Nông dân — Tập I: Mùa thu — Chương 8
Chương 8 / 12 · Bài review Nông dân — Tập I: Mùa thu
Mãi đến hôm sau, tin ông Boryna dạm cưới Yagna mới vỡ ra khắp làng Lipka.
Trưởng làng đã sang bên ấy mang theo lời dạm hỏi. Vợ ông, người bị ông cấm ngặt không được hé nửa lời về chuyện đó cho tới khi ông mang câu trả lời về, đợi đến chập tối mới sang nhà một người quen, lấy cớ vay ít muối; lúc ra về, bà kéo bạn thân ra một góc mà thì thầm:
“Bà biết gì chưa? Ông Boryna vừa cho người sang dạm hỏi Yagna, con gái bà Dominikova đấy. Nhưng liệu mà giữ mồm, đừng nói với ai, chồng tôi cấm tiệt tôi không được hở ra câu nào.”
“Có thật thế không?” bà kia sửng sốt hụt cả hơi. “Chuyện thế mà tôi lại đi rêu rao khắp làng à?... Người già đến thế, lại lấy vợ thứ ba!... Còn con cái ông ấy, chúng nó sẽ nói sao?... Ôi, đời với chả đời!”
Vợ trưởng làng vừa quay gót, bà ta đã lấy tạp dề trùm lên đầu, tất tả băng qua vườn cây sang nhà Klemba, “chỉ để vay một nhúm xơ gai mà cọ rửa thôi”.
“Bà nghe gì chưa? Ông Boryna sắp cưới Yagna, con gái bà Dominikova! Vừa mới cho người sang dạm hỏi xong.”
“Không thể nào! Bà nói gì thế? Không đâu; con cái ông ấy lớn cả rồi, mà chính ông ấy thì tuổi tác chồng chất.”
“Đúng, ông ấy chẳng trẻ trung gì. Nhưng người ta có từ chối ông ấy vì thế đâu... Một nhà nông có thớ, một người giàu đến vậy!”
“Chao ôi, nhưng cái con Yagna ấy! Con bé đã trăng gió, mà lại chẳng phải chỉ với một người! Thế mà thành vợ ông nông dân đứng đầu làng này! Trên đời còn công bằng nữa không, bà bảo? Trong khi bao nhiêu đứa con gái ngồi ế — em gái tôi chẳng hạn!”
“Hay bà góa của anh tôi... Hay mấy đứa nhà Kopzyva... Hay con Nastka, và bao nhiêu đứa khác nữa. — Không, chuyện ấy chẳng ra thể thống gì, chẳng phải phép, chẳng phải lẽ; bà nghĩ sao?”
“Rồi nó sẽ vênh vang lắm cho mà xem, đi lại nghênh ngang như con công, có phải không?”
“Chắc là Chúa bị xúc phạm nặng lắm rồi: cứ tin đi, cả bác thợ rèn lẫn con cái ông Boryna đều không chịu nổi nó làm mẹ ghẻ đâu.”
“Khốn nỗi, chúng nó làm được gì? Đất là của riêng ông ấy, mà ý muốn cũng là của riêng ông ấy.”
“Theo luật thì đúng; nhưng theo lẽ công bằng, đất ấy cũng là của chúng nó nữa.”
“Bà ơi, công bằng bao giờ cũng thuộc về kẻ đủ sức kéo nó về phía mình.”
Họ cứ thế mà than vãn, mà chê trách cuộc đời cùng mọi sự trên đời, rồi ai đi đường nấy. Và tin ấy theo chân họ mà lan khắp xóm.
Việc đồng áng lúc này chẳng có mấy, mà cũng chẳng gấp; nên người trong làng ở nhà cả, đường sá thì lầy lội như bấy nhiêu vũng bùn; và chuyện cưới xin được đem ra bàn trong từng nếp nhà tranh. Ai nấy nóng lòng chờ xem sự thể ra sao. Họ thừa biết ông Boryna ngang bướng thế nào, và một khi đã chọn đường thì có cha xứ khuyên can cũng chẳng lay chuyển được. Họ cũng biết cái tính kiêu không chịu nhường ai của anh Antek.
Ngay cả đám đàn ông bị trưng đi sửa quãng đường bên cối xay chỗ đập nước vỡ cũng ngừng tay mà bàn về cái sự trọng đại ấy.
Lắm ý kiến được đưa ra; sau rốt, ông Klemba già, một nhà nông sáng dạ và có uy tín, hạ một lời nghiêm khắc:
“Cả làng sẽ khốn vì chuyện này!”
“Anh Antek không chịu đâu,” có người nói. “Sao, lại thêm một miệng ăn nữa à?”
“Thêm miệng ăn thì đã sao. Nhưng còn phần thừa kế! Vướng là vướng chỗ ấy.”
“Thế nào cũng phải làm giao kèo cưới xin thôi.”
“Phải; bà Dominikova khôn ranh lắm, thế nào cũng thu xếp được.”
“Bà ấy là mẹ,” ông Klemba xen vào, “mà đến con chó cái cũng biết giữ đàn con của nó.”
Suốt cả buổi chiều, người trong làng cứ bàn đi bàn lại chuyện ấy. Cũng chẳng lạ, vì nhà Boryna thuộc dòng nhà nông vào hạng nhất, mà ông Matthias thì nắm trong tay ruộng đất từ đời nảo đời nào đã thuộc về tổ tiên ông, lại được truyền cho cả cái đầu sắc sảo lẫn của cải; nên ai muốn hay không cũng phải kiêng nể ông.
Tuy vậy, chẳng ai dám mang tin ấy đến tai đứa con nào của ông, kể cả bác thợ rèn: cơn giận nổ ra có khi lớn đến mức người báo tin lãnh trọn một trận đòn nên thân.
Vậy nên trong nhà ông Boryna mọi sự đều yên; thật ra còn yên hơn thường ngày. Mưa đã tạnh từ sáng, trời quang. Anh Antek, cùng Kuba và đám đàn bà, vừa ăn sáng xong đã bị sai vào rừng kiếm củi khô, và xem có cào gom được ít lá thông nào về dự trữ không.
Ông Boryna thì ở nhà. Từ tinh mơ, ông đã khó ở lạ lùng và cáu bẳn khác thường, cứ chực tìm ai đó để trút cái nôn nóng, bồn chồn đang bám riết lấy mình. Ông đã đánh thằng Vitek vì quên rải rơm cho bò, để chúng nằm cả đêm lún nửa mình trong phân; đã gây với anh Antek, mắng chị Hanka vì thằng bé con chị chơi ngoài sân lấm lem cả người; đến cả con Yuzka ông cũng nói nặng.
Khi rốt cuộc chỉ còn lại ông với bà Yagustynka — người đã được gọi từ tối hôm trước sang trông nom gia súc hôm nay — ông không còn biết làm gì với chính mình nữa. Hết lần này đến lần khác, ông nhớ lại lời lão Ambrose kể về việc bà Dominikova đón tiếp lão ra sao. Vậy mà ông vẫn thấp thỏm, vẫn ngờ vực lão già ấy, cái lão có thể bịa bất cứ điều dối trá nào để được một cốc rượu. Thế là ông cứ lẩn quẩn quanh nhà, lúc nhìn qua cửa sổ, lúc ra hiên, hướng về phía nhà Yagna; và như kẻ ăn mày chờ của bố thí, ông chờ đêm xuống.
Đã bao lần ông muốn chạy ngay sang nhà trưởng làng mà giục người ta đi sớm hơn: vậy mà ông vẫn ở nhà, bị giữ chân bởi cặp mắt bà Yagustynka, lim dim mà đầy vẻ giễu cợt, cứ dán vào ông không rời.
“Cái mụ phù thủy ấy!” ông nhủ thầm; “mắt mụ là hai cái mũi khoan.”
Trong khi đó bà đi ra đi vào trong nhà, ngoài hành lang, con cúi kẹp dưới nách, ngó nghiêng hết chỗ này đến chỗ kia. Bà kéo sợi đến khi con suốt quay vù vù trong không khí; rồi cuộn chỉ lại, ra với đàn ngỗng, đàn lợn, chuồng bò, con Lapa lừ đừ nặng nề lẽo đẽo theo sau. Bà chẳng nói với ông lão nửa lời, tuy thừa biết cái gì đang dày vò ông đến thế, đến mức đẩy ông ra đóng cọc quanh vách để chèn lớp áo mùa đông giữ ấm cho nhà.
Song thỉnh thoảng bà cũng dừng lại trước mặt ông; và sau rốt bà nói: “Xem chừng hôm nay việc chẳng chạy nhỉ.”
“Quỷ tha ma bắt! Chẳng chạy gì cả.”
“Chà!” bà nghĩ bụng lúc bỏ đi; “nhà này rồi sẽ thành địa ngục... địa ngục thôi! — Nhưng ông lão lấy vợ là phải — phải quá đi chứ. Không lấy thì con cái thế nào cũng bắt ông ăn nhờ ở đậu — như con tao đã làm với tao!... Ừ, tao đã sang tên cho chúng nó đủ mười mẫu đất tốt nhất. Rồi ra nông nỗi này đây!” Bà tức tối nhổ toẹt một bãi. “Giờ tao phải đi làm thuê, phải ngủ nhờ nhà người!”
Cuối cùng ông lão không chịu nổi nữa, quăng rìu đi mà quát: “Cha tiên nhân cái việc này!”
“Có gì làm ông rối trí đấy.”
“Có, có đấy!”
“Thế mà chẳng có cớ gì trên đời để ông phải rối cả.”
“Bà thì biết gì!”
Bà Yagustynka lại gần, ngồi xuống sát vách, rút ra một sợi dài, quấn vào con suốt, rồi chậm rãi nói, không phải không có chút dè dặt:
“Chẳng phải sợ gì. Bà Dominikova đầu óc sáng lắm, mà con Yagna cũng không dại.”
“Bà nói gì đấy!” ông mừng rỡ kêu lên, rồi ngồi xuống bên bà.
“Tôi có mắt thì tôi thấy.”
Im lặng một hồi lâu, mỗi người chờ xem người kia nói gì.
“Ông cứ mời tôi đến đám cưới; tôi sẽ hát cho ông một bài Hoa Bia[18] đến nỗi chín tháng sau nhà này có lễ rửa tội cho mà xem...” Bà mở đầu như thế; nhưng thấy ông lão cau mày, bà liền đổi giọng.
-----
Chú thích 18:
_Bài Hoa Bia_ — một loại ca khúc đám cưới hết sức cổ sơ. — _Chú của người dịch._
“Ông Matthias ạ, ông làm đúng cái điều phải làm đấy. Giá hồi chồng tôi chết mà tôi đi kiếm một tấm chồng khác, thì bây giờ tôi đâu phải ở nhờ nhà người. Ôi, không!... Nhưng tôi khờ dại, tôi tin con cái: chúng nó sẽ nuôi tôi. Tôi sang tên cho chúng nó tất cả những gì tôi có: rồi bây giờ thì sao?”
“Còn tôi,” ông đáp, giọng đanh lại, “tôi sẽ không nhường lấy một mẩu đất.”
“Phải. — Tôi đã phải lôi vụ kiện của mình hết tòa này đến tòa khác: mấy đồng zloty tôi có đi sạch vào đấy, mà công lý thì chẳng được gì. Rồi về già tôi ra thế này đây, hạ xuống làm con ở, việc gì cũng đến tay! — Chủ nhật vừa rồi tôi sang bên ấy, chỉ để nhìn lại chốn cũ của mình một lần nữa, và cái vườn cây chính tay tôi trồng; thế mà con dâu tôi nó nguyền rủa tôi, bảo tôi đến rình mò nó! Rình mò, lạy Chúa tôi!... Tôi cứ tưởng mình ngã lăn ra chết. — Tôi đến gặp cha xứ, mong cha đứng trên tòa giảng mà quở chúng nó vì những lời ấy; nhưng cha bảo Chúa sẽ đền bù cho tôi vì điều oan chúng nó gây ra. Ừ, ừ! phải rồi. Với kẻ chẳng có gì trên đời này thì đến ơn Chúa cũng đáng lấy; nhưng tôi thà có của cải ngay dưới đất này, được ngủ cho đã trong buồng ấm, trên đệm lông, được ăn thật nhiều bơ nhiều mỡ, được vui thú một phen!”
Bà cứ thế mà lên án hết thảy mọi sự trên đời, dữ dội đến nỗi ông Boryna phải bỏ bà mà đi sang nhà trưởng làng: vì trời đã nhá nhem.
“Sao, ông đi chưa?”
“Đi ngay bây giờ đây: Simon sắp tới rồi.”
Simon đến, rồi cả ba cùng ra quán rượu, làm mỗi người một hớp và lấy một chai rum làm lễ dạm hỏi... Lão Ambrose đã ngồi đó từ trước, lập tức nhập bọn; nhưng họ không uống lâu được, vì ông Matthias cứ giục đi cho nhanh.
“Tôi chờ các ông ở đây. Nếu họ uống đáp lễ thì đưa họ sang đây. — Mà cho mau!” ông nói với theo lúc họ bước ra.
Họ đi giữa lòng đường, lội bì bõm trong bùn. Hoàng hôn xuống dần, phủ lên mặt đất tấm mạng nhện xám đục; và chẳng mấy chốc làng xóm không còn nữa, chỉ còn ánh đèn trong các nếp nhà bắt đầu lấp lánh qua bóng tối, và tiếng chó giữ nhà sủa trong các sân.
“Này ông bạn cùng đi dạm hỏi!” lát sau trưởng làng lên tiếng.
“Gì?”
“Đám cưới ông Boryna, tôi chắc sẽ to lắm.”
“Chuyện ấy còn tùy,” người kia đáp cộc lốc; ông ta vốn ít lời.
“To chứ, tôi nói cho ông biết — tôi, trưởng làng đây, người ông có thể tin. Ta sẽ tác thành cái đám này đến nỗi... Ha! ha!”
“Con ngựa cái có khi giở chứng, nếu con ngựa đực không vừa mắt nó.”
“Chuyện ấy chẳng dính dáng gì đến ta.”
“Nhưng con cái ông ấy — chúng nó sẽ nguyền rủa ta cho mà xem.”
“Đâu sẽ vào đấy cả: tôi, trưởng làng, nói với ông thế.”
Rồi họ bước vào nhà bà Dominikova.
Trong nhà đã thắp đèn, quét tước sạch sẽ; người ta đang chờ họ.
Những người đi dạm hỏi “ngợi khen Chúa”; rồi lần lượt chào từng người có mặt, ngồi xuống sát bên lò sưởi mà mở đầu câu chuyện.
“Trời trở lạnh; xem chừng sắp có sương giá.”
“Chắc thế; đã phải mùa xuân đâu, mà cũng chẳng gần gì.”
“Nhà ta thu bắp cải vào hết chưa?”
“Hết cả, chỉ còn ít cây lúc này chưa đem vào được,” bà lão thờ ơ đáp, mắt liếc sang Yagna đang ngồi gần cửa sổ cuộn những con sợi lanh đã xe, trông xinh xắn đến nỗi trưởng làng, một người còn đang thời sung sức, phải đưa mắt nhìn cô một cái thèm thuồng rồi mới nói:
“Đường sá thì bẩn thỉu lầy lội, khí đêm thì ẩm thấp, nên tôi với Simon trưởng xóm đây nghĩ tiện đường ghé vào nhà bà. Mà thấy bà tiếp chúng tôi tử tế, niềm nở thế này, thì biết đâu, thưa bà, chúng ta lại chẳng ngã giá được với nhau một món.”
“Chỉ ngã giá được khi có cái gì đó để mà ngã giá chứ.”
“Bà nói chí phải, nhưng thứ ấy chúng tôi đã tìm thấy ngay trong nhà bà rồi: gia súc, mà lại thuộc loại tốt nhất.”
“Thế thì,” bà vui vẻ kêu lên, “ta ngã giá đi.”
“Chẳng hạn, chúng tôi rất muốn hỏi mua một con bò cái tơ của bà.”
“Ối chào! Chuyện ấy đâu phải chuyện nhỏ, các người đừng hòng vớ được sợi thừng nào là dắt nó đi ngay được!”
“Chuyện ấy thì chúng tôi đã có sẵn cho nó một sợi dây bạc đã làm phép, thứ dây chẳng ai bứt nổi, dù khỏe bằng mười người. — Nào, bao nhiêu đây, bà?” Rồi ông rút chai rum trong túi ra.
“Bao nhiêu ư? — Khó nói lắm! Nó còn trẻ, sang xuân mới mười chín: ngoan nết mà lại chăm làm. Nó ở với mẹ nó thêm một hai năm nữa cũng được chứ sao.”
“Thêm mấy năm không con không cái, bà ạ; mấy năm bỏ không!”
“Chà,” Simon thì thầm, “giá nó là hạng khác thì ở với mẹ nó vẫn cứ đẻ được như thường!”
Trưởng làng phá lên cười. Mắt bà lão quắc lên giận dữ, bà đáp ngay:
“Thế thì đi kiếm đám khác! Con tôi chờ được.”
“Chờ được thật; nhưng chúng tôi đi đâu cũng chẳng kiếm ra đứa nào đẹp thế, giống tốt thế.”
“Vậy các người tính sao?”
“Người đang nói đây là trưởng làng: nên bà cứ tin lời tôi.” — Ông rút ra một cái ly, chùi vào vạt áo choàng, rót đầy rum, rồi nghiêm giọng: “Bà Dominikova, nghe cho kỹ lời tôi nói lúc này. Tôi là người có chức phận. Con chim đậu trên cành, hót ríu rít mấy tiếng rồi bay đi mất: lời tôi không phải thứ ấy. — Simon đây cũng vậy: ai ở đây cũng biết ông ấy là ai; chẳng phải hạng bù nhìn, mà là một nhà nông, một người cha có gia đình, lại là Soltys của làng ta! Vậy bà hãy nhớ cho kỹ, những người đến nhà bà là ai, đến với ý gì; nhớ cho thật kỹ.”
“Tôi nhớ chứ, ông Peter, nhớ rất kỹ.”
“Bà là người khôn ngoan, thì hẳn bà biết rằng sớm muộn gì Yagna cũng rời nhà bà mà về nhà nó, Chúa đã định vậy. Cha mẹ nuôi con nào phải nuôi cho mình, mà nuôi cho thiên hạ.”
“Chao, bà ơi, đúng thế đấy, đúng thế đấy!
‘Cứ nâng niu, cứ giữ, cứ vuốt ve, Rồi thì vẫn phải gả nó đi thôi; Phải, mà kẻ rước nó đi, bà lại còn chúc phúc!’”
“Đời nó thế, chẳng đổi đi đâu được. — Nào, bà, ta uống với nhau chứ?”
“Tôi biết nói sao? Tôi không ép nó đâu. — Con uống không, Yagna?”
“Con... con không biết,” cô lắp bắp, giọng nhỏ như sợi chỉ, quay khuôn mặt nóng bừng ra phía cửa sổ.
“Con bé ngoan nết đấy,” Simon trịnh trọng chen vào. “‘Bê ngoan thì chẳng phải bàn, bú no chóng lớn, béo tròn thấy ngay.’”
“Nào, tôi chuyền sang bà nhé?”
“Các người cứ uống đi; nhưng chúng tôi vẫn chưa biết ai là người dạm hỏi,” bà Dominikova nói, giữ đúng phép tắc: bà không được tỏ ra là đã biết, chừng nào người mai mối chưa nói ra.
“Ai ư?” ông reo lên. “Còn ai vào đây nữa, chính ông Boryna chứ ai!” rồi ông nâng ly.
“Sao, một người có tuổi! Lại góa vợ!” bà bắt bẻ, cho phải phép.
“Có tuổi? Nói thế là mang tội! Có tuổi? Vậy mà mới đây người ta còn đổ vạ cho ông ấy đấy.”
“Tôi biết chứ: có điều đứa bé chẳng phải con ông ta.”
“Sao lại thế được? Người có tiếng như ông ấy, lẽ nào lại vơ thứ gì chẳng phải hạng nhất? — Nào, xin mời bà!”
“Uống thì tôi cũng muốn; nhưng ông ấy góa vợ. — Già rồi, nay mai về lòng Abraham: rồi sao nữa? Lũ con riêng nó tống cổ con tôi ra đường.”
Simon xen vào. “Ông Matthias,” ông ta gằn giọng, “bảo là tất phải có văn tự cắt đất.”
“Tất nhiên, phải làm trước đám cưới.”
Trưởng làng rót đầy một ly nữa, quay sang Yagna.
“Nào, uống đi, Yagna, uống mừng chúng tôi! Người chúng tôi dạm cho cô khỏe như cây sồi: cô sẽ thành bà chủ, coi sóc cả cơ ngơi nhà ông ấy, nhất làng này! Đấy, tôi uống mừng cô, Yagna: đừng thẹn nữa!”
Cô đỏ bừng mặt, quay đi; nhưng rốt cuộc cũng kéo tạp dề che mặt, nhấp một chút, rồi hắt chỗ còn lại xuống nền nhà.
Rồi cái ly chuyền khắp lượt. Bà lão đem ra bánh mì với muối, sau chót là mấy khúc dồi hun khói phơi khô để nhắm.
Họ uống liền mấy tuần rượu, chẳng mấy chốc miệng lưỡi đã trơn tru cả. Còn Yagna thì trốn vào buồng trong, ở đó, chẳng hiểu vì đâu, nước mắt cô trào ra, tiếng nấc vọng qua vách nghe rõ mồn một. Bà mẹ toan đi theo, nhưng trưởng làng giữ lại.
“Bê con dứt sữa mẹ còn chảy nước mắt nữa là: thường thôi. Nó có đi đâu xa, đến làng bên cũng không: bà con vẫn qua lại với nhau được. Tôi đây, trưởng làng, nói vậy: nó chẳng thiệt gì đâu; bà cứ tin tôi.”
“Phải, nhưng tôi vẫn cứ mong có cháu bồng cháu bế cho khuây.”
“Bà đừng lo chuyện ấy. Đứa đầu sẽ có trước mùa gặt!”
“Ngày sau thế nào chỉ Chúa biết, hạng tội lỗi chúng ta thì không. Đã uống mừng lễ dạm rồi mà lòng tôi vẫn nặng trĩu, như thể đi đưa đám.”
“Chẳng lạ gì. Con gái một, khóc than cho phải phép cũng đúng thôi... Thôi làm thêm chút nữa cho nguôi lòng. — À, hay là ta kéo cả sang quán rượu. Chồng tương lai của Yagna đang chờ ở đấy, sốt ruột đến sôi cả người lên rồi.”
“Việc lớn thế mà lại ăn mừng ở quán rượu à?”
“Các cụ ngày xưa vẫn thế. Tôi, trưởng làng, đã nói vậy.”
Yagna và bà Dominikova mặc bộ đẹp nhất, rồi cả bọn lên đường. Nhưng trưởng làng để ý thấy mấy người anh của cô mặt mày ỉu xìu. “Thế mấy cậu ở nhà à?” ông nói. “Ngày dạm hỏi của em gái chúng nó: cũng phải cho chúng nó vui đôi chút chứ.”
“Chẳng lẽ bỏ nhà cửa cho Trời trông hộ à?”
“Thì gọi bà Agatha bên nhà Klemba; bà ấy trông nhà cho.”
“Bà ấy đi ăn xin rồi. Dọc đường ta kiếm ai đó vậy. Thôi được, Simon với Andrew, đi; nhưng mặc áo choàng vào. Định mặc bộ đồ ngày thường rách rưới ấy mà đi à? — Mà đứa nào say... thì cả đời đừng hòng quên! — Đàn bò còn chưa cho ăn uống gì, lại phải nghiền khoai cho lợn nữa. — Liệu mà làm cho xong.”
“Vâng, u ơi, chúng con làm ngay!” cả hai cùng kêu lên, run lên vì sợ, dù đứa nào cũng lớn tồng ngồng, cao bằng cây lê nhỏ trồng dọc bờ ruộng.
Thế rồi lát sau cả bọn kéo sang quán rượu.
Đêm mù mịt, tối như hũ nút, mùa mưa thu vẫn thường thế. Gió gào trên đầu, lay ngọn cây ngả nghiêng, chực quật cả xuống những bờ giậu bên cạnh.
Lúc họ tới nơi, quán rượu trông ảm đạm. Cửa sổ vỡ mất một ô kính, gió lùa vào làm ngọn đèn con treo bằng sợi dây trên quầy đung đưa qua lại như một đóa hoa vàng.
Ông Boryna chạy ra đón, ôm chầm lấy từng người thật nồng nhiệt, vì biết Yagna coi như đã là của mình rồi.
“Chúa đã phán: ‘Hỡi con sâu cái kiến kia, hãy cưới lấy một người vợ, để cho cái thân khốn khổ của ngươi khỏi chịu cảnh cô quạnh!’” Ambrose nói thế, mà đúng hơn là be be thế: ông ta đã uống hơn một tiếng đồng hồ, nói năng lẫn đi đứng đều chẳng ra gì nữa.
Lão chủ quán Do Thái lập tức dọn ra rum, vodka pha ngọt và thứ “tinh rượu”; lại thêm cá trích muối, bánh nêm nghệ tây, và mấy thứ bánh hạt anh túc (ngon lắm).
“Ăn đi, uống đi, hỡi anh em chí thiết, hỡi những người Kitô hữu chân chính!” Ambrose gào lên, tự cho mình cái quyền mời khách. “Ngày trước tôi cũng có vợ — mà giờ chẳng tài nào nhớ nổi ở đâu — bên Pháp thì phải — không, bên Ý! Không, cũng chẳng phải ở đấy — nhưng giờ thì tôi trơ trọi, góa bụa rồi... Tôi bảo các người: các cụ ngày xưa vẫn hô thế này: ‘Nghiêm!’”
Ông Boryna cắt lời ông ta. “Uống cạn đi, các bạn!... Còn ông, Peter, ông làm gương đi chứ!” Rồi ông mang đến cho Yagna cả một zloty tiền kẹo caramen, đặt vào tay cô. “Của mình đây, Yagna, ngọt lắm: cầm lấy!”
Cô làm bộ không muốn nhận. “Tốn bao nhiêu là tiền,” cô nói.
“Đừng ngại, tôi thừa sức chi.... Rồi mình sẽ thấy. — Chao, giá có tiền mà mua được cả sữa bồ câu, tôi cũng mua cho mình! Chao, về với tôi rồi mình sẽ sướng biết mấy!” Rồi ông vòng tay ôm ngang lưng cô, ép cô nếm đủ mọi thứ bày ra đấy. Cô nếm thật: nhưng nhận cái gì cũng nguội lạnh dửng dưng, như thể đây là ngày dạm hỏi của người dưng. Cô chỉ nghĩ: “Không biết ông già có cho mình cái vòng cổ san hô đã nói ở chợ phiên trước đám cưới không nhỉ?”
Và rồi họ uống thật sự — hết rum lại đến vodka pha ngọt, ai nấy cùng nói một lúc. Ngay cả bà Dominikova cũng ngà ngà chẳng ít, bà liến thoắng, thao thao đủ chuyện, đến nỗi trưởng làng phải phục cái khôn ngoan của bà.
Mấy đứa con trai bà cũng say mèm, vì hết Ambrose lại đến trưởng làng cứ giục uống thêm. “Cạn ly đi các chú, ngày dạm hỏi của Yagna mà!”
“Vâng, vâng, chúng cháu biết,” hai anh đáp, rồi đòi hôn tay ông từ già.
Chính lúc ấy bà Dominikova kéo ông Boryna ra một chỗ để nói cho ra nhẽ với ông.
“Yagna là của ông rồi — phải, của ông đấy, ông Matthias!”
“Cảm ơn bà đã cho tôi nó.” Ông quàng tay qua cổ bà mà ôm.
“Tôi nghe nói ông đã hứa cắt đất làm văn tự cho nó.”
“Cần gì phải văn tự? Tôi có gì thì cũng là của nó cả.”
“Là để nó còn dám nhìn thẳng mặt lũ con riêng của ông mà cười vào những lời nguyền rủa của chúng.”
“Chúng nó mà xen vào thì liệu hồn! Tất cả là của tôi, tất cả là của Yagna.”
“Ông nói thế thì tốt. Có điều nhớ cho: ông cũng đã có tuổi. Vả lại, ai rồi cũng phải chết. Mà ông biết đấy:
“‘Thần chết chẳng chừa ai: Vơ được ai là vơ, Khi con cừu, khi con người, Chẳng buồn kén chọn!’”
“Chao, tôi còn khỏe chán — hai chục năm nữa vẫn tốt. Bà chớ lo!”
“‘Cái anh Chớ-Lo ấy bị sói ăn thịt mất rồi.’”
“Thôi được, bà nói thẳng ra thì tốt! Hay là tôi cắt cho nó ba mẫu tôi có, chỗ sát ruộng nhà Luke?”
“Người ta bảo ‘chó đói thì đớp cả ruồi’; nhưng nhà tôi có đói đâu. Yagusia được thừa hưởng của cha nó năm mẫu, thêm một mẫu rừng nữa. Ông cắt cho nó sáu mẫu: đúng sáu mẫu hè vừa rồi ông trồng khoai ấy — chỗ sát đường cái.”
“Ruộng tốt nhất của tôi đấy!”
“Thì Yagna cũng là hạng nhất làng này còn gì.”
“Đúng thế thật: nên tôi mới cho người sang dạm. Nhưng lạy Chúa tôi! sáu mẫu! Cả một cơ ngơi chứ ít đâu!” Ông gãi đầu, bối rối; ruột gan xót xa khi nghĩ đến chuyện phải rứt ra ngần ấy ruộng tốt.
“Ông bạn quý của tôi ơi, ông cứ nghĩ cho thấu, ông là người sáng dạ mà, ông sẽ thấy cái văn tự ấy chẳng qua là chỗ nương thân cho con gái tôi thôi. Ông còn sống thì chẳng ai lấy được ruộng của ông: mà tất cả phần Yagna thừa hưởng của cha nó thì thành của ông ngay lập tức. Sang xuân tôi sẽ cho gọi người đo đạc, đến lúc ấy ông gieo hạt trên đó được luôn. Đã thấy thu xếp thế chẳng thiệt gì cho ông, thì ông cứ cắt sáu mẫu ấy cho nó đi cho rồi.”
“Được: tôi cắt.”
“Bao giờ?”
“Mai cũng được, nếu bà muốn! — Không, thứ Bảy, sau khi rao hôn phối xong; rồi ta đi thẳng lên tỉnh. Dù sao thì: ‘Con dê chết một lần, rồi thôi — chẳng chết lại nữa!’”
“Lại đây, Yagna, con gái yêu!” Bà gọi cô gái, lúc ấy đang bị trưởng làng đẩy về phía quầy rượu, miệng kể gì đó khiến cô cười phá lên.
“Yagna, ông Matthias đây sẽ cắt cho con sáu mẫu ruộng sát đường cái của ông ấy.”
“Con cảm ơn ông,” cô lí nhí, rồi chìa tay cho ông.
“Nào tất cả uống mừng Yagna, mừng cô Yagna ngọt ngào nhất trần đời!”
Họ uống, rồi ông Matthias vòng tay ôm ngang lưng cô, định dẫn cô ra chỗ đám khách đang tụ tập; nhưng cô lách ra, chạy sang chỗ mấy người anh đang chuyện trò và uống rượu với Ambrose.
Trong quán, tiếng ồn mỗi lúc một to hơn, người kéo vào mỗi lúc một đông. Nhiều kẻ nghe tiếng lao xao thì ghé vào xem có chuyện gì; cũng có kẻ vào để kiếm chén rượu chùa. Cả ông lão mù, có con chó dắt đường, cũng ngồi đấy, ở chỗ đẹp, ai cũng trông thấy; ông ta lúc thì lắng nghe, lúc thì đọc kinh oang oang; oang oang đến mức bà Dominikova nghe thấy, cho ông ta ít vodka, miếng gì đó bỏ bụng, lại thêm mấy đồng kopek nữa.
Cuộc chè chén cứ thế kéo dài; và chẳng mấy chốc, như thường lệ trong những dịp như vậy, ai nấy đều thành bạn hiền, thành anh em ruột thịt của nhau.
Chỉ có gã Do Thái là lặng thinh. Gã lướt qua lướt lại, không ngừng bày thêm rượu mạnh với bia ra trước mặt khách, rồi lấy phấn ghi hết lên sau cánh cửa.
Ông Boryna mừng đến ngây ngất, uống hết chén này đến chén khác, giục khách cùng uống, nói huyên thuyên như cả đời hiếm khi ai nghe ông nói nhiều đến thế, và cứ chốc chốc lại vòng sang chỗ Yagna, mời cô miếng ngon, vuốt gương mặt xinh đẹp của cô, rồi quàng tay dắt cô vào một góc tối nào đó.
Chẳng mấy chốc, bà Dominikova thấy đã đến lúc phải về, bèn gọi các con trai cùng đi.
Simon lúc này đã say nhè; nghe mẹ gọi, gã sửa lại thắt lưng, đấm tay xuống bàn mà quát:
“Thôi dẹp đi! Tôi là nông dân, tôi đây! Ai muốn về thì cứ về. Tôi đã thích ở lại uống thì tôi uống.—Thêm vodka nữa, này gã Do Thái!”
“Im đi, Simon! Ôi, im đi: không thì mẹ trị cho bây giờ!” Andrew rên rỉ, mắt ứa nước mắt say sưa, níu áo anh mình. Gã cũng đã say mèm.
“Chúng bay!” bà rít lên, giọng đe doạ, “về! về nhà ngay!”
“Tôi là nông dân. Tôi đây! Tôi đã thích ở lại thì, đấy, tôi ở lại, tôi uống… Tôi chán cái lối mẹ cai quản rồi… Ai cản tôi, tôi tống cổ ra khỏi nhà! Vứt tất!”
Nhưng bà lão liền giáng cho gã một quả vào ngực, mạnh đến nỗi gã loạng choạng và tỉnh rượu ngay tức khắc. Andrew đội mũ lên đầu anh rồi dắt ra ngoài đường. Nhưng khí lạnh lại quật ngã Simon lần nữa: gã mới bước được mấy bước thì lảo đảo, chộp lấy hàng rào, rồi ngã lăn ra, gào lên rên rỉ.
“Chết tiệt! Tôi là nông dân. Của cải là của tôi, tôi thích uống thì tôi uống; tôi thích làm thì tôi làm!—Này Do Thái! Thêm rum!—Ai cản tôi, tôi tống cổ ra khỏi nhà!”
“Simon! Simon! Lạy Chúa!” Andrew thút thít, nước mắt giàn giụa; “về nhà đi, mẹ đuổi theo tới sau lưng kìa!”
Quả thật, bà tới ngay tức thì, cùng với Yagna; hai người lôi mấy gã con trai ra khỏi gầm hàng rào, nơi chúng đang yếu ớt định đánh nhau.
Họ đi rồi, những người khác cũng lục tục kéo ra, quán rượu bớt ồn ào đôi chút. Cuối cùng chỉ còn lại ông Boryna với mấy người đi dạm hỏi giúp ông, thêm Ambrose và lão ăn mày mù, tất cả ngồi uống chung một bàn.
Ambrose thì đã ngà ngà lắm rồi. Lão đứng dậy giữa đám, lúc hát, lúc lại gào tướng lên.
“Nó đen thui—đen như cái nồi kia! Nó nhắm… mà nó bắn trúng tôi chỗ nào? chỗ nào nào?… Còn tôi—tôi đâm lưỡi lê vào bụng nó, rồi xoáy một vòng: nghe rõ ruột gan nó ọc ọc!—Thế là chúng tôi dừng—dừng lại! Rồi chính quan chỉ huy dẫn thêm quân tới.—Chà! quan chỉ huy! ‘Các con,’ ngài bảo, ‘các con ơi!’”
“Nghiêm!” lão già hô lên, giọng như sấm. Rồi lão đứng thẳng đơ, chậm rãi lùi lại, cái chân gỗ nện lộc cộc trên sàn: “Uống mừng tôi đi, Peter! mừng cái thân mồ côi này!” lão be be; nhưng vừa tới sát tường thì bỗng lủi tuột ra ngoài. Vậy mà người ta vẫn còn nghe tiếng lão oang oang cất lên hát ở ngoài kia.
Vừa lúc ấy, lão chủ cối xay bước vào quán rượu: một gã to lớn lực lưỡng, mặt đỏ gay, ăn mặc kiểu tỉnh thành, đôi mắt nhỏ mà sắc.
“Uống đi, các ông, uống với nhau đi nào!—Hô hô! ông trưởng làng, ông Soltys, với ông Boryna!—Đám cưới đấy à?”
“Không, không phải đâu.—Ông chủ cối xay, uống với chúng tôi một chén,” ông Boryna nói.
Và vodka lại đi thêm một vòng nữa.
“Này, nhân cả ba ông ngồi đây với nhau, tôi có tin này nói cho mà nghe, tỉnh rượu ngay tức khắc cho mà xem.”
Cả bọn ngơ ngác nhìn gã.
“Chưa đầy một tiếng đồng hồ trước, ông chủ điền đã bán khoảnh rừng phát quang Vilche Doly!”
“Quân chó má! Quân khốn nạn! Sao lại đi bán một khoảnh rừng phát quang của làng ta!” ông Boryna gầm lên, đập vỡ một cái chai xuống sàn trong cơn giận. “Bán rồi hả? Nhưng còn có luật—luật cho cả ông chủ điền lẫn cho tất cả chúng ta!” Simon lắp bắp; gã đã say khướt.
“Láo toét! Tôi, trưởng làng của các ông, tôi nói đây: tin tôi đi, láo toét!”
“Bán rồi! Hà!—Nhưng chúng ta quyết không để ai lấy mất: có Chúa trên trời chứng giám, không đời nào!” ông Boryna gầm gừ, rồi giáng nắm đấm xuống mặt bàn.
Lão chủ cối xay bỏ đi, còn họ ngồi lại tới tận khuya, bàn bạc với nhau, thở ra những lời hăm doạ nhắm vào đám người bên dinh điền.