Nông dân — Tập I: Mùa thu — Chương 6

Chương 6 / 12 · Bài review Nông dân — Tập I: Mùa thu

Mưa giờ đã bắt đầu trút xuống thật sự.

Từ sau phiên chợ, mọi thứ đều chìm trong một thứ ánh xám đục lờ mờ, xuyên qua đó chỉ còn thấy đường viền mờ nhạt của cánh rừng hay của xóm làng, như thêu trên một nền vải ướt.

Những trận mưa thu ập xuống, lạnh buốt, sắc như dao, và không bao giờ dứt.

Mưa, như những ngọn roi màu tro, quất không ngừng xuống mặt đất, thấm vào tận lõi từng thân cây, làm từng ngọn cỏ run lên như đau đớn tột cùng.

Từ dưới lớp mây dày và màn mưa xám ghê rợn ấy, thỉnh thoảng lại hiện ra những vạt đồng đen sẫm, phẳng lì, sũng nước; hoặc lấp lóa những dòng nước sủi bọt chảy xuôi theo luống cày; hoặc những hàng cây bên lối đi trơ ra, đen và trụi, cành ướt đến tận tủy, giũ nốt mấy mảnh lá cuối cùng, như đang vùng vẫy tuyệt vọng, giống bầy chó ghì dây xích.

Những con đường vắng ngắt giờ biến thành các vũng lầy bùn nhão dài vô tận.

Ngày ngắn, buồn, không nắng, lê thê trôi qua; đêm xuống lạnh lẽo và mờ đục, với tiếng nước rơi lộp bộp đều đều không dứt.

Đồng ruộng câm, xóm làng lặng, rừng nín thinh. Những nếp nhà tối sẫm, mất hết sắc màu, như đang tan ra và nhập làm một với đất, với hàng rào, với các vườn cây trơ trụi đang vung cành rên khẽ.

Một trận mưa xám ngoét cuộn xoáy đã phủ kín cả vùng, rút hết màu sắc, dập tắt mọi sắc độ, dìm cả thế gian vào bóng chạng vạng. Mọi thứ đều lẫn lộn, như trong một giấc mơ. Nỗi buồn dâng lên từ những cánh đồng mục rữa, từ những cánh rừng tê liệt, từ chốn hoang vu chết chóc; rồi trôi đi như một đám mây nặng, vương vất ở các ngã ba đường buồn thảm, dưới những cây thánh giá dang đôi tay ai oán, trên những con đường hoang nơi cây cối bỗng rùng mình như khiếp sợ và nức nở như đang quằn quại; nó nhìn trân trân vào từng tổ chim bỏ không, từng túp lều đổ sập; nó len vào các nghĩa địa, quanh mộ những người chết đã bị quên lãng và những cây thánh giá mục nát; nó lan khắp cả miền quê.

Và mưa bụi thì không lúc nào ngơi: nhưng khi mưa nặng hạt ập xuống, nó bọc cả Lipka trong nếp mưa, đến nỗi những mái tranh tối sẫm, những phiến đá ẩm của hàng rào, những vệt khói xám bện lại lượn trên nóc ống khói rồi lang thang qua vườn cây, chỉ thảng hoặc mới nhìn thấy được.

Làng lặng tiếng, trừ vài cái kho lúa có người đang đập lúa. Nhưng số ấy ít ỏi: cả làng đều ra ruộng bắp cải. Đường lầy vắng tanh; quanh nhà cũng vắng. Thỉnh thoảng có ai hiện ra, một bóng ma trong sương, thì lập tức lại biến mất, chỉ còn nghe tiếng guốc gỗ lội bì bõm trong bùn. Hoặc chốc chốc một chiếc xe chở đầy bắp cải chậm chạp lăn từ vũng than bùn về, làm tán loạn đàn ngỗng đang lội quanh chực đớp mấy tàu lá rơi.

Cái ao vùng vẫy trong đôi bờ chật hẹp giam nó lại. Nước cứ dâng lên mãi; và trước khi tràn ngập quãng đường trũng phía bên nhà ông Boryna, nó đã dâng tới sát hàng rào, vỗ ì oạp và sủi bọt ngay dưới chân tường nhà.

Nhưng cả làng đều đổ ra ruộng, tất bật chặt bắp cải và chở về nhà. Bắp cải chất khắp nơi, trên sân đập lúa, ngoài hiên, trong nhà ở, có nhà chất cả dưới mái hiên — hàng trăm bắp xanh biếc ánh lam bày ra trước mắt.

Họ vội, vì mưa cứ mưa mãi, mà đường sá thì đang nhanh chóng hoá thành vũng lầy, không đi nổi.

Hôm ấy, người ta chặt ruộng bắp cải nhà bà Dominikova.

Yagna cùng Simon đã ra đó từ sáng, vì Andrew phải ở nhà lợp lại mái.

Trời sắp tối, bà chủ nhà già hết lần này đến lần khác ra ngõ, ngóng về phía cối xay, lắng nghe xem họ đã về chưa.

Nhưng ngoài ruộng trũng bên kia cối xay, việc vẫn còn bận rộn. Trên các bãi cỏ, sương giăng dày; chỉ đôi chỗ lấp loáng những cái mương rộng đầy nước xám đục; và những dải dài trên gò cao nơi bắp cải mọc, chỗ thì xanh nhợt, chỗ thì đỏ rỉ sét. Quanh đó, những chiếc váy đỏ thẫm của đám đàn bà thấp thoáng mờ mờ, đang chất từng đống bắp cải vừa chặt.

Xa xa trong sương, sát con sông sủi bọt chảy giữa những bụi cây thấp, nổi lên nhiều đống than bùn nâu xỉn. Xe đỗ ở đó; xe không vào gần hơn được vì đất lún nhão, nên mỗi tấm vải đầy bắp cải đều phải buộc thành bó vác trên lưng mà mang ra.

Có ruộng đã chặt xong, người ta ra về; từ vạt ruộng này sang vạt ruộng khác, tiếng họ mỗi lúc một to hơn vọng qua sương.

Yagna vừa mới xong việc. Cô mệt lử, đói cồn cào, lại ướt như chuột lột. Đến đôi guốc cũng ròng ròng nước, vì chúng lún quá mắt cá xuống thứ đất than bùn màu nâu xám, và cô luôn phải tháo ra dốc nước đi.

“Simon! nhanh lên nào! Tôi rã hết cả người rồi!” cô mệt mỏi gọi to; nhưng thấy chàng trai không nhấc nổi bó của mình, cô sốt ruột chộp lấy cái bó lớn, vác lên lưng, mang ra xe.

“Cao lớn ngần ấy — mà lưng thì như đàn bà mới ở cữ!” Cô nói giọng khinh khỉnh, vừa dốc bắp cải xuống lớp rơm lót đáy xe.

Simon ngượng chín cả mặt, lầm bầm, gầm gừ, gãi đầu, rồi đi thắng ngựa.

“Nhanh lên nào, Simon!” cô kêu, thoăn thoắt vác hết bó lớn này đến bó lớn khác ra xe.

Nhưng đêm đã xuống, bóng tối mỗi lúc một đen hơn, mưa mỗi lúc một nặng, dội xuống mặt đất nhão nhoẹt và xuống các mương với tiếng lộp độp như đổ thóc.

“Yuzka! hôm nay xong chưa?” cô gọi con gái ông Boryna, người nãy giờ chặt cùng Hanka và Kuba.

“Xong rồi. Về thôi: trời khiếp lắm, mà em thì ướt sạch. Chị cũng về chứ?”

“Ừ. Chút nữa là tối đến không tìm nổi đường về. Còn lại để mai. — Ôi, bắp cải nhà em đẹp quá!” cô reo lên, nghiêng người về phía ấy, thoáng thấy những đống bắp cải hiện lên trong sương.

“Nhà chị cũng tốt lắm, mà củ cải nhà chị còn to hơn nhà em nhiều.”

“Ờ, giống mới đấy, cha xứ mang từ Warsaw về.”

“Yagna!” — tiếng Yuzka lại gọi cô qua màn sương — “chị biết chưa, thằng Valek con lão Joseph mai cho người sang dạm hỏi con Mary Pociotek đấy!”

“Sao, con bé ấy à? Nó chẳng còn non quá sao? Mới năm ngoái nó còn chăn bò cơ mà.”

“Không, nó đủ tuổi rồi. Với lại nó có ngần ấy mẫu ruộng, nên đám trai làng cứ giục nhau đi hỏi.”

“Rồi em cũng thế thôi, Yuzka, chẳng mấy mà người ta giục cưới em.”

“Trừ phi bố cháu lấy vợ khác,” bà Yagustynka từ thửa ruộng thứ ba hét sang.

“Bà nói gì thế?” Hanka hỏi, giọng hoảng hốt. “Mẹ nó mới chôn mùa xuân vừa rồi thôi mà.”

“Đàn ông thì hề hấn gì? Ai cũng như con lợn cả; no đến mấy vẫn sẵn sàng dí mõm vào máng mới. Ho, ho! người ta chưa kịp nguội, chưa kịp chết hẳn, ông chồng đã đi tìm người khác. — Chúng nó là chó, tất tật. Còn lão Sikora thì sao? Chôn vợ được ba tuần đã rước vợ hai.”

“Đúng thế: nhưng lão còn năm đứa con nhỏ.”

“Ừ thì chị nói vậy. Nhưng chỉ có kẻ ngốc mới tin lão lấy vợ vì lũ nhỏ. Vì chính lão đấy! — Lão thèm có người đắp chung chăn thôi.”

“Nhưng,” Yuzka hăng hái xen vào, “bố mà làm thế thì chúng cháu không chịu. Không đời nào!”

“Con bé dại! Ruộng đất là của bố cháu; ông ấy muốn sao là được vậy.”

“Nhưng con cái cũng phải được kể đến chứ; chúng có quyền của chúng,” Hanka đáp lại.

“Thà nhảy xuống chỗ sâu còn hơn làm vướng chân xe người khác,” bà Yagustynka lẩm bẩm.

Yagna nãy giờ không dự vào chuyện, chỉ mỉm cười một mình trong lúc vác bắp cải. Cô nhớ lại chuyện đã xảy ra ở phiên chợ.

Xe vừa đầy, Simon liền cho ra đường.

“Chúa ở cùng bà con nhé!” Yagna gọi với sang mấy nhà hàng xóm.

“Và ở cùng chị! Chúng em cũng về ngay đây... Chị Yagna, chị sang nhà em bóc lá bắp cải nhé?”

“Cứ báo chị lúc nào, chị sang.”

“Bọn con trai đã dặn nhạc ở nhà Klemba chủ nhật này đấy: chị biết chưa?”

“Biết rồi, Yuzka, chị biết rồi.”

“Nếu chị gặp Antek,” Hanka nhờ, “làm ơn bảo anh ấy nhanh lên. Chúng tôi đang đợi.”

“Được.”

Cô chạy nhanh cho kịp chiếc xe, vì Simon đã đi rồi, còn nghe tiếng anh ta chửi con ngựa. Xe mắc trong bùn nhão của vùng đất than bùn, ngập quá trục; nên cả hai phải xúm vào đẩy giúp con ngựa qua những quãng lầy nhất.

Không ai nói với ai câu nào. Simon dắt ngựa, giữ cho xe khỏi đổ, vì đường chỗ nào cũng đầy hố sâu. Yagna ghé vai đẩy phía sau, suốt dọc đường nghĩ xem lúc sang nhà Boryna bóc lá thì nên mặc gì.

Trời tối đến mức gần như không thấy con ngựa. Mưa đã ngớt đôi chút, nhưng sương vẫn nặng và ẩm, gió thổi rít trên đầu họ, quất vào hàng cây trên con đê mà họ đang leo lên.

Dốc lên khó nhọc, đất vừa dựng vừa trơn.

“Xe nặng thế mà một ngựa kéo sao nổi!” một giọng trên đê vang lên.

“Antek đấy à?”

“Chứ ai.”

“Vậy nhanh lên; Hanka đang đợi anh. — Nhưng giúp chúng tôi một tay đã.”

“Chờ chút: tôi phải xuống đã. — Tối thế này chẳng thấy gì cả.”

Chỉ loáng cái họ đã lên hết đê, vì bàn tay giúp sức ấy đẩy mạnh đến nỗi con ngựa lập tức trườn lên được, tới đỉnh mới dừng lại.

“Cảm ơn anh thật lòng,” cô nói; “nhưng lạy Chúa! anh khỏe thật đấy!”

Rồi cô chìa tay ra bắt tay anh.

Họ nín lặng. Chiếc xe đi trước, còn họ bước bên nhau, không tìm ra lời, cả hai đều xao động lạ thường.

“Anh quay về à?” cô hỏi khẽ như thì thầm.

“Tôi chỉ đi cùng cô đến chỗ cối xay thôi, Yagna; nước ở đấy xói thành cái hố xấu lắm.”

“Tối quá, phải không?” cô nói.

“Cô sợ à, Yagna?” anh thì thầm, xích lại gần hơn.

“Sợ gì cơ chứ?”

Họ lại nín lặng, đi vai kề vai, sườn chạm sườn.

“Mắt cô sáng quá!... Như mắt sói.”

“Chủ nhật cô sang nhà Klemba nghe nhạc chứ?”

“Mẹ tôi có cho không đã.”

“Sang đi, Yagna, sang nhé!” anh nài, giọng khản đặc như nghẹn lại.

“Anh muốn thế à?” cô hỏi khẽ, nhìn vào mắt anh.

“Trời ơi! Chính tôi gọi tay kéo vĩ cầm ở Vola về, chỉ vì cô; cũng chỉ vì cô mà tôi phải xin Klemba cho mượn nhà.” Anh nói giọng thấp; mặt anh sát mặt cô, hơi thở gấp đến nỗi cô hơi lùi lại, cả người run lên vì xúc động.

“Anh đi đi — người ta đang đợi anh — kẻo có kẻ trông thấy. — Đi đi!”

“Cô sẽ sang chứ?”

“Tôi sẽ sang — sẽ sang,” cô nhắc lại, quay nhìn theo anh lúc anh đi khỏi: nhưng sương đã nuốt chửng anh, cô chỉ còn nghe tiếng chân anh lép nhép xa dần trong bùn nhão.

Rồi một cơn rùng mình không sao ghìm được ập lấy cô; thế mà cái luồng chạy qua tim và qua đầu cô lại nóng như lửa. Cô không biết cái gì vừa đổ xuống đời mình: mắt cô rực lửa, hơi thở hụt đi, tim đập dồn dập không tài nào ghìm lại. Theo bản năng, cô đưa hai tay ra như để ôm lấy ai, rồi cứng người lại, một cơn run dại dột chợt xốc lấy cô đến mức suýt nữa cô phải kêu thành tiếng. Nhưng cô đã tới bên xe, túm lấy thành xe mà đẩy tới, mạnh đến thừa thãi. Chiếc xe kêu ken két, chồm nghiêng, mấy cây bắp cải lăn ra rơi xuống bùn. Nhưng trước mặt cô vẫn là khuôn mặt ấy, và chao ôi, đôi mắt ấy, sáng quá, đầy thèm khát quá!

“Anh ta không phải người, anh ta là một cơn lốc,” cô nghĩ, đầu óc trống rỗng. “Cả thiên hạ này liệu có ai nữa như thế không?”

Cô sực tỉnh vì tiếng cối xay khi họ đi ngang qua, vì tiếng nước ầm ầm đổ trên bánh xe và luồn dưới cửa cống; nước lên cao nên người ta đã mở toang hết cửa; dòng nước ào ào trút xuống, vỡ ra thành từng khối bọt trắng như men rượu, kéo thành những vệt trắng dài trên mặt sông rộng.

Ở nhà lão chủ cối xay ngay sát bên đường, một ngọn đèn đã được thắp lên và đặt trên bàn, nhìn qua mấy ô cửa có rèm vẫn thấy được ánh đèn.

“Họ có đèn thật, y như bên nhà cha xứ hay ở một tòa dinh điền nào vậy!”

“Thì họ chẳng phải dân giàu à?” Simon nói. “Ruộng họ còn nhiều hơn cả ông Boryna; tiền thì họ cho vay lấy lãi; còn xay lúa mì cho mình thì họ ăn gian phải biết!”

“Họ sống như mấy ông chủ điền lớn… Sướng cho những kẻ như thế… Họ đi đi lại lại trong buồng, ngả ngớn trên ghế dài, ăn của ngon, bắt người khác làm cho mình.” Cô em nghĩ vậy, nhưng chẳng chút ganh tị, cũng chẳng để tai đến những gì Simon đang nói tiếp; thường ngày anh ta lầm lì, thế mà lúc này cứ thao thao về chuyện ấy mãi không dứt.

Rốt cuộc họ cũng về tới nơi. Trong căn nhà tranh sáng và ấm của họ, lửa đang cháy vui trên bếp. Andrew đang gọt khoai tây, còn bà mẹ dọn bữa tối.

Sát bên lửa có một ông lão đầu bạc ngồi.

“Xong hết việc chưa, Yagna?”

“Chỉ còn độ ba tấm vải nữa là cắt xong.”

Cô vào buồng trong thay áo, rồi trở ra ngay, sửa soạn cho bữa ăn, suốt lúc ấy vẫn kín đáo tò mò để mắt sang ông lão — ông ngồi im phăng phắc, nhìn vào lửa, môi mấp máy và tràng hạt lần qua những ngón tay, từng hạt một. Khi mọi người ngồi vào mâm, bà lão đặt thêm cho ông một chiếc thìa và mời ông ăn cùng.

“Xin ở lại bình an trong Chúa: tôi đi đây,” ông đáp. “Nhưng rồi tôi sẽ ghé lại, biết đâu còn ở Lipka lâu hơn.”

Ông quỳ xuống giữa nhà, cúi mình trước bàn ảnh thánh, làm dấu thánh giá, rồi bước ra.

“Ông ấy là ai vậy?” Yagna hỏi.

“Một người hành hương đạo hạnh. Ông ấy từ Mộ Thánh Chúa Giêsu về. Mẹ biết ông ấy đã bao nhiêu năm nay. Ông ấy ghé đây không phải một lần, còn mang cho mẹ những vật thánh từ xa lắc… Chừng ba năm trước…”

Bà bị ngắt lời vì ông Ambrose bước vào; chào hỏi như lệ thường xong, ông ngồi xuống bên lửa.

“Trời lạnh với ướt thế này, đến cái chân gỗ của tôi cũng thấy tê!”

“Trời thế này, lại đêm hôm, mà còn lê la đi đâu?” bà Dominikova càu nhàu. “Ở nhà mà đọc kinh có hơn không.”

“Ở nhà buồn chán; thế là tôi ra ngó một vài cô gái, mà trước tiên là đến chỗ cô, Yagna ạ!”

“Cô gái duy nhất dành cho ông tên là Thần Chết.”

“Ôi, cô ta ấy à! Cô ta quên hẳn tôi rồi; cô ta thích nhảy với đám trẻ hơn.”

“Ông nói vậy là sao?” bà Dominikova hỏi.

“Là cha xứ vừa mang Của Ăn Đàng sang cho lão Bartek bên kia sông.”

“Ơ, lúc nãy tôi còn thấy lão ta ở phiên chợ khỏe mạnh mà lại!”

“Lão bị thằng con rể nện cho một trận gậy gộc đến vỡ cả gan.”

“Bao giờ? Mà vì chuyện gì?”

“Vì ruộng đất chứ vì gì nữa. Họ gầm ghè nhau suốt nửa năm nay, trưa nay thì dứt điểm.”

“Trời ơi,” Yagna kêu lên, “Chúa chẳng đổ phán xét xuống những kẻ sát nhân như thế sao?”

“Rồi sẽ tới,” bà mẹ đáp, giọng nghiêm, ngước mắt lên bàn ảnh thánh.

“Ừ, nhưng người chết thì cũng chẳng sống lại được,” ông Ambrose lẩm bẩm.

“Ngồi xuống ăn với nhà tôi.”

“Tôi chẳng phản đối đâu. Hết một đĩa thì tôi vẫn còn được — miễn là đĩa cho to.”

“Ông thì chỉ nghĩ được chuyện bông đùa với giễu cợt.”

“Cả cái thế gian rộng này tôi còn gì khác đâu: hơi đâu mà lo!”

Họ ngồi quanh chiếc ghế dài đặt hai món ăn — khoai tây và sữa chua — rồi bắt đầu ăn, thong thả và lặng lẽ như thường lệ, trong khi Andrew lo tiếp thêm cho mấy cái nồi lúc nào cũng đầy. Chỉ có ông Ambrose thỉnh thoảng lại nói một câu buồn cười, mà chính ông là người cười trước tiên.

“Cha xứ có nhà không?” bà Dominikova hỏi lúc bữa ăn gần tàn.

“Trời thế này thì còn đi đâu được? Có, ở nhà, cắm mặt vào sách như một ông Do Thái.”

“Một người học rộng, học rộng lắm!”

“Lại tốt bụng nữa! Người tốt nhất trên đời,” Yagna chen vào.

“Ừ, phải. Chẳng có gì xấu… Lo lấy thân mình, chẳng hại ai.”

“Không được nói thế chứ, ông Ambrose!”

Họ đã ăn xong. Yagna theo mẹ ra chỗ mấy que quấn sợi dựng trước bếp lửa, còn hai người anh, như thường lệ, dọn dẹp, rửa ráy và sắp đặt mọi thứ cho gọn. Bà Dominikova xưa nay vẫn cầm các con trai trong tay sắt, tập cho chúng làm cả việc của đàn bà con gái, để đôi tay đẹp của Yagna khỏi thô nhám.

Ông Ambrose châm tẩu, phun khói lên ống khói, khều than và bỏ thêm mấy bó củi con, mắt thỉnh thoảng liếc trộm sang phía hai mẹ con. Ông đang nghĩ ngợi chuyện gì đó, tính xem nên mở lời thế nào.

“Tôi đoán chừng cũng đã có dăm ba đám dạm hỏi rồi chứ.”

“Hơn thế.”

“Phải rồi. Yagna đẹp như tranh. Cha xứ bảo cả làng không ai đẹp bằng.”

Yagna đỏ bừng mặt vì sướng.

“Cha nói thế thật à?” bà lão hỏi. “Xin Chúa ban sức khỏe cho cha! Tôi dành dụm tiền lâu lắm rồi để xin một lễ khấn: tôi sẽ xin hát lễ ngay đây.”

“Có người muốn cho người sang dạm hỏi đấy; có điều hơi ngại ngần.”

“Thằng ở làm thuê hử?” bà Dominikova hỏi, tay vê trụ sợi thật nhanh, nó nhảy loạn cả trên nền nhà.

“Một người có cả cơ nghiệp trong tay. Dòng dõi tử tế, có điều góa vợ.”

“Gì cơ, đi nuôi con người ta à? Con thì không.”

“Đừng sợ, Yagna; đứa nào cũng lớn cả rồi, chẳng còn phải bồng bế gì.”

“Nó còn trẻ thế, cớ gì phải lấy một ông già? Cứ để nó đợi người trẻ, nếu có người trẻ nào tới.”

“Ôi, thiếu gì. Trai tráng thì chẳng thiếu, không! Đứa nào cũng thẳng như mũi tên, hút thuốc lá, nhảy nhót ở quán rượu, nốc từng chén vodka, mắt thì láo liên rình bất cứ cô nào có dăm ba mẫu ruộng với chút tiền. Nhưng làm ăn thì bết bát: trưa mới bò dậy, chiều ra đẩy xe cút kít chở phân, ruộng thì cuốc bằng cái cuốc!”

“Con Yagna nhà tôi, tôi không để nó hạ mình với đám ấy đâu!”

“Người ta bảo bà khôn nhất trong đám chúng ta; người ta nói đúng.”

“Nhưng mà — ông già thì cho được cô gái trẻ mấy phần vui thú.”

“Vui thú thì đã có mấy cậu trẻ lo, thiếu gì.”

Bà nhìn ông nghiêm khắc. “Tác tác thế kia mà ăn nói bừa bãi!”

Một lát im lặng.

“Ông ấy là bậc có tuổi đáng trọng, lại chẳng tham tiền người khác.”

“Không, không! Chỉ từ đấy mà ra tội lỗi thôi!”

“Thì ông ấy cũng có thể làm giấy sang đất cho cô dâu chứ,” ông nói tiếp, lúc này đã nghiêm hẳn, gõ tàn tẩu ra.

Mãi mới có câu đáp, mà đáp ra cũng ngập ngừng.

“Yagna cũng đã có phần của nó, đủ rồi.”

“Ông ấy sẽ cho nhiều hơn phần nhận về; chắc chắn là nhiều hơn.”

“Ông nói sao?”

“Điều tôi biết. Chẳng phải gió mách cho, cũng chẳng phải tôi bịa ra: tôi đến đây thay mặt người khác.”

Lại im lặng. Bà chủ nhà mất một hồi lâu để gỡ đám sợi lanh rối trên que quấn sợi; rồi thấm đầu ngón cái với ngón trỏ tay trái, bà rút ra những sợi dài, còn tay phải bật cho trụ sợi xoay tít, nó đập và rù rù chạy trên nền nhà như một con cù.

“Thế thì, có để ông ấy cho người mang vodka sang dạm không?”

“Ông ấy à? Ai cơ?”

“Bà không biết thật à? Người ở đằng kia kìa!” Và ông Ambrose chỉ sang ánh đèn bên nhà ông Boryna đang lấp lánh phía bên kia ao.

“Con cái ông ấy lớn cả rồi: chúng sẽ chống lại. Vả lại chúng có quyền đòi phần của chúng.”

“Nhưng của riêng ông ấy thì ông ấy muốn sang cho ai chẳng được! Ông ấy là người tử tế, làm ruộng chẳng phải tay xoàng; lại còn ngoan đạo nữa. Mà khỏe! Lạy Chúa, tôi từng thấy ông ta vác lên vai bao lúa mạch đen hơn hai thúng. Con Yagna nhà bà muốn gì trên đời cũng được, trừ sữa chim bồ câu. Rồi thì sang năm thằng Andrew phải đi lính. Mà ông Boryna thì rành việc quan, biết phải chạy đến cửa nào, giúp được nhiều lắm.”

“Thế con, Yagna, con nghĩ sao về chuyện này?”

“Con chẳng thấy sao cả. — Mẹ bảo: ‘Lấy đi’ thì con lấy. Việc ấy là ở mẹ, đâu phải ở con.” Cô nói rất khẽ, trán tựa vào que quấn sợi, mắt nhìn vơ vẩn vào lửa, tai nghe mấy bó củi nổ lép bép vui tai.

“Thế nào?” ông Ambrose hỏi, đứng dậy khỏi chỗ.

“Cứ để người ta sang” — từng tiếng một rơi khỏi miệng bà lão. “Dạm hỏi đã phải là cưới đâu.”

Ông Ambrose làm dấu thánh giá rồi đi ra, nhắm thẳng nhà ông Boryna.

Yagna ngồi câm lặng, không nhúc nhích.

“Yagna con, con nói sao về chuyện này?”

“Chẳng sao cả; với con thì thế nào cũng được. Mẹ muốn thì con lấy ông Boryna; không thì con ở với mẹ… Ở bên mẹ, con sướng lắm rồi.”

Bà mẹ vừa xe sợi vừa nói, giọng hạ xuống:

“Mẹ cũng chỉ muốn mọi sự tốt nhất cho con thôi, con ạ. Ông ấy già thì già thật, nhưng còn khỏe còn dẻo. Vả lại ông ấy sẽ ăn ở tử tế với con, không như đám nông dân khác. Con sẽ là bà chủ, là người cầm cái trong nhà ấy. Lại nữa, lúc ông ấy làm giấy sang đất, mẹ sẽ thu xếp sao cho mảnh ruộng ông ấy để lại cho nhà mình giáp với ruộng nhà ta… Mà dù chỉ được sáu mẫu thôi — con nghĩ mà xem, Yagna! Sáu mẫu nữa! — Rồi nhớ cho: con phải lấy chồng, phải lấy! Tội gì để miệng lưỡi cả làng đâm thọc tiếng xấu cho con?… Nhà mình sẽ phải thịt con lợn…” Đến đây bà bỏ lửng, rồi cứ thế tính toán tiếp trong bụng; vì Yagna cứ xe sợi như cái máy, như chẳng nghe thấy gì.

Cô nghĩ: ở với mẹ thì cô khổ sở gì đâu? Thích gì làm nấy; chẳng ai nặng lời với cô bao giờ. Ruộng nương, giấy sang đất, của cải, mà cả chồng nữa — cô thiết gì những thứ ấy? Trai theo cô ít đấy sao? Cô muốn thì có thể khiến cả đám ấy cùng đến dạm cô trong một buổi tối… Ý nghĩ trong cô dần dần se lại, y như sợi lanh dưới tay cô; và như sợi chỉ kia chỉ xoắn về một chiều, cô cũng ngả về một mối: lấy ông Boryna, nếu mẹ muốn cuộc hôn nhân ấy. — Ừ, cô ưa ông hơn đám còn lại: chẳng phải ông đã mua cho cô dải ruy băng với chiếc khăn đó sao? — Đúng, nhưng anh Antek, và những người khác nữa, nếu có tiền như ông Boryna, cũng làm cho cô chẳng kém. — Thôi, thôi: cứ để mẹ chọn, đầu mẹ giỏi những việc như thế; đầu cô thì không.

Cô nhìn về phía cửa sổ, nơi những bụi thược dược đã khô đen đang gõ vào ô kính, bị cơn gió quật cho tơi tả. Rồi dần dần cô quên chúng đi, quên hết mọi sự, quên cả chính mình, và rơi vào một trạng thái lặng lờ khoan khoái, giống như trạng thái đang giữ lấy mặt đất quanh cô trong những đêm thu tĩnh mịch như chết ấy. Bởi hồn Yagna cũng y như mặt đất kia; như mặt đất, nó có những vực sâu mơ màng, hỗn mang, chẳng ai biết tới. Nó mênh mông, mà không tự biết mình mênh mông; nó mạnh mẽ, mà chẳng có ý chí, chẳng ham muốn, chẳng khát khao — vô tri, mà bất tử; cũng như mặt đất, nó bị mọi cơn cuồng phong quét qua, cơn nào chộp lấy nó, nắm lấy nó, và muốn làm gì nó thì làm.... Rồi cũng vậy, đến mùa xuân, mặt trời ấm sẽ đánh thức nó dậy, dội đầy sức sống vào nó, làm nó ngập ngọn lửa rung rinh của dục vọng và tình yêu; và như mặt đất, hồn cô sẽ thụ thai — nó chẳng thể làm gì khác; sẽ sống và hát, sẽ cai quản, sẽ tạo dựng rồi huỷ diệt chính những gì mình tạo ra — nó chẳng thể làm gì khác; nó sẽ tồn tại — nó không thể không tồn tại! Mặt đất thiêng liêng ấy là thế; hồn Yagna là thế, giống hệt mặt đất kia.

Cô ngồi như vậy hồi lâu, chẳng nói chẳng rằng: chỉ đôi mắt kia là long lanh như mặt nước lặng buổi trưa xuân, hay như những vì sao lấp lánh.

Bỗng cô choàng tỉnh khỏi cơn mơ màng: có ai vừa mở cửa trước. Ấy là con bé Yuzka, nó hớt hải chạy ào vào nhà.

Vừa giũ nước khỏi đôi guốc, nó vừa nói: “Chị Yagna, mai nhà em tuốt lá, chị sang chứ?”

“Sang chứ.”

“Nhà em làm ở gian lớn. Bác Ambrose đang ngồi trong ấy với thầy em, nên em mới lẻn ra được mà báo cho chị. Sẽ có Ulisia, Mary, Vitka, với tất cả mấy đứa con nhà Pociotek. Trai làng cũng tới. Anh Peter hứa sang, mang cả cây vĩ cầm theo.”

“Peter? Peter nào?”

“Con nhà Michael ở quá nhà trưởng làng ấy. Cái anh đi lính về hồi mới bắt đầu dỡ khoai, giờ nói năng lạ lùng, chẳng mấy ai nghe ra anh ta nói gì.”[17]

-----

Chú thích 17:

Bốn năm trong quân đội Nga, lắm khi ở tận sâu trong đất Nga, thường làm tan hoang cả tiếng mẹ đẻ của một người nông dân Ba Lan.—_Chú của người dịch._

Liến thoắng một hồi như thế xong, nó chạy về nhà.

Căn phòng lại chìm vào im lặng.

Mưa gõ lộp bộp lên các ô kính, như từng nắm cát ném vào. Gió gào rú và nô giỡn khắp vườn, hoặc thốc xuống ống khói, đến nỗi mấy thanh củi trên bếp lửa văng tung toé, và từng luồng khói tạt vào trong nhà. Nhưng những con suốt thì không lúc nào ngớt quay vo vo trên nền nhà.

Buổi tối dài cứ thế lê thê trôi, mãi cho đến khi mẹ Yagna cất giọng yếu ớt, run run mà hát:

“Mọi việc hôm nay chúng con đã làm...”;

Yagna cùng mấy người anh nối lời thánh ca ấy lên cao đến mức đám gà đậu ngoài lối đi cũng cục ta cục tác hoà theo.