Cứ xem cái thằng thợ rèn? Rồi ông trưởng làng? Chúng gây với cha xứ, xúi dân làm loạn; chúng dụ dỗ, mà lũ quáng mắt thì tin theo. Cái thằng thợ rèn ấy, tuy là con rể tôi, vẫn cứ như thuốc độc đối với tôi.”
Họ cứ đồng thanh than vãn về cái ác của thế gian, mắt nhìn qua hàng dương về phía cái làng mỗi lúc một gần.
Đằng xa, ngoài khu đất nhà thờ, thấy một dãy đàn bà đang lom khom, hình bóng nhoè đi sau lớp bụi mỏng bay quanh, và tiếng đập đùng đục đều đều của những thanh đập lanh theo gió từ vạt đồng trũng đưa lại.
“Đúng thời tiết để đập lanh. Tôi xuống nói với họ vài câu, con Yagna cũng ở đó mà.”
“Để tôi đánh xe đưa bà tới chỗ nó; tôi cũng chẳng thiệt gì.”
“Hôm nay ông tử tế quá nhỉ, ông Matthias!” bà nói, cười ranh mãnh.
Họ rẽ khỏi con đường trồng dương, sang lối mòn băng qua đồng dẫn tới khu đất nhà thờ. Ở đó, phía ngoài bức tường đá xám thấp vây quanh, dưới bóng mấy cây bạch dương và cây phong, cùng bóng vài cây thánh giá nghiêng ra ngoài tường, non hai chục người đàn bà đang mải miết đập giũ lanh khô: một làn sương xơ lơ lửng trên đầu họ, có sợi bám vào đám lá bạch dương vàng, có sợi treo lủng lẳng trên hai cánh thánh giá sẫm màu. Xa hơn chút nữa, người ta đã nhóm lửa trong những cái hố, bên trên bắc ngang những cây sào, và trên sào phơi lanh còn ẩm.
Những thanh đập lanh làm việc không ngơi, cả đám đàn bà cúi xuống ngẩng lên bằng những cái giật ngắn và nhanh: chốc chốc một người đứng thẳng dậy, đập cho nắm lanh sạch hết vụn thân cây, rồi cuộn lại, ném lên tấm vải trải sẵn trước mặt.
Mặt trời lúc này đã xuống ngang cánh rừng, chiếu thẳng vào mặt họ, nhưng họ chẳng bận tâm: tay làm, tiếng cười và chuyện trò rôm rả không ngớt lấy một khắc.
“Chúa ban phúc cho công việc của các chị!” ông Boryna gọi với sang Yagna, cô đang ra sức đập lanh. Cô chỉ mặc mỗi cái áo choàng trắng, cái váy lót đỏ, với chiếc tạp dề buộc trùm đầu cho khỏi bụi.
“Chúa trả ơn lời chúc ấy!” cô đáp lại vui vẻ, ngước đôi mắt xanh thẫm nhìn ông, một nụ cười làm sáng bừng khuôn mặt đẹp rám nắng.
“Khô hẳn chưa con?” bà mẹ hỏi, tay lần lần đám lanh vừa đập.
“Khô như hạt tiêu; giòn tan.”
Rồi cô lại đưa mắt nhìn ông già, với nụ cười làm ông rân rân khắp người. Ông vung roi đánh xe đi, cứ ngoái lại nhìn cô mãi, dẫu chẳng còn trông thấy cô nữa; bởi trong bụng ông vẫn thấy cô sờ sờ ra đấy.
“Con bé uyển chuyển như con nai cái!” ông lẩm bẩm. “Ừ, đúng thế đấy!”