Nông dân — Tập I: Mùa thu — Chương 9

Chương 9 / 12 · Bài review Nông dân — Tập I: Mùa thu

Chuyện xảy ra ít lâu sau lễ đính hôn của Yagna; ngày lễ Các Đẳng Linh hồn đã rạng.

Từ sáng sớm, chuông nhà thờ Lipka đã đổ không ngớt, chậm rãi; những tiếng chuông ai oán và sầu thảm ấy trôi trên cánh đồng hoang vắng, lấy giọng buồn trầm đục mà gọi người ta tụ về trong cái ngày nhợt nhạt và quấn đầy sương này, trải mãi tới chân trời xa — nơi đất và trời gặp nhau, chẳng ai biết là ở đâu, trong một vực trống rỗng mơ hồ khôn dò.

Bấy giờ, ngay khi mặt trời mọc lên ở phía đông, còn hừng đỏ như đồng nung đang nguội dần, từng đàn quạ đen và quạ khoang đã từ đó kéo tới, vỗ cánh bay ra từ sau những đám mây đỏ quạch.

Chúng bay rất cao; cao đến nỗi mắt khó lòng nhìn rõ, tai cũng chẳng bắt được rành rẽ tiếng kêu quàng quạc hoang dại và não nề của chúng, nghe như tiếng khóc trong đêm thu.

Và từ gác chuông, tiếng chuông vẫn đổ không dứt.

Những nốt trầm của khúc thánh ca ai oán ấy lăn nặng nề qua lớp không khí đặc mù sương — lăn khắp cả vùng, và người, đồng ruộng, làng mạc dường như hợp lại thành một trái tim lớn, đập theo khúc kinh cầu hồn thê lương.

Mà đàn chim vẫn cứ đông thêm, đông đến mức dân làng phải hoảng sợ và sững sờ; bởi giờ chúng bay thấp hơn, từng bầy mỗi lúc một dày, rắc lên bầu trời như những đốm bồ hóng vãi tung; tiếng vỗ cánh đùng đục và tiếng kêu quàng quạc mỗi lúc một to, một dữ, một náo động — như một cơn giông đang kéo đến gần. Chúng lượn vòng trên làng: và như đống lá khô bị gió cuốn chơi, chúng xoay tròn trên những mảnh ruộng cày, sà xuống rừng, treo mình trên những hàng dương trơ xương, chiếm lấy mấy cây đoan quanh nhà thờ, rồi đậu kín các lùm cây trong nghĩa địa.

“Mùa đông này khắc nghiệt cho mà xem,” người ta bảo nhau.

“Tuyết sắp xuống rồi — chúng đang bay về phía rừng kia kìa.”

Giờ chúng sà xuống gần các nếp nhà tranh, đông hơn nữa; chưa bao giờ người ta thấy chúng tụ lại nhiều đến thế. Dân làng nhìn chúng mà thở dài, sợ đấy là điềm gở, có người làm dấu thánh giá trên trán để giữ mình khỏi tai ương sắp tới, rồi mặc áo mà đi lễ. Và tiếng chuông vẫn đổ, ầm ì đùng đục; từ các làng lân cận, người ta đã lũ lượt kéo tới cầu nguyện.

Một nỗi hoang vắng thấm khắp mọi tâm hồn; trong mỗi trái tim ngự trị một sự lặng im khắc khoải lạ lùng: cái tĩnh mịch của những hồi tưởng buồn, của việc nhớ về những người đã đi trước, đã đi nằm dưới những gốc bạch dương rũ cành và những cây thánh giá sẫm màu lù lù, đứng nghiêng nghiêng trong nghĩa trang.

“Ôi Giêsu của con! Ôi Giêsu yêu dấu của con!” họ lầm rầm, rồi ngẩng những khuôn mặt xám tro lên, và thôi sợ nữa, đắm mình vào điều bí nhiệm của ngày sau: rồi họ bình thản bước tới dâng lễ vật và đọc kinh cho người chết.

Cả làng như lạc trong một biển tĩnh lặng trang nghiêm và nhói lòng: chỉ có tiếng ê a rền rĩ của đám _Dziads_ trước cửa nhà thờ thi thoảng phá vỡ sự yên ắng ấy.

Ở nhà Boryna, sự im lặng còn sâu hơn cả: dù thật ra đó là cái im lặng của địa ngục đang ngự giữa họ, và sắp sửa bùng ra.

Đến lúc ấy thì con cái ông đã biết hết.

Hôm trước là Chủ nhật, lần rao hôn phối thứ nhất đã được đọc trên toà giảng. Thứ Bảy, Boryna đưa Yagna lên tỉnh, sang tên cho cô sáu mẫu đất trước mặt một viên công chứng. Ông về muộn, mặt đầy vết cào. Say rượu, ông đã giở trò xấc xược với Yagna; nhưng chỉ được biết tay cô khoẻ chừng nào và móng cô sắc đến đâu.

Về đến nhà, ông chẳng nói với ai một lời, cứ thế lăn ra ngủ — nguyên cả ủng lẫn áo da cừu; và sáng hôm sau, khi Yuzka than rằng ông đã trét bùn bẩn cả cái đệm lông:

“Kệ tao, Yuzka, kệ tao!” ông vui vẻ đáp. “Chuyện ấy đôi khi vẫn xảy ra, cả với người chẳng uống giọt nào.”

Buổi sáng, ông sang chỗ Yagna rồi ở đó suốt ngày: ở nhà, cơm trưa với cơm tối chờ ông vô ích.

Hôm nay cũng vậy, ông dậy muộn, mãi quá lúc rạng đông, khoác chiếc áo dài đẹp nhất, sai Vitek đánh mỡ đôi ủng ngày lễ rồi lót vào đó ít rơm mới cắt, để Kuba cạo râu cho, thắt lưng lại, rồi chộp lấy mũ, lách qua hàng rào ra ngoài, và cả ngày hôm ấy chẳng ai thấy ông đâu nữa.

Yuzka khóc suốt. Antek thì bị hành hạ còn dữ dội và quằn quại hơn, chẳng ăn được, chẳng ngủ được, cũng chẳng bắt tay làm nổi việc gì. Anh vẫn còn choáng váng, chưa thể hiểu hết chuyện gì vừa xảy đến. Mặt anh sạm lại, nhưng mắt như to hơn, ánh lên trơ trơ như thuỷ tinh — như thể đầy những giọt nước mắt đã đông cứng. Anh phải nghiến răng để khỏi bật kêu lên và chửi thành tiếng, cứ đi tới đi lui trong nhà, hay quanh nhà, hay ngoài sân, hay ngoài đường; rồi về đến nơi, anh lại quẳng mình xuống chiếc ghế dài ngoài hiên, ngồi lì hàng giờ không nhúc nhích, bị giày vò bởi nỗi đau mỗi lúc một khó chịu đựng hơn.

Nhà cửa buồn thiu, và bên trong tiếng khóc cứ vang lên không dứt, như tiếng nức nở và than thở trong một ngôi nhà đang có người nằm chết. Cửa chuồng bò và chuồng lợn mở toang, đàn bò đàn lợn tha hồ đi lang thang trong vườn cây, có con còn thò đầu nhòm vào cửa sổ. Chẳng ai buồn đuổi chúng, trừ con Lapa già, cứ sủa mà cố lùa chúng vào lại, nhưng không xong.

Ngồi trên chiếc chõng trong chuồng ngựa, Kuba lau khẩu súng, còn Vitek thì nhìn bác vừa lạ lùng vừa nể sợ, lo canh chừng ngoài sân, phòng có ai tạt vào.

“Ôi chao, nó nổ to ơi là to! Lạy Chúa! Cháu cứ tưởng ông chủ điền hay người gác rừng bắn.”

“Ừ, phải. Đã lâu lắm tao không bắn, mà lần này lại nhồi thuốc quá tay: nó gầm như đại bác.”

“Bác đi ngay từ chập tối à?”

“Ừ, ra khu đất của dinh điền sát bìa rừng. Hoẵng hay mò ra lối ấy gặm mầm lúa non trên ruộng mới gieo. Trời tối lắm, tao phải chờ hồi lâu. Vừa rạng sáng thì một con hoẵng đực đi qua. Tao nấp kín đến nỗi nó chỉ cách có năm bước. Nhưng tao không bắn. Nó to như con bò, tao biết mình chẳng vác nổi. Thế là tha cho nó; chừng đọc xong mấy kinh Lạy Cha thì mấy con cái hiện ra. Tao chọn con đẹp nhất mà ngắm. Nổ mới dữ chứ! Tao nhồi thuốc nặng tay: nó giật mạnh đến giờ vai tao vẫn còn một mảng bầm. Con hoẵng ngã xuống; nhưng còn giãy, còn kêu ghê quá, tao sợ người gác rừng nghe thấy, đành phải cắt cổ nó.”

Vitek nghe mà nức lòng.

“Thế... bác bỏ nó lại trong rừng à?”

“Bỏ đâu thì bỏ: không việc gì đến mày. Mà mày hé một tiếng chuyện này với ai... thì biết tay tao!”

“Bác cấm thì cháu không nói đâu; nhưng cháu bảo chị Yuzka được không ạ?”

“Cả làng sẽ biết ngay tức khắc. Không. — Nhưng đây, đồng năm kopek, cầm mà mua gì thì mua.”

“Chú không cấm thì cháu cũng câm miệng. — Nhưng mà, chú Kuba ơi, chú Kuba! Hôm nào chú cho cháu đi với!”

“Ăn sáng!” Yuzka đứng trước cửa nhà, gọi với ra.

“Cứ yên, Vitek, chú sẽ cho cháu đi.”

“Rồi chú cho cháu bắn với nhé — một phát thôi, một phát thôi?” nó nài nỉ.

“Ngốc! Cháu tưởng thuốc súng người ta cho không đấy à?”

“Nhưng cháu có tiền mà, chú Kuba, cháu có. Ông chủ cho cháu hai zloty đi hội chợ vừa rồi, cháu để dành cho lễ cầu hồn. Nhưng mà...”

“Thôi được; chú sẽ dạy cháu bắn,” ông thì thầm, xoa đầu thằng bé, thấy động lòng vì lời nài nỉ của nó.

Vừa xong bữa sáng là hai người kéo nhau đi nhà thờ. Kuba khập khiễng bước nhanh hết sức mình; còn Vitek thì tụt lại một quãng: nó xấu hổ vì phải đi chân đất, chẳng có ủng.

“Không có ủng mà vào phòng thánh thì có phải phép không hả chú?” nó hỏi khẽ.

“Cháu ngốc thật. Chúa xét đôi ủng của người ta chắc, chứ không xét lời cầu nguyện?”

“Vâng; nhưng có ủng thì vẫn kính cẩn hơn chứ?” nó thì thầm, buồn thiu.

“Ôi dào, rồi cháu cũng có ủng thôi mà.”

“Chứ sao! Cứ để cháu lớn lên thành đầy tớ đồng áng đã, cháu đi thẳng lên Warsaw xin chân trong chuồng ngựa nào đó. Trên tỉnh ai cũng đi ủng, phải không chú Kuba?”

“Ừ, đi ủng cả. — Cháu còn nhớ gì về Warsaw không, Vitek?”

“Nhớ chứ. Cháu lên năm thì bà Kozlova đưa cháu về đây; nên cháu nhớ rành rành... Ừ thì, hai bà cháu đi bộ ra ga, ở đấy cháu thấy đèn sáng rực nhiều vô kể... với lại nhà cửa san sát nhau, to như nhà thờ ấy.”

“Nói phét!” Kuba kêu lên, giọng khinh khỉnh.

“Nhưng cháu nhớ rõ lắm mà. Cháu chẳng nhìn thấy mái nhà, cao thế cơ mà. Cửa sổ thì xuống tận đất. Cả bức tường toàn cửa sổ! Với lại chỗ nào chuông cũng đổ luôn miệng.”

“Thảo nào; trên ấy lắm nhà thờ mà.”

“Chứ không thì tiếng chuông ở đâu ra?”

Bấy giờ cả hai im lặng, vì đã vào tới sân nhà thờ và bắt đầu lách qua đám người chen chúc phủ kín cả khoảng sân quanh nhà thờ, những người không vào được bên trong.

Ở đó đám Dziad đã dàn thành một lối đi từ nhà thờ ra đường, kẻ kêu, người rít, kẻ đọc kinh, người xin bố thí, ai theo cách nấy; có kẻ kéo vĩ cầm, rề rà những bài thánh ca bằng giọng ai oán; kẻ khác thổi sáo nhỏ hay kéo phong cầm; tất cả cùng gây nên một thứ huyên náo gần như điếc tai.

Phòng thánh cũng chật ních người: chật đến nỗi họ bị ép rúm cả vào mấy cái bàn, nơi người chơi đàn nhà thờ và con trai ông ta (cái cậu từng đi học trường) đang ghi lại những cái tên người ta đọc cho lễ cầu hồn.

Kuba lách qua đám đông, đọc một hơi cả một danh sách tên dài cho người chơi đàn; ông này chép xuống, mỗi linh hồn lấy ba kopek, hoặc bấy nhiêu quả trứng (nếu ai không sẵn tiền mặt).

Vitek không chen lên nhanh được như thế, vì đôi bàn chân trần bị giẫm đau điếng, nhưng nó cứ cố lần tới, tay nắm chặt mấy đồng tiền. Nhưng khi đứng được trước mặt người chơi đàn bên bàn, nó bỗng thấy choáng ngợp, lúng túng đến cứng cả lưỡi. Trời! Quanh nó toàn các bác nông dân và các bà vợ họ — gần như cả làng...? Cả bà vợ ông chủ cối xay cũng có mặt, đội mũ y như bà chủ điền! — Rồi bác thợ rèn với trưởng làng cùng các bà nhà — ai nấy đọc tên những linh hồn mình muốn nhắc tới; có người đọc đến cả hai chục cái tên — cả nhà, rồi cha ông tổ tiên — Còn nó... nó biết đọc tên ai? Cha nó, mẹ nó — tên là gì? Nó có biết đâu? Vậy lễ vật của nó dâng cho ai?... “Ôi Chúa Giêsu của con, Chúa Giêsu bé bỏng của con!” nó kêu lên trong lòng; nhưng miệng vẫn há hốc, và nó cứ đứng đấy như thằng đần. Tim nó thắt lại vì một nỗi đau quặn thắt, nó thở không ra hơi, thấy lả đi tưởng chừng ngã vật xuống như chết. Nhưng nó không đứng lại đó được; đám đông xô nó dạt vào một góc, dưới bình nước thánh: và để khỏi ngã, nó ngồi thụp xuống, gục đầu vào cái chậu thiếc, nước mắt trào ra rơi lã chã, như những hạt của một tràng chuỗi buồn tủi. Nó cố ghìm lại mà không được; nó run bắn, rã rời từng khớp chân tay, đến nỗi chẳng còn sức nghiến răng mà đứng lên. Thế là nó lủi vào một xó khuất, khóc ròng — những giọt nước mắt cay đắng của một thằng bé không cha không mẹ.

“Mẹ ơi, mẹ ơi!” có cái gì trong nó cứ kêu lên, xé nát tim nó ra từng mảnh... Nó không sao hiểu nổi vì sao thằng nào cũng có cha có mẹ, riêng nó thì chẳng có ai — mất trắng — mà mất đến thế — mất cả hai!

“Chúa Giêsu, Chúa Giêsu của con!” nó nấc lên, kêu như con chim tội nghiệp mắc bẫy đang thắt cổ... Vừa lúc ấy Kuba tìm ra nó và bảo:

“Vitek, cháu ghi lễ cầu hồn chưa?”

“Chưa ạ,” nó đáp; rồi bất chợt quệt khô mắt, nó chen bằng được trở lại chỗ bàn. Phải: nó sẽ đọc tên. Việc nó chẳng biết cha mẹ mình là ai thì mắc mớ gì tới ai? Nó không có thì là chuyện riêng của nó. Nó là đứa con rơi thì cứ để nó là đứa con rơi. — Thế là nó lấy hết can đảm, lau mắt, dõng dạc đọc mấy cái tên Josephine, Marianna, Anthony — những cái tên đầu tiên nảy ra trong đầu.

Nó trả tiền, cầm tiền thừa, rồi cùng Kuba vào nhà thờ cầu nguyện và nghe cha xứ đọc tên những người thân yêu đã khuất của nó!

Giữa nhà thờ người ta dựng một linh đài, trên đỉnh đặt cỗ quan tài. Quanh đó nến cháy sáng cả loạt, còn cha xứ thì đứng trên toà giảng đọc to một danh sách tên dài dằng dặc. Chốc chốc cha lại ngừng, và cả nhà thờ cùng đọc kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng và kinh Tin Kính để cứu vớt linh hồn các tín hữu đã qua đời.

Vitek quỳ xuống bên cạnh Kuba; ông này rút tràng hạt ra, lần theo đó mà đếm hết những lời kinh cha xứ dặn. Vitek cũng đọc được mấy lời kinh; nhưng những âm thanh đều đều chẳng mấy chốc làm nó buồn ngủ, và mệt lử vì cái nóng trong nhà thờ cùng trận khóc vừa rồi, nó ngả đầu vào Kuba mà ngủ thiếp đi.

* * * * *

Buổi chiều, cả nhà Boryna đều có mặt trong buổi Kinh Chiều mỗi năm chỉ hát một lần ở nhà nguyện nhà xác giữa nghĩa địa nhà thờ. Antek cùng vợ con, bác thợ rèn cùng nhà bác, Yuzka đi với Yagustynka, rồi Vitek, rồi Kuba lê lết theo sau — tất cả đều đến, quyết tận dụng cho hết lễ Các Đẳng Linh Hồn.

Như người ta khép đôi mi mỏi mệt mà chìm vào bóng tối khôn dò, chiều cũng đang khép lại như thế; gió rền một giọng buồn thảm, kéo dài lê thê, đưa theo mùi lá mục nồng nặc hơi hướm khó chịu.

Đồng quê lặng lờ, cái lặng lẽ lạ lùng và u ám của ngày giỗ chung buồn bã ấy. Từng đám người đi theo lối của mình — như trong một sự im lặng nhức nhối; tiếng giày nện đất vọng lên đùng đục, chết lịm: hàng cây bên đường vung cành không yên, đu đưa trên đầu với tiếng rì rầm buồn bực.

Trước cổng nghĩa địa và quanh những nấm mồ dọc bức tường, người ta xếp từng dãy thùng gỗ, cạnh đó đứng lắm _Dziad_. Chính theo con đường này mà dân làng đi vào chỗ chôn cất. Hoàng hôn đã phủ khắp thế gian, rắc lên đó màu xám tro, tuy xuyên qua những nếp bóng ấy vẫn lấp lánh bao ngọn đèn quê (đốt bằng bơ thay dầu!) với ngọn lửa vàng chập chờn. Ai bước vào nghĩa địa cũng lấy trong tay nải ra khi thì bánh mì, khi thì phô mai, khi thì miếng thịt muối hay khúc dồi; hoặc một con chỉ, hoặc một nắm sợi lanh đã chải; đôi khi cả một xâu nấm khô. Họ thành kính bỏ những thứ ấy vào một trong các thùng đang mở nắp ở đó; ấy là đồ dâng cho cha xứ, cho ông từ nhà thờ Ambrose, cho người chơi đàn nhà thờ — và sau rốt, cho các _Dziad_. Ai không có gì dâng bằng hiện vật thì đặt mấy đồng kopek vào bàn tay chìa ra của những người ấy, thì thầm tên người chết mà họ nhờ cầu bầu cho.

Thế là quanh cổng nghĩa địa cứ vang lên không dứt tiếng xướng tên, tiếng kinh, tiếng hát, nhịp đứt quãng chẳng đều. Người ta đi tiếp rồi khuất dần, mất hút giữa những nấm mồ. Chốc lát sau, như đàn đom đóm, những đốm lửa nhỏ bắt đầu sáng và run rẩy trong bụi rậm mờ tối và đám cỏ khô.

Phá cái tĩnh lặng dường như bốc lên từ lòng đất, đâu đâu cũng nghe tiếng kinh, giọng trầm run rẩy vì kính sợ. Chốc chốc từ một nấm mồ nào đó lại buột ra một tiếng thở dài nát lòng; đôi khi một tiếng than ai oán cất lên từ những lối đi quanh co giữa các cây thánh giá; rồi thình lình một tiếng thét tuyệt vọng ngắn ngủn bật ra, xé không khí như một tia chớp; hoặc tiếng khóc yếu ớt của trẻ con nghe trong bụi cây tối sẫm, như tiếng chim non chưa đủ lông kêu trong tổ.

Thỉnh thoảng, một sự im lặng nặng nề buồn thảm lại bò lan khắp nghĩa địa, khi chỉ còn nghe tiếng cây rì rầm điềm gở, còn tiếng khốn khổ, sầu muộn và quằn quại kêu than của con người thì bay lên tới Trời.

Họ đi lại giữa những nấm mồ không một tiếng động, và kinh hãi nhìn trân trân vào khoảng xa mờ mịt không ai biết.

“Ai rồi cũng phải chết!” họ lẩm bẩm, giọng cam chịu đờ đẫn như người bại liệt, rồi đi tiếp, đến ngồi bên mồ cha ông, hoặc đọc kinh, hoặc ngồi bất động trong một cơn mơ màng làm chết lịm cả lòng ham sống lẫn nỗi sợ chết — phải, chết lịm cả sự ghê tởm đau đớn nữa. Họ giống những cái cây cúi rạp trong cơn gió giật; và cũng như cây, hồn họ run rẩy trong cơn ngái ngủ: hoảng sợ, mà tê dại.

“Ôi Giêsu của con! Ôi Chúa nhân từ! Ôi Đức Mẹ Maria!” — những lời than ấy bật ra từ những tâm hồn bị hành hạ. Họ ngẩng mặt lên — gương mặt giờ trơ ra vì đau khổ — và dán đôi mắt hõm sâu vào các cây thánh giá, vào những hàng cây lay động uể oải mà không ngừng: rồi quỳ sụp dưới chân Chúa Kitô chịu đóng đinh, họ dâng lên Người trái tim khiếp sợ của mình, và khóc những giọt nước mắt cam chịu, phó thác.

Kuba đi cùng hướng với Vitek; nhưng khi trời tối hẳn, bác lê mình đi xa hơn — sang phía nghĩa địa cũ. Ở đó nằm những kẻ bị quên lãng — những người mà ngay cả ký ức về họ cũng đã tan từ lâu, cùng với ngày tháng của họ, thời họ sống, và tất cả những gì đã qua. Ở đó chỉ có mấy con chim gở kêu khàn khàn, và bụi cây xào xạc thê lương bên đôi ba cây thánh giá gỗ mục còn đứng rải rác. Trong xó bị bỏ quên ấy nằm cạnh nhau cả nhà, cả xóm, cả những thế hệ: chẳng còn ai đến đó cầu kinh, nhỏ nước mắt, thắp đèn nữa. Chỉ có cơn gió lớn thổi dữ qua các cành, giật nốt những chiếc lá cuối cùng mà ném đi vào đêm cho mất hút trong đó. Và có những tiếng hú mà chẳng phải tiếng người; và có những bóng cử động — nhưng có phải chỉ là bóng chăng? — đập bừa vào thân cây như lũ chim bị chọc mù, mà nghe như đang rên rỉ van xin thương xót!

Kuba lấy trong ngực áo ra mấy mẩu bánh mì bác đã để dành. Bác quỳ xuống, bẻ vụn ra, rồi ném từng miếng rải khắp giữa các nấm mồ.

“Có cái ăn cho ngươi đây, hỡi linh hồn con nhà có đạo!” bác thì thầm, rất mực thành khẩn. “Chiều hôm tôi chẳng quên ngươi đâu. — Có cái ăn cho ngươi đây, hỡi kẻ từng mang xác phàm mà chịu khổ! — Có cái ăn cho ngươi đây! —”

“Rồi họ có lấy không, hở bác?” Vitek sợ hãi hỏi.

“Chắc chắn chứ! — Cha xứ ta thì cấm chuyện ấy.[19] — Người ta bỏ hết đồ ăn vào mấy cái thùng kia, còn những kẻ khốn khổ này thì chẳng được gì. Nhưng mà sao? Lợn của cha xứ với lợn của mấy _Dziad_ thì có cái ăn, còn hồn người có đạo thì đi lang thang chịu đói à!”

-----

Chú thích 19:

Vì đó là một tục mê tín: chắc chắn rất cổ, truyền lại từ thời tiền sử, nay ở Ba Lan gần như đã tắt hẳn, nếu chưa hẳn là tắt. Bài thơ “Dziady” của Mickiewicz nói về một tục tương tự mà ông gặp ở Litva, chừng một thế kỷ trước. — _Chú của người dịch._

“Chà! Họ có đến đây không?”

“Có chứ, hết thảy những ai đang chịu lửa luyện tội — hết thảy. Chúa Giêsu cho họ về lại trần gian ngày hôm nay, để thăm người nhà.”

“Thăm người nhà!” Vitek nhắc lại, rùng mình.

“Đừng sợ. Ngày này chẳng sự dữ nào có phép làm hại được ai: đồ dâng cầu hồn đã đuổi nó đi rồi — nó, cái thiên thần dữ ấy! Đèn nến cũng đuổi nó. Còn Chúa thì đích thân đi khắp thế gian, và Người, vị Mục Tử yêu dấu, đi đếm xem còn bao nhiêu linh hồn là của Người, rồi chọn lấy trong đám ấy.”

“Ôi, Chúa Giêsu hôm nay xuống trần thật à?” Vitek nói yếu ớt, đưa mắt nhìn quanh.

“Mày tưởng thấy được Người sao? Chỉ các thánh mới thấy được — với những người bị oan ức lắm.”

“Kìa, kìa, đằng ấy có đèn; lại có cả người nữa,” Vitek hoảng hốt kêu lên, tay chỉ về một dãy mồ dài sát hàng rào.

“À, đấy là chỗ nằm của những người bị giết hồi khởi nghĩa. Phải, ông chủ tao nằm đấy; ừ, mẹ tao cũng nằm đấy.”

Hai người rẽ bụi cây mà lách vào, quỳ xuống bên những nấm mồ. Mồ đã sụt, phẳng lì với mặt đất chung quanh, khó lòng nhận ra. Chẳng có thánh giá cắm, chẳng có bóng cây che. Chỉ có cát cằn, với mấy cọng hoa nến khô: tất cả là im lìm, quên lãng, chết chóc.

Ambrose, cùng với Yagustynka và lão Klemba, đang quỳ bên những nấm mồ tàn lụi ấy. Mấy ngọn đèn cắm trên cát leo lét; gió làm chúng chao đi run rẩy, và cuốn những lời khấn nguyện vào bóng đêm đen kịt.

“Ừ; mẹ tao nằm đấy,” Kuba nói, nói với mình thì đúng hơn là với thằng bé đang nép sát vào bác, lạnh thấu tận xương tuỷ.

“Mẹ tao tên Magdalena. Cha tao có ruộng riêng: cha làm xà ích cho dinh điền, mà chẳng bao giờ đánh xe cho ai, trừ ông chủ điền già, lại toàn thắng ngựa giống vào xe!... Rồi sau đó cha chết.... Chú cha thừa kế mảnh ruộng, còn tao thành thằng chăn lợn cho dinh điền.... Ừ, mẹ tao tên Magdalena, cha tao tên Peter: họ là Soha, tao mang họ ấy.... Rồi ông chủ điền đặt tao lên làm xà ích, đánh xe ngựa giống, y như cha tao trước kia.... Tao đi săn suốt, với ông chủ và các ông khác; tao học bắn cũng khá; con trai ông chủ điền cho tao một khẩu súng....

“Tao nhớ rành rành.... Khi các ông ấy kéo nhau đi khởi nghĩa, các ông cũng đem tao đi theo.... Tao đánh nhau ròng rã một năm: hạ hơn một con chó xám Nga ... hơn hai con là khác.... Rồi con trai ông chủ điền trúng đạn vào bụng. Ruột lòi cả ra. Cậu ấy là chủ tao, mà lại là người tốt; nên tao vác cậu lên vai cõng đi.... Về sau cậu trốn được sang xứ nào ấm áp nào đó, nhưng trước khi đi có đưa tao một lá thư mang về cho cha cậu. Thế là tao đi. Tao chán chường mọi thứ, mệt như chó ... dọc đường ăn một viên đạn vào chân, vết thương chẳng chịu lành; vì tao cứ ở ngoài trời, ngủ dưới sao.... Rồi tuyết xuống, rét khiếp lắm: — tao nhớ rõ lắm!... Thế là tao tới nơi ... ban đêm ... nhìn quanh tìm chỗ ấy. — Ôi, như sét đánh! — Dinh điền không còn — kho lúa không còn — đến hàng rào cũng chẳng còn. Cháy trụi sạch xuống tận đất.... Còn ông chủ điền già ... với bà chủ ... với cả mẹ tao ... với cả con Yosefka, đứa hầu phòng ở đấy ... nằm cả ngoài vườn, bị chém giết hết! — Ôi Giêsu! Giêsu! — Phải, tao nhớ. — Ôi Đức Mẹ đồng trinh!” Mấy tiếng cuối bác thốt ra rất khẽ; những giọt nước mắt lớn bác chẳng buồn giấu chảy ròng ròng trên má, và bác thở dài từng hơi sâu, khi cái đêm ấy hiện về trước mắt.

Bóng tối mỗi lúc một dày; gió mỗi lúc một vặn dữ vào cây; những chùm cành bạch dương dài như tóc quật xuống các nấm mồ chung quanh, còn thân chúng, trắng như ma trùm vải liệm, hiện mờ mờ trong bóng đêm. Người ta đã lục tục ra về, đèn tắt dần, tiếng hát của các _Dziad_ lịm đi. Một sự im lặng trang nghiêm, chỉ bị khuấy động bởi những tiếng sột soạt kỳ quái và những tiếng thì thào rợn người, giờ ngự trị giữa những nấm mồ. Nghĩa địa như đầy những hình bóng, bụi cây mang những dáng hình khả nghi; có những khúc rên khe khẽ ru đưa, có cả biển những cơn rùng mình ma quái, có những cử động của các vật vô hình vô dạng trong bóng tối, những tiếng nấc nghẹn bật lên hãi hùng, những nỗi hoảng sợ bí ẩn phả hơi khiếp đảm làm chùng cả tim. Khắp làng, đến cả chó cũng tru lên từng hồi dài tuyệt vọng.

Chỉ riêng ngày lễ này, Lipka mới lặng đi như thế. Đường sá vắng tanh, cửa quán rượu đóng im. Qua mấy ô kính cửa sổ bé xíu mờ hơi nước của đôi ba nhà tranh, thấy hắt ra ánh đèn, và nghe những bài thánh ca run rẩy rụt rè cất lên, cùng những lời to tiếng nài xin Chúa cho linh hồn các tín hữu đã qua đời.

Bên ngoài nhà, người ta đi lại rón rén trong sợ hãi; sợ hãi mà nghe tiếng cây thở dài khe khẽ; sợ hãi mà đưa mắt về phía cửa sổ, chỉ e hiện ra trước mắt một trong những kẻ mà hôm nay, theo lệnh Chúa và theo nỗi khắc khoải của chính mình, đang lang thang đâu đó — chỉ e nghe thấy họ than khóc ở chỗ ngã tư đường — hay trông thấy họ buồn rầu nhòm vào qua khung cửa sổ.

Trước cửa đôi ba nhà tranh, những người làm ruộng — theo tục xưa — dọn phần thừa của bữa tối ra cho các hồn đói đến dùng, rồi làm dấu thánh giá, khẽ thốt lời mời đại loại như: “Hỡi linh hồn con nhà có đạo còn ở chốn luyện hình, này! có của ăn cho ngươi đây!”

Và cứ thế, trong im lìm và buồn bã, giữa những hồi tưởng và những nỗi sợ, buổi chiều tối lễ Các Đẳng Linh Hồn kết thúc.

Bên phía nhà của Antek trong ngôi nhà của cha anh, Roch — người hành hương đến Mộ Thánh Chúa — ngồi đọc và kể bao nhiêu truyện tích đạo đức thánh thiện.

Người đến cũng khá đông: cả Ambrose, cả Yagustynka và Klemba đều tới, rồi Kuba với Vitek, Yuzka với Nastusia: người duy nhất vắng mặt là ông Boryna già, còn nán lại nhà Yagna tới khuya.

Ngoài tiếng dế kêu và tiếng mấy mấu gỗ thông nổ lép bép trên bếp hay trong đống lửa, trong nhà im như chết.

Mọi người ngồi cả trên ghế dài quanh đống lửa; riêng Antek ngồi nhìn ra ngoài cửa sổ. Chốc chốc Roch lại lấy cây gậy vun mấy hòn than đỏ lại với nhau, vừa vun vừa nói, giọng nhỏ nhẹ trầm trầm:

“Chết chẳng có gì đáng sợ. — Ồ, không!

“Như chim mùa đông bay về xứ ấm, những linh hồn bé nhỏ mỏi mệt của ta cũng khao khát bay về với Chúa Giêsu.

“Cây cối mùa đông đứng trơ trụi, nhưng đến xuân Chúa lại mặc cho chúng lá xanh và hoa thơm: hỡi linh hồn con người, ngươi đi về với Chúa Giêsu cũng vậy, để được ở cùng Người mà có niềm vui, có mùa xuân, có hoan lạc, và có áo mặc đời đời!

“Như mặt trời vuốt ve mặt đất mỏi mệt của ta, mệt nhoài vì sinh hoa kết trái, Chúa cũng vuốt ve từng linh hồn như thế, và làm cho nó quên đi mùa đông đã qua của khổ đau và chết chóc.

“Ôi chao! vì ở đời này chẳng có gì ngoài cơ cực, than khóc và khốn khổ!

“Và sự dữ cứ lớn lên, sinh sôi nảy nở, như cây kế trong rừng!

“Muôn sự đều hư không và vô ích ... như gỗ bùi nhùi, như những bong bóng gió nổi lên trên mặt nước rồi thổi tan đi.

“Và chẳng có lòng tin, chẳng có hy vọng nào, ngoài một mình Thiên Chúa!”