Nông dân — Tập I: Mùa thu — Chương 5

Chương 5 / 12 · Bài review Nông dân — Tập I: Mùa thu

Mùa thu mỗi lúc một thêm ra dáng mùa thu.

Những ngày nhợt nhạt trôi qua, lê mình trên các cánh đồng trống không một tiếng động, rồi lịm đi phía sau rừng, mỗi lúc một lặng hơn, một nhợt hơn, như Mình Thánh Chúa trong ánh lay lắt của ngọn nến sắp tàn.

Và mỗi rạng đông, buổi sáng lại đến chậm chạp hơn, như tê dại đi vì cái lạnh của sương muối, vì nỗi tĩnh mịch buồn thảm và vì sự sống đang rút dần khỏi mặt đất. Mặt trời mờ đục, trụi hết tia nắng, nở ra từ đáy sâu; quạ và quạ gáy xám từ đâu đó phía Đông bốc lên, lượn vòng quanh cái đĩa mặt trời: chúng lướt trên đồng, bay dài và thấp, kêu quàng quạc bằng những giọng đùng đục thê lương. Theo sau chúng, gió tràn tới, cay nghiệt và ảm đạm, làm nhăn mặt nước đang động, đốt cháy nốt những gì còn xanh, và giật đi những chiếc lá chết cuối cùng trên hàng dương ven đường: lá rơi chậm, như những giọt nước mắt ròng ròng — nước mắt máu, mùa hè nhỏ xuống trong lúc nằm chờ chết.

Và mỗi rạng đông, các làng thức dậy muộn hơn một chút, gia súc ra bãi ăn cỏ bằng những bước lười nhác hơn, cánh cửa kho lúa mở ra với tiếng cọt kẹt kém chói hơn; tiếng người nghe như bị bịt lại khi vang lên trong khoảng trống chết chóc của đồng ruộng, và chính sự sống của họ giờ cũng đập những nhịp yếu ớt hơn. Thi thoảng họ hiện ra trước nhà tranh hay ngoài đồng, rồi đột nhiên đứng sững, nhìn thật lâu vào cái xa xăm xám ngoét mờ mịt. Hoặc đôi khi những cái đầu sừng lớn ngẩng lên khỏi đám cỏ trên bãi chăn vàng úa; và trong lúc chậm rãi nhai lại, mắt chúng cũng đăm đăm nhìn ra xa, thật xa, thỉnh thoảng một tiếng rống trầm đục lại vọng qua vùng hoang vắng.

Và mỗi rạng đông, trời lại lạnh hơn, tối hơn; khói là là thấp hơn trên những cây trong vườn đã trụi lá, chim chóc kéo về làng mỗi lúc một nhiều để trú gần các vựa lúa. Quạ đậu trên nóc mái hay trên cành trơ, hoặc bay sát mặt đất, kêu khàn khàn — như thể đang hát bài ca ảm đạm của mùa đông đang tới.

Giữa trưa thường có nắng: nhưng lặng làm sao! Tiếng rừng rì rào vọng lại từ xa chỉ như một hơi thì thầm, và tiếng sông gợn nghe như những tiếng nấc đau đớn. Cái tĩnh lặng buổi trưa ấy có gì đó của cái chết; và trên những lối đi vắng người, trong những vườn cây trụi lá, ẩn nấp một nỗi buồn sâu thẳm, pha lẫn cảm giác rụt lại trước những gì sắp đến.

Việc cày đã gần xong, có người làm nốt phần mình, kết thúc luống cày cuối cùng khi trời đã tối, rồi ngoái lại nhìn ruộng lúc trở về nhà, ao ước cho mùa xuân sang mau.

Nhiều bận, trước lúc chiều xuống, những trận mưa lạnh lại đổ; và càng về sau, mưa kéo dài đến tận hoàng hôn — cái hoàng hôn mùa thu dài dặc, khi cửa sổ các nhà tranh sáng rực lên như những đóa hoa vàng, và những vũng nước trên đường vắng ánh lên như thủy tinh — kéo cho tới khi ngọn gió đêm lạnh và ướt hắt mưa vào ô kính và rên rỉ giữa vườn cây.

Một con cò gãy cánh đành ở lại, vẫn hay thấy lững thững đi trên các đồng cỏ, nay bắt đầu lại gần những đống lúa nhà Boryna, và Vitek lấy làm thích thú dụ nó bằng cách cho ăn.

Những _Dziad_,[12] nay cũng qua làng ngày một thường hơn; không chỉ hạng thường thấy, đi từ nhà này sang nhà khác với những cái bị sâu hoắm và những bài kinh dài lê thê, mà hễ họ đến gần là chó trong nhà lại sủa ầm lên; còn có cả hạng khác hẳn. Những người này đã đi nhiều, đi xa, tới nhiều nơi thánh địa; họ thuộc lòng Chenstohova, Ostrobrama và Kalvarya, và trong những buổi tối dài họ sẵn lòng mua vui cho dân làng bằng chuyện thiên hạ đang xảy ra những gì, những điều lạ lùng ở xứ người. Lại có kẻ kể về Đất Thánh, thuật những chuyện kỳ diệu về các biển cả mênh mông họ đã vượt qua và những phen phiêu lưu đã gặp, khiến người nghe sững sờ mà thành kính, và không ít người khó lòng tin nổi trên đời lại có những chuyện như thế.

-----

Chú thích 12:

_Dziad_ trong tiếng Ba Lan nghĩa là ông nội, một ông già, hay tổ tiên, nhưng nay phần lớn dùng để chỉ một hạng người ăn xin đặc biệt.—_Chú thích của người dịch._

Chao ôi, mùa thu rồi, thu muộn rồi!

Trong làng không còn nghe thấy tiếng hát nghịch ngợm, tiếng reo vui, đến cả tiếng ríu rít của lũ chim nhỏ cũng không: chỉ có gió gào trên những mái rạ, mưa băng giá đổ những màng nước như kính xuống các ô cửa lách cách, và tiếng néo đập đùng đục dồn dập trên các sân đập lúa, mỗi ngày một to hơn.

Đúng là mùa Thu, mẹ của mùa Đông.

Cũng có một điều an ủi. Cho tới lúc ấy thời tiết chưa thật xấu, đường sá chưa nhão thành bùn lầy; nên có lẽ nó còn giữ được đến phiên chợ, cái phiên chợ mà cả làng Lipka sắp kéo nhau đi như đi hội.

Chợ nhằm ngày lễ thánh Cordula, và vì là phiên cuối trước mùa Giáng sinh nên nhà nào cũng lo sắm sửa.

Đã mấy ngày trước đó, câu hỏi lớn — Nên bán gì? — được đem ra bàn: bán bò, bán lúa, hay bán mấy con vật nhỏ. Mùa đông sắp tới nên cũng phải mua sắm; mà mua không ít. Từ đó sinh ra lắm chuyện cãi cọ, hờn dỗi, xích mích trong các gia đình: ai cũng biết chẳng nhà nào rủng rỉnh tiền, mà tiền mặt thì mỗi ngày một khó kiếm.

Vả lại, đúng vào lúc ấy phải nộp thuế, nộp cả sưu làng, rồi bao nhiêu khoản phải chi, nhiều nhà còn phải trả nợ vay, mà không hiếm khi lại đến kỳ trả công cho người ở. Thành thử không ít chủ nhà (dù có tới mười bảy mẫu ruộng!) đôi lúc cũng bí, chẳng biết nên xoay xở thế nào cho phải.

Thế là có người dắt con bò ra khỏi chuồng, lấy rơm chùi sạch hai bên sườn bết phân, đêm cho ăn thật nhiều cỏ ba lá, hay một chậu lúa mạch nấu với khoai, làm đủ cách cho nó béo lên một chút; kẻ khác thì loay hoay với một con ngựa già mù, hỏng hẳn rồi, cố sao cho nó trông ít ra cũng còn giống con ngựa.

Lại có người, để kịp có lúa mang đi, cả ngày hì hục đập lúa.

Ở nhà Boryna cũng vậy, ai nấy làm quần quật. Có Kuba đỡ tay, ông già đập hết chỗ lúa mì, còn Yuzka với Hanka hễ rảnh lúc nào là vỗ béo con lợn nái, hay mấy con ngỗng đã chọn để bán. Và vì mưa có thể ập xuống bất cứ lúc nào, Antek hết lần này đến lần khác cùng Vitek vào rừng lấy cành khô và củi gộc về đun và lót chuồng: một phần đưa vào chuồng bò, phần còn lại đắp thành lớp áo ấm bên ngoài nhà.

Đợt làm gấp ấy kéo dài đến khuya cái đêm cuối trước phiên chợ; và mãi tới khi lúa mì đã vào bao chất trên xe, xe đã đẩy vào kho lúa, mọi thứ sẵn sàng cho sáng mai, tất cả mới ngồi xuống ăn bữa tối cùng nhau trong nhà Boryna.

Lửa nhảy nhót vui vẻ trong ống khói, và dưới ánh lửa họ ăn thong thả, đàng hoàng và lặng lẽ; nhưng khi bữa xong, đám đàn bà đã dọn nồi niêu bát đĩa, Boryna nhích lại gần lửa hơn một chút mà nói:

“Ta phải lên đường từ lúc trời chưa sáng.”

“Chắc rồi, không muộn hơn được tí nào,” Antek đáp, rồi bắt tay tra mỡ bộ yên cương, trong khi Kuba ngồi vót một cái tay đập cho chiếc néo của mình; còn Vitek, đang gọt khoai cho bữa sáng mai, vẫn tìm được cách đùa với Lapa, con chó nằm ngay bên cạnh bắt bọ chét.

Một lúc lâu chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng củi nổ lép bép, tiếng dế rúc lanh lảnh bên bếp, tiếng nước dội ngoài buồng và tiếng nồi niêu bát đĩa lanh canh.

“Kuba, sang năm anh có định ở lại làm cho tôi không?”

Anh buông con dao xuống, nhìn đăm đăm vào lửa lâu đến nỗi Boryna phải hỏi anh có nghe thấy câu hỏi không.

“Nghe chứ? Nghe rồi: nhưng tôi còn nghĩ. — Thật tình, ông chưa đối xử tệ với tôi bao giờ... Chỉ có điều...” Đến đây anh ngừng bặt, có phần lúng túng.

“Yuzka! Mang rượu với chút gì nhắm ra đây. — Chúng ta có phải người Do Thái đâu mà bàn chuyện làm ăn lại để khô cổ?”

Ông ra lệnh như thế, rồi kéo cái ghế dài lại gần lửa. Yuzka mang vào ngay một chai rượu, một ổ bánh và một xâu xúc xích, đặt lên ghế.

“Uống đi, Kuba, uống đi, rồi nói cho hết ý.”

“Cảm ơn ông chủ. — Chà, tôi thì muốn ở lại, nhưng... nhưng...”

“Chắc muốn tăng công chứ gì?”

“Thế thì tốt. Ông xem, cái áo da cừu của tôi rách bươm cả rồi. Đôi ủng cũng vậy; lại còn phải có cái áo khoác dài nữa. Ăn mặc thế này mà đi nhà thờ thì tôi chỉ đứng ngoài hiên thôi. Bộ dạng ấy làm sao đứng trước bàn thờ được?”

“Ừ,” Boryna nghiêm giọng chen vào, “Chủ nhật trước anh có ngại gì đâu: anh chen lấn xô đẩy lên tận chỗ những người đứng đầu!”

“Đúng thật... Vâng, nhưng...” anh lắp bắp, ngượng chín cả mặt.

“Chính cha xứ cũng dạy ta phải kính người trên. — Nào Kuba, uống mừng cho ta với anh hiểu nhau, rồi nghe tôi nói đây. Anh thừa biết kẻ làm công không phải là chủ ruộng. Ai cũng có chỗ của mình, Chúa đã định cho. Chúa Giêsu cũng đã cho anh chỗ của anh. Vậy hãy giữ lấy nó, đừng chen lên trước, đừng đặt mình cao hơn người khác, vì đó là tội nặng. Cha xứ cũng sẽ nói với anh y như vậy. Phải thế, chứ không thì thiên hạ chẳng còn trật tự gì. — Anh hiểu tôi chứ?”

“Tôi có phải con vật đâu, nói gì tôi cũng hiểu.”

“Vậy thì liệu mà đừng đặt mình cao hơn ai.”

“Nhưng tôi chỉ muốn được gần bàn thờ Chúa hơn thôi mà!”

“Anh ở xó nào Chúa cũng nghe thấy anh: chẳng phải sợ. Vả lại, sao phải chen vào giữa đám đứng đầu, khi ở đây ai cũng biết anh?”

“Ông nói phải, phải lắm. Nếu tôi là chủ ruộng, tôi đã khiêng tán, đỡ cha xứ, ngồi trên ghế dài mà hát to theo sách. Nhưng,” anh thở dài kết luận, “chỉ là kẻ làm thuê — dù là con nhà nông, ông nhớ cho! — thì phận tôi là đứng ở tiền sảnh, hay ngoài hiên, như con chó.”

“Khắp thiên hạ đã định vậy, anh có nghĩ ngợi cũng chẳng đổi được.”

“Chắc chắn là tôi chẳng đổi được.”

“Làm thêm hớp nữa đi, Kuba, rồi nói xem anh muốn tăng công bao nhiêu.”

Kuba làm một hớp rượu. Bấy giờ đã ngà ngà, anh bỗng thấy như đang ở quán rượu, bên cạnh là Michael (người ở nhà ông chơi đàn nhà thờ) hay một bạn nhậu nào đó, kẻ mà anh có thể nói năng thoải mái, vui vẻ, ngang hàng. Thế là anh cởi một hai cúc áo khoác, duỗi thẳng chân, đấm tay xuống ghế mà kêu lên:

“Thêm bốn rúp giấy, với một đồng bạc nữa, là tôi ở lại với ông!”

“Anh say hay hoá rồ rồi, tôi chắc thế,” Boryna phản đối; nhưng Kuba, giờ đã hăng hái đuổi theo cái mình muốn và hằng mơ, chẳng nghe thấy lời ông chủ. Trí tưởng tượng của anh không còn giữ nổi nữa, đầu óc anh bắt đầu chắp cánh, lòng tự tin lớn dần lên, và anh thấy mình oai vệ, bề thế chẳng kém một chủ ruộng nào.

“Phải. Thêm bốn rúp giấy, với một đồng nữa làm tiền cọc, là tôi ở lại. Bằng không thì, mẹ kiếp! tôi ra chợ. Ở đấy tôi kiếm được chỗ làm, chí ít cũng làm xà ích cho một dinh điền nào đó. Người ta biết tôi — biết tôi thật thà, biết tôi làm được mọi việc nhà nông, ngoài đồng hay trong nhà; khối chủ ruộng còn phải học tôi khối thứ, cái cách tôi chăm nom gia súc ấy. — Hoặc không thì... Tôi biết bắn súng, kiếm chim cho cha xứ, hay cho Yankel... Hoặc không thì...”

“Coi kìa!” ông già gầm lên; “xem cái thằng thọt kia nhảy nhót oai chưa kìa!”

Câu sỉ nhục làm Kuba tỉnh hẳn rượu, lôi anh ra khỏi những giấc mơ. Anh không nói thêm gì về những việc mình làm được nữa; nhưng vẫn khăng khăng giữ lấy điều đã nói. Boryna đành nhượng từng nửa rúp, từng đồng _zloty_ một, cuối cùng chịu tăng cho anh ba rúp, và hai cái áo sơ mi thay cho tiền cọc.

“Ái chà! Chà! anh cũng ghê gớm thật!” ông nói, trong lúc cùng anh uống rượu chốt thoả thuận, tuy trong bụng bực vì phải chi nhiều thế. Dẫu vậy ông vẫn nghĩ Kuba đáng chừng ấy, mà còn hơn. Một người làm việc nặng bằng hai; lại thật thà từng ly từng tí, chăm con vật hơn chăm chính mình; hơn nữa, thông thạo nghề nông đến mức có thể tin cậy được, vừa tự làm tròn phận sự vừa trông chừng cho người khác làm cho phải.

Bàn xong hai ba chuyện lặt vặt, Kuba toan đi ra. Nhưng đến cửa, anh quay lại, giọng ngập ngừng:

“Vậy là giao kèo xong: ba rúp với hai cái áo sơ mi. Nhưng... nhưng... Tôi xin ông, đừng bán con ngựa non. Tôi đã đỡ nó ra đời, đã trải áo da cừu lên người nó cho khỏi chết rét... Tôi không chịu nổi nếu thấy nó bị hành hạ, mà lại vào tay một người Do Thái nữa!... Con ngựa ngoan lắm, con người chẳng bằng nó đâu... Xin ông đừng bán nó!”

“Tôi có bao giờ nghĩ đến chuyện ấy đâu.”

“Người ta bàn tán ở quán rượu, tôi nghe thấy.”

“Quân chó ngứa mồm, rỗi hơi! Lúc nào chúng cũng biết rõ phải làm gì hơn ai.”

Kuba mừng đến nỗi, nếu dám, anh đã ôm lấy đầu gối ông chủ. Anh vội vã đi ngủ, vì đã khuya, mà mai lại có phiên chợ.

* * * * *

Hôm sau, gà chưa gáy đến lần thứ hai mà mọi nẻo đường lớn đường nhỏ dẫn về Tymov đã chật ních người kéo nhau đi.

Gần sáng đã đổ một trận mưa lớn. Phía đông trời hé chút quang, nhưng bầu trời vẫn hăm doạ, mây xám nâu từng đám. Trên những cánh đồng trũng, sương mù bò lan, ướt rượi và xám như tấm bố thô; còn các lối đi thì loang loáng vũng nước.

Họ rời Lipka từ lúc tinh mơ.

Suốt con đường trồng dương từ sau nhà thờ chạy mãi tới bìa rừng là một dãy xe bò lăn chậm, chiếc nọ sát chiếc kia; hai bên đường loang lổ những hàng váy đỏ và áo choàng trắng.

Người đông đến nỗi tưởng như cả làng đều đổ ra đấy.

Những nhà nông nghèo thì đi bộ; đàn bà, người ở, con gái cũng vậy. Cả mấy kẻ làm thuê và thợ quèn cũng thế, vì đây là phiên chợ người ta đi ở hoặc đổi chủ.

Kẻ đi mua, người đi bán, lại có kẻ đi chỉ để xem chợ cho vui.

Người này dắt dây thừng con bò hay con bê lớn; người kia lùa trước mặt một đàn cừu vừa xén lông; kẻ nọ lẽo đẽo sau con lợn nái với bầy con, hay một lũ ngỗng trắng bị trói cánh; kẻ khác lóc cóc cưỡi con ngựa còm đi qua; còn dưới nhiều vạt tạp dề thì thò ra cái mào đỏ của con gà trống.—Xe bò, xe kéo cũng chất đầy có ngọn. Lắm khi từ trong sọt và rơm trên một chiếc xe, cái mõm lợn thò ra kêu eng éc inh ỏi, đến nỗi bầy ngỗng hoảng hốt quang quác, và lũ chó chạy theo hầu chủ ra chợ cũng đồng thanh sủa ran.

Nhưng ông Boryna thì mãi tới lúc trời sáng hẳn, mây quang hết, mới ra khỏi nhà. Hanka với Yuzka đã đi trước ông từ tang tảng sáng, mang theo con lợn nái và con lợn béo; còn Antek chở trên xe mười bao lúa mì và năm mươi cân hạt cỏ ba lá đỏ. Chỉ mình Kuba ở lại nhà, cùng thằng Vitek và bà lão Yagustynka được thuê đến nấu cơm và vắt sữa bò.

Thằng Vitek thèm đi chợ, đứng ngoài chuồng bò khóc nhè ầm ĩ.

“Thằng ngốc ấy làm sao thế?” ông Boryna càu nhàu; rồi làm dấu thánh giá, ông cất bước đi bộ, bụng nghĩ dọc đường thế nào cũng có người cho quá giang. Mà quả đúng vậy; vừa qua khỏi quán rượu thì người chơi đàn nhà thờ đánh chiếc britzka hai con ngựa béo tốt đuổi kịp ông.

“Kìa, ông Matthias, đi bộ đấy à?”

“Ừ, duỗi cẳng tí.—Ngợi khen Chúa Giêsu Kitô!”

“Đời đời chẳng cùng!” vợ người chơi đàn đáp. “Ông trèo lên đây, còn chỗ mà.”

“Cảm ơn bà nhiều. Tôi cũng định đi bộ, nhưng các cụ có câu: ‘Ngồi xe thì bụng dạ lúc nào cũng vui.’”—rồi ông ngồi xuống ghế trước, quay lưng về phía ngựa.

“Thế cậu Yanek dạo này không đi học à? Sao vậy?” ông hỏi cậu thiếu niên đang cầm cương, ngồi đằng trước cạnh người làm.

“Ồ, cháu chỉ về chơi chợ phiên thôi ạ!” cậu cất tiếng đáp. Cậu là con trai người chơi đàn. Ông bố gõ gõ cái hộp chìa sang cho Boryna: “Thuốc hít Pháp đấy, ông làm một nhúm.” Cả hai cùng hít, rồi cùng hắt hơi một cách trịnh trọng.

“Nào, dạo này ông làm ăn ra sao? Hôm nay có bán gì không?”

“Chẳng đáng bao nhiêu. Lúa mì gửi đi trước rồi, còn con lợn thì hai đứa con gái dắt đi.”

“Thế là khá, khá lắm chứ!” bà vợ reo lên. “Yanek, quàng cái khăn này vào, trời lạnh đấy.”

“Ôi, con không sao đâu,” cậu đáp; nhưng bà nhất định bắt cậu quàng vào.

“Nhưng mà,” ông Boryna phân trần, “bà thử nghĩ đến các khoản tiêu pha của tôi mà xem; thu chẳng đủ bù chi.”

“Ông Matthias, ông đừng kêu; kêu sao được. Tạ ơn Chúa, ông có của ăn của để.”

Boryna không ưa bị dạy dỗ như thế trước mặt một người làm thuê, liền vội chồm người tới, thì thầm:

“Cậu Yanek còn phải học lâu nữa không?”

“Chỉ đến lễ Phục sinh thôi.”

“Rồi sau đó? Cậu ấy ở nhà hay ra làm việc nhà nước?”

“Ông ơi, nó ở nhà thì làm gì? Nhà tôi con đàn con đống, mà ruộng vẻn vẹn mười lăm mẫu. Thời buổi lại khó khăn—khó như đá!—Rửa tội thì nhiều thật đấy; nhưng chúng tôi được cái gì nào?”

“Bù lại,” Boryna nói kháy, “đám ma thì chẳng thiếu.”

“Đám ma thì được gì? Chỉ có người nghèo là chết. Đám tang một nhà nông, thứ thật sự đáng đồng tiền với chúng tôi, cả năm được một hai bận là cùng.”

“Lễ khấn cũng vậy,” bà thêm vào, “càng ngày càng thưa, mà người ta còn mặc cả như dân Do Thái!”

“Ấy là vì thời buổi khó khăn, dân tình nghèo túng,” Boryna cắt nghĩa.

“Cũng còn vì bây giờ người ta ít nghĩ đến phần rỗi linh hồn mình, và đến bổn phận cứu giúp các linh hồn nơi luyện ngục!”

Người chơi đàn nói thêm: “Mà các dinh điền cũng cho ít đi hẳn. Ngày trước, mỗi bận chúng tôi đi vòng quanh mùa gặt, hay đem bánh thánh đi biếu, hay dịp lễ Giáng sinh, hay khi lập lại sổ giáo dân, là cứ thẳng lên dinh điền, ở đấy người ta chẳng tiếc chúng tôi hạt lúa, đồng tiền, hay đấu bột làm bánh. Còn bây giờ thì, lạy Chúa tôi! ai nấy keo kiệt đến nỗi có cho một bó lúa mạch đen nhỏ thì cũng là bó chuột gặm; có cho một đấu yến mạch thì quá nửa là trấu. Không có mảnh ruộng thì chúng tôi đến phải đi ăn xin,” ông kết luận, chìa hộp thuốc hít sang cho Boryna.

“Phải, phải,” ông kia đáp, tuy chẳng tin lấy một lời. Ông thừa biết người chơi đàn có tiền, một ít gửi nhà băng, một ít cho vay lấy lãi, mà cho đám người ở vay thì lãi hời lắm. Vậy nên nghe những lời than vãn ấy ông chỉ cười, rồi lại hỏi về cậu Yanek.

“Ông định cho cậu ấy làm thầy ký nhà nước à?”

“Nó ấy à? Yanek nhà tôi mà đi làm công chức? Tôi nhịn ăn nhịn mặc vì nó chẳng phải để thằng bé chỉ học cho hết mấy lớp. Không, không; nó sẽ làm linh mục.”

“Sao, làm linh mục?”

“Ừ, sao lại không? Nó có thiệt gì đâu? Làm linh mục thì hại đến ai nào?”

“Chẳng ai. Chẳng ai cả, hẳn rồi,” ông thong thả đáp, ngoái đầu nhìn cậu thanh niên với vẻ kính nể. “Vinh dự đấy chứ. Vả lại, các cụ vẫn nói: ‘Họ hàng nhà cha xứ chẳng bao giờ đói.’”

“Người ta bảo cậu Staho, con lão chủ cối xay, cũng vào chủng viện; nhưng nghe đâu giờ nó học trường lớn, học làm thầy thuốc.”

“Chao ôi! Cái ngữ chơi bời ấy mà làm linh mục! Con Magda ở nhà tôi chửa sáu tháng rồi—của nó đấy!”

“Người ta bảo là của thằng người làm bên cối xay.”

“Không đâu. Mẹ nó nói thế, chẳng qua để che cho nó. Ôi, cái quân trác táng!... Lạy Chúa tôi!... Làm thầy thuốc thì hợp với nó lắm.”

Boryna nói: “Phải, phải, ơn gọi làm linh mục là hơn cả,” rồi cứ thế chiều lòng bà, khéo léo ngồi nghe bà kể chuyện làng chuyện xóm, trong khi người chơi đàn luôn tay nhấc mũ, đáp “Đời đời chẳng cùng!” với những người chào dọc đường. Xe chạy nước kiệu ngon lành; Yanek đánh xe cừ lắm, luồn lách giữa những xe bò, người và gia súc trên đường, mãi tới khi vào tới rừng, chỗ ít chen chúc hơn và đường rộng hơn.

Ở đấy họ đuổi kịp bà Dominikova, đi cùng Yagna và Simon, con bò buộc sừng vào sau xe, còn trên xe thì mấy cái cổ ngỗng trắng thò ra, rít lên như một lũ rắn độc.

Họ chào nhau, và khi hai chiếc xe đi ngang nhau, ông Boryna còn chồm cả người tới mà nói: “Bà đi thế này thì trễ chợ mất!”

“Ôi dào, còn khối thì giờ!” Yagna cười đáp.

Khi xe đã vượt qua, cậu con trai người chơi đàn mấy lần ngoái lại nhìn cô, sau cùng hỏi:

“Đấy là Yagna con bà Dominikova phải không ạ?”

“Chính nó,” Boryna đáp, mắt vẫn dõi theo cô, giờ đã lùi lại khá xa.

“Cháu không dám chắc: đã hai năm có lẻ cháu không gặp cô ấy.”

“Chà, dạo ấy nó còn đi chăn bò. Còn trẻ măng; mà đã nở nang như con bê tơ nuôi bằng cỏ ba lá.”

“Ừ, ừ; xinh xắn thật; đẹp người đến nỗi tuần nào cũng có người mang rượu vodka đến—kèm lời dạm hỏi.”

“Nhưng nó chẳng ưng đám nào. Bà già ấy nghĩ,” vợ người chơi đàn thì thầm đầy ác ý, “rằng thế nào cũng có một ông quản điền đến hỏi, rồi đuổi hết đám nhà quê đi.”

“Chà, làm vợ một chủ ruộng ba mươi lăm mẫu thì nó cũng xứng đấy chứ.”

“Ôi ông Matthias, nếu ông khen con bé đến thế thì tự ông cho người đi dạm hỏi nó đi,” bà cười nói. Từ đó Boryna không nói thêm một lời nào.

“Quân vô lại tỉnh thành, đến đây làm ông to bà lớn—cái ngữ chui xuống đuôi con gà nhà quê nào cũng ngó xem có trứng cho mình không—cái ngữ moi tiền trong nắm tay mọi thằng nhà quê—mà dám giễu cợt tao, một người sinh ra đã là nhà nông! Để yên cho con Yagna!” Ông nghĩ thế, rồi trân trân nhìn ra phía trước, bụng dạ bực bội hết sức, nhìn chiếc xe nhà Dominikova sáng lên những mảng tạp dề vắt trên khăn trùm đầu, giờ đang tụt lại sau rất nhanh; vì Yanek quất ngựa hăng quá, vó ngựa xoáy thành những hố lớn trong bùn.

Bà ta vẫn nói tiếp, nhưng vô ích. Boryna chỉ gật đầu, hoặc ậm ừ trong miệng, và nhất định không thốt ra lấy một lời nào.

Và xe vừa lăn tới mặt đường lát đá gồ ghề không tả nổi của cái thị trấn nhỏ, ông liền nhảy xuống, cảm ơn đã cho đi nhờ.

“Chừng nhá nhem tối chúng tôi mới về,” bà nói, rồi hỏi ông có muốn về cùng không.

“Cảm ơn bà nhiều lắm,” ông đáp, “nhưng tôi có ngựa nhà. Người ta lại đàm tiếu—bảo tôi đang xin vào chân kéo bễ đàn hay chân phụ lễ; mà tôi thì hát chẳng nổi một nốt, cũng chẳng biết cầm cái chụp tắt nến!”

Xe họ rẽ xuống một phố nhỏ, còn ông rảo bước lên một phố lớn, cho tới khi ra tới khu chợ. Đây là phiên chợ hạng nhất, phố xá đã khá đông nghịt. Mọi đường lớn, quảng trường, ngõ hẻm và sân trong đều chật người, xe cộ và đủ thứ nông phẩm, như một trận lụt mà những dòng sông người không ngừng đổ vào, sóng dồn đặc quánh qua các ngõ hẹp, tưởng như sắp xô đổ cả nhà cửa, cho tới khi tràn ra quảng trường lớn cạnh tu viện. Trên đường vào thị trấn bùn còn tương đối ít; nhưng ở đây, bị hàng nghìn bàn chân giẫm đạp nhào nát, bùn ngập đến mắt cá, từ dưới bánh xe bắn tung toé tứ phía.

Mỗi lúc tiếng ồn một lớn. Chẳng nghe rõ được gì ngoài tiếng bò rống lên từng chặp, tiếng đàn thùng quay theo vòng ngựa gỗ, tiếng rền rĩ nhức óc của mấy gã _Dziads_, hay tiếng còi chói tai của đám thợ đan sọt.

Quả là một phiên chợ rất lớn, đông đến nỗi khó lòng lách lên phía trước; và đến lúc Boryna tới được quảng trường chính thì ông phải lấy sức mà đẩy, mà thúc cùi chỏ mở lối giữa các quầy hàng.

Còn hàng họ bày ở đấy thì thôi! Kể không xiết, nghĩ cũng không ra. Vậy thì tả sao cho nổi?

Trước hết là những rạp vải bạt cao lênh khênh dựng thành hai dãy trước tu viện, toàn bán đồ cho đàn bà: những tấm vải lanh, những chiếc khăn trùm treo trên sào, đỏ chói như hoa anh túc, nhìn nhức cả mắt; rồi ngay bên cạnh, một rạp khác cũng treo ngần ấy thứ hàng, nhưng vàng rực một màu vàng tinh khiết nhất; rồi lại một rạp nữa, đỏ thẫm màu củ dền... Nhưng ai mà nhớ hết được từng ấy thứ?

Con gái, đàn bà đứng chen chúc đặc nghịt đến nỗi, như người ta vẫn nói, chẳng còn kẽ hở mà cắm cái que vào—kẻ mặc cả, người chọn lựa; lại có kẻ chỉ đứng ngó, mắt thèm thuồng nhìn những thứ đẹp đẽ ấy!

Xa hơn nữa là những quầy rực lên toàn hạt cườm, gương soi, đồ trang kim, ruy băng và hoa—xanh, vàng, đủ màu đủ sắc—lại cả mũ nón nữa... và có Chúa mới biết còn những gì!

Chỗ khác, những người bán ảnh thánh bày ảnh trong khung kính mạ vàng, sáng rực rỡ đến nỗi (dẫu chỉ dựng dọc tường hay đặt ngay dưới đất) không ít bác nhà quê phải ngả mũ mà làm dấu thánh giá.

Boryna mua cho Yuzka chiếc khăn ông đã hứa hồi mùa xuân, rồi lui ra, chen lên phía chợ lợn bên kia tu viện. Ông đi rất chậm, vừa vì chen chúc kinh khủng, vừa vì bao nhiêu thứ hay mắt bày ra trước mặt.

Chẳng hạn, đám thợ làm mũ dựng những chiếc thang rộng trước cửa hàng, trên đó treo mũ từ trên xuống dưới.

Đám thợ đóng giày thì lấy giá gỗ và sào ngang dựng thành hẳn một con ngõ, trên treo lủng lẳng những hàng ủng dài vô tận, móc bằng quai: có đôi loại thường—màu nâu vàng, chỉ cần bôi mỡ cho khỏi ngấm nước; có đôi bóng lộn nước xi như đánh véc ni; có đôi ủng đàn bà, gót cao, dây đỏ, đánh bóng đẹp đẽ.

Xa hơn nữa là các sạp yên cương, lộng lẫy những vòng cổ ngựa và bộ dây thắng treo thành chuỗi trên vô số cọc móc.

Rồi đến gian hàng của thợ bện thừng, của những người bán lưới, và của mấy tay bán sàng rong; của những kẻ lấy nghề đi hết chợ phiên này sang chợ phiên khác bán hạt tấm; rồi của thợ đóng bánh xe và thợ thuộc da.

Chỗ khác, thợ may và thợ da lông bày hàng của mình, hàng của cánh sau nồng lên mũi mùi hương liệu dùng ướp giữ; và bởi mùa đông đã tới gần, họ chẳng thiếu khách.

Sau đó là những dãy bàn che dưới mái bạt, bày các cuộn dồi khổng lồ màu nâu đỏ, to bằng dây neo tàu; rồi từng đống mỡ vàng và mỡ nước, những tảng ba chỉ xông khói nâu sẫm, nguyên cả sườn lợn muối béo ngậy, và giăm bông hàng mấy chục cái, chất cao thành tầng thành lớp: còn ở các sạp khác, nguyên con lợn được móc treo lên, phanh rộng, há hoác, máu rỏ nhiều đến nỗi chó xúm cả lại, phải xua mới chịu đi.

Sát cạnh hàng thịt là các bạn nghề bên lò bánh; trên những lớp rơm dày, trên xe, trên bàn và trong sọt, và ở bất cứ chỗ nào đặt được, chất những đống bánh mì to tướng, mỗi ổ lớn bằng bánh xe bò nhỏ. Lại có cả bánh ngọt phết lòng đỏ trứng vàng óng; và bánh cuộn nhỏ, cùng bánh cuộn lớn nữa.

Sạp bán đồ chơi cũng chẳng thiếu. Có thứ làm bằng bánh mật, nặn hình đủ loại thú vật, hình lính tráng, hình trái tim — và những hình thù kỳ quặc chẳng ai đoán nổi nghĩa. Ở sạp khác thì thấy lịch, sách kinh, truyện kể về bọn cướp và những _Magielon_[13] hung tợn; ở sạp nữa thì bán còi rẻ tiền, khẩu cầm, chim đất nung biết hót, cùng mấy thứ nhạc cụ tương tự, mà đám “Do Thái ranh ma” bán chúng khua lên một trận ầm ĩ khó lòng chịu nổi; bởi chim thì ríu rít, kèn thì rúc, còi thì rít lanh lảnh kéo dài, chốc chốc mấy cái trống con lại góp vào, gõ dồn một hồi: náo loạn đến vỡ đầu người ta ra được.

-----

Chú thích 13:

_Magielon_, có lẽ từ chữ “Magellan”, chỉ một kẻ phiêu lưu ngang tàng, nhân vật chính trong dăm ba truyện hào hiệp liều mạng.—_Chú thích của người dịch._

Còn ở giữa quảng trường chợ, dưới hàng cây, thợ đóng thùng, thợ thiếc và người bán đồ sành họp thành một cụm riêng. Nồi niêu, chảo, siêu, âu bát nhiều đến mức lách qua được chẳng phải chuyện dễ. Bên kia là chỗ thợ mộc, phô ra giường và rương sơn màu, tủ áo, những chồng giá kệ, và bàn.

Rồi thì khắp nơi — trên xe, dọc chân tường, dưới rãnh nước, tóm lại là chỗ nào lọt được thì chỗ ấy — các bà bán hàng ngồi: nào hành bó thành xâu hay đựng trong sọt; nào vải vóc và váy lót tự tay khâu lấy; nào trứng, phô mai, nấm, những bánh bơ hình thuôn dài gói trong khăn vải. Người thì có khoai bán, người thì đôi ngỗng, hay con gà đã vặt lông mổ ruột; người khác nữa thì có sợi lanh chải mịn, hay từng con chỉ lanh se sẵn. Ai nấy ngồi bên hàng của mình, chuyện trò vui vẻ với người bên cạnh, như thói thường của thiên hạ giữa chợ phiên. Và khi có người mua tới, họ mặc cả lặng lẽ, đường hoàng, thong thả, đúng kiểu nhà quê tử tế: chứ không như đám Do Thái kia, cãi vã, la hét, xô đẩy nhau, cứ như mất trí cả rồi.

Giữa xe cộ và lều quán, đây đó thấy khói cuộn lên từ những cái lò tôn. Chỗ này bán trà nóng. Chỗ khác có đồ ăn: dồi rán, bắp cải, _barszcz_[14] và khoai luộc.

-----

Chú thích 14:

_Barszcz_—đọc là “barshch”—một món canh nấu từ củ dền muối chua.—_Chú thích của người dịch._

Chỗ nào cũng lúc nhúc từng đàn _Dziads_: kẻ mù, kẻ què, kẻ câm; người cụt tay, người cụt chân: hệt như trong ngày hội làng. Họ kéo các khúc thánh ca trên mấy cây vĩ cầm con con cầm nơi tay, hoặc hát bài đạo, xóc lanh canh mấy đồng tiền trong bát gỗ. Từ chân tường nhà, từ giữa đám xe, từ mặt đường lầy bùn, tất cả đều tới ăn xin rụt rè, nài nỉ chút tiền hay chút của.

Ông Boryna ngắm hết thảy những thứ ấy, lắm khi ra chiều thán phục, vừa đi vừa trao đổi dăm câu với người quen gặp dọc đường. Cuối cùng ông tới chợ lợn, nằm bên kia tu viện: một khoảng đất cát rất rộng, lác đác vài nếp nhà. Sát bức tường vườn tu viện, dưới bóng nhiều cây sồi lớn vươn cành qua tường, lá khô còn bám đầy, tụ lại khá đông người và xe, cùng vô số lợn đem ra phiên chợ bán.

Ông sớm nhìn thấy Hanka và Yuzka đứng ở rìa đám đông.

“Bán được chưa, hử?”

“Ôi, mấy ông hàng thịt tới trả giá con lợn nái rồi ạ; nhưng họ trả rẻ quá.”

“Lợn có được giá không?”

“Được giá gì. Lợn đem ra thì lắm, người mua lại quá ít.”

“Có ai ở Lipka không?”

“Nhà Klemba đem ra mấy con lợn choai; với cả Simon, con bà Dominikova, cũng có một con.”

“Thôi, bán cho nhanh, còn đi chơi chợ.”

“Chờ mãi cũng đủ chán rồi ạ.”

“Con nái họ trả bao nhiêu?”

“Ba mươi rúp giấy. Họ bảo lợn nuôi không béo; xương thì to mà chẳng có tí mỡ nào.”

“Nói láo hết chỗ nói! Mỡ dày bốn ngón tay đây này!” ông kêu lên, tay nắn lưng nắn sườn con nái. “Con lợn choai thì sườn chưa có mỡ, nhưng đùi nó đầy đặn ra phết,” ông nói thêm, lùa nó ra khỏi vũng cát ướt nơi nó đang đằm, vùi lấp nửa mình.

“Bán ba mươi lăm. Cha tạt qua chỗ thằng Antek đã, rồi quay lại ngay.—Các con có muốn ăn gì không?”

“Bánh mì mang theo ăn hết rồi ạ.”

“Cha mua thêm cho khúc dồi. Chỉ cần bán lợn được giá.”

“Cha ơi, cha có tính mua cho con cái khăn cha hứa từ mùa xuân không?”

Ông Boryna đưa tay vào trong ngực áo, nhưng dừng lại, như chợt nghĩ ra điều gì, rút tay ra, khoát một cái, chỉ nói:

“Sẽ có, Yuzka ạ.”

Ông đi ngay tức thì, vì vừa thoáng thấy khuôn mặt Yagna giữa đám xe; nhưng chưa tới nơi thì cô đã biến mất, tìm đâu cũng chẳng thấy. Thế là ông đi tìm Antek: chuyện chẳng dễ, bởi con đường từ chợ lợn ra quảng trường lớn chật ních xe, chiếc nọ nối chiếc kia, mấy chiếc lại dàn ngang, đánh xe qua được phải hết sức cẩn thận và vất vả.

Vậy mà ông vấp phải anh ngay, đang ngồi trên mấy bao lúa mì, quất roi xua đàn gia cầm của người Do Thái cứ chạy lăng quăng quanh những túi thức ăn ngựa đang ăn dở, miệng thì đáp cộc lốc với đám mặc cả.

“Tôi nói bảy là bảy.”

“Sáu rưỡi thôi: lúa hỏng rồi.”

“Đồ chó ghẻ! Ông mà giáng cho một quả vào cái mặt xấu ma chê ấy thì mới gọi là hỏng: chứ lúa của ông thì tốt hết chỗ tốt.”

“Có thể; nhưng nó ẩm.... Tôi lấy theo đấu, sáu rúp năm _zloty_.”

“Không. Cân, và bảy.—Đã nói là nói.”

“Nhưng bác nông dân ơi, việc gì mà nóng? Mua hay không mua thì cũng cứ được phép mặc cả chứ.”

“Thì cứ mặc cả đi, nếu thấy vui.” Rồi anh chẳng thèm để ý đến đám Do Thái nữa, cứ mở hết bao nọ đến bao kia mà xem lúa.

“Antek, tao sang chỗ thầy ký một lát. Nhoáng cái là về.”

“Sao? Đem cái đơn kiện nhà dinh điền ấy à?”

“Chứ mày tưởng người ta xử tệ với tao mà tao chịu nhịn à?”

“Cứ tóm lấy thằng gác rừng, trói vào gốc thông, nện cho sườn nó kêu răng rắc: thế mới là công lý!”

“Ừ, đáng đời nó lắm; nhưng nhà dinh điền cũng phải chịu phần của họ,” ông đáp, giọng rắn đanh.

“Đưa đây một _zloty_.”

“Để làm gì?”

“Uống hớp rượu, ăn miếng gì.”

“Lúc nào cũng chực nhòm vào hầu bao của cha! Mày không có đồng nào riêng à?”

Antek nổi khùng, quay lưng lại với cha, huýt sáo giễu cợt; còn ông già, dẫu rất miễn cưỡng, cũng rút một _zloty_ đưa cho anh.

“Phải rồi; đổ máu ra đúc thành tiền, rồi đem cho thiên hạ hết!” ông nghĩ bụng, vừa chen tới quán rượu lớn ở góc phố, nơi khách kéo đến ăn đông nghịt. Thầy ký ở trong một căn buồng con ngoài sân sau. Chỉ độc manh áo sơ mi, chưa rửa ráy, đầu tóc bù xù, nhưng miệng ngậm điếu xì gà, lúc ấy y đang ngồi bên chiếc bàn kê sát cửa sổ.—Trên tấm nệm ở góc buồng có một người đàn bà nằm, đắp cái áo khoác dày.

“Ngồi xuống đi, bác!” Y hất mấy manh quần áo trên ghế xuống sàn rồi mời ông Boryna ngồi; ông liền kể tường tận đầu đuôi câu chuyện.

“Chắc như kinh Lạy Cha kết bằng chữ Amen, bác sẽ được xử thắng! Chao! Bò thì chết, thằng bé thì sợ đến sinh bệnh! Thế nào cũng thắng!” Y xoa hai tay, đảo mắt trên bàn tìm tờ giấy.

“Nhưng thằng bé có sao đâu.”

“Thì cũng vậy thôi, nó có thể đổ bệnh chứ: thằng gác rừng đánh nó mà.”

“Không phải nó, mà là thằng chăn bò nhà hàng xóm.”

“Tiếc thật; thế thì lại còn hay hơn. Nhưng ta cứ viết sao cho nghe ra là bò đã chết mà thằng bé cũng đổ bệnh. Cho nhà dinh điền è cổ ra mà trả!”

“Đúng thế. Tôi chẳng muốn gì ngoài lẽ công bằng.”

“Tôi thảo đơn cho bác ngay đây.—Franka, con lười kia!” y quát, đá vào người đàn bà nằm trên nệm mạnh đến nỗi ả phải ngóc cái đầu bù xù lên. “Đi lấy vodka với cái gì ăn về đây!”

“Tôi chẳng có lấy một kopek, Gutek ạ; mà chịu nợ thì người ta không cho đâu, mình biết rồi đấy,” ả càu nhàu, rồi ngồi dậy khỏi chỗ nằm bừa bộn, ngáp và vươn vai. Ả là một người đàn bà to lớn, mặt mũi kiểu dân bợm rượu, thâm tím và húp híp, mà giọng thì mảnh và the thé như trẻ con.

Thầy ký bắt tay vào việc, ngòi bút sồn sột trên giấy. Y rít xì gà, phà khói vào mặt ông Boryna đang ngồi nhìn. Chốc chốc y lại ngừng, xoa đôi bàn tay lấm tấm tàn nhang và ngoái cái mặt hốc hác đầy mụn về phía Franka. Y để bộ ria đen rậm; răng cửa gãy, môi tím ngắt.

Lá đơn chẳng mấy chốc đã xong. Mất một rúp, thêm một rúp nữa tiền tem; và y nhận đem nộp lên toà lấy thêm ba rúp.

Ông Boryna sẵn lòng chịu mọi khoản ấy, đinh ninh rằng dinh điền rồi sẽ phải trả lại hết, lại còn phải đền nặng nữa.

“Trên đời phải có công lý chứ!” ông kêu lên lúc ra về.

“Toà xã mà không thắng thì ta lên Hội đồng; Hội đồng không xong thì lên toà huyện, rồi lên Viện phán xử: tôi quyết không lùi.”

“Cái của tôi, cớ gì tôi phải bỏ?” ông nói, gan lì dữ dội. “Mà bỏ cho ai? Cho cái nhà dinh điền ấy, chủ của rừng và ruộng bát ngát không cùng ấy à? Không đời nào!”

Đầu ông đầy những ý nghĩ như thế khi bước ra quảng trường chợ: nhưng vừa qua khỏi dãy sạp bán mũ, ông gặp Yagna.

Cô đứng đó, đầu đội một chiếc mũ xanh thẫm, đang mặc cả một chiếc khác.

“Ông Matthias xem này! Cái lão ‘vàng khè’[15] này cứ bảo tôi đây là mũ tốt: nhưng chắc lão nói dối thôi.”

-----

Chú thích 15:

_Vàng khè._—Biệt danh nông dân đôi khi dùng để gọi người Do Thái.—_Chú thích của người dịch._

“Mũ đẹp đấy chứ. Mua cho thằng Andrew hả?”

“Vâng: mũ của Simon thì mua rồi.”

“Có bé quá với nó không?”

“Đầu nó bằng đầu tôi thôi.”

“Cô mà làm thằng chăn ngựa thì phải biết là bảnh!”

“Chứ lại không à?” cô reo lên, ra vẻ nghênh ngang, đội lệch chiếc mũ sang một bên.

“Tôi thuê cô về hầu việc ngay tắp lự!”

“Chỉ e giá công của tôi cao quá thôi.” Cô cười.

“Với người khác thì có thể; với tôi thì không.”

“Nhưng tôi thì chẳng làm lụng ngoài đồng đâu.”

“Ôi, tôi sẽ làm thay cho cô hết, Yagna à!” ông thì thầm, và cái nhìn ông ném về phía cô nồng nàn đến nỗi cô lùi lại, bối rối, rồi trả tiền chiếc mũ mà chẳng buồn mặc cả.

“Cô bán bò rồi chứ?” lát sau ông hỏi cô, khi đã làm chủ được mình hơn, đã dằn xuống được cái cảm giác vừa bốc lên đầu đột ngột như rượu mạnh.

“Vâng, người ta mua cho cha xứ ở Yerzov. Mẹ tôi đi với người chơi đàn nhà thờ, ông ấy đang muốn thuê một người làm ruộng.”

“Vậy thì ta đi làm một ngụm rượu ngọt với nhau đi.”

“Ông nói gì cơ?”

“Cô lạnh rồi đấy, Yagna; uống vào cho ấm người.”

“Đi uống rượu với ông ư?... Tôi biết đi đâu bây giờ?”

“Thế thì, Yagna, để tôi mang ra đây, ta uống với nhau ở đây vậy.”

“Ông có lòng thì Chúa trả công cho ông, nhưng tôi phải đi tìm mẹ tôi.”

“Yagna, để tôi giúp cô tìm bà ấy,” ông thì thầm rất khẽ, rồi đi lên trước, lấy khuỷu tay rẽ đám đông mạnh đến nỗi cô lách qua dễ dàng. Nhưng khi hai người đứng trước những quầy vải, cô gái đi chậm lại, rồi dừng hẳn, mắt sáng lên vì thích thú trước bao thứ bày ra trước mặt.

“Ôi, đẹp quá là đẹp! Lạy Chúa, lạy Chúa lòng lành!” cô lẩm bẩm, dừng lại trước những dải ruy băng treo trên đầu, phất phơ trong gió như một cầu vồng động đậy và rực lửa.

“Cô thích cái nào nhất thì chọn đi, Yagna!”

“Ơ hay, cái dải vàng thêu hoa kia hẳn phải một rúp, có khi tới mười _zloty_ ấy chứ!”

“Cô đừng lo chuyện ấy, cứ lấy đi.”

Nhưng Yagna — tiếc lắm, và phải cố lắm — vẫn buông dải ruy băng ra, rồi đi sang quầy bên cạnh: Boryna nán lại phía sau đôi ba khoảnh khắc.

Bây giờ mắt cô lại rơi vào những chiếc khăn vuông, những xấp vải may áo lót và áo khoác.

“Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi! Sao mà đẹp thế!” cô lẩm bẩm khe khẽ, ngợp trong cái hào nhoáng của tất thảy; và đã mấy lần cô vục đôi bàn tay run rẩy vào những nếp sa tanh xanh, sa tanh đỏ, cho đến khi mắt hoa lên và tim đập rộn ràng vì sung sướng.

Mà những chiếc khăn ấy trùm lên đầu thì đẹp làm sao! Lụa đỏ thắm, viền quanh thêu hoa xanh; hoặc vàng óng cả tấm; hoặc xanh thẫm như bầu trời sau cơn mưa! Còn những chiếc đẹp nhất trong đám thì màu sắc chuyển động lấp lánh, trong như nước ánh lên dưới nắng chiều, và nhẹ chẳng hơn tơ nhện bay!... Không, cô không nhịn được: cô phải trùm thử chiếc khăn ấy lên đầu, phải soi mình vào tấm gương mà bà chủ quầy người Do Thái đang chìa ra cho cô.

Phải, chiếc khăn hợp với cô đến hoàn hảo; nó như một vầng hào quang rực rỡ trên mái tóc vàng nhạt của cô, và làm màu thanh thiên thăm thẳm trong mắt cô ánh lên niềm vui mãnh liệt đến mức hoá tím giữa cái rạng rỡ của gương mặt. Người ta quay lại nhìn cô, cô đẹp đến thế, quanh mình toả ra thứ ánh sáng tươi trẻ khoẻ khoắn đến thế!

“Có phải con gái ông chủ điền nào cải trang đấy không?” họ thì thào với nhau.

Cô ngắm chiếc khăn hồi lâu, rồi thở dài một hơi thật sâu, bỏ nó xuống và bắt đầu mặc cả: chẳng phải định mua — chuyện ấy không thể — mà chỉ để được hưởng cái đẹp của nó lâu thêm chút nữa.

Nhưng rồi cơn nồng nhiệt của cô cũng nguội. Bà người Do Thái ra giá năm rúp! — Chính Boryna cũng gạt đi ngay.

Họ lại dừng trước những sạp hạt cườm. Bao nhiêu là chuỗi! Mà trông mới đẹp làm sao! Như thể cả cái sạp được rắc đầy đá quý: lóng lánh thế, rực rỡ thế! Quả thật khó mà rời mắt khỏi chúng — khỏi những hạt hổ phách vàng trong suốt, y như nặn bằng nhựa thơm; khỏi những giọt san hô như hạt máu xâu thành chuỗi; khỏi những hạt ngọc trai trắng to bằng quả phỉ; và khỏi những giọt bạc, giọt vàng kia nữa!

Yagna thử hết chuỗi này đến chuỗi khác, chọn lấy cái đẹp nhất. Cuối cùng cô nhìn thấy một chuỗi san hô rất đẹp, quàng bốn vòng quanh cổ, rồi quay sang ông già mà hỏi:

“Có hợp với tôi không? Ông nói thật đi.”

“Đẹp lắm, Yagna! — Nhưng hạt san hô thì tôi lạ gì. Trong cái hòm ở nhà tôi có một chuỗi tám hàng. Của nhà tôi ngày trước. Hạt nào cũng to bằng hạt đậu to nhất.” Ông nói với cô bằng giọng dửng dưng cố ý.

“Thế thì liên quan gì đến tôi, nếu nó chẳng phải của tôi?” Cô quăng trả chuỗi hạt rồi rảo bước đi, buồn bực và tấm tức.

“Yagna, ta ngồi xuống một lát đi.”

“Tôi phải đi tìm mẹ tôi.”

“Không lo bà ấy bỏ cô lại đâu.”

Hai người cùng ngồi xuống càng một cỗ xe.

“Phiên chợ lớn đấy,” Boryna nhận xét, đưa mắt nhìn quanh bãi chợ.

“Cũng không nhỏ,” cô đáp, ném một cái nhìn tiếc nuối về phía những sạp hàng đã bỏ lại sau lưng, rồi thở dài một hơi thật sâu. Im lặng một lúc; đoạn, cố rũ nỗi buồn đi, cô lên tiếng:

“Chà, sướng thật cho ai được làm chủ điền! Có lần tôi thấy con gái ông chủ điền ở Vola cùng mấy bà khác, mua sắm — phiên chợ nào cũng vậy — lắm thứ đến nỗi phải có người hầu khuân đi!”

“‘Năng đi chợ phiên thì của tiền cũng hết,’” Boryna nhận xét.

“Câu ấy chẳng phải để nói về họ.”

“Chừng nào họ còn vay được của người Do Thái thì không,” ông đáp, cay đắng đến nỗi Yagna trố mắt nhìn ông, chẳng biết đối lại thế nào. Ông nhìn ra chỗ khác, hạ giọng hỏi:

“Người ta đã đến hỏi cô cho thằng Michael, con lão Voytek, phải không?”

“Họ đến rồi lại về không. Cái thằng ngốc ấy mà cũng đòi đến hỏi tôi!”

Boryna vội đứng dậy, lấy trong ngực áo ra một chiếc khăn và một thứ gì đó bọc giấy.

“Cô giữ lấy cái này, Yagna; tôi phải đi tìm thằng Antek.”

Mắt cô sáng lên khi nghe cái tên ấy. “Anh ấy có ở chợ à?”

“Có; ở dưới cái ngõ kia, đang bán thóc. — Cô cầm lấy đi, Yagna, cái này của cô đấy,” ông nói thêm, thấy cô nhìn chiếc khăn bằng đôi mắt ngơ ngác.

“Ông cho tôi ư? Cho tôi — thật à? Ôi, đẹp quá!” Cô mở lớp giấy ra. Trong đó chính là dải ruy băng vừa nãy đã làm cô mê mẩn. “Ông nói thật đấy chứ?” cô kêu lên. “Sao ông lại cho tôi ngần này? Đắt lắm, mà chiếc khăn thì lụa nguyên đấy.”

“Cầm lấy, Yagna, cầm lấy, mua cho cô cả đấy. Với lại có gã nào đến mời rượu cô thì cô đừng uống đáp lại. Vội gì? — Thôi, tôi phải đi.”

“Những thứ này là của tôi thật à? Ông nói thật chứ?”

“Chứ tôi nói dối cô làm gì?”

“Tôi chẳng dám tin,” cô nói, mở chiếc khăn ra, rồi lại mở dải ruy băng ra lần nữa.

“Chúa ở cùng cô, Yagna!”

“Tôi biết ơn ông lắm, Matthias ạ!”

Ông bỏ đi. Yagna lại mở gói ra một lần nữa, ngắm nghía mê mẩn. Rồi cô gói cả hai thứ chung lại, định bụng chạy theo trả lại: chứ nhận quà thế này của một người dưng sao được? Nhưng ông đã khuất bóng. Thế là cô thong thả đi tìm mẹ, kín đáo lần tay lên cái gói giấu trong ngực áo mà lòng khoái trá vô cùng. Cô mừng rơn; hai má đỏ bừng, hàm răng trắng loá lên mỗi khi cô mỉm cười.

“Yagna! Làm phúc bố thí cho thân già này với. Nhà cô toàn người tốt, người có đạo thật lòng! Tôi sẽ đọc một kinh Kính Mừng cho người đã khuất nhà cô.... Ôi, Yagna!”

Bị gọi giật lại như thế, Yagna ngoái nhìn xem ai vừa nói, thì thấy Agatha đang ngồi sát tường tu viện, trên một bó rơm: vì chỗ ấy bùn ngập quá mắt cá.

Dừng lại, cô lục trong áo tìm mấy đồng xu; còn Agatha, mừng quýnh vì gặp được người cùng làng, bắt đầu hỏi han chuyện ở Lipka.

“Khoai tây dỡ hết cả rồi chứ?”

“Hết sạch, đến củ cuối cùng.”

“Nhà Klemba có gì mới không?”

“Ơ hay, người ta tống bà đi ăn xin... mà bà vẫn còn bận lòng đến họ?”

“Tống tôi đi ư? Nào có; tôi tự đi đấy chứ, vì cực chẳng đã. Còn bận lòng đến họ, là bởi họ là ruột thịt của tôi.”

“Thế bây giờ bà làm gì?”

“Đi từ nhà thờ này sang nhà thờ khác, từ xóm nọ sang xóm kia, từ phiên chợ này sang phiên chợ nọ; rồi trả công đọc kinh cho tôi, người tốt cho chỗ này một góc ngủ nhờ, chỗ kia miếng ăn, đôi khi được một hai đồng xu. Người ta tốt lắm; họ chẳng để một thân già chết đói đâu, không đời nào!” Bà ngừng lời, rồi hỏi, hơi ngập ngừng: “Cô có biết cả nhà Klemba vẫn mạnh khoẻ cả chứ?”

“Mạnh cả; còn bà thì sao?”

“Ôi, sức khoẻ tôi thì có gì đáng nói. Ngực lúc nào cũng đau; hễ nhiễm lạnh là khạc ra máu nóng. Tôi chẳng còn được bao lâu nữa đâu, không! — Chỉ mong cầm cự được đến mùa xuân, tôi sẽ về làng chết giữa người của mình. Tôi chẳng xin Chúa điều gì khác.... Chẳng gì khác.”

“Bà đọc cho một kinh cầu hồn cha tôi nhé?” Yagna thì thầm, dúi mấy đồng xu vào tay bà.

“Cái ấy thì cho tất cả các linh hồn trong luyện ngục; vì tôi vẫn cầu cho hết thảy những người tôi quen, kẻ sống lẫn người chết. — Nhưng... Yagna à!... Chưa ai sai người mang rượu đến hỏi cô sao?”

“Có chứ.”

“Mà cô chẳng uống đáp lại ai cả?”

“Chẳng ai cả,” cô đáp cụt lủn. “Chúa ở cùng bà, sang xuân bà về thăm chúng tôi nhé.” Rồi cô đi tìm mẹ, vừa nhác thấy bà ở đằng xa cùng người chơi đàn nhà thờ.

Boryna quay lại chỗ Antek, nhưng đi chậm, vừa vì đám đông, vừa vì ý nghĩ về Yagna cứ ám lấy ông. Song chưa kịp gặp con trai thì ông đã đụng phải gã thợ rèn. Hai người chào nhau rồi cùng đi bên nhau, chẳng ai nói gì. Cuối cùng:

“Bố có định thanh toán với tôi không đấy?” gã thợ rèn mở lời, giọng chẳng thân thiện gì. Boryna nổi đoá ngay.

“Thanh toán cái gì? Muốn nói chuyện với tôi thì về Lipka mà nói.”

“Ba năm nay tôi chờ rồi. Người ta bảo tôi cứ kiện ra toà... nhưng....”

“Cứ kiện. Tôi giới thiệu cho anh một tay viết đơn; phải, tôi còn trả cho hắn một rúp để hắn viết đơn kiện tôi hộ anh!”

“... Nhưng tôi nghĩ,” gã thợ rèn nói tiếp, nhũn nhặn một cách ranh ma, “tốt nhất là thu xếp với nhau trong êm đẹp.”

“Phải. ‘Sức chẳng đoạt được thì lấy tình làng nghĩa xóm mà đoạt!’”

“Bố nói chí phải.”

“Đằng nào anh cũng chẳng lấy được đâu.”

“Tôi vẫn bảo vợ tôi rằng bố là người trọng lẽ công bằng.”

“Ai cũng muốn công bằng... về phía mình. Tôi thì bất cần, vì tôi chẳng nợ ai cả.” Nghe những lời cứng cỏi ấy, gã thợ rèn biết lối cũ chẳng ăn thua gì, bèn đổi giọng. Như thể chưa hề có chuyện cãi cọ, gã rất bình thản nói ra lời thỉnh cầu:

“Bố đãi tôi chén rượu nhé? Tôi đang thèm một chén.”

“Được chứ, con rể quý hoá của tôi ạ: phải, anh đòi cả lít tôi cũng chiều.” Giọng nghe khá mỉa; nhưng rồi hai người cùng vào quán rượu ở góc chợ. Ở đó họ gặp Ambrose, chẳng uống gì, chỉ ngồi trong một góc, ủ ê rầu rĩ.

“Tôi thấy nhức xương; sắp có thời tiết xấu rồi đây,” Ambrose đoán.

Họ uống một tuần, rồi một tuần nữa, mà chẳng ai nói lấy một lời, người nọ giận người kia.

“Hai người uống rượu cứ như đi đám ma ấy,” Ambrose nói; ông tủi vì chẳng được mời, bởi sáng ấy hầu như chưa có gì vào bụng.

“Nói năng làm sao được? Hôm nay bố vợ tôi bán được lắm thứ, còn phải nghĩ xem cho ai vay lấy lãi chứ.”

“Matthias, Matthias!” Ambrose kêu lên; “tôi bảo cho mà biết, Chúa chúng ta....”

“Matthias là với người khác, không phải với anh, cái đồ hỗn hào! — Coi hắn kìa! ‘Lợn mà cũng đòi gọi thằng chăn lợn bằng anh em!’”

Gã thợ rèn đã làm mấy ly rượu mạnh, trong người thấy muốn gây sự. Hắn hạ giọng, nói:

“Bố vợ, bố nói dứt khoát một lần cho xong: bố có cho tôi cái phần tôi đòi hay không?”

“Tôi trả lời rồi, anh nghe rõ rồi đấy. Ruộng đất thì tôi có mang xuống mồ được đâu; nhưng ngày nào tôi còn sống, một mẫu tôi cũng chẳng nhả ra. Tôi không muốn phải ăn nhờ vào anh, mà tôi còn định hưởng đời thêm một hai năm nữa.”

“Vậy thì bố trả đứt phần cho tôi đi!”

“Tôi nói rồi đấy: anh nghe chưa?”

“Lão đang ngấp nghé,” Ambrose thì thào, “một bà vợ thứ ba. Con cái thì nghĩa lý gì với lão.”

“Chà, có khi thật thế cũng nên!”

“Tôi thích thì tôi cưới,” Boryna chen vào. “Anh phản đối chắc?”

“Phản đối? Không; nhưng mà…”

“Tôi mà thích, tôi cho người sang dạm hỏi ngay — phải, chậm nhất là mai!”

“Bố cứ việc. Tôi có gì mà phản đối? Bố chỉ cần cho tôi con bê của con Khoang, thì tôi còn hết sức giúp bố là khác. Bố là người biết điều, tất phải biết cái gì lợi cho mình. Tôi nói với nhà tôi bao nhiêu lần rồi: nhà cửa phải có đàn bà mới ra nền ra nếp.”

“Michael! Anh nói thế thật à?”

“Tôi mà nói dối thì cho tôi chết không kịp xưng tội! Phải, tôi nói thế đấy. Tôi đây, cả làng ai cần gì cũng đến hỏi han, chả lẽ lại không biết cái gì tốt cho bố?”

“Đồ ranh ma, anh nói dối như phường Digan!—Nhưng mai cứ sang, con bê là của anh… Người ta ngỏ lời xin thì tôi có thể cho; chứ đòi như đòi nợ thì chỉ được cái gậy gãy—hoặc tệ hơn nữa.”

Họ lại uống tiếp, lần này gã thợ rèn khao Boryna, lại mời cả Ambrose vào cuộc. Ambrose vui vẻ nhận lời ngay, kể bao nhiêu là chuyện vui chuyện tếu, khiến cả bọn chốc lát đã cười váng lên.

Hai người chia tay nhau êm thấm. Nhưng chẳng ai tin ai lấy một mảy.—Người này trong suốt trước mắt người kia như tấm kính, dễ nhận ra như con ngựa có đốm sao giữa trán.

Ambrose nán lại, chờ mấy tay bạn rượu và người quen nào chịu rót cho lão dù chỉ một giọt. Bởi “chó đói thì đến con ruồi cũng chực đớp.”

Phiên chợ đã gần tàn.

Giữa trưa mặt trời có ló ra một lúc, loé xuống thế gian như ánh một tấm gương vung lên; rồi lại lặn ngay sau đám mây. Chưa tới chiều, mọi vật đã chìm trong một màu ảm đạm sâu thẳm; những khối hơi nước nặng trịch sà xuống, gần chạm mái nhà, và mưa bụi rây xuống như lọt qua tấm sàng… Vậy nên người ta vội vã đánh xe về, cốt sao tới nhà trước khi đêm xuống và trước cơn mưa lớn.

Hoàng hôn buông nhanh, sầm sì và ẩm ướt: thị trấn lại vắng tanh, lặng lẽ.

Chỉ đây đó dọc chân tường còn mấy lão _Dziads_ rên rỉ, và trong các quán rượu vang lên tiếng chè chén với tiếng cãi vã.

Trời đã tối hẳn Boryna mới đánh xe về cùng người nhà. Họ bán sạch những gì mang đi, mua sắm đủ thứ, và chơi hội chợ đã đời. Antek quất ngựa hết sức, chiếc xe lao chồm qua những vũng bùn sâu; bởi anh thấy lạnh, mà cả bọn thì đã uống no say. Ông già, keo kiệt là thế, sẵn sàng làm ầm lên vì một đồng _grosz_[16], hôm ấy lại đãi họ ăn uống hậu hĩnh, lời lẽ thân tình, đến nỗi ai nấy đều lấy làm lạ.

-----

Chú thích 16:

_Grosz_—đồng tiền nhỏ nhất của Ba Lan—bằng chừng một phần tư xu Mỹ.—_Chú của người dịch._

Tới cánh rừng thì đêm đã đen kịt—tối đến mức chẳng trông thấy gì. Mưa rơi, hạt mỗi lúc một nặng. Dọc đường nghe tiếng bánh xe lộc cộc, tiếng gào tướng một bài hát của kẻ say, hay tiếng chân ai lép nhép lội trong bùn.

Nhưng giữa con đường trồng dương, hàng cây rì rầm lẩm bẩm như run lên vì rét, Ambrose giờ đã say mèm, loạng choạng lê từ bên này sang bên kia, lúc đâm sầm vào gốc cây, lúc ngã dúi xuống bùn; nhưng lão lại vùng dậy ngay mà đi tiếp, vừa đi vừa hát tướng lên như thói quen của lão.