Nông dân — Tập I: Mùa thu — Chương 7
Chương 7 / 12 · Bài review Nông dân — Tập I: Mùa thu
Hôm sau trời vẫn mưa và ảm đạm y như hôm trước.
Chốc chốc lại có người ló ra khỏi một mái nhà tranh, lo lắng nhìn vào cái thế giới nhoè nhoẹt sương mù, xem trời có hửng lên chút nào chăng. Nhưng mắt chẳng thấy gì ngoài những đám mây màu đá xám, thấp đến mức chạm cả ngọn cây. Và mưa cứ mưa.
Dân làng bị nhốt trong nhà, đâm ra bứt rứt. Đôi ba người lội bùn đội mưa sang nhà hàng xóm, than rằng người nọ còn bỏ lá lót chuồng trong rừng, chưa chở về được; rằng người kia chưa kịp mang củi vào; rằng nhiều nhà, gần như cả làng, bắp cải vẫn còn ngoài ruộng mà giờ không ra cắt được, bởi đêm qua nước ao dâng cao quá, buộc phải mở cống cho chảy ra sông; thành thử sông phình lên dữ dội, đồng cỏ ngập trắng, và những vạt bắp cải nom như mấy hòn đảo sẫm màu giữa dòng nước đục ngầu sủi bọt.
Dominikova cũng chưa đem được chỗ bắp cải ngoài ruộng về nhà.
Từ sáng, Yagna đã thấy trong người bực bội, cứ đi từ góc này sang góc kia mà thở dài bứt rứt, rồi nhìn qua cửa sổ ra mấy bụi thược dược bị nước dập rạp xuống đất, ra cả cảnh vật ròng ròng nước.
“Lạy Chúa, sao mà mệt mỏi thế này!” cô nói, sốt ruột chờ ngày tàn để còn sang nhà ông Boryna. Giờ khắc bò đi chậm như ông già lê chân trong bùn — chậm chạp, uể oải, buồn thảm đến không chịu nổi. Cô đâm bồn chồn, hết mắng mấy anh em trai trong nhà lại quăng ném bất cứ thứ gì vớ được trong tay. Thêm nữa, đầu cô bắt đầu nhức, phải đắp lên đỉnh đầu miếng cháo yến mạch nóng rưới giấm thì mới dịu. Nhưng dù đã đỡ, cô vẫn thấy rã rời chẳng ra làm sao; việc rơi khỏi tay, và bao nhiêu lần cô lại đưa mắt nhìn cái ao đang cuộn sóng kia — như một con chim khổng lồ xoè đôi cánh nặng nề, đập phành phạch, chồm lên, sủi bọt, cho tới khi nước dâng bắn tung toé khắp mặt đường — chỉ thiếu điều bay bổng lên trời.
Dominikova đi từ sáng, người ta gọi bà sang đỡ đẻ cho một người đàn bà ở cuối làng; bởi bà biết nhiều về thuốc thang, chữa được lắm thứ bệnh.
Thành thử Yagna bứt rứt không yên. Cô thèm ra ngoài gặp ai đó; nhưng hễ trùm tạp dề lên đầu, ló ra khỏi ngưỡng cửa nhìn bùn lầy với mưa xối, thì cái thèm muốn ấy lại tan biến. Cuối cùng, chẳng biết làm gì với mình, cô mở hòm lấy hết quần áo ngày lễ ra bày lên giường, đến nỗi cả gian phòng rực đỏ lên vì váy kẻ sọc, áo chẽn và tạp dề. Nhưng hôm ấy cô chẳng thiết thứ nào trong đó. Cô nhìn tất cả những của cải ấy bằng đôi mắt mỏi mệt dửng dưng; tuy vậy, cô vẫn lôi từ đáy hòm ra mấy món quà của ông Boryna — chiếc khăn trùm và dải ruy băng — đeo vào người rồi soi gương.
“Được đấy. Tối nay mình sẽ đeo,” cô quyết. Nhưng rồi vội vàng tháo ra, vì có người đang lần theo hàng rào đi về phía nhà.
Chẳng ai khác ngoài Matthew. Yagna kêu lên kinh ngạc khi anh ta bước vào: chính là người mà vì anh ta cả làng đã đàm tiếu về cô nhiều nhất, rằng cô từng bao phen đêm hôm hò hẹn với anh ta ngoài vườn cây và những chỗ khác nữa. Anh ta là người đã qua thời sung sức nhất, ngoài ba mươi kể cũng khá; vẫn còn độc thân, vì chẳng thiết lấy vợ, nhà đã có mấy cô em gái lo (hay đúng hơn, theo cái lưỡi độc địa của Yagustynka, là vì gái làng với vợ hàng xóm hợp ý anh ta lắm); một gã cao lớn, khoẻ như cây sồi, rất tự tin, và vì thế kiêu ngạo, ương ngạnh đến mức gần như ai cũng ngán. Mà anh ta thì làm được — có gì mà anh ta không làm được? — thổi sáo, đóng xe, dựng nhà, xây bếp lò; làm gì cũng khéo đến nỗi tay lúc nào cũng đầy việc. Chỉ có tiền là chẳng bao giờ đầy: kiếm được bao nhiêu, tiêu sạch bấy nhiêu, nào rượu chè, nào khao bạn, nào cho bạn bè vay. Người ta gọi anh ta là “Bồ Câu”, dù nhìn vào đôi mắt và cái tính nóng như lửa ấy thì phải nói là diều hâu mới đúng.
“Matthew!”
“Ừ, anh đây, Yagna!”
Anh ta nắm lấy cả hai bàn tay cô, dán mắt vào mắt cô bằng cái nhìn thèm khát cuồng nhiệt đến mức cô đỏ bừng mặt, bối rối ngó về phía cửa.
“Anh đi biệt sáu tháng nay,” cô lắp bắp.
“Sáu tháng, lẻ hai mươi ba ngày nữa, tính cho đúng.” Anh ta vẫn không buông tay cô.
“Để em thắp đèn!” cô kêu lên; trời quả đã sẩm tối, mà cô thì muốn rút tay ra.
“Chào anh một cái đi, Yagna!” anh ta thì thầm nài, rồi định vòng tay ôm ngang lưng cô. Cô lách người chạy ra bếp lửa nhóm đèn, sợ mẹ về mà bắt gặp mình ở trong bóng tối với Matthew. Nhưng anh ta nhanh hơn, chộp được cô, siết chặt vào lòng và hôn tới tấp như điên.
Cô giãy giụa như con chim mắc bẫy, nhưng không sao thoát nổi cái thân người đói khát đang ghì cô đến kêu răng rắc cả xương sườn, rồi trút xuống cô những cái hôn cuồng dại đến mức cô lả đi; mắt cô mờ đi như có màn che, và cô nghẹt thở.
“Matthew, anh Matthew, buông em ra đi mà!”
“Chút nữa thôi, Yagna, chút nữa thôi... anh phát điên lên mất!” Rồi anh ta hôn mãi cho đến khi cô gái rũ xuống, mềm oặt trong tay anh ta, rã ra như nước. Nhưng vừa lúc ấy anh ta nghe tiếng chân ngoài hành lang; thế là buông cô ra, châm cây đèn cầm tay bên bếp lửa, vấn một điếu thuốc, mắt vẫn nhìn Yagna long lanh khoái trá.
Andrew bước vào, thổi cho lửa trong bếp bùng lên, rồi lúi húi loay hoay khắp phòng; thành thử hai người kia nói với nhau chẳng được mấy câu, chỉ trao nhau những cái nhìn nóng rực của thèm muốn đói khát.
Mấy phút sau Dominikova về. Hẳn bà đang bực chuyện gì đó, vì vừa tới hành lang đã mắng Simon một trận nên thân. Trông thấy Matthew, bà quắc mắt nhìn, mặc kệ lời chào của anh ta, rồi đi thẳng vào buồng thay áo.
“Anh về đi,” Yagna van, “không mẹ em ra lại chửi cho.”
Nhưng anh ta chỉ nài cô ra ngoài gặp mình.
Dominikova bước vào. “Anh... anh! Lại mò về đấy à?” bà hỏi, làm như chưa hề trông thấy anh ta.
“Vâng, con về rồi đây, mẹ ạ,” anh ta đáp nhũn nhặn, định hôn tay bà.
“Tôi là con chó chắc, mà anh gọi tôi bằng mẹ?” bà gầm gừ, giận dữ giật phắt tay lại. “Anh đến làm gì? Tôi đã nói dứt khoát rồi, ở đây không ai cần anh.”
“Tôi đến không phải vì bà, mà vì Yagna,” anh ta đáp, ra vẻ thách thức: anh ta đã bắt đầu nổi nóng.
“Tôi bảo anh buông Yagna ra cho hẳn! Buông ra! Đừng để người ta lại vì anh mà bôi nhọ nó nữa!... Cút, khuất mắt tôi đi, cái đồ...!”
“Bà quang quác gì to thế? Cả làng nghe thấy bây giờ!”
“Cho nghe! Cho đến mà xem! Cho biết anh bám lấy Yagna như quả ké bám đuôi chó — nhà này phải cầm cời lò mới đuổi được anh đi!”
“Chà, giá bà là đàn ông! Thì đã biết tay tôi rồi!”
“Cứ thử xem, cái đồ chó! Cứ thử xem, đồ côn đồ, đồ bắt nạt!” Nói rồi bà chộp lấy cái que cời lửa.
Thế là hết chuyện. Matthew giận dữ nhổ toẹt xuống đất rồi đi thẳng, đóng sầm cửa lại. Chứ chẳng lẽ lại đánh nhau với đàn bà để cả làng cười cho?
Đoạn bà lão quay sang Yagna mà trút hết cơn thịnh nộ. Bao nhiêu lời nhiếc móc bà đổ xuống đầu con gái, tống hết chỗ mật đắng đang ứ nghẹn trong lòng ra! Thoạt đầu Yagna ngồi chết lặng, đờ người vì hoảng; nhưng chẳng mấy chốc những lời cay nghiệt của mẹ đâm thấu tận ruột gan cô. Cô úp mặt xuống chiếc giường mình đang ngồi cạnh, oà lên khóc lóc than thân. Cô đau như dao cắt... Cô có làm gì nên tội đâu?... Cô có mời anh ta vào đâu: anh ta tự đến đấy chứ... Mẹ nhắc lại chuyện mùa xuân năm ngoái... Thì... anh ta chặn cô ở bậc trèo rào... Làm sao thoát nổi cái thứ rồng lửa hùng hổ ấy, khi trong người cô cứ lịm đi như thế?... Và sau đó... làm sao mà đẩy anh ta ra được? Không thể nào!... Với cô bao giờ cũng vậy: hễ có người đàn ông nhìn sâu vào mắt cô, hay ghì chặt cô trong vòng tay... là hết thảy trong người cô run lên, sức lực bỏ cô mà đi, ruột gan lả đi, và cô chẳng còn biết gì nữa. Thế thì cô có lỗi lầm gì trong chuyện ấy?
Cô than thở như thế bằng giọng nghẹn ngào, đứt quãng giữa những cơn nức nở; và cuối cùng bà mẹ cũng mềm lòng, nâng niu lau mặt lau mắt cho con, vuốt tóc con, dỗ dành con.
“Thôi nào, thôi nào, Yagna; bình tĩnh lại, đừng khóc nữa. Kìa, mắt lại đỏ như mắt thỏ bây giờ: thế thì còn sang nhà ông Boryna thế nào được?”
“Đến giờ đi chưa hở mẹ?” lát sau cô hỏi, đã nguôi ngoai đôi chút.
“Đến rồi.— Thôi thay áo, sửa soạn cho đẹp vào.— Bên ấy đông người lắm, đến ông Boryna cũng phải để mắt tới con.”
Yagna đứng dậy ngay, sửa soạn chưng diện.
“Con có uống sữa không, mẹ đun cho?”
“Con chẳng thiết ăn uống gì đâu, mẹ ạ.”
“Simon! Cái thằng to xác vô tích sự! Lại ngồi sưởi lửa đấy hả — trong khi bò gặm máng không kia kìa!” bà quát, trút nốt chỗ giận còn lại lên đầu thằng con, khiến nó sợ hết hồn chạy biến.
“Mẹ nghĩ,” bà vừa giúp Yagna mặc áo vừa nói, “là lão thợ rèn đã làm lành với ông Boryna rồi: mẹ gặp hắn dắt một con bê từ trại ông lão về.— Tiếc thật! Con bê ấy ít ra cũng đáng mười lăm rúp. Mà thôi, chúng nó thuận nhau lại hoá hay; thợ rèn cái lưỡi nguy hiểm lắm, lại còn biết cả luật lệ nữa...” Bà lùi lại một bước, âu yếm ngắm con gái. “Khổ! Chúng nó đã thả cái thằng ăn trộm Koziol ra khỏi tù rồi đấy; từ giờ phải trông chừng, cửa nẻo khoá cho kỹ vào.”
Yagna ra đi; nhưng đi được một quãng cô vẫn còn nghe tiếng mẹ mắng Andrew vì đã để lợn ra khỏi chuồng, để gà lên cây mà ngủ.
Cô đến nơi thì nhà ông Boryna đã đông người.
Lửa bốc ngùn ngụt lên ống khói, soi sáng cả gian phòng lớn, làm mấy khung ảnh lồng kính lấp lánh, và khiến những quả cầu kết bằng bánh thánh nhiều màu treo lủng lẳng trên rui kèo ám khói đen kịt trông như đang động đậy. Giữa nhà chất một đống bắp cải, quanh đống ấy, thành một vòng cung rộng, mặt hướng về phía bếp lửa, khá nhiều cô gái và mấy người đàn bà đứng tuổi ngồi sát nhau, lột bỏ lớp lá ngoài đã héo của bắp cải mà ném lên tấm vải lớn trải dưới cửa sổ.
Hơ ấm tay bên lửa xong, Yagna cởi đôi guốc gỗ, rồi ngồi ngay vào làm ở cuối hàng, cạnh bà lão Yagustynka.
Gian phòng chẳng mấy chốc càng thêm ồn ào, đàn ông đàn bà kéo đến mỗi lúc một đông: mấy người đàn ông cùng với Kuba phụ khiêng bắp cải từ kho lúa vào, nhưng phần lớn thì chỉ hút thuốc, nhe răng cười với đám con gái, hoặc bông đùa với nhau.
Yuzka, dù chưa qua tuổi choai choai, đứng ra trông coi cả việc lẫn cuộc vui; bởi ông Boryna chưa về, còn Hanka thì như thường lệ, cứ bay tới bay lui khắp nơi như con thiêu thân.
“Chà, cả gian nhà rực lên như một cánh đồng anh túc đỏ!” Antek reo lên; anh vừa lăn mấy cái thùng ra hành lang, giờ đặt cái dao cắt bắp cải bên bếp lửa, nhưng hơi lệch sang một bên.
“Xì! Ăn mặc cứ như đi đám cưới ấy!” một bà đứng tuổi nhận xét.
“Còn Yagna thì nom như vừa tắm sữa xong,” Yagustynka nói, giọng đầy ác ý.
“Bà để cho cháu yên đi, được không?” cô gái thì thầm, mặt đỏ bừng.
“Mừng lên đi, hỡi các cô gái,” bà lão nói tiếp; “vì Matthew đã đi biệt xứ trở về. Từ giờ là bắt đầu mùa đàn hát, nhảy nhót, và hò hẹn ngoài vườn cây!”
“Anh ta vắng mặt suốt cả mùa hè.”
“Ừ; đi dựng nhà nông trại ở Vola.”
“Tay thợ cả cừ khôi: xây được cả lâu đài trên mây,” một người làm công lên tiếng.
“Mà làm ra đứa con hoang thì chưa đầy chín tháng,” Yagustynka nói thêm.
“Bà thì lúc nào cũng nói xấu người ta!” một cô gái phản đối.
“Liệu chừng, kẻo tôi lại đem cô ra nói đấy!” bà đáp trả.
“Các người có nghe nói ông lão hành hương lại về Lipka không?”
“Tối nay ông ấy sẽ đến nhà tôi,” Yuzka khoe.
“Ông ấy đi biệt ba năm.”
“Ừ, ở Mộ Thánh.”
“Vớ vẩn! Ai trông thấy ông ta ở đó? Ông ta nói dối như dân du mục, chỉ kẻ ngu mới tin. Y như lão thợ rèn, cứ kể cho ta nghe những chuyện xứ người lão đọc được trên báo.”
“Bà đừng nói thế, bà Yagustynka. Chính cha xứ bảo với mẹ cháu là ông ấy có đến đó thật.”
“Chà, ai chẳng biết nhà thứ hai của Dominikova là nhà cha xứ, hễ cha đau bụng một cái là bà ta biết tỏng.”
Yagna không nói một lời, nhưng trong bụng chỉ muốn cho mụ già một nhát dao, vì lời châm chọc ấy là hiệu lệnh cho cả một tràng cười rộ. Nhưng vừa lúc đó Ulisia, vợ Gregory, nghiêng người sang phía Klembova, hỏi người đàn ông kia từ đâu tới.
“Từ đâu ư? Từ xa lắm; ở đâu thì chẳng ai nói được.” Chị cúi xuống nhặt một bắp cải khác, và trong lúc cắt bỏ mấy lá già, chị nói to hơn cho ai nấy đều nghe thấy: “Cứ ba mùa đông một lần ông ấy lại về Lipka, trọ ở nhà Boryna. Ông ấy chọn cái tên Roch mà xưng; nhưng chắc chắn đấy không phải tên thật. Ông ấy là một Dziad, mà lại chẳng phải Dziad: thật ra ông ấy là ai, ai mà biết được? Nhưng người tốt và mộ đạo thì hẳn rồi, chẳng còn ngờ gì nữa; chỉ cần thêm vòng hào quang quanh đầu là y hệt một vị thánh trong tranh. Quanh cổ ông ấy đeo một tràng hạt đã chạm vào mộ Chúa. Ông ấy cho lũ trẻ ảnh thánh, lại cho — vài đứa thôi — tranh các vị vua ngày xưa trị vì nước ta. Ông ấy còn có sách kinh, và những sách khác kể đủ mọi chuyện trên đời… Ông ấy đọc mấy quyển ấy cho thằng Valek nhà tôi nghe. Vợ chồng tôi cũng nghe: nhưng khó hiểu quá, tôi quên sạch rồi… Mà sùng đạo thế chứ! Nửa ngày quỳ gối; rồi lại quỳ trước cây thánh giá, hoặc ngoài đồng; ông ấy chỉ đến nhà thờ khi có lễ. Cha xứ mời Roch về ở với cha, nhưng ông ấy đáp:
“‘Chỗ của tôi là ở với người dân thường, không phải trong nhà cao cửa rộng.’”
“Ai cũng biết ông ấy không phải nông dân, dù ông ấy nói năng như chúng ta. Mà học rộng làm sao! Ông ấy líu lo tiếng Đức được với một người Do Thái; còn ở dinh điền Djazgova, nơi có một tiểu thư từng sang xứ nóng dưỡng bệnh, ông ấy nói với cô ta bằng một thứ tiếng lạ hoắc! — Mà ông ấy chẳng nhận của ai cái gì, ngoài giọt sữa hay mẩu bánh: lại còn dạy dỗ lũ trẻ nhà ta nữa. Người ta bảo…” — Đến đấy chị bị cắt ngang bởi một tràng cười lớn làm cả bọn ôm bụng.
Nguyên do là Kuba, đang khiêng bắp cải trong một tấm khăn vải, bị đẩy cho một cái, ngã sóng soài xuống sàn, bắp cải lăn tứ tung khắp phòng. Anh ta cố gượng dậy, nhưng vừa lồm cồm bò lên thì lại một cái đẩy nữa cho ngã dúi xuống.
Yuzka bênh anh ta, sau cùng chạy lại đỡ anh đứng lên; nhưng anh ta đã cáu tiết, buông ra những lời khủng khiếp.
Nhưng chẳng mấy chốc sự chú ý chuyển sang chuyện khác. Ai nấy nói cùng một lúc, và điều đó — dù chẳng ai nói to — làm nên thứ ồn ào như trong tổ ong trước lúc chia đàn; lại có những tràng cười, những lời trêu ghẹo; mắt long lanh, lưỡi mỗi lúc một bạo, và tay làm mỗi lúc một nhanh. Dao lách cách trên cuống cải, bắp cải rơi xuống tấm khăn như đạn đại bác bắn liên hồi: đống cải cứ chốc chốc lại cao thêm. Antek đứng bào cải trên một cái thùng lớn lăn sát bên bếp lửa — trên người chỉ độc chiếc áo sơ mi với cái quần kẻ sọc anh vẫn mặc, mặt đỏ bừng, tóc tai rối bù, mồ hôi chảy ròng ròng, vậy mà đẹp đến nỗi Yagna cứ đắm mắt vào cái dáng như tranh ấy. Thỉnh thoảng anh dừng tay lấy hơi; rồi anh nhìn cô, và cô cụp mắt xuống, đỏ bừng mặt. Có điều chuyện ấy chẳng ai để ý, ngoài Yagustynka — mụ làm bộ như không thấy gì, trong bụng đã tính sẵn cách loan tin khắp làng cho nhanh.
“Người ta bảo Martianna ở cữ rồi,” Klembova nói.
“Chuyện ấy mới mẻ gì, năm nào chẳng thế.”
“Đàn bà gì mà như con bò rừng! Không nhờ lũ con thì hẳn đã trúng gió mà đi rồi!” Yagustynka làu bàu, và hẳn còn nói nữa nếu những người kia không mắng mụ vì đem chuyện ấy ra nói trước mặt đám con gái.
“Chớ lo cho chúng nó,” mụ đáp. “Chúng nó còn biết nhiều hơn thế nhiều. Thời buổi này, nói chuyện con cò với thằng bé chăn ngỗng thì nó cười vào mặt cho. Không, không, ngày xưa đâu có thế.”
“Ừ, dù sao thì hồi đi chăn bò bà cũng đã biết tuốt rồi còn gì,” bà vợ già của Vavrek nói, giọng rất nghiêm trang. “Chẳng lẽ tôi quên hết những gì bà làm hồi chăn bò đấy sao?”
“Chưa quên thì giữ lấy cho riêng mình!” Yagustynka gắt lên, giọng chua chát đầy giận dữ.
“Hồi ấy tôi đã có chồng rồi. Để xem nào: với Matthew phải không? Không, với Michael; Vavrek là ông thứ ba,” bà ta lẩm bẩm, chẳng nhớ rõ lắm cái thời trẻ dại hư đốn của mụ già kia rơi vào năm nào.
Vừa lúc ấy Nastusia, em gái Matthew, hớt hải xông vào phòng, kêu lên: “Sao, các người còn ngồi cả đây, mà không biết chuyện gì vừa xảy ra ư?”
Bị hỏi dồn tứ phía, mọi con mắt đổ dồn vào mình: “Thì đấy,” cô nói, “ngựa nhà ông chủ cối xay bị trộm mất rồi!”
“Bao giờ?”
“Mới có hai phút thôi. Matthew nhà tôi vừa nghe Yankel nói.”
“Yankel bao giờ cũng biết những chuyện thế này sớm nhất — mà có khi còn biết trước một tí nữa kia.”
“Ngựa bị dắt khỏi chuồng. Thằng người làm ra cối xay lấy cám; lúc quay về thì chuồng trống trơn, cả ngựa lẫn yên cương! Còn con chó thì thấy chết vì thuốc độc trong cũi.”
“Mùa đông đến nơi rồi, mùa đông vẫn hay có chuyện lạ.”
“Ấy là vì trộm cắp thật ra chẳng bị phạt gì. Chứ chúng nó phải chịu cái gì nào? Một xà lim ấm áp, cơm no đủ, lại học được khối thứ từ đám trộm cắp cùng buồng, đến lúc ra thì biết gấp đôi, và ác gấp đôi.”
“Ồ, nhưng đứa nào trộm ngựa nhà tôi mà tôi tóm được, là tôi giết ngay tại chỗ như giết chó dại!” một người làm thuê kêu lên.
“Chỉ có thằng ngu mới đi tìm công lý ở đời này. Ai làm được thì tự đòi lại cái phần thiệt của mình.”
“Đứa nào bị cả một đám đông tóm được rồi đánh chết thì chắc chắn chẳng ai bị phạt đâu: phạt sao hết cả đám!”
“Tôi nhớ,” vợ Vavrek nói, “có một chuyện như thế, ngay giữa làng ta… Hồi ấy tôi đang ở với ông chồng thứ hai — không, để xem nào; hồi ấy Matthew hãy còn sống…”
Những hồi tưởng của bà ta bị cắt ngang vì Boryna bước vào.
“Chao,” ông vui vẻ kêu lên, “các người tán chuyện ầm ĩ đến bên kia mặt nước cũng nghe thấy!” Rồi ông bỏ mũ, chào từng người khách một. Có lẽ ông đã ngà ngà, mặt đỏ như củ dền; và trái với thói quen, ông cởi khuy áo khoác, nói to và nói dài. Ông rất muốn sang ngồi cạnh Yagna, nhưng không dám: làm thế thì coi sao được, khi chuyện giữa hai người còn chưa ngã ngũ. Nên ông chỉ đưa mắt ngắm cô — xinh xắn thế, ăn vận tươm tất thế — lại chít cả cái khăn ông mua cho cô!
Vitek và Kuba khiêng một chiếc ghế dài đặt trước bếp lửa. Yuzka lau ghế bằng tấm vải sạch, rồi bày ngay lên đó bát đĩa và thìa cho bữa tối.
Từ trong buồng kho, Boryna mang ra một cái chai bụng phệ đựng bốn lít rượu, đi một vòng rót mời từng người khách, và uống cùng họ.
Nhưng đám con gái thì làm bộ chê, cứ đùn đẩy mãi, cho tới khi một người làm thuê kêu lên: “Đứa nào cũng mê rượu như mèo mê sữa, mà cứ làm bộ làm tịch cho ra vẻ!”
“Cái đồ nghiện không thuốc chữa! Suốt ngày ở quán Yankel, nên tưởng ai cũng như mình!”
Thế là họ thôi làm bộ mà uống, trước hết quay mặt đi, lấy tay che, rồi hắt mấy giọt cuối xuống sàn đúng theo lệ; và cô nào cũng nhăn mặt kêu lên: “Nặng quá đi mất!” khi trả cái ly lại cho Boryna.
Chỉ mình Yagna nhất định không uống, dù người ta nài ép thế nào.
“Tôi còn chẳng biết rượu mùi vị ra sao, mà cũng chẳng muốn biết.”
“Nào, mời bà con ngồi xuống, ăn lấy thảo với nhà tôi,” Boryna mời, sau tuần rượu.
Sau vài thủ tục khách khí mà phép lịch sự đòi hỏi, tất cả ngồi vào bàn, ăn thong thả và chuyện trò.
Thức ăn ngon đến mức khiến nhiều người khách phải ngạc nhiên. Có khoai luộc chan nước dùng; có thịt hầm nhừ với bột lúa mạch; có bắp cải nấu chung với đậu trong một đĩa: tất cả được ông chủ nhà mời mọc rất hào phóng, không chỉ mời mà còn ép khách ăn cho thật thoả.
Vitek chất vào bếp những gốc rễ khô, lửa nổ lép bép nghe thật vui tai; và trong lúc mọi người ăn, Kuba khuân vào một đống bắp cải tươi, chất lên, mũi thì hít lấy hít để mùi đồ ngon trên bàn, rồi thở dài.
“Cái ngữ ấy!” anh ta lầm bầm một mình; “ăn như ngựa đói cả lũ! Khéo chẳng chừa cho người ta lấy một cái xương mà gặm!”
Nhưng rồi bữa ăn cũng xong, ai nấy đứng dậy nói với chủ nhà: “Xin Chúa trả công cho ông!”
“Ăn uống cho khoẻ người!” là câu đáp theo lệ.
Tiếp đó là mấy phút xáo động: kẻ ra ngoài hóng chút khí trời và duỗi chân tay, kẻ ra xem trời đã quang chưa; còn đám người làm thì đứng lảng vảng ngoài hiên chọc ghẹo bọn con gái.
Rồi Kuba ngồi xuống bậc cửa, đặt cái đĩa lên đùi, ngốn ngấu ngon lành đến mức chẳng buồn để ý tới con chó Lapa, mặc nó cứ nhỏ nhẹ ra hiệu; và Lapa, thấy chẳng xin được gì ở đấy, bèn đi ra chỗ hành lang dành cho lũ chó khác theo khách tới, đang gặm những khúc xương Yuzka ném cho.
Họ sắp bắt tay vào việc trở lại thì Roch hiện ra ở ngưỡng cửa, “ngợi khen Chúa Giêsu Kitô”.
“Đời đời chẳng cùng!” tất cả cùng đáp.
“Có câu rằng: ‘Đừng đến trễ tràng, hãy đến lúc cơm đã dọn sàng,’” Boryna đọc lẩy.
“Chỉ cần Yuzka cho tôi ít bánh mì với sữa; thế là đủ.”
“Vẫn còn ít thịt đấy ạ,” Hanka rụt rè nói.
“Không, cảm ơn; tôi không bao giờ ăn thịt.”
Thoạt tiên ai nấy đều lặng thinh, nhìn ông chằm chằm với vẻ tò mò thiện cảm; nhưng khi ông ngồi xuống ăn thì chẳng mấy chốc họ lại chuyện trò cười nói như cũ.
Chỉ mình Yagna là hết lần này đến lần khác đưa mắt nhìn ông già hành hương, ánh mắt đầy kinh ngạc, lạ lùng rằng một người như thế, chẳng khác gì những người đàn ông khác, mà lại từng viếng mộ Chúa chúng ta, từng đi khắp nửa vòng thế giới, từng thấy bao nhiêu điều kỳ diệu. Vậy thì cái thế giới rộng lớn ông biết ấy là thế nào? Phải đi đâu mới tới được nơi ấy? Quanh cô chỉ có xóm làng, đồng ruộng và rừng thông, mà bên kia rừng thông lại là đồng ruộng, rừng thông và xóm làng. Chắc phải đi trăm dặm, hay có khi nghìn dặm, cô nghĩ. Có cái gì thôi thúc lạ lùng khiến cô muốn hỏi người ấy vài câu; nhưng hỏi làm sao được? Người ta chỉ cười cho thôi.
Con trai Rafal, vừa ở lính về, có mang theo cây vĩ cầm; và bây giờ, lên dây xong, anh ta bắt đầu kéo hết bài này sang bài khác. Cả phòng lặng đi; chỉ còn nghe tiếng mưa gõ lộp bộp trên ô kính, và tiếng lũ chó rên ư ử ngoài kia.
Anh cứ kéo mãi, kéo mãi, bài nào cũng mới, đưa vĩ trên dây, và giai điệu như tự nó tuôn ra dưới cái vuốt ve ấy. Trước hết anh kéo những bài đạo, như để tỏ lòng kính trọng người hành hương — ông không rời mắt khỏi chàng trai lấy một khắc. Rồi đến những khúc khác, hoàn toàn phàm tục; chẳng hạn bài về “Chàng Johnny đã ra trận”, bài mà đám con gái vẫn thường hát ngoài đồng; và anh kéo dài từng nốt với một nỗi buồn vô tận, buồn đến nỗi một cơn rùng mình lạnh buốt chạy dọc sống lưng; còn Yagna, người nhạy với âm nhạc như hiếm ai, thấy nước mắt cứ giọt này nối giọt kia lăn xuống má.
“Thôi, đừng kéo nữa!” Nastka kêu lên. “Anh làm Yagna khóc kìa.”
“Không, không đâu; cứ có nhạc là tôi lại muốn khóc,” Yagna thì thầm, lấy tạp dề che mặt.
Nhưng cô không sao ngăn được dòng nước mắt cứ chảy ra ngoài ý muốn, do một nỗi khao khát lạ lùng trong lòng gọi dậy — khao khát cái gì? Cô không biết.
Chàng trai vẫn kéo đàn; có điều bây giờ cây vĩ cầm tuôn ra những điệu Mazur cuồng loạn và những điệu Oberta rộn ràng đến mức đám con gái ngồi yên không nổi, phải gắng ép chặt hai đầu gối cứ run lên bồn chồn mới ngồi được; còn đám con trai thì giậm chân vui vẻ và hát nhẩm theo, cả căn phòng náo động tiếng cười tiếng nói, đến những ô kính cửa sổ cũng rung lên.
Thình lình một con chó ngoài hành lang rú lên một tiếng thảm thiết, tiếng rú xé tai đến mức lập tức cả căn phòng lặng ngắt như tờ.
“Cái gì thế?”
Roch lao vọt ra nhanh đến nỗi suýt vấp ngã vào cái bàn bào cải.
“Chẳng có gì to tát,” Antek kêu lên sau khi ngó ra hành lang; “thằng nhóc nào kẹp đuôi con chó vào cánh cửa thôi.”
“Chắc chắn là do Vitek chứ ai,” Boryna nói.
Yuzka hết lời bênh thằng bé: “Sao lại thế, Vitek mà ác với chó ư? Không đời nào!”
Roch quay vào, vẻ xúc động dữ dội. Chắc ông đã thả con chó ra, vì nghe thấy tiếng nó ngoài kia, rên ư ử sát bờ rào.
“Con chó cũng là loài Chúa dựng nên,” ông nói, giọng kích động, “bị hành hạ thì nó cũng đau đớn như người vậy. Chính Chúa chúng ta cũng có một con chó riêng, và Người chẳng để ai ngược đãi nó.”
“Sao? Chúa Giêsu cũng có chó như người ta ư?” Yagustynka hồ nghi vặn lại.
“Tôi bảo là Người có; mà tên nó là Burek.”
Lời ấy được đón bằng cả một tràng kêu lên: “Ối chao! — Sao lại thế? Có thật vậy chăng!” và đủ thứ nữa.
Roch lặng thinh một lúc; rồi ngẩng cái đầu bạc phơ, tóc để dài trừ phía trước, nơi tóc được xén ngang, ngắn trên trán, ông đăm đăm nhìn vào bếp lửa bằng đôi mắt như đã bị bao nhiêu nước mắt rửa trôi hết màu, và bắt đầu kể chậm rãi, những hạt tràng hạt trong lúc ấy cứ lần qua các ngón tay.
“Vào cái thuở xa xưa ấy, khi Chúa Giêsu chúng ta còn đi lại trên mặt đất này và đích thân cai trị muôn dân, thì chuyện tôi sắp kể đây đã xảy ra.
“Bấy giờ Chúa Giêsu đang đi tới ngày hội lễ ở xứ đạo Mstov. Chẳng có đường sá gì tới đó, lối đi chỉ toàn cát bỏng hoang vu; mặt trời dội lửa xuống, và không khí hầm hập như lúc sắp nổi giông.
“Mà chẳng đâu có lấy một bóng râm hay chỗ trú.
“Chúa nhẫn nại bước đi; nhưng dù còn chưa tới gần rừng, đôi bàn chân thánh của Người đã tê dại vì đi đường mệt nhọc, và Người khát cháy cổ. Bởi vậy Người cứ dừng lại nghỉ hết gò này đến gò khác bên đường: dẫu trên đó nắng còn gắt hơn, và cái bóng của mấy nhành mao nhị khô cũng chẳng đủ cho đến một con chim trời tìm chỗ nấp.
“Nhưng vừa ngồi xuống thì Người đã thấy ngột, chẳng có khí mà thở; vì kìa, tức thì Quỷ dữ — như con diều hâu bẩn thỉu bổ xuống con chim nhỏ đã kiệt sức — sà xuống, lấy móng guốc quần cát tung lên, rồi lăn lộn trong đó như một con vật ô uế nào đó; cát bốc lên thành đám mây, che tối mù mọi vật.
“Chúa tuy chẳng thở được cho ra hơi, mà cũng chẳng cử động nổi (tối tăm đến thế), vẫn đứng dậy đi tiếp, chỉ cười nhạo cái thằng ngu, con quỷ muốn làm Người lạc đường để Người không kịp tới ngày hội lễ mà cứu vớt đám dân tội lỗi.
“Và Chúa cứ đi, cứ đi, cho đến khi tới cánh rừng.
“Ở đó, dưới bóng cây, Người nghỉ đôi chút, uống nước lấy sức, và ăn thứ đựng trong bị của Người... Rồi Người bẻ một cành làm gậy, làm dấu thánh giá, và bước vào rừng.
“Cánh rừng ấy già cỗi và rậm rịt lắm, có những vũng lầy sâu hun hút, những lùm cây chằng chịt và những bụi rậm dày đến nỗi chim cũng khó lọt, mà chính Quỷ dữ hẳn cư ngụ trong đó. Vậy mà Chúa vẫn bước vào.
“Bấy giờ con quỷ nào có chừa việc gì? Nó rung cả cánh rừng, nó gào rú, nó nhờ gió mà bẻ gãy đôi những cành lớn — cơn gió là tay chân độc ác của nó, giúp nó hết sức mình; nó quật đổ những cây sồi, nó bứt tung cành lá, và nó rống khắp rừng như điên như dại!
“Hơn nữa, trời tối sầm, tối đến mù mắt, bên này thì náo loạn, bên kia thì ầm ĩ, bên nọ thì gió lốc. Và quanh Chúa lũ quỷ con dưới hoả ngục chạy nhảy, nhe những cái răng dài, trợn mắt gầm gừ, chỉ chực chộp lấy Người bằng vuốt. Có điều chúng chẳng dám, vì khiếp sợ chính Đấng Kitô chí thánh.
“Nhưng khi Chúa đã chán ngán cả lũ yêu tinh ngu ngốc ấy, vì Người còn vội tới ngày hội lễ, Người làm dấu thánh giá trên chúng — và kìa, hết thảy tà thần cùng lũ quỷ con phụ việc lập tức biến mất vào bụi rậm.
“Và kìa, chỉ còn trơ lại một con chó hoang; vì thuở ấy chó chưa thành bạn của người.
“Con chó ấy chẳng chạy, lại còn đuổi theo Chúa mà sủa; nó bám riết, cắn xé áo choàng của Người, táp vào cái bị của Người, chực đớp lấy miếng thịt đựng trong đó... Nhưng Chúa vốn nhân từ, chẳng nỡ làm hại loài thọ tạo nào của Người, bèn bảo nó:
“‘Đồ ngốc, đồ đói khát, kìa! thịt cho mày đây!’ Rồi Người lấy trong bị ra ném cho nó một ít.
“Nhưng con chó lại càng hung tợn hơn, nó nổi khùng nhe nanh, gầm gừ xông vào Chúa, xé rách cái quần Người đang mặc.
“‘Ta đã cho mày bánh; Ta chẳng làm hại gì mày: vậy mà mày xé áo Ta, mày sủa nhặng lên làm chi? Mày ngu lắm, con chó nhỏ của Ta ơi, mày chẳng biết Chủ mày! Vì mày đã làm thế, từ nay mày sẽ làm đầy tớ cho người ta, và không có người thì mày chẳng nên thân đời đời.’
“Chúa nói lời ấy lớn tiếng xong, con chó ngồi thụp xuống trên hai chân sau; rồi ngơ ngác, cụp đuôi vào giữa hai chân, nó bỏ đi lang thang khắp thế gian.
“Ở ngày hội lễ, người đông lắm lắm, dày như cỏ ngoài đồng.
“Chỉ có nhà thờ là trống không. Người ta chè chén trong các quán rượu, họp thành cả một cái chợ lớn ngay trong hành lang nhà thờ, nào rượu chè, nào dâm dật, nào tội lỗi nghịch cùng Chúa, y như vẫn xảy ra thời nay vậy.
“Chúa tới nơi khi lễ trọng đã xong. Người thấy đám đông nhấp nhô như lúa gặp gió, chạy ngược chạy xuôi, kẻ vung roi quất, kẻ rút cọc rào, kẻ đi tìm đá; đàn bà thì rú lên, chen nhau trèo qua hàng giậu hoặc leo lên xe; còn trẻ con thì khóc.
“Ai nấy đều la lớn: ‘Kìa, chó dại! Chó dại!’
“Và con chó lao qua giữa những đợt sóng người, vì ai cũng giạt ra cho nó chạy: nó thè lưỡi, phóng thẳng về phía Chúa Giêsu.
“Chúa chẳng sợ nó, và Người biết đó là con chó trong rừng; Người cởi áo choàng ra, cất tiếng nói với nó; con chó liền dừng lại ngay.
“‘Lại đây, Burek,’ Người bảo; ‘ở bên Ta đây mày còn yên hơn lúc nào ở trong rừng.’
“Người phủ áo choàng lên nó, giơ hai tay che nó, và nói:
“‘Đừng giết nó, hỡi người ta: vì kìa, nó là loài thọ tạo của Chúa, khốn khổ và đói khát, bị săn đuổi và chẳng có chủ.’
“Nhưng đám nông dân bắt đầu kêu tướng lên, lằm bằm, lấy gậy nện xuống đất.
“‘Nó là con thú hoang dữ tợn; nó tha đi bao nhiêu ngỗng và cừu của họ, chẳng lúc nào thôi làm bậy. Nó cũng chẳng kiêng nể người, cứ nhe nanh mà táp, đến nỗi chẳng ai dám ra khỏi nhà mà không cầm gậy. Cho nên nhất định phải giết nó.’
“Nhưng Chúa Giêsu nổi giận, quát lên:
“‘Không ai được động đậy! — Ớ quân say rượu kia, các ngươi sợ một con chó mà chẳng sợ Chúa là Thiên Chúa các ngươi sao?’
“Họ liền lùi lại, vì Người nói bằng một giọng oai hùng. Rồi Người bảo thêm rằng họ là quân làm ác, đến để lãnh ơn đại xá mà chỉ biết nhậu nhẹt trong quán, xúc phạm đến Chúa, chẳng chịu ăn năn; quân bị nguyền rủa, vô đạo, quân trộm cắp và hành hạ lẫn nhau; nhưng họ sẽ chẳng thoát khỏi án phạt của Chúa!
“Nói dứt lời, Chúa Giêsu cầm gậy lên, làm như sắp bỏ đi.
“Nhưng bấy giờ dân chúng đã biết Người là ai, bèn quỳ xuống trước mặt Người, kêu la khóc lóc thảm thiết mà rằng: ‘Xin ở lại với chúng con, xin ở lại, lạy Chúa Giêsu! chúng con sẽ trung thành với Chúa, chúng con là quân say rượu, quân vô đạo, quân làm ác — chỉ xin Chúa ở lại với chúng con! Xin phạt chúng con, xin đánh chúng con, nhưng đừng bỏ chúng con, những kẻ mồ côi bơ vơ, một đám dân không chủ!’ Họ khóc thảm thiết và van xin tha thiết đến thế, lại hôn tay hôn chân thánh của Người, đến nỗi lòng Người mềm lại, và Người ở lại chừng đọc được mấy kinh, dạy dỗ, giải tội và chúc lành cho hết thảy.
“Và khi rời họ mà đi, Người bảo: ‘Con chó có làm hại gì các ngươi chăng? Kìa, từ nay nó sẽ là đầy tớ các ngươi, sẽ giữ đàn ngỗng và lùa đàn cừu cho các ngươi: và nếu kẻ nào trong các ngươi uống quá chén mà ngủ, thì nó sẽ canh giữ mảnh cơ nghiệp nhỏ nhoi của các ngươi, và làm bạn với các ngươi.
“‘Chỉ có điều các ngươi phải đối đãi tử tế với nó, đừng làm điều gì bất công với nó.’
“Vậy Chúa Giêsu ra đi, bỏ họ lại. Ngoảnh nhìn quanh, Người thấy Burek đang ngồi ngay chỗ Người đã đứng bên nó mà che chở cho nó.
“‘Mày theo Ta chăng, Burek, hay cứ ở lại đây với cái ngu của mày?’
“Nghe vậy con chó đứng dậy; và từ đó nó cứ theo Chúa Giêsu mãi, lặng lẽ, trung thành, tỉnh thức chẳng kém gì kẻ đầy tớ giỏi nhất.
“Và từ bấy giờ, hai bên luôn ở bên nhau.
“Và mỗi khi trong xứ có nạn đói, con chó lại bắt được con chim nhỏ, con ngỗng con, hay con cừu non; thế là cả hai có cái mà sống.
“Nhiều bận, khi Chúa Giêsu mỏi mệt nằm nghỉ, Burek xua đuổi kẻ ác và thú dữ, không cho chúng làm hại Chúa.
“Nhưng đến khi quân Do Thái đê tiện cùng bọn Pharisêu tàn ác của chúng bắt lấy Chúa để giết Người, thì Burek — con vật khốn khổ mà thương chủ! — xông vào cả lũ, lấy răng chống đỡ cho Người hết sức mình.
“Nhưng Chúa Giêsu, còng lưng dưới cây Gỗ mà Người vác đi chịu Khổ nạn thánh, bảo Burek:
“‘Mày chẳng làm gì được đâu: và kìa, lương tâm chúng nó sẽ cắn chúng nó sâu hơn răng mày!’
“Và khi chúng treo Người lên cây Thánh giá đắng cay, Burek ngồi bên dưới mà tru.
“Rồi hôm sau, khi người ta đã bỏ đi cả, chẳng còn Đức Mẹ, cũng chẳng còn các Thánh Tông đồ, chỉ mình Burek ở lại bên Người, cứ liếm mãi đôi bàn chân thánh đang hấp hối của Chúa, đôi bàn chân bị đinh đóng thâu qua; và nó tru, tru, tru mãi.
“Và khi ngày thứ ba rạng lên, Chúa Giêsu tỉnh khỏi cơn hôn mê mà nhìn; chẳng có ai bên Thánh giá ngoài mỗi Burek, đang rên ư ử thảm thương và quấn quýt dưới chân Người.
“Bấy giờ Chúa Giêsu Kitô, Đấng chí thánh của chúng ta, đoái thương nhìn nó trong giờ ấy, và bằng hơi thở hấp hối cuối cùng mà phán:
“‘Theo Ta, Burek!’
* * * * *
“Và ngay khoảnh khắc ấy con chó trút hơi thở cuối cùng, mà theo Chủ nó!
“Amen.
“Mọi sự đã xảy ra đúng như tôi kể đó, hỡi những người thân mến,” Roch kết lại, giọng hiền hoà; rồi ông làm dấu thánh giá, đi sang gian bên, nơi Hanka đã dọn cho ông một góc để ngủ; vì ông mệt lắm rồi.
Cả gian nhà lặng ngắt một hồi. Ai nấy còn ngẫm nghĩ về câu chuyện lạ lùng kỳ dị ấy. Mấy cô gái — trong đó có Yagna, Yuzka và Nastka — lén quệt nước mắt; vì lòng họ xúc động mạnh, vừa vì cái chết của Chúa Kitô, vừa vì phần con chó Burek dự vào chuyện đó. Vả lại, chính cái việc từng có một con chó trên đời tốt hơn và trung thành với Chúa hơn cả loài người cũng khiến ai nấy nghĩ ngợi nhiều. Chậm rãi, thoạt đầu còn thì thầm, họ bắt đầu bàn ra tán vào đủ điều về một sự an bài kỳ diệu đến thế của Chúa; thì Yagustynka, nãy giờ vẫn nghe rất chăm chú, ngẩng đầu lên, cười khẩy mà rằng:
“Ôi dào, ôi dào! — Một chuyện bịa với hai chuyện bịa là ba! Để tôi kể cho nghe chuyện hay hơn nhiều: chuyện người ta làm ra con bò thiến.
“‘Thuở xưa trời sinh bò mộng, Chẳng sinh bò thiến bao giờ; Một người cầm lấy lưỡi dao — Kìa, bò thiến có ngay đây!’
“Chuyện của tôi ít ra cũng thật bằng chuyện của bác Roch,” bà nói rồi phá lên cười. Những người quanh bà cũng cười theo, và chỉ lát sau cả gian nhà đầy những chuyện đùa, những câu bông lơn và đủ thứ chuyện kể.
“Chà, chẳng có gì mà bà Yagustynka không biết!”
“Bà ấy học được chứ, học được chứ; chôn tới ba đời chồng còn gì!”
“Phải rồi: ông thứ nhất dạy bà ấy buổi sáng bằng roi da; ông thứ hai dạy buổi trưa bằng dây thắt lưng; còn ông thứ ba dạy buổi tối bằng gậy gộc!” Rafal reo lên.
“Ta còn lấy đời chồng thứ tư nữa, nhưng không phải mày đâu: thằng nhóc ngu quá, ta chẳng thèm!”
Đến đây một gã trai làng bình phẩm: “Con chó của Chúa không có người thì chẳng nên thân, thì đàn bà không có đòn cũng vậy: thiếu đòn nên bà Yagustynka mới cay nghiệt thế đấy.”
“Mày ngu lắm,” bà gầm gừ vặc lại. “Liệu mà coi chừng đừng ai trông thấy, cái lúc mày ăn cắp lúa của bố mày đem cho lão Yankel ấy; còn đàn bà goá thì để yên, đầu óc mày không với tới đâu!” — Ai nấy im bặt, sợ bà nổi cơn mà kể tuột hết những gì bà có thể biết. Quả thật bà là người đàn bà cứng đầu bậc nhất, chuyện gì cũng có ý riêng của mình, và lắm khi buông ra những lời khiến người ta nổi da gà, dựng tóc gáy. Bà chẳng nể ai, đến cha xứ và Hội thánh cũng không. Cha đã hơn một lần răn bảo bà, mà chẳng ăn thua gì: đã thế bà còn đem chuyện cha quở trách ra nói khắp làng.
“Chà, chẳng cần cha nào thì chúng tôi cũng ăn ở với Chúa được, miễn là người ngay thẳng! — Cha nên để mắt tới bà quản gia của cha thì hơn: bụng mang dạ chửa lần thứ ba rồi, chả mấy nữa lại quẳng nó ở đâu đó, như mấy bận trước.”
Tính bà là thế.
Lúc mọi người sắp giải tán thì trưởng làng cùng ông Soltys bước vào, truyền cho dân làng hôm sau ra sửa con đường cạnh cối xay: mưa đã làm hỏng mất. Vừa vào đến nơi, trưởng làng đã dang hai tay kêu lên:
“Chà, lão già này mời bằng hết mấy đứa con gái xinh nhất làng rồi!”
Mà đúng thế thật: toàn con nhà nề nếp, đứa nào cũng chắc lẳn, phây phây.
Trưởng làng nói riêng với ông Boryna một lúc, chẳng ai nghe được họ bàn những gì. Buông vài câu bông đùa với đám con gái xong, ông ta rút lui, còn nửa làng nữa phải đi gọi cho ngày mai. Lát sau khách khứa cũng ra về, vì đã khuya.
Boryna chào từng người một, còn tiễn mấy bà lớn tuổi ra tận cổng.
Lúc ra về, Yagustynka lên giọng nói:
“Cầu Chúa trả công ông đã thết đãi tử tế; nhưng mọi sự vẫn chưa được như đáng lẽ phải thế.”
“Thế à?”
“Ông cần người coi sóc cửa nhà, Matthias ạ: không có người ấy thì việc nào cho ra việc nào được?”
“Biết làm sao được, bà chị? Biết làm sao được?... Bà ấy mất rồi, Chúa muốn thế....”
“Làng này thiếu gì con gái? Thứ Năm nào chẳng cả đám ngồi đợi ông ngỏ lời với một đứa,” bà ta nói, khôn khéo dò cho ông mở miệng. Nhưng Boryna chỉ gãi đầu mà cười, mắt bất giác đưa về phía Yagna đang bước ra.
Antek đoán trước cô sẽ ra về; thế là anh mặc vội áo rồi lẻn ra trước.
Yagna phải về một mình: đám bạn đi cùng đều ở mạn cối xay.
“Yagna!” anh thì thầm, thình lình bước ra từ sau bờ giậu.
Cô đứng sững lại, nhận ra giọng anh, và trong lòng lập tức dậy lên một nỗi xao động.
“Tôi đưa mình về nhé, Yagna!”—Anh nhìn quanh; đêm đen kịt, không một vì sao. Trên đầu họ, gió gào, quét qua những ngọn cây.
Cánh tay anh vòng chặt lấy eo cô; rồi sát vào nhau, cả hai khuất vào bóng tối.