Nông dân — Tập I: Mùa thu — Chương 4

Chương 4 / 12 · Bài review Nông dân — Tập I: Mùa thu

Chủ nhật đã đến: một chủ nhật tháng Chín sáng trong, tơ nhện giăng đầy và nắng chan hoà trong không khí.

Cả đàn gia súc nhà Boryna đang gặm cỏ trên đám gốc rạ phía sau kho lúa; còn Kuba, vừa chăm chú trông chừng chúng dưới bóng một đụn lúa cao vòm như mái vòm, vừa dạy Vitek đọc kinh.

“Nào, nghe cho kỹ tao dạy đây,” anh trịnh trọng bảo; “toàn lời thánh cả đấy.”

“Cháu nghe đây, chú Kuba, cháu nghe đây.”

“Thế sao cứ nhìn sang mấy vườn cây kia?”

“Cháu thấy nhà Klemba vẫn còn táo trên cây.”

“Chà! mày lại thèm ăn chứ gì? Cây ấy mày trồng đấy à?—Nào, đọc lại kinh Tin Kính.”

“Chú cũng có ấp ra mấy con gà gô đâu; thế mà chú bắt cả ổ.”

“Thằng ngốc! Táo là của nhà Klemba, chứ gà gô là của Chúa. Hiểu chưa?”

“Nhưng ruộng chú bắt chúng là ruộng của ông chủ điền.”

“Ruộng cũng là của Chúa nốt. Mày khôn quá hoá dại.—Đọc kinh Tin Kính đi.”

Nó đọc, nhưng đọc vội, vì quỳ lâu quá thấy đau.

“Con ngựa non chạy vào ruộng cỏ ba lá nhà Michael mất rồi!” nó kêu lên, sắp sửa chạy đuổi theo.

“Mặc kệ nó, cứ đọc kinh đi.”

Rốt cuộc nó cũng đọc hết, nhưng phải ngồi bệt lên hai gót chân, người xoay bên nọ vặn bên kia. Một đàn sẻ đậu xuống cái cây gần đó, nó liền ném cho một hòn đất, rồi lập tức đấm ngực ăn năn.

“Ơ, thế kinh Dâng mình cuối cùng đâu? Nuốt chửng như nuốt quả lê chín nẫu rồi hả?”

Nó đọc kinh Dâng mình, rồi lập tức chồm dậy đánh thức con Lapa để chơi đùa.

“Cái thằng ngu như bê! Suốt ngày chạy nhông!”

“Chú mang mấy con chim lên cho cha xứ à?”

“Ừ, mang chứ.”

“Nướng ở đây thì ngon phải biết...”

“Mày có khoai mà nướng. Còn đòi gì nữa?”

“Kìa, người ta đi lễ rồi!” Vitek reo lên, mắt nhìn xuyên qua bờ giậu và những cây trong vườn, thấy những chiếc tạp dề đỏ lấp loáng dọc đường.

Trời khá ấm, cửa lớn cửa sổ các nhà tranh đều mở toang. Đây đó, trước sân, còn người đang rửa mặt, chải hay tết tóc, hoặc đập phủi bộ quần áo ngày chủ nhật đã nằm cả tuần trong hòm; nhưng nhiều người đã lên đường, quần áo rực màu anh túc đỏ son, màu thược dược vàng nghệ, màu hoa sen cạn. Đàn bà con gái xúng xính, đám người làm, lũ trẻ con, những nhà nông đứng tuổi trang nghiêm trong áo choàng trắng dài trông như những bó lúa mạch khổng lồ, tất cả lững thững kéo nhau tới nhà thờ theo những con đường dẫn ra cái ao đang hắt nắng lên như một chiếc mâm vàng.

Và những quả chuông lớn ngân vang hoan hỉ, báo tin chủ nhật, tin nghỉ ngơi và cầu nguyện.

Kuba định đợi đến khi chuông dứt hẳn, nhưng không nhịn nổi, bèn nhét mấy con gà gô vào vạt áo choàng mà bảo:

“Vitek! chuông vừa dứt là lùa gia súc về chuồng, rồi lên nhà thờ nghe.”

Rồi anh lên đường—đi nhanh hết sức có thể, vì chân anh què nặng—theo con đường hai bên là vườn cây, lá đoạn vàng rụng dày đến nỗi anh như đang bước trên một tấm thảm loang lổ sắc úa.

Nhà cha xứ dựng đối diện nhà thờ, ở cuối một khu vườn lớn, trong vườn còn những cây trĩu lê xanh và táo đỏ. Khắp mái hiên leo kín một giàn nho dại, lá lúc này đỏ thẫm. Kuba dừng lại bên ngoài, ngượng nghịu, rụt rè nhìn vào cửa sổ và lối đi trong nhà. Anh không dám vào, cứ đứng cạnh một luống hoa lớn rực rỡ hồng, cẩm chướng và cúc tây, hương thơm ngọt lịm. Từ mái nhà xanh rêu, một đàn bồ câu trắng sà xuống đậu trên hiên.

Cha xứ đang đi dạo trong vườn, đọc kinh nhật tụng; nhưng chốc chốc lại rung một cây táo hay cây lê. Quả rụng xuống rào rào, cha vén vạt áo chùng hứng lấy.

Kuba lại gần, khiêm nhường ôm lấy đầu gối cha.

“Con nói gì?—À, Kuba, người làm nhà Boryna.”

“Vâng. Con mang biếu cha mấy con gà gô.”

“Cảm ơn con. Vào lối này.”

Kuba theo vào hành lang, nhưng dừng lại ở ngưỡng cửa phòng. Anh sợ không dám bước vào, chỉ đứng nhìn qua cánh cửa mở những bức tranh treo trên tường. Anh làm dấu thánh giá, thở một hơi mộ đạo, choáng ngợp trước vẻ lộng lẫy ấy đến ứa nước mắt, và thấy muốn đọc kinh. Chỉ có điều anh sợ quỳ xuống sàn nhà đánh bóng trơn láng, e làm bẩn mất.

Lát sau cha xứ từ trong phòng bước ra, đưa cho anh một đồng _zloty_ và bảo:

“Chúa trả công cho con, Kuba; con là người tốt, người có đạo, chủ nhật nào cũng không bỏ lễ.”

Kuba lại ôm lấy đầu gối cha, sung sướng đến ngợp, chẳng biết mình đã ra khỏi nhà và tới ngoài đường lúc nào.

“Chao, ngần này tiền cho mấy con chim còm! Mình quý cha xứ quá đi mất!” anh thì thầm, ngắm nghía mấy đồng tiền được cho. Anh đã mấy lần mang chim, hay một con thỏ con, hay nấm lên biếu cha; nhưng chưa lần nào được nhiều thế: nhiều lắm là mười kopek với một lời tử tế. Thế mà bây giờ! Ôi Chúa nhân lành! cả một đồng _zloty_!—Lại còn gọi Kuba vào tận phòng, lại nói những lời dịu dàng như thế! Lạy Chúa, lạy Chúa!

“Chỉ có cha xứ là đoái đến người nghèo, chẳng ai khác!—Xin Chúa và Đức Mẹ Chenstohova ban cho cha mạnh khoẻ!—Phải, cha là người tốt, người nhân hậu!—Cả làng, từ người làm đến chủ ruộng, chỉ đặt cho mình những cái tên xỏ xiên—gọi mình là thằng Què, thằng Vô Tích Sự, thằng Ăn Bám. Chẳng ai nói với mình lấy một lời tử tế hay thương hại... chẳng ai đoái hoài đến mình, ngoài mấy con ngựa với mấy con chó. Vậy mà mình xuất thân nhà tử tế: đâu phải đứa rơi rớt, mình là con nhà nông.”

Nghĩ thế, anh ngẩng cao đầu hơn, ưỡn thẳng người, gần như thách thức nhìn những người đang đi vào sân nhà thờ, nhìn những con ngựa đã thắng vào xe đứng ngoài hàng rào. Anh đội mũ lên, che mái tóc bù xù, rồi chậm rãi, ra dáng đường bệ, tiến về phía nhà thờ; hai tay giắt vào thắt lưng như một chủ ruộng, dẫu bụi vẫn tung lên khi anh lê cái chân què theo sau.

Không. Hôm nay anh không chịu đứng ở cửa như thói quen nữa. Anh mạnh dạn rẽ đám đông, len tới tận song chắn bàn thờ chính, chỗ xưa nay chỉ các chủ ruộng mới được đứng, chỗ ông chủ anh đang đứng, và chính trưởng làng, và những người khiêng tán che cho cha xứ trong đám rước, và những người tay cầm nến vây quanh bàn thờ lúc nâng Mình Thánh!

Họ nhìn anh, sửng sốt và bực bội. Đã mấy lần anh nghe những lời móc máy, những tiếng mắng nhiếc, và bị lườm nguýt như người ta lườm con chó mò vào chỗ không ai cần nó. Nhưng hôm nay anh mặc kệ. Đồng tiền nằm chặt trong nắm tay; lòng anh đầy những cảm giác dịu dàng êm ái. Anh thấy như mình vừa xưng tội xong; không, còn thấy dễ chịu hơn thế.

Buổi lễ bắt đầu. Anh quỳ sát bàn rước lễ, hát theo mọi người, mắt sùng kính dán vào bàn thờ, nơi có bức ảnh Chúa Cha: một vị quyền quý đầu bạc, mặt nghiêm nghị—hệt như ông chủ điền ở Djazgova Vola. Chính giữa, Đức Mẹ Chenstohova trong tấm áo thếp vàng cúi nhìn xuống anh.

Bốn bề vàng son sáng loá, nến lung linh, những bó hoa đỏ rực như lửa cháy. Từ trên tường, từ những ô kính màu, các khuôn mặt thánh nhân khắc khổ, viền vầng hào quang, cúi xuống trên anh; từng dòng vàng, đỏ tía và tím trút xuống, tràn ngập mặt và đầu anh những sắc cầu vồng, và anh thấy như lúc trầm mình xuống ao vào buổi mặt trời lặn, khi nước ao soi bóng trời. Tan chảy trong ngất ngây trước cái đẹp bày ra trước mắt, anh kính sợ đến không dám cựa quậy, cứ quỳ bất động, đăm đăm nhìn khuôn mặt mẹ hiền ngăm ngăm dịu dàng của Đức Mẹ Chenstohova, môi khô khốc đọc hết kinh này đến kinh khác, và hát mạnh mẽ, sốt sắng, tiếng hát trào lên từ tận đáy trái tim ngây ngất, đến nỗi giọng anh khàn đặc lạc điệu vẫn nổi vống lên trên tất cả.

“Kuba! mày be be như con dê nhà lão Do Thái ấy!” ai đó ghé sát khuỷu tay anh thì thào.

“Vì Chúa Giêsu và Đức Mẹ Người!” anh đáp.

Cha xứ lúc này đã lên toà giảng. Mọi người ngẩng đầu nhìn cái bóng áo trắng ấy, cúi mình về phía giáo dân mà đọc cho họ nghe bài Phúc Âm của chủ nhật hôm ấy. Đọc xong, bài giảng bắt đầu: dài, nhưng mạnh mẽ đến nỗi nhiều người khóc, nhiều cái đầu cúi gằm hối hận. Kuba dán mắt vào cha như nhìn một pho ảnh thánh: anh kinh ngạc khi nghĩ rằng đây chính là người vừa mới nói chuyện với anh và cho anh một đồng _zloty_. Bởi giờ đây cha đã biến hình thành một tổng lãnh thiên thần trên cỗ xe rực lửa. Mặt cha tái đi, mắt cha loé sáng khi cha cất cao giọng vạch tội con chiên mình: tham lam và say sưa, dâm dục và thù hằn, hỗn với người già, và ăn ở vô đạo. Và giọng cha vang vọng, kêu gọi họ, van nài, khẩn khoản họ ăn năn; cho đến khi Kuba, hoảng hồn nghĩ tới ngần ấy tội lỗi, thấy chúng đáng thương và đáng buồn biết bao, oà lên khóc, và cả nhà thờ khóc theo anh—không chỉ đàn bà, mà cả những nhà nông vai u thịt bắp—và khắp nơi vang lên tiếng nức nở. Rồi khi cha xứ kết bằng kinh Ăn năn tội, quay về phía bàn thờ và quỳ xuống, một tiếng kêu chạy suốt gian nhà thờ; cả đám người phủ phục xuống nền, như một cánh rừng bị vòi rồng quật đổ; và bụi bốc lên thành đám mây trên đầu đoàn người nằm rạp đó, nước mắt và than van, lòng tan nát và ăn năn, cầu xin lòng thương xót của Chúa.

Rồi lại im lặng—cái im lặng của kinh nguyện và của lòng chuyện trò thân mật với Chúa: bởi Thánh lễ trọng đã bắt đầu. Đàn nhà thờ trút xuống những âm trầm nghèn nghẹt của kính sợ và thờ lạy; còn hồn Kuba thì đầy ắp, đầy đến vỡ tung, tình yêu và niềm hoan lạc ngất ngây.

Bỗng nghe giọng cha xứ từ bàn thờ vọng ra, bay trên những cái đầu cúi rạp của đám đông—những âm thanh lạ lùng rung động, và những lời thánh thiêng, thánh thiêng; rồi chuông đổ dồn như sấm, và trầm hương bốc lên thành những cột thơm, bọc lấy giáo dân trong làn sương ngát. Ôi, khi ấy Kuba bị một niềm mê ly diễm phúc chiếm lấy, đến nỗi anh chỉ còn biết thở dài, dang rộng hai tay, đấm ngực, gần như ngất đi vì sung sướng thấy mình chẳng là gì cả!

“Ôi Giêsu! Giêsu con yêu mến!” anh lẩm bẩm, tan biến trong ngây ngất. Nhưng đồng _zloty_ vẫn nắm chặt trong tay: bởi phần nâng Mình Thánh đã xong, và Ambrose đang đi vòng với cái đĩa, khua tiền lanh canh trên đó để báo giờ quyên tiền nến nhà thờ. Kuba đứng dậy, ném đồng _zloty_ của mình lên đĩa, rồi thong thả lấy lại từ đó mấy đồng kopek—hệt như anh đã bao lần thấy các chủ ruộng làm. Và anh sướng vô hạn khi nghe Ambrose nói:

“Xin Chúa trả công cho anh!”

Lát sau người ta mang nến đi phát, vì Mình Thánh Chúa sắp được đặt ra chầu, và sau đó sẽ có đám rước quanh nhà thờ. Kuba chìa tay ra, rất muốn lấy cây nến lớn: nhưng mắt anh chạm phải cái nhìn lạnh lùng quở trách của bà Dominikova đứng gần đó cùng Yagna, thế là anh chọn cây nến nhỏ. Anh thắp ngay; vì cha xứ đã nâng mặt nhật trên tay, quay về phía giáo dân. Xướng bài thánh ca, cha chủ tế chậm rãi bước xuống các bậc bàn thờ, đi vào lối vừa được rẽ ra cho cha—một lối đi giữa những người hát, những ánh nến chập chờn, những sắc màu sặc sỡ và những giọng ngâm nga trầm trầm. Đám rước bắt đầu chuyển động, đàn nhà thờ nổi lên như sấm, chuông nhập vào ầm ĩ, và cả cộng đoàn cất tiếng hát theo, những giọng hoà làm một trong niềm tin lớn lao. Trước đám đông, trước những hàng nến lấp loáng uốn lượn đang tiến lên, một cây thánh giá bạc ngời sáng; theo sau là những pho ảnh thánh, thấp thoáng sau lớp sương vải phin, vây quanh là hoa, ren và những đồ trang trí bằng kim tuyến. Đám rước ra tới cửa lớn nhà thờ, nơi mặt trời rọi xuyên qua và làm sáng rực những đám khói hương; và khi các lá cờ hiệu nghiêng mình để lọt qua, gió thổi cho chúng bay phần phật, dập dờn như cánh những con chim lớn màu lục và màu tía.

Đám rước đi vòng quanh nhà thờ, Kuba một tay khum che ngọn nến, lì lợm khập khiễng bước sát cha xứ, trên đầu cha là tấm tán đỏ do Boryna, bác thợ rèn, trưởng làng và Thomas Klemba khiêng. Dưới tán ấy, mặt nhật toả những tia vàng, hướng thẳng vào mặt trời đến mức có thể thấy nắng xuyên qua lớp Bánh Thánh mờ mờ trong suốt ở chính giữa.

Anh mê mải đến nỗi mấy lần vấp chân hoặc giẫm phải chân người khác.

“Đồ vụng, coi chừng chứ!”

“Cái thằng bù nhìn què kia!”

Nhưng anh không nghe thấy những lời chửi rủa ấy. Tiếng hát vang lên hùng tráng, dâng như những đợt sóng giai điệu xô vào rồi vỡ ra quanh vầng mặt trời trắng nhợt trong lòng mặt nhật. Trên cao, những cổ họng đồng không ngớt trút vào không trung những âm thanh vang rền, đến nỗi những cây thích và cây đoạn rung cả cành, và chốc chốc lại có chiếc lá đỏ nào đó từ ngọn bay xuống như một con chim hoảng sợ. Và cao, rất cao trên đầu họ, trên gác chuông nhà thờ và trên những tán cây rũ xuống, một đàn bồ câu giật mình đang lượn vòng.

* * * * *

Lễ xong, mọi người ùa cả ra khu nghĩa trang quanh nhà thờ, Kuba cũng ở trong đám ấy.

Dẫu biết hôm ấy ở nhà chủ có cỗ, anh cũng chẳng vội, cứ nán lại chuyện trò với người quen, rồi dần dần lại gần chỗ nhà chủ, nơi vợ chồng Antek đang đứng nói chuyện với mấy người khác, như lệ thường sau lễ trọng.

Một tốp khác tụ ngoài đường, phía ngoài cổng nghĩa trang, cầm đầu là bác thợ rèn: một gã lực lưỡng, ăn vận kiểu tỉnh thành từ đầu đến chân, áo khoác dài màu đen (sau lưng lấm tấm những giọt nến!), mũ lưỡi trai xanh thẫm; quần buông ngoài ủng, dây bạc lủng lẳng trên áo gi-lê. Mặt đỏ au, tóc quăn, ria đỏ, nói năng oang oang. Cười cũng oang oang: cái miệng ấy sắc nhất làng, đã lôi ai ra làm trò thì — chao ôi, đời người ấy chẳng lấy gì làm sung sướng. Boryna đứng nhìn và nghe. Ông nhận ra bác thợ rèn chẳng tha cả người nhà mình. Vậy thì liệu có tha một ông bố vợ đang cơm chẳng lành canh chẳng ngọt với hắn vì món của hồi môn của vợ hắn? Nhưng Boryna nghe chẳng được bao nhiêu: bà Dominikova vừa ở nhà thờ ra cùng Yagna, đi ngang trước mặt ông. Hai mẹ con đi chẳng nhanh, vì còn dừng lại trong sân nhà thờ chào hỏi, chuyện trò với bao nhiêu người. Ông nghe loáng thoáng mấy câu bà Dominikova nói về cha xứ, giọng nhỏ nhẹ đạo hạnh; còn Yagna thì đưa mắt nhìn quanh đám người. Vốn có cái lợi thế cao bằng người cao nhất ở đó, cô cũng bị lắm gã đầy tớ nhìn theo, chúng hút thuốc lá và nhe răng cười với cô từ ngoài cổng nghĩa trang. Quả là một người đàn bà đẹp, ăn mặc đẹp, và có cái dáng mà lắm cô con gái nhà quý tộc miền quê cũng khó bì.

Các cô gái và các bà có chồng đi ngang đều nhìn cô, kẻ ghen tị, người chỉ muốn no mắt với cái váy sọc bằng thứ hàng đắt tiền, màu cứ đổi như cầu vồng; đôi giày ống đen, buộc dây đỏ lên tới chỗ ló ra đôi bít tất trắng nõn; cái áo nịt nhung màu đỏ anh đào, thêu chỉ vàng, rực lên chói mắt; và mấy chuỗi hạt hổ phách với san hô đeo quanh cái cổ trắng đầy đặn, từ đó một túm dải lụa đủ màu buông dài xuống lưng.

Nhưng Yagna chẳng buồn để ý những cái nhìn ghen tị. Đôi mắt xanh thẳm của cô đảo qua đảo lại, cho tới khi chạm phải mắt Antek đang dán chặt vào mình; cô đỏ bừng mặt, rồi kéo tay áo mẹ đòi về.

“Từ từ đã, Yagna!” bà mẹ gọi với theo, rồi quay sang chào Boryna.

Cô khó lòng đi nổi, vì đám đầy tớ đã xúm lại quanh cô, chào hỏi rồi bỡn cợt — mà những câu bỡn cợt ấy nhắm vào Kuba, lại chẳng phải không cay. Bởi Kuba đang lẽo đẽo theo cô, mắt nhìn trân trân như nhìn một bức tranh đẹp. Anh khinh khỉnh phẩy tay, quay đi tập tễnh về nhà; nhà chủ cũng đang về lối ấy, mà anh thì còn phải trông ngựa.

“Ừ, đẹp như tranh!” anh buột miệng, khi đã ngồi xuống hiên nhà.

Yuzka lúc ấy vừa bưng bữa trưa ra. “Ai đẹp như tranh?” cô hỏi.

Anh cụp mắt xuống, ngượng nghịu và sợ mình lỡ để lộ. Nhưng bữa ăn dài và thịnh soạn; nên chẳng mấy chốc anh quên bẵng chuyện ấy.

Cả nhà ăn thong thả, mặt mũi nghiêm trang, chẳng ai nói năng gì, cho tới khi cơn đói đã cùn đi, bấy giờ mới vừa chuyện trò vừa nhẩn nha thưởng thức bữa ăn.

Hôm ấy Yuzka đứng ra làm bà chủ nhà, lo cho các đĩa lúc nào cũng đầy, chốc chốc lại bưng thêm đồ ăn, kẻo lỡ có đĩa nào để lộ đáy.

Cái hiên nơi họ ăn hiển nhiên là chỗ tốt nhất trong tiết trời dễ chịu thế này. Con Lapa chạy tới chạy lui, rên ư ử xin ăn, còn chồm cả lên ngó vào đĩa, mãi mới có người ném cho khúc xương. Nó tha đi, rồi sủa mừng khi chủ gọi tên, rồi nhảy chồm lên lũ sẻ đang đậu trên bờ giậu chực chờ vụn bánh.

Người qua đường vui vẻ chúc họ ăn ngon; cả nhà đồng thanh đáp lại lời cảm ơn.

“Nghe nói chú có mang mấy con chim sang biếu cha xứ,” Boryna nói.

“Vâng, có ạ.” Rồi đặt thìa xuống, Kuba kể cha xứ đã mời anh vào tận trong phòng, và anh đã thấy ở đó bao nhiêu là sách to.

“Thế cha lấy đâu ra thì giờ mà đọc hết ngần ấy?” Yuzka ngạc nhiên.

“Lấy đâu ra ư? Thì buổi tối chứ đâu. Cha đi đi lại lại trong phòng, uống trà, đọc suốt.”

“Chắc toàn sách đạo cả,” Kuba nói thêm.

“Chứ còn sách gì nữa? Chẳng lẽ sách vỡ lòng!”

“Cha còn đọc tờ báo mà lão lái buôn trong làng ngày nào cũng mang tới,” Hanka nói thêm. Rồi chồng cô nhận xét:

“Ừ, nhờ báo mà biết được thiên hạ khắp nơi làm những gì.”

“Bác thợ rèn cũng đặt báo, ông chủ cối xay cũng thế.”

“Thì báo cỡ thợ rèn chứ gì,” Boryna bĩu môi.

“Đúng cái báo cha xứ vẫn đặt đấy,” Antek nóng nảy đốp lại.

“Thế mày biết à? Mày đọc rồi chắc?”

“Đọc rồi... không phải một lần.”

“Nghe nó dạy khôn thì cũng chẳng khôn ra được đâu.”

“Thế bố cho ai là khôn? Người có mười bảy mẫu ruộng, hay tám con bò chắc?”

“Câm mồm đi trước khi tao nổi khùng! Lúc nào cũng gây sự với tao! — Mày no bánh quá hoá rửng mỡ — bánh của tao đấy!”

“Ừ, no đến mức nó mắc ngang họng như cái xương cá!”

“Thế thì đi tìm bánh ngon hơn. Ba mẫu ruộng của Hanka sẽ cho mày bánh mì trắng!”

“Chỉ có khoai thôi; nhưng khoai ấy chẳng ai tiếc với tôi.”

“Tao có tiếc mày cái gì đâu.”

“Không à? Tôi làm như trâu, chẳng bao giờ được lấy một lời tử tế.”

“Chỗ khác thì sướng hơn, lại được ăn không chắc!”

“Chỗ khác hơn thật chứ sao.”

“Thế thì cút đi mà thử!”

“Đi tay không à? Không đời nào!”

“Tao cho mày cái gậy, để đuổi chó.”

“Bố!” Antek quát, chồm dậy, nhưng lại ngồi phịch xuống ngay, vì Hanka đã ôm chặt ngang lưng anh. Ông già trừng mắt nhìn con dữ tợn: rồi làm dấu thánh như thể bữa ăn đã xong, ông bước ra, vào buồng mình, nói bằng giọng rắn đanh:

“Chúng mày tưởng tao chịu để chúng mày đẩy ra rìa, cắt cho miếng ăn ngồi không hả? Đừng hòng!”

Mọi người đứng dậy cả, rời khỏi hiên, chỉ còn Antek ngồi lại một mình, ngẫm ngợi. Kuba dắt ngựa ra bãi cỏ ba lá sau kho lúa, rồi nằm xuống cạnh một đống lúa định ngủ. Nhưng chẳng ngủ được; bữa ăn no đè nặng lên ngực. Vả lại, anh chợt nghĩ, giá có khẩu súng thì anh bắn được khối chim — mà biết đâu thêm một hai con thỏ con nữa — để tuần nào cũng đem biếu cha xứ.

Bác thợ rèn rèn cho anh một khẩu là được. Bác đã làm cho ông kiểm lâm một khẩu; khẩu ấy nổ trong rừng mà ở làng nghe rõ mồn một!

“Tay nghề hạng nhất! — Nhưng làm một khẩu bác ấy đòi những năm rúp!” Anh đâm ra ngẫm nghĩ mông lung.

“Lấy đâu ra? Mùa đông đến nơi rồi: phải sắm cái áo da cừu. Đôi ủng thì cũng chẳng trụ qua nổi mùa Giáng sinh — Ừ, người ta còn nợ mình mười rúp, với hai món quần áo — một cái quần, một cái áo. Áo da cừu, dẫu ngắn thôi, cũng mất năm rúp. Ủng, ba rúp nữa. Lại còn phải cái mũ; rồi thêm một rúp nữa cho cha xứ làm lễ cầu cho người nhà đã khuất. Thế thì còn lại cái gì nữa đâu!” — Anh thất vọng, lần tay trong túi tìm chút thuốc lá may ra còn sót, thì lại vớ phải mấy đồng tiền mặt trước đó đã quên khuấy.

“À! Hoá ra mình còn tiền!” — Anh hết cả buồn ngủ. Từ phía quán rượu vọng lại tiếng nhạc xa xa, tiếng người reo hò, khoảng cách làm cho dịu đi.

“Người ta đang ở đấy — nhảy nhót, uống vodka, lại hút thuốc nữa!” anh thở dài; rồi lại nằm sấp xuống, đưa mắt nhìn lũ ngựa buộc chân, chúng đã xúm lại gần nhau, gặm cổ nhau. Đoạn anh quyết định tối nay mình cũng ra quán rượu, mua ít thuốc lá, và ngó qua đám người nhảy một cái.

Chốc chốc anh lại liếc chỗ tiền, rồi liếc mặt trời, hôm ấy xuống chậm rề rề, như thể nó cũng cần nghỉ ngày Chúa nhật. Nỗi thèm ra quán giờ lớn đến mức anh khó lòng chịu nổi; nhưng anh vẫn nhịn chưa đi, chỉ trở mình nằm nghiêng mà rên thầm trong bụng. Antek và Hanka đã từ sau kho lúa đi ra, đang bước dọc lối bờ chia ruộng.

Antek đi trước; Hanka dắt tay thằng con nhỏ theo sau. Thi thoảng, vừa chậm rãi bước, hai người vừa nói với nhau vài câu. Rồi Antek lại cúi xuống, vuốt những ngọn lúa non vừa nhú lên.

“Lên tốt đấy. — Dày như lông bàn chải,” anh lẩm bẩm, đưa mắt nhìn khắp mấy mẫu ruộng ấy, do chính tay anh gieo và gieo cho mình: tiền công những ngày làm cho bố.

“Dày thì dày thật, nhưng lúa của bố còn hơn. Nó lên như rừng ấy,” Hanka nói, đưa mắt sang những thửa lúa bên cạnh.

“Ruộng mà bón được kỹ hơn thì tốt, giá nhà có ba con bò.”

“Với một con ngựa của riêng mình nữa....”

“Ừ, rồi còn nuôi được ít gà qué hay thứ gì đem ra chợ. Chứ như bây giờ thì làm được gì? Bố đếm từng cái vỏ trấu, quý cả cái vỏ khoai.”

“Lại còn cho miếng nào là xỉa xói miếng ấy!”

Hai người không nói được nữa. Lòng họ đầy ứ mật đắng và cay cực, với nỗi đau tức tối gặm nhấm của sự phản kháng.

Một lúc sau: “Phần chúng mình chắc được chừng tám mẫu, nếu như...” anh nói, lơ đãng.

“Không hơn được. Còn Yuzka, còn vợ bác thợ rèn, còn Gregory, rồi mới đến vợ chồng mình,” cô nhẩm tính.

“Hay là trả tiền dứt cho nhà thợ rèn, rồi giữ lấy cái nhà với mười sáu mẫu ruộng?”

“Nhưng mình có tiền mà trả không?” cô kêu lên, ngập trong cảm giác bất lực; nước mắt trào lên khi cô nhìn những thửa ruộng của bố chồng — đất ấy quý như vàng ròng, mà trên đó, phải, trên từng tấc một, có thể trồng lúa mì, lúa mạch đen, đại mạch và củ cải.

“Đừng khóc, đồ ngốc; đằng nào rồi cũng có ngày vợ chồng mình có tám mẫu ruộng của riêng mình.”

“Ôi, giá được nửa ngần ấy thôi, kèm cái nhà với mảnh vườn bắp cải!” Cô chỉ về dải đất dài, xanh biếc những đầu bắp cải; rồi cả hai rảo bước về phía ấy. Đến bìa vườn, họ ngồi xuống dưới một bụi cây; Hanka cho con bú, thằng bé đã bắt đầu khóc đòi ăn, còn Antek thì vấn một điếu thuốc, châm lửa, rít, và cau mày.

Anh chẳng nói với vợ một lời nào về nỗi đau đang ăn ruỗng anh, cháy trong lòng anh như than hồng. Bởi anh cũng chẳng nói ra được, mà cô cũng chẳng hiểu nổi: như thói thường đàn bà, chẳng tự mình khởi ra được điều gì, chẳng ngẫm ngợi cũng chẳng nắm được lẽ đời, mà chỉ sống — nói cho đúng — như cái bóng đàn ông hắt xuống.

“Nhưng mà,” Hanka nói tiếp, “bố có tiền mặt trong tay chứ, phải không?”

“Có chứ!”

“Thì bố mua cho Yuzka chuỗi hạt san hô đáng giá cả con bò; lại cứ luôn gửi tiền cho Gregory qua tay trưởng làng.”

Antek ừ hữ, nhưng đầu óc để tận đâu đâu.

“Thế là bất công với tất cả chúng mình! — Còn quần áo mẹ anh để lại! Bố khoá kín trong hòm, chẳng cho thấy ánh sáng lấy một lần: nào váy nào khăn, nào mũ nào chuỗi hạt....” Cô cứ thế kể lể hồi lâu, kể hết những thứ ấy, những điều oan ức, những nỗi tủi, những mong ước: nhưng Antek vẫn lì ra không nói. Cuối cùng, hết chịu nổi, cô lay vai anh:

“Mình có thức không đấy?”

“Thức, mà nghe đây. Nói đi, nói cho nhẹ người. Nói xong thì bảo một tiếng.”

Hanka vốn dễ khóc, lại thêm bao nhiêu cớ để buồn, đến đây thì oà lên; cô khóc rằng anh nói với cô như nói với một đứa con gái anh khinh: anh chẳng thiết gì cô, cũng chẳng thiết gì con.

Nghe vậy, Antek đứng dậy, đáp lại khinh khỉnh:

“Cứ gào to lên: mấy con kia” — anh hất đầu về phía mấy con quạ đang bay ngang — “mấy con kia nghe được thì thương cho!” rồi sửa lại cái mũ trên đầu, anh sải bước về phía làng.

“Antek! Antek!” cô đau đớn gọi với theo; nhưng anh chẳng buồn ngoảnh đầu lại.

Lòng nặng trĩu, chị quấn lại đứa bé rồi đi về nhà.—Vậy đấy, anh chẳng để chị nói với anh chuyện gì, cũng chẳng cho than thở điều gì. Ôi, anh tử tế lắm, Antek ấy, tử tế thật đấy! Lúc nào cũng chỉ là Làm đi, làm đi, làm đi; rồi Trông cái này, cái kia, cái nọ; rồi Ở nhà! Không gì khác! Chẳng ngó ngàng, chẳng thương xót, chẳng đoái hoài chút nào!—Đàn bà khác thì vui thú ngoài quán rượu, hay đi ăn cưới.—Còn Antek! Chị chẳng biết đằng nào mà lần. Có lúc anh dịu dàng đến mức không thể dịu dàng hơn; nhưng rồi lại có khi hàng mấy tuần liền anh chẳng buồn nói với chị lấy một lời, cũng chẳng buồn nhìn chị lấy một cái: cứ nghĩ, nghĩ, nghĩ—suốt ngày. Mà thật, anh cũng có đủ cớ để nghĩ.... Sao ông bố không sang ruộng lại cho anh ngay bây giờ?... Đến lúc ông già nên nghỉ mà để vợ chồng nuôi rồi.... Nếu ông chịu, chị sẽ chăm ông chẳng khác gì chăm cha đẻ của mình....

Chị cũng muốn nói chuyện với Kuba lắm; nhưng lão ngả lưng vào đụn lúa, giả vờ ngủ, dù mặt trời chiếu thẳng vào mắt. Chị vừa khuất sau góc kho lúa là lão đứng dậy, phủi rơm trên quần áo, rồi thủng thẳng theo lối vườn cây mà ra quán rượu.

Quán rượu nằm mãi cuối làng, quá nhà cha xứ, ngay chỗ mở đầu con đường trồng dương.

Ở đó chưa có mấy người. Tiếng nhạc thi thoảng vọng ra, nhưng chưa ai nhảy. Trai gái thích đùa nghịch ngoài vườn cây hơn, hoặc đứng quanh nhà, hoặc sát tường, nơi khối đàn bà con gái đang ngồi trên những đống gỗ thông còn tươi vàng mới đưa từ rừng về. Gian lớn nhất, xà nhà xỉn màu ám khói, gần như trống không; những ô kính con xám bụi lọt vào quá ít ánh đỏ của buổi chiều sắp tắt, đến nỗi chẳng còn mấy chút rơi xuống nền nhà mòn vẹt gồ ghề; còn trong các xó góc thì bóng tối đã dày lắm.

Chỉ có Ambrose ở đó, cùng một người trong hội đoàn của làng; hai người đứng sát cửa sổ, chai cầm tay, chuyện trò với nhau, chốc chốc lại chúc nhau mà uống.

Yagustynka cũng có mặt ở quán, làm mất lòng hết thảy mọi người, giận cả thiên hạ mà chẳng chịu nhân nhượng ai, bởi con cái đối xử tệ với mụ, khiến tuổi già còn phải đi làm thuê xa chúng. Nhưng chẳng ai buồn đáp lại những lời chì chiết ấy; thế là mụ đi sang cái buồng nhỏ tối, nơi bác thợ rèn đang ngồi với Antek và mấy gã trai trẻ khác.

Một ngọn đèn treo đung đưa dưới đám xà nhà mờ tối, rọi thứ ánh vàng vọt lù mù xuống những cái đầu bờm xờm tóc vàng rậm. Mấy người ngồi thành vòng, chống khuỷu tay lên bàn. Mọi con mắt đổ dồn vào bác thợ rèn: mặt đỏ gay, người chồm tới, lúc thì dang tay, lúc thì đấm bàn thình thịch; vậy mà giọng vẫn nói nhỏ.

Ngoài kia, mấy cây đàn trầm rền rĩ, như con ong nghệ lạc vào nhà bay vo ve. Chốc chốc cây vĩ cầm lại bật ra những nốt to và khỏe, như chim gọi bạn; hoặc cái chũm chọe nổi lên một hồi rung rung dồn dập: rồi tất cả lại lặng.

Kuba đi thẳng tới quầy, sau quầy là Yankel, chủ quán người Do Thái, đội mũ chỏm, xắn tay áo (trời đang ấm), tay vuốt chòm râu bạc, người đưa tới đưa lui, mắt đọc một quyển sách cầm sát mặt.

Kuba vừa đi vừa nghĩ, tiến từng bước một, đếm lại tiền, gãi đầu, rồi đứng im, cho tới khi Yankel để ý thấy lão, và chẳng ngắt lời kinh cũng chẳng ngừng đưa người, gã khua mấy cái cốc lanh canh một hai lượt.

“Một phần tám lít—mà đừng pha nước!” cuối cùng lão gọi.

Yankel lặng lẽ chìa tay trái ra lấy tiền, ném mấy đồng xu xỉn gỉ đồng vào khay, rồi hỏi:

“Rót ra cốc chứ?”

“Chứ chả nhẽ rót vào ủng!” Kuba đáp. Lão lui hẳn ra đầu quầy, làm cạn cốc thứ nhất, nhổ xuống đất, rồi đưa mắt nhìn khắp gian phòng; xong cốc thứ hai, lão giơ cái nậm lên soi ánh sáng, thấy đã cạn, bèn nện nó xuống quầy.

“Nữa!—Với một gói thuốc lá!” lão gọi, lần này bạo dạn hơn, vì rượu đã làm lão ấm áp dễ chịu, lại thấy tự tin lạ thường.

“Hôm nay lĩnh công à, Kuba?”

“Làm gì có. Hôm nay là ngày đầu năm chắc?”

“Làm tí rum không?”

“Không. Chả thiết.” Lão đếm tiền, rồi buồn rầu liếc sang chai rum.

“Nhưng tôi cho anh chịu; Kuba thì tôi còn lạ gì?”

“Không dám đâu.—‘Mua chịu quen mồm, có ngày hết mẩu bánh mà gặm,’” lão đáp cụt lủn.

Dù vậy, Yankel vẫn để chai rum ngay sát khuỷu tay lão. Lão không muốn đụng vào, đã tính bỏ ra ngoài; nhưng rum thơm quá, rốt cuộc lão đành chịu thua, buột tay làm một hớp thật dài.

“Tiền này anh kiếm trong rừng à?” Yankel hỏi, nì nèo mãi mà vẫn nhẫn nại.

“Giăng lưới bắt chim; biếu cha sáu con. Cha cho tôi một zloty.”

“Sáu con mà một zloty thôi à? Chao, tôi thì tôi trả anh năm kopek mỗi con.”

“Nhưng—nhưng mà—” Kuba kêu lên, sửng sốt, “chim đa đa mà cũng kosher à?”

“Chuyện ấy mặc tôi; anh cứ mang thật nhiều đến đây, mỗi con tôi trả năm kopek tiền tươi. Còn chỗ rum anh vừa uống thì kể như tôi biếu. Thế được chứ?”

“Sao, Yankel! Năm kopek một con?”

“Lời tôi nói không phải gió thoảng. Sáu con đa đa ấy, Kuba ạ, đáng ra anh được không phải hai phần tám lít rượu, mà là bốn! lại thêm rum, thêm cá trích, thêm cái bánh mì, thêm gói thuốc lá. Anh hiểu chưa?”

“Hiểu. Nửa lít, với cá trích, với... Tôi có phải thằng ngốc đâu, tính ra hết.—Đúng thật—Nửa lít, với rum, với thuốc lá, với bánh mì, với nguyên một con cá trích....” Đến lúc này hơi rượu đã làm lão lơ mơ đôi chút.

“Anh mang chim đến cho tôi chứ, Kuba?”

“Nửa lít, với cá trích, với.... Được, tôi mang.—Anh xem, giá mà tôi có khẩu súng,” lão nói tiếp, đầu óc đã tỉnh ra chút ít; nhưng rồi lão lại đâm ra tính toán. “Cái áo da cừu bây giờ cũng mất năm rúp... lại còn đôi ủng nữa, tôi cần... ba rúp. Không, tôi kham không nổi: thợ rèn đòi năm rúp một khẩu súng—tôi cũng như Rafal, chẳng bớt xu nào.—Không!” Lão nghĩ thành tiếng.

Yankel nhẩm tính thật nhanh bằng mẩu phấn, rồi ghé tai lão thì thầm:

“Anh bắn được con hoẵng chứ?”

“Bằng tay không—bắn thế nào? Có súng thì bắn được.”

“Thế anh bắn được thật—bắn cho ra hồn chứ?”

“Anh là người Do Thái, Yankel ạ, nên anh không biết: chứ cả làng này ai chẳng biết tôi từng theo các ông chủ đi khởi nghĩa lần trước; chân tôi ăn đạn là vì thế. Ồ, được chứ, được chứ, tôi bắn được!”

“Tôi sẽ lo cho anh khẩu súng, thuốc súng, cần gì cũng có. Chỉ có điều, bắn được gì thì phải mang đến cho tôi, Kuba ạ! Một con hoẵng, anh được nguyên một rúp. Nghe rõ chưa? nguyên một rúp! Còn thuốc súng, anh trả mười lăm kopek, tôi trừ vào mỗi con hoẵng bắn được. Rồi tiền hao mòn khẩu súng, tôi lấy nửa giạ yến mạch.”

“Một rúp một con hoẵng? lại mười lăm kopek thuốc súng?... Nguyên một rúp? Anh tính kiểu gì thế?”

Yankel lại kể lại đầu đuôi từng khoản. Kuba chỉ hiểu được mỗi một điều.

“Móc yến mạch trong mõm ngựa ra à?” lão nói. “Cái đó thì tôi không làm.”

“Việc gì phải thế? Boryna có yến mạch... đâu chỉ trong máng ăn.”

“Nhưng—nhưng thế thì chẳng khác nào....” Lão trân trân nhìn Yankel, cố hiểu cho ra chuyện.

“Ai chả làm thế! Anh chưa bao giờ thắc mắc đám người ở lấy đâu ra lắm tiền vậy sao? Chứ không thì lấy gì mà thuốc lá, mà tợp rượu, mà nhảy nhót ngày Chủ nhật?”

“Sao? cái gì? đồ ghẻ lở nhà anh! Tôi là quân ăn trộm chắc?” lão bỗng rống lên, đấm tay xuống bàn làm mấy cái cốc kêu loảng xoảng.

“Chà! Kuba, anh định gây với tôi hả? Thế thì trả tiền đi rồi cút xuống địa ngục!”

Nhưng lão chẳng trả mà cũng chẳng đi. Lão không còn một xu, lại còn nợ đám người Do Thái nữa. Thế nên lão chỉ gục nặng nề xuống quầy, cố tính cho ra số nợ. Còn Yankel thì đâm tử tế, rót thêm cho lão ít rum—lần này rum nguyên—mà chẳng nói một lời.

Đến giờ người kéo vào quán mỗi lúc một đông, vì trời đã nhá nhem và đèn đã thắp. Nhạc nổi lên nhịp mau hơn; tiếng ồn to dần; người ta xúm thành từng đám quanh quầy, dọc tường, hay giữa nhà. Họ nói chuyện, kháo chuyện, càu nhàu; và vài người chúc nhau mà uống. Nhưng thường thì họa hoằn lắm mới uống. Chứ biết làm sao khác được? Họ có đến để chè chén đâu, chỉ là—thì thế thôi: gặp nhau cho phải tình làng nghĩa xóm, chuyện trò dăm câu, và nghe ngóng xem có gì đáng nghe. Hôm nay Chủ nhật, tò mò một chút, uống dăm cốc với người quen chỗ này chỗ kia, hẳn cũng chẳng nên tội: miễn là làm cho phải phép, đừng làm mất lòng Chúa. Chính cha xứ cũng chẳng cấm chuyện đó. Chao, đến con vật kéo cày kia làm xong việc còn mừng mà cần được nghỉ nữa là! Thế nên mấy người làm ruộng có tuổi ngồi vào bàn, và cả mấy bà nữa, váy đỏ khăn đỏ, mỗi người trông như một bông thục quỳ đang nở. Ai nấy nói cùng một lúc, tiếng lao xao đầy khắp gian nhà như tiếng cả một cánh rừng xào xạc; còn tiếng chân giậm thì như tiếng néo đập lúa mì trên sân đập lúa: giữa lúc ấy cây vĩ cầm cất tiếng hát một điệu vui:

“Ai—ai theo ta nào?” tiếng đàn réo lên, và mấy cây đàn trầm gầm gừ đáp lại:

“Ai cũng theo—theo mình thôi!” Trong khi ấy cái chũm chọe rập rờn với âm thanh như tiếng cười, mấy chiếc chuông con leng keng reo vui.

Người nhảy chẳng đông; nhưng ai nấy giậm chân hăng hái đến nỗi sàn nhà kêu răng rắc, bàn chao đảo, mấy cái chai chốc chốc lại lanh canh chạm vào nhau, có khi còn hất đổ cả cốc.

Nhưng nói cho cùng, cũng chẳng phải hội hè gì to tát: hôm ấy đâu có lễ trọng nào, như đám cưới hay lễ hỏi ở nhà thờ. Họ nhảy chỉ cốt vui một chút và cho lưng cho chân thẳng ra sau một tuần lao lực. Có điều, đám trai cuối thu này phải đi lính: bọn ấy uống dữ vì buồn. Cũng chẳng lạ, chẳng mấy nữa đã phải sống giữa người dưng, ở tận xứ lạ.

Trong đám ấy, thằng em trai của trưởng làng là ầm ĩ nhất; rồi đến Martin Byalek, Thomas Sikora, Paul Boryna (em họ ruột của Antek, cũng ra quán lúc nhá nhem: chỉ có điều hôm ấy hắn không nhảy, mà ngồi trong buồng nhỏ với bác thợ rèn và mấy người kia), và cuối cùng là Franek ở nhà máy xay, một gã trẻ thấp đậm, tóc xoăn: mồm mép nhất bọn, thằng ăn chơi hay đùa cợt, lại mê gái đến nỗi mặt mũi hiếm khi không có vết bầm hay vết cào. Tối nay hắn đã say sẵn từ đầu, đang đứng cạnh quầy với con Magda béo (người nhà ông chơi đàn nhà thờ), cái bụng đã sáu tháng.

Cha xứ đã quở trách hắn công khai trên tòa giảng, và giục hắn cưới cô ta. Nhưng Franek không chịu nghe, vì mùa thu này hắn phải đi lính, mà vào đó thì mang vợ theo làm gì?

Magda lúc này kéo hắn vào một góc, giọng đầm đìa nước mắt nói gì đó; nhưng hắn vẫn đáp như mọi bận:

“Cô ngu lắm. Tôi có dụ dỗ cô đâu, nói xem? Tôi sẽ trả tiền lễ rửa tội, cho cô một rúp gì đó—cho bao nhiêu là tùy tôi.” Hắn say đờ ra, xô cô ta mạnh đến nỗi cô ngã phịch xuống nền, gần chỗ Kuba đang ngủ sát bên bếp lò, đầu gối lên đống tro. Rồi Franek bỏ đi uống tiếp với Ambrose và mấy người làm ruộng, ai cũng sẵn lòng trả tiền rượu cho hắn để được xay lúa sớm.

“Uống đi, Franek, mà làm ơn xay giúp chỗ thóc của tôi cho nhanh: vợ tôi cằn nhằn mãi—bảo là hết bột, chẳng còn mà nặn bánh nữa.”

“Chà! vợ tôi thì càu nhàu suốt, vì nhà chẳng còn hạt tấm nào.”

“Còn vợ tôi thì phải có bột yến mạch cho con lợn đang vỗ béo.”

Franek uống, hứa hết mọi thứ, và khoác lác rõ to về tài của hắn. Hắn bảo ở nhà máy xay cái gì cũng phải theo lệnh hắn. Lão chủ cối xay phải làm theo ý hắn... bằng không! thì hắn, Franek đây, có cách làm cho bọ sinh sôi trong thùng bột—làm cho dòng nước cạn khô—làm cho cá chết đến mức cả cái ao bốc thối—và làm cho bột mốc meo, chẳng còn dùng được vào việc gì trên đời....

“Còn tao, mày mà làm thế với tao, tao vặt trụi cái đầu cừu xoăn của mày!” một giọng réo lên: giọng của Yagustynka. Chỗ nào đông người là ở đó có mụ, vì ở đấy dễ gặp được một mối họ hàng hay quen biết nào đó chịu mời mụ hớp rượu, do sợ cái lưỡi chua ngoa của mụ. Franek dù say cũng thấy ngại, chẳng đáp lại mụ nửa lời. Quả thật mụ biết quá nhiều về hắn và cái cách hắn coi sóc nhà máy xay. Đắc thắng, lại cũng đã chếnh choáng hơi men, mụ chống nạnh hai tay, nhảy, giậm chân và hò hét theo nhịp nhạc.

“Tôi nói là thật đấy,” anh thợ rèn ở gian bên lên tiếng; “vì nó in rành rành trên báo — chữ to bằng con bò. Chẳng có dân nào trên đời sống như dân ta. Không một dân nào! — Này nhé, chủ đất lớn nào cũng đè đầu cưỡi cổ ta; cha xứ nào cũng vậy; quan chức nào cũng vậy. Còn ta thì chỉ có mỗi việc làm quần quật, nhịn đói, cúi rạp trước mặt thiên hạ, kẻo họ tát vào mặt! — Đất của ta ít đến nỗi — với nhiều người trong chúng ta — chẳng mấy nữa sẽ không còn lấy một mảnh con con nào.... Trong khi đó, một mình ông chủ điền có nhiều ruộng hơn hai làng gộp lại! — Hôm qua trên tòa người ta bảo sắp có chia lại ruộng đất.”

“Ruộng đất của ai?”

“Của các ông quý tộc chứ còn của ai.”

Bà Yagustynka vừa bước vào, chồm qua bàn mà cười.

“Anh có cho họ bao giờ đâu mà đòi lấy đi! Của người khác thì anh rộng rãi thật đấy!”

“Ở bên ấy dân tự cai quản lấy,” anh thợ rèn nói tiếp, chẳng thèm để ý lời chen ngang của bà già. “Ở bên ấy ai cũng được đi học; ai cũng ở nhà như nhà các ông quý tộc, ai cũng là ông lớn cả.”

“Chỗ ấy là chỗ nào vậy?” bà Yagustynka hỏi Antek, ngồi tận đầu kia bàn.

“Ở mấy xứ nóng.”

“Thế thì,” bà rít lên giận dữ, “sao chính anh thợ rèn không sang bên ấy mà ở? Cái đồ chó ghẻ! Nó bịp các người, nó nói dối các người... thế mà lũ đầu đất các người lại tin nó!”

“Bà Yagustynka, làm ơn tử tế đi về chỗ bà đã đến cho êm chuyện.”

“Không, tôi không đi! Quán rượu là của chung; tôi nghèo thì nghèo, ở đây cũng có quyền như anh. Anh làm thầy đời ở đây đấy à! Anh, cái kẻ đi hầu bọn Do Thái, khúm núm trước mấy ông quan, thấy ông chủ điền từ xa một dặm đã lột mũ ra! Đồ lắm mồm khoác lác! Ồ, tôi còn biết chuyện....” Bà không nói được nữa. Anh thợ rèn đã xốc bà lên ngang sườn, lấy chân đẩy tung cửa, rồi quăng bà vào gian lớn, bà nằm sóng soài trên nền nhà.

Chẳng một lời chửi rủa, bà tự đứng dậy, rồi gọi với ra một cách vui vẻ:

“Khỏe như ngựa! Được ông chồng như thế thì tôi cũng ưng!”

Đám người phá lên cười rộ, còn bà thì đi ra ngoài, một mình lặng lẽ nguyền rủa.

Lúc này quán rượu đã bắt đầu vãn; nhạc đã dứt, người ta lục tục về nhà. Đêm ấm và trăng sáng: chẳng ai nán lại ngoài mấy anh tân binh, cứ hò hét và uống cho đã, cùng lão Ambrose, say mềm, đã lao ra giữa đường mà hát, lảo đảo hết bên nọ sang bên kia.

Đám người lấy anh thợ rèn làm đầu cũng đã bỏ đi.

Lát sau, khi Yankel tắt đèn, mấy anh tân binh cũng lảo đảo kéo ra, khoác tay nhau đi dọc đường, gào hát, rú lên, rống lên đến nỗi chó trong làng sủa theo.

Chỉ còn mỗi Kuba ở lại, ngủ say trong đống tro đến nỗi Yankel phải lay cho dậy. Nhưng anh ta không chịu dậy, chỉ đạp loạn xạ và vung tay đấm vào không khí.

“Xê ra, đồ Do Thái!” anh ta líu lưỡi. “Tôi thích ngủ thế nào là quyền tôi. Tôi là người cày ruộng; còn anh — anh là quân ghẻ lở đểu cáng, quân bất lương!”

Một xô nước làm anh ta tỉnh đủ để đứng dậy, rồi sửng sốt và hoảng hồn biết ra rằng mình đã uống hết cả một rúp, và đang nợ Yankel đúng chừng ấy.

“Cái gì! Một phần tư lít, rượu rum, một con cá trích, thuốc lá, thêm một phần tư nữa: từng ấy mà thành một rúp được à? Sao lại thế?” Đầu óc anh ta quay cuồng.

Nhưng rốt cuộc Yankel cũng làm anh ta tin, và hai bên thỏa thuận với nhau về khẩu súng mà lão Do Thái sẽ kiếm cho; dù Kuba nhất quyết không chịu đưa chỗ yến mạch lão đòi.

“Cha tôi không phải quân ăn cắp; tôi cũng thế.”

“Thôi về đi, Kuba; muộn rồi, mà tôi còn mấy lời kinh phải đọc.”

“Nghe cái lão giả nhân giả nghĩa kìa! Xui người ta ăn trộm, rồi lại còn đọc kinh nữa chứ!” anh ta lẩm bẩm trên đường về, cố nhớ lại mọi sự cho ra đầu ra đũa: chẳng hiểu sao anh ta vẫn không tin nổi mình đã uống hết cả một rúp. Nhưng anh ta chưa tỉnh hẳn, khí đêm lạnh làm anh ta choáng váng; thế là anh ta cứ lảo đảo mà bước, lúc ngã dúi vào bờ giậu, lúc đâm vào đống gỗ xếp ngoài nhà tranh. Anh ta chửi.

“Quỷ vặn cổ chúng mày đi, cái quân khốn, chất đầy đường thế này! Lúc chất chắc cũng đang chuếnh choáng chứ gì. Phải rồi, cái quân nát rượu! Cha xứ răn dạy bao nhiêu cũng bằng thừa.... Cha xứ....” Đến đây anh ta chợt nghĩ ra; anh ta nhận ra mình đang trong tình cảnh nào, và thấy ăn năn ngập lòng. Anh ta đứng khựng lại, nhìn quanh tìm xem gần đó có vật gì cứng không. Rồi anh ta quên khuấy chuyện ấy, túm lấy mớ tóc bờm xờm của mình, lấy nắm đấm nện vào mặt.

“Đồ nát rượu, đồ lợn dịch! Ông sẽ lôi mày ra trước mặt cha xứ, cha sẽ mắng mày trước cả nhà thờ, sẽ bảo mày là chó, là thằng say rượu khốn nạn; mày uống hết nửa lít vodka — cả một rúp — mày là con vật, còn tệ hơn con vật!” — Rồi bỗng một cơn thương thân trào lên; anh ta ngồi phịch xuống đường mà òa khóc.

Vầng trăng lớn và rực rỡ trôi qua khoảng tối; như những chiếc đinh bạc đóng lên vòm trời, vài ngôi sao lác đác sáng; một tấm sương xám mỏng phủ trên mặt ao như tấm khăn voan, dập dờn những nếp gấp của nó trên làng. Cả thế gian đã bước vào cái tĩnh lặng khôn dò của đêm thu, chỉ trừ mấy người về muộn vừa đi vừa hát, và tiếng chó thảng hoặc sủa lên.

Và trên con đường trước quán rượu, lão Ambrose vẫn lảo đảo hết bên nọ sang bên kia, cất giọng run run hát bài của mình:

“Nói đi, Marysia của ta, Nói đi, người tốt nhất, thật lòng nhất, Nói xem nàng ủ bia cho ai, Nói đi, Marysia của ta!”

bài ấy lão hát đi hát lại không bao giờ dứt, cho đến lúc men rượu trong người tan hết.