Nông dân — Tập I: Mùa thu — Chương 12

Chương 12 / 12 · Bài review Nông dân — Tập I: Mùa thu

Trời còn tờ mờ sáng thì Vitek, mệt nhoài vì cuộc vui và bị Yagustynka đuổi về, vội vã trở lại nhà Boryna.

Trong nhà có ngọn đèn chong nhỏ cháy leo lét như con đom đóm. Vitek ghé mắt nhìn qua cửa sổ, thấy lão _Dziad_ Roch ngồi bên bàn hát thánh ca.

Thằng bé lặng lẽ lỉnh ra chuồng ngựa, đang mò then cửa thì giật nảy lùi lại, kêu lên kinh ngạc. Một con chó vừa nhảy chồm lên người nó, kêu ư ử.

“Ơ, Lapa, Lapa? Mày về đấy à, đồ khốn khổ!” nó reo lên, rồi ngồi phịch xuống bậc cửa, mừng rơn. “Đói lả cả rồi phải không?”

Nó có dành một khúc dồi phần từ bữa tiệc, giấu trong ngực áo, giờ moi ra cho con chó. Nhưng lúc ấy con chó chẳng thiết ăn: nó sủa, gục đầu vào ngực thằng bé, rên ư ử vì mừng quá đỗi.

“Người ta bỏ đói mày hả? Người ta đuổi mày đi hả?” nó thì thầm, mở cửa chuồng bò rồi lăn ngay xuống ổ rơm. “Nhưng từ nay tao che chở, tao nuôi mày.” Nói rồi nó rúc sâu vào rơm; con chó nằm xuống bên cạnh, gừ khẽ và liếm mặt nó.

Chỉ một loáng, cả hai đã ngủ.

Từ chuồng ngựa ngay bên, Kuba gọi nó, giọng đã yếu vì bệnh. Ông gọi mãi; nhưng Vitek ngủ say như chết.

Nhưng một lúc sau, Lapa nhận ra giọng ấy, liền sủa dữ dội và kéo áo thằng bé.

“Có chuyện gì thế?” Vitek ngái ngủ hỏi.

“Nước! Cơn sốt hành tao rã rời cả người... Nước!”

Vitek dẫu cáu kỉnh và ngái ngủ vẫn xách cho ông cả một xô, kề vào miệng ông.

“Tao ốm quá, thở cũng không nổi!... Cái gì gừ gừ quanh đây thế?”

“Lapa đấy chứ ai!”

“Lapa ấy à?” Kuba quờ tay trong bóng tối sờ đầu con chó; Lapa nhảy cẫng, mừng quýnh, còn chực trèo cả lên giường.

“Vitek, cho ngựa ăn cỏ khô đi; chúng gặm cái máng không đã lâu rồi, mà tao thì không nhúc nhích được... Người ta còn nhảy múa không?” một lát sau ông hỏi, khi thằng bé đang chất cỏ khô lên giá.

“Chắc đến trưa mới thôi; có mấy người say quá, nằm lăn ra vệ đường rồi.”

“Chà, các ông chủ được vui vẻ thật!” Rồi ông thở dài thườn thượt.

“Có lão chủ cối xay ở đấy không?”

“Có, nhưng ông ấy về sớm.”

“Đông người không?”

“Đếm không xuể. Chật cứng cả nhà, tràn cả ra ngoài.”

“Đủ cho mọi người chứ?”

“Như khách dinh điền ấy! Thịt bưng ra từng đĩa tướng! Vodka với bia với rượu mật thì rót như suối! Riêng dồi thôi cũng chất đầy ba cái máng.”

“Bao giờ rước dâu?”

“Chiều nay.”

“Người ta còn mừng vui, còn ăn uống. Trời ơi! Tao cứ tưởng ít ra một lần trong đời cũng được gặm cái xương, được ăn một bữa cho no!... Thế mà giờ nằm đây, thở dài, nghe người ta ăn uống linh đình!”

Vitek trở về ổ rơm.

“Giá được nhìn tận mắt mấy món ngon ấy thôi cũng đủ!”

Ông không nói nữa, thấy mệt mỏi, buồn bã, và bị giày vò bởi một nỗi tủi thân yếu ớt, rụt rè đang gặm nhấm trái tim ông lúc này. Nhưng cuối cùng ông cũng lên tiếng, vừa nói vừa vỗ đầu con chó.

“Thôi, thôi! Cầu cho họ đều được nhờ! Ít ra cứ để _họ_ hưởng chút sung sướng ở đời này!”

Cơn sốt mỗi lúc một nặng, bắt đầu làm ý nghĩ ông rối tung; để xua nó đi, ông chăm chú cầu nguyện, phó mình cho lòng thương xót của Chúa Giêsu; nhưng ông không nhớ nổi mình đang đọc gì; cơn buồn ngủ ập xuống làm ông mụ mị, và chỉ còn một chuỗi lời than vừa là lời kinh vừa lẫn nước mắt rỉ ra khỏi tâm trí ông — những hạt đã lần của một tràng mân côi đỏ thắm!

Thi thoảng ông tỉnh lại, nhưng chỉ để đưa mắt nhìn quanh trống rỗng, chẳng nhận ra gì, rồi lại rơi vào cơn mê man chết lịm như xác không hồn.

Ông lại tỉnh, lần này rên to đến nỗi lũ ngựa giật dây buộc và khịt mũi khi nghe tiếng.

“Lạy Chúa! Xin cho con cầm cự được đến sáng!” ông rên rỉ trong nỗi hãi hùng; mắt ông lang thang qua khung cửa sổ, nhìn đăm đăm ra thế gian và buổi rạng đông đang tới, tìm mặt trời trên bầu trời còn xám ngắt, lặng lờ, lấm tấm những vì sao đang nhạt dần.

Nhưng trời còn lâu mới sáng.

Trong chuồng ngựa chìm trong màn sương đục, dáng lũ ngựa dần hiện lên lờ mờ; và mấy cái giá cỏ dưới khe cửa sổ trông như những rẻ xương sườn trong ánh sáng nhợt nhạt.

Ông không tài nào ngủ lại được: cơn đau lại hành hạ ông; nó như những khúc gậy nhọn sù sì thọc vào chân ông, xuyên vào, khoan vào, đâm vào mãi; nỗi đau đớn trở nên không sao chịu nổi, khiến ông bật dậy, thét lên hết sức bình sinh, đến khi Vitek tỉnh giấc chạy sang.

“Tao chết mất!... Ôi, đau quá!... Cơn đau nó phồng lên! Nó nghiến nát tao! Vitek, chạy đi gọi Ambrose... Lạy Chúa!... Hay là gọi Yagustynka... Có khi bà ấy giúp được... Tao không chịu nổi — giờ cuối của tao đến rồi...” Ông òa lên khóc thảm thiết.

Vitek, vẫn còn ngái ngủ, chạy sang chỗ tiệc cưới.

Cuộc nhảy múa vẫn đang lúc rôm rả nhất; nhưng Ambrose lúc này đã say mèm, ra đứng ngoài đường trước cửa nhà, cứ lảo đảo và hát nghêu ngao giữa mặt đường với mép ao.

Vitek van nài ông đi cùng, kéo cả tay áo ông, nhưng vô ích; ông lão chẳng nghe thấy gì, chẳng hiểu gì quanh mình, cứ hát đi hát lại mãi một bài, ngoan cố.

Vitek liền chạy đến Yagustynka, người vốn biết nghề thuốc. Nhưng bà đang ở trong buồng riêng, nhấm nháp món _krupnik_,[22] trò chuyện tíu tít với đám bạn thân, mải đến nỗi chẳng buồn nghe ai. Thấy thằng bé nì nèo, khóc lóc xin bà đi ngay, cuối cùng bà đuổi nó ra khỏi buồng. Thế là nó khóc lóc quay về chuồng ngựa, chẳng làm nên trò trống gì.

-----

Chú thích 22:

_Krupnik_ — một thứ đồ uống pha từ vodka, nước nóng, mật ong và gia vị. — _Chú thích của người dịch._

Khi nó về, Kuba đã ngủ lại; và nó cũng rúc sâu vào rơm, trùm giẻ lên đầu mà ngủ tiếp.

Mãi quá giờ ăn sáng nó mới bị đánh thức bởi tiếng lũ bò đói chưa được vắt sữa kêu ầm, và bởi tiếng Yagustynka mắng nhiếc dữ dội — bà cũng ngủ quên như mọi người, giờ đem tiếng la lối trút lên họ để bù cho phần việc chính mình bỏ bê.

Phải đến khi công việc đã tạm đâu vào đấy bà mới sang xem Kuba.

Ông nói, giọng yếu ớt: “Bà làm ơn giúp tôi, làm gì đó cho tôi với.”

“Bác cứ cưới lấy một con bé trẻ măng, khắc khỏi ngay tút suỵt,” bà mở đầu vui vẻ; nhưng thấy mặt ông tím tái sưng vù, bà nghiêm ngay lại. “Bác cần cha xứ hơn là cần thầy thuốc... Tôi thì biết làm gì cho bác được?... Cứ như tôi thấy thì bác ốm đến chết mất, phải, đến chết mất thôi!”

“Tôi phải chết ư?”

“Mọi sự trong tay Chúa: nhưng tôi nghĩ bác chẳng thoát nổi móng vuốt Thần Chết đâu.”

“Bà bảo tôi sắp chết à?”

“Bác nói xem: có cho gọi cha xứ không?”

“Cha xứ ư?” Kuba kêu lên, kinh ngạc. “Cha xứ đến đây — đến chuồng ngựa — đến với tôi ư?”

“Thì đã sao? Bác tưởng cha làm bằng đường, lại gần đống phân ngựa là chảy ra chắc? Việc của cha là đi đến bất cứ đâu người ta gọi có kẻ đau ốm.”

“Lạy Chúa! Tôi đâu dám!”

“Bác đúng là con cừu ngu!” Bà nhún vai bỏ đi.

“Đàn bà chẳng biết mình nói gì,” ông lẩm bẩm, bụng lấy làm chướng lắm.

Và giờ ông trơ trọi một mình, cả nhà dường như đã quên bẵng ông.

Thi thoảng Vitek ghé vào cho ngựa ăn, cho ngựa uống. Nó cũng cho ông uống nước; rồi lại chạy về đám cưới ngay. Bên nhà Dominikova, người ta đang sửa soạn rước dâu.

Yuzka thì hay ào vào ầm ĩ, mang cho ông miếng bánh, huyên thuyên đủ chuyện, làm náo cả chuồng ngựa, rồi lại tất tả chạy ra.

Phải, cô có việc để mà chạy. Ngay bên cạnh, người ta đang vui thú ra trò: tiếng nhạc, tiếng hò hét, tiếng hát vọng qua cả vách.

Kuba nằm bất động. Một nỗi hiu quạnh lạ lùng ập xuống ông. Ông chỉ lắng nghe, ghi nhận người ta vui vẻ đến thế nào, rồi nói chuyện với Lapa, kẻ bầu bạn không lúc nào rời. Hai đứa cùng ăn miếng bánh của Yuzka. Rồi người ốm gọi mấy con ngựa và nói chuyện với chúng nữa. Chúng hí lên khoái chí, ngoái đầu khỏi máng: con ngựa non còn tuột được dây buộc mà lại gần ổ rơm của ông, âu yếm dụi cái mũi ấm và ướt vào sát mặt ông.

“Tội nghiệp, mày sút cân rồi, sút thật rồi!” Ông vuốt ve nó dịu dàng, hôn lên đôi lỗ mũi phập phồng. “Hễ tao khỏi, mày sẽ đầy đặn lại, dẫu tao có phải cho mày ăn ròng yến mạch cũng cam!”

Rồi ông lại chìm vào im lặng, đăm đăm nhìn những mắt gỗ đen sạm trên vách, rịn ra từng giọt nhựa sẫm — như thể những giọt nước mắt bằng máu đông.

Câm lặng, với những tia nắng yếu ớt, ngày dòm vào qua các khe hở, và ở khung cửa mở hiện lên cả một dòng bụi li ti lấp lánh.

Từng giờ từng giờ lê đi chậm như sên, như những kẻ ăn mày què, mù và câm, nhọc nhằn bò qua những vạt cát dày.

Chỉ thi thoảng, dăm con sẻ ríu rít sà xuống chuồng ngựa thành một bầy ầm ĩ, dạn dĩ nhắm thẳng mấy cái máng.

“Chà, mấy đứa khôn ranh!” Kuba nói. “Chúa cũng cho lũ chim bé tí ấy cái khôn, để biết chỗ nào kiếm được cái ăn. — Nằm im đấy, Lapa! Cứ để chúng ăn cho lại sức: rồi mùa đông cũng ập xuống đầu chúng thôi.”

Rồi mấy con lợn bắt đầu eng éc, thò cái mõm lấm bùn vào cửa.

“Đuổi chúng đi, Lapa! Quân ăn mày, chẳng bao giờ biết đủ!”

Sau đó là cả một lũ gà kéo tới ngưỡng cửa, cục tác om sòm, và một con gà trống đỏ to gan dám bước hẳn qua ngưỡng, tiến đến mấy cái giỏ đựng thức ăn. Lũ kia theo sau, nhưng chưa kịp ăn no thì một đàn ngỗng đã kéo đến, quàng quạc, rít lên ở ngưỡng cửa, lóe những cái mỏ đỏ, vươn ra rồi đánh võng những chiếc cổ trắng thẳng đuỗn.

“Đuổi chúng ra, Lapa — đuổi ra! Cái lũ gia cầm ấy — cãi nhau chẳng khác gì đàn bà!”

Bỗng nhiên nhốn nháo cả lên — tiếng kêu la, tiếng vỗ cánh, lông bay tứ tung như từ cái đệm rách. Lapa đã nhập cuộc săn ra trò, quay về thở hồng hộc, lưỡi thè lè, mà vẫn kêu lên khoái chí.

“Thôi, im nào!”

Từ trong nhà vọng ra một tràng lời gắt gỏng, tiếng chân chạy, tiếng kéo đồ đạc từ buồng nọ sang buồng kia.

“À, họ đang sửa soạn đón cô dâu về!”

Thi thoảng, dẫu hiếm, có người đi ngang qua đường: lần này là một chiếc xe nặng nề kèn kẹt, và Kuba lắng tai, thử đoán xem xe nhà ai.

“Xe nhà Klemba đấy. Một ngựa — thùng xe kiểu thang; chắc đi rừng lấy lá lót chuồng. Ừ, cái trục cọ vào bầu bánh nên nó mới kẽo kẹt thế.”

Ngoài đường liên miên tiếng chân người, tiếng nói, cả những tiếng động khe khẽ tưởng chừng chẳng ai nghe ra; vậy mà ông bắt được hết, và nhận ra ngay tức khắc.

“Lão Pietras đấy, đi ra quán rượu. — Kia là mụ Valentova, đang chửi bới: chắc ngỗng nhà ai lại vào ruộng mụ rồi. — Chao, cái ngữ ấy là con chồn cái chứ đàn bà gì!... Còn đây, tao nghĩ là mụ Kozlova, vừa chạy vừa la — đúng rồi!... Đây là Peter, con lão Raphael... hễ nó nói thì mồm cứ như đầy cái gì. — Còn đây là con ngựa cái nhà cha xứ, ra đi lấy nước... Giờ nó dừng lại... bánh xe mắc đá rồi. — Rồi có ngày nó gãy chân cho mà xem.”

Cứ thế ông đoán ra từng tiếng động nghe được, đi khắp làng bằng ý nghĩ nhanh nhạy và bằng cái nhìn sống động trong đầu, nhập vào trọn cả đời sống, nỗi lo và chuyện phiền muộn của làng, đến nỗi hầu như không để ý rằng ngày đã tàn, bức vách sẫm màu hơn, khung cửa mờ đi, và chuồng ngựa thì tối hẳn.

Ambrose chỉ đến khi trời đã tối hẳn. Lão vẫn chưa tỉnh rượu hoàn toàn; chân bước hơi loạng choạng, mà nói thì nhanh đến mức khó theo kịp.

“Đau chân hả?”

“Bác xem giúp, nó ra làm sao.”

Lão lặng lẽ gỡ mấy mảnh giẻ bết máu; chúng đã khô cứng, dính chặt vào chân đến nỗi Kuba không nhịn được, cứ rú lên khi lão giật ra.

“Đàn bà nằm ổ cũng chẳng gào như chú!” Ambrose lầm bầm, giọng khinh khỉnh.

“Đau quá mà! Bác giật thế thì còn gì! Ôi lạy Chúa!”

Và Kuba gần như hú lên.

“Ôi chao! chú dính đòn ra trò rồi! Chó nào cắn nát chân chú thế này?” Ambrose kêu lên, ngạc nhiên. Cái chân nát bươm khủng khiếp, mưng mủ sưng to bằng cái thùng đựng nước.

“Ấy là… nhưng bác đừng nói với ai… lão gác rừng bắn tôi…”

“Ừ, ta thấy rồi. — Mà bắn từ đằng xa hả? Chà, chà! Cái chân này hỏng hẳn, chẳng còn dùng được vào việc gì nữa. Ta sờ thấy mảnh xương lạo xạo trong đó… Chà, sao chú không gọi ta ngay từ đầu?”

“Tôi sợ… sợ người ta biết tôi đi rình thỏ… Nhưng lúc lão gác bắn thì tôi đã ra khỏi rừng rồi.”

“Có lần ở quán rượu lão than phiền; lão bảo có đứa phá phách.”

“Đồ thối tha! Con thỏ chẳng lẽ là của riêng ai?... Lão gài bẫy tôi… Tôi đang ở ngoài đồng trống, thế mà lão nã cả hai nòng. — Ôi, cái đồ chó ngao địa ngục! — Nhưng bác đừng hé răng; họ lôi tôi ra toà mất, cả khẩu súng cũng không phải của tôi, họ tịch thu ngay… Tôi cứ tưởng để rồi nó tự lành… Ôi, bác cứu tôi với! Đau quá! Nó xé tôi ra từng mảnh!”

“A, cái thằng ranh ma nhà chú! Bày trò lén lút, đi săn của cấm, chia thỏ trong rừng với ông chủ điền! — Nhưng chú xem, cái vụ làm ăn chung ấy mất toi của chú một cái chân đấy!”

Lão xem lại cái chân, rồi ra vẻ khổ sở lắm.

“Muộn rồi, muộn quá mất rồi!”

Kuba hoảng sợ. “Bác làm gì giúp tôi với,” anh rên rỉ.

Ambrose không đáp, xắn tay áo lên, rút ra con dao xếp thật sắc, nắm chặt lấy cái chân, rồi bắt tay khều đạn và nặn mủ.

Kuba rống lên như con vật trong lò mổ, đến khi lão kia phải lấy áo da cừu nhét vào miệng cho câm tiếng, rồi anh ngất đi vì đau đớn. Băng bó xong, bôi ít thuốc mỡ và quấn giẻ sạch, Ambrose làm cho anh tỉnh lại.

“Chú phải vào nhà thương thôi,” lão nói khẽ.

Kuba còn choáng váng. “Nhà thương?” anh hỏi, không hiểu người ta vừa nói gì.

“Người ta sẽ cưa cái chân đi, may ra chú khỏi.”

“Chân tôi?”

“Chứ sao. Nó chẳng dùng được nữa: đen — hoại — thối rồi.”

“Cưa đi?” anh hỏi, vẫn chưa hiểu nổi.

“Ừ. Cưa ngang đầu gối. Đừng sợ: chân ta bị cưa gần sát đùi mà ta vẫn sống nhăn đây.”

“Thế cưa cái chân đau đi thì tôi khỏi thật à?”

“Cứ như lấy tay mà nhấc cơn đau ra vậy… nhưng phải vào nhà thương.”

“Ở đấy… ở đấy họ cắt họ xẻ người sống! — Bác cưa cho tôi đi: bác đòi bao nhiêu tôi trả bấy nhiêu, nhưng bác cưa đi! — Nhà thương thì tôi không vào: thà chết ở đây!”

“Thế thì chú chết ở đây. Chỉ thầy thuốc mới cưa chân cho chú được. Ta đi gặp trưởng làng ngay bây giờ; mai ông ấy cho xe chở chú lên tỉnh.”

“Vô ích thôi: tôi không đi,” anh đáp, bướng bỉnh.

“Đồ ngốc! chú tưởng người ta còn hỏi ý chú à?”

Ông già đi ra, còn Kuba tự nhủ: “Cưa nó đi thì mình khỏi.”

Băng bó xong, cái chân đã bớt đau. Nhưng nó tê dại lên tận háng, và anh thấy tê rân rân dọc cả một bên sườn: điều ấy anh chẳng để ý, vì còn mải nghĩ.

“Mình sẽ khỏi. — Ừ, chắc chắn khỏi. Ambrose có còn tí chân nào đâu: đi lại toàn bằng chân gỗ. Mà bác ấy bảo: ‘Cứ như lấy tay mà nhấc cơn đau ra…’ — Nhưng rồi Boryna sẽ đuổi mình đi… Ừ, người ở mà chỉ còn một chân — thứ ấy cày không được, mà làm gì cũng chẳng xong. — Rồi đời mình ra sao? Chắc phải đi chăn bò… hay đi ăn xin! Lang thang khắp nơi, hay ngồi ở cửa nhà thờ. — Ôi lạy Chúa, lạy Chúa nhân từ!” Và đột nhiên cảnh ngộ của anh hiện ra rõ mồn một; nỗi khiếp sợ ập tới khiến anh ngồi bật cả dậy. Rồi anh bật lên một tiếng kêu dài, đau đớn mà bất lực, đầu óc lăn lộn trong một vực thẳm không thấy lối ra. “Ôi Giêsu, Giêsu!” anh lặp đi lặp lại trong cơn kích động như lên cơn sốt, người run bần bật.

Anh kêu gào và giãy giụa như thế rất lâu trong nỗi khốn khổ; nhưng giữa những giọt nước mắt và nỗi tuyệt vọng ấy, một quyết định cứ chầm chậm thành hình, và anh càng lúc càng chìm sâu vào nghĩ ngợi. Dần dần anh bình tĩnh lại, thấy yên lòng hơn, nghĩ mải miết đến mức chẳng còn nghe thấy gì quanh mình, dù bốn bề là tiếng đàn, tiếng hát và tiếng hò reo; hệt như đang ngủ say vậy!

Chính lúc ấy cô dâu cùng khách dự cưới về tới nhà Boryna.

Họ đã dắt sang một con bò tốt, và cho xe chở đi trước cái rương của Yagna, cái đệm lông chim, cùng đủ thứ đồ cô được tặng làm quà cưới.

Và bấy giờ, vừa qua lúc mặt trời lặn một chút, đoàn người rời nhà tranh của Dominikova, khi bóng tối đang xuống và sương đang dâng lên.

Ban nhạc đi trước, chơi hết sức rộn rã; rồi đến Yagna, vẫn trong áo cưới, có mẹ và các bạn gái dắt đi: sau cùng là đám khách lộn xộn chẳng theo hàng lối nào, ai chọn chỗ nào thì đứng chỗ ấy.

Đường họ đi vòng theo bờ ao, giờ đã tối sẫm, ánh nước tắt lịm trong những nếp sương mỗi lúc một dày; im lặng và tối tăm cứ đen thêm, chết lặng thêm, tiếng chân bước và tiếng nhạc nghe đục đi, tựa như vọng lên từ dưới đáy nước.

Thỉnh thoảng một người trẻ trong đám cất tiếng hát, hay một bà có tuổi bắt lên một câu, hay một gã trai làng hô: “Da dana!” nhưng chỉ bùng lên được một thoáng.

Họ chưa vui lên được, vả lại khí trời ẩm lạnh buốt thấu xương.

Mãi tới khi rẽ vào sân nhà Boryna, các cô phù dâu mới cất giọng hát bài tiễn buồn:

Trên đường về nhà chồng, Cô gái khóc. Rồi người ta thắp bốn ngọn nến, Và chơi đàn nhà thờ. — Cô gái ơi, cô tưởng Họ sẽ chơi mãi cho cô sao? — Hôm qua một chút, hôm nay một chút, Rồi sau, cô sẽ khóc suốt cả đời! Da dana!... Suốt cả đời!

Trước bậc cửa, dưới mái hiên, Boryna đứng đợi cùng Yuzka và đám trai trẻ.

Dominikova bước ra trước tiên, tay ôm một cái bọc đựng một mẩu bánh mì, một nhúm muối, một ít than, chút sáp nến lễ Nến, và một nắm bông lúa đã được làm phép ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời. Khi Yagna bước qua bậc cửa, các bà tung ra sau lưng cô những sợi chỉ rút từ đường khâu vải và vỏ cây gai bóc ra, để Quỷ dữ không tìm được lối vào, mà mọi sự đều hanh thông với cô!

Họ chào nhau, hôn nhau, mời nhau những cốc rượu mật, chúc nhau may mắn, khoẻ mạnh, cùng mọi ơn lành phúc lộc; rồi kéo vào, chật ních cả gian nhà, kín từng chiếc ghế dài, từng xó, từng góc.

Đám nhạc công lên dây đàn, rồi gảy khe khẽ, để khỏi làm phiền bữa tiệc Boryna đang thết.

Ông cứ thế đi từ bà này sang bà khác, tay bưng cốc đầy, mời mọc, ép uống, ôm choàng lấy họ, và nâng cốc với từng người; bác thợ rèn cũng nhập bọn làm y như vậy.

Yuzka bưng những đĩa bánh cô nướng với sữa đông và mật ong, cốt để làm vừa lòng cha.

Vậy mà cuộc vui vẫn tẻ. Đành rằng ai cũng cạn ly cho phải phép, và cũng chẳng ai chê xúc xích. Thậm chí họ còn uống nhiều và uống ra trò; chỉ có điều là chẳng ai vui.

Cả đám đàn bà, vốn là hạng ham hội hè trò vui, giờ cũng chỉ ngồi im trên ghế dài, hoặc rải rác trong các góc, đến chuyện trò với nhau cũng chẳng mấy.

Yagna vào buồng riêng thay áo. Trở ra trong bộ thường ngày, cô định đứng ra tiếp đãi khách trong nhà, nhưng mẹ cô không cho động tay vào việc gì.

“Con ơi, hôm nay là ngày cưới của con, cứ vui đi! Rồi còn khối việc, khối nhọc nhằn đợi con!” Và bà cứ khóc thương con hết lần này lần khác, ôm ghì lấy cô vào lòng.

Cả bọn lấy cái tình mẹ con uỷ mị ấy làm trò cười: lời giễu càng chua chát hơn vì giờ đây, khi Yagna về làm bà chủ nhà chồng, làm chủ ngần ấy ruộng đất và của nả đủ loại, thì địa vị mới của cô đập vào mắt họ. Lắm bà còn con gái chưa gả được thấy cay đắng với cô lắm; lắm cô gái nghĩ tới mà nghẹn cả mật.

Họ kéo sang xem những gian khác, chỗ trước kia Antek ở với vợ con. Ở đấy Eva và Yagustynka đã dọn một bữa tối thịnh soạn và đốt lửa cháy rừng rực. Vitek khuân củi bở hơi tai mới đủ mà chất dưới mấy cái nồi to tướng.

Họ còn xem xét khắp cơ ngơi, đưa cặp mắt thèm thuồng dòm ngó mọi thứ bày ra trước mắt.

Trước hết là chính ngôi nhà, đứng đầu cả làng: rộng, nổi bật, cao, với những gian phòng (họ nghĩ vậy) chẳng kém gì trong dinh điền: quét vôi trắng, lại lát ván sàn! Rồi đồ đạc, nồi niêu trong nhà nhiều đến thế! Trong gian lớn còn có tới hai chục bức ảnh thánh: mà bức nào cũng lồng kính! Rồi chuồng bò, chuồng ngựa, vựa thóc, nhà kho! Trong ấy nuôi năm con bò, chưa kể con bò đực — món lợi chẳng nhỏ. Rồi ngựa, rồi ngỗng, rồi lợn — mà trên hết là ruộng đất!

Ghen tị đến cháy ruột, họ thở dài thườn thượt; và người nọ bảo người kia:

“Lạy Chúa! nghĩ mà xem, ngần ấy thứ lại về tay một đứa chẳng đáng!”

“Chao! nhà ấy khéo tính đường làm ăn quá đi chứ!”

“Ừ; ai chịu đi đón vận may thì bao giờ cũng gặp.”

“Sao con Ulisia nhà chị lại vuột mất dịp này nhỉ?”

“Vì nó biết kính sợ Chúa và ăn ở đứng đắn.”

“Chứ những đứa khác thì không ăn ở đứng đắn chắc!”

“Chao, nó mà không phải hạng ấy thì người ta đã chẳng để yên. Cứ bắt gặp nó ban đêm với một thằng trai một lần thôi, là cả làng biết ngay!”

“Con này gặp may thật!”

“May gì, ấy là quả của thói trơ trẽn.”

“Nào, ra đây!” Andrew gọi to, cắt ngang câu chuyện. “Nhạc nổi rồi mà trong nhà chẳng có lấy một cái váy — chẳng có ai mà nhảy!”

“Muốn nhảy thì có, nhưng mẹ cậu có cho không đã?”

“Hăng thế? — Coi chừng tụt quần đấy, thằng nhỏ: trông chẳng ra sao đâu!”

“Mà đừng có quều chân làm ngã người ta nhé!”

“Ghép đôi với Valentova đi; hai người thành một cặp đẹp lắm… một cặp bù nhìn!”

Andrew văng ra một câu chửi, tóm lấy cô gái đầu tiên gặp phải mà dắt đi, chẳng thèm để ý đến đám ong vò vẽ đang vo ve sau lưng.

Trong nhà mới chỉ có vài đôi nhảy, mà nhảy chậm chạp, xem chừng chẳng mấy hào hứng. Chỉ trừ Nastka với Simon Paches, hai người quay cuồng rất hăng. Họ đã hẹn nhau trước, nên vừa nghe tiếng nhạc dạo đầu là quấn chặt lấy nhau, nhảy tưng bừng đúng như lời đã hứa.

Nhưng vừa lúc trưởng làng bước vào (ông đến muộn vì phải dẫn đám tân binh lên trại lính huyện) thì mọi thứ liền rộn hẳn lên: ông uống thật đậm, chuyện trò với hết thảy các chủ ruộng có mặt, và pha trò với đôi vợ chồng mới cưới.

“Kìa, cô dâu thì đỏ như cái váy, còn ông thì trắng bệch như tờ giấy!”

“Mai thì ông chẳng nói thế nữa đâu.”

“Matthias này, lọc lõi như ông thì chắc chẳng phí một ngày nào rồi.”

“Chao ôi, giữa bàn dân thiên hạ ư? Thôi đi! Người ta có phải con ngỗng đực đâu.”

“Tôi chẳng dám cược nửa cút rượu rằng bà nói đúng đâu. Bà biết đấy: cứ ném hòn sỏi vào bụi rậm là chim bay ra! Trưởng làng bảo bà thế đấy!”

Yagna lẻn ra khỏi phòng; cả bọn cười phá lên.

Rồi đám đàn bà mặc sức khua môi múa mép, chẳng buồn giữ ý gì với lời mình nói ra.

Tiếng ồn mỗi lúc một lớn, khách khứa cũng theo đó mà vui vẻ thêm. Boryna cầm chai rượu đi mấy vòng quanh đám khách; đám nhảy giờ đông hơn, nhún nhảy nhanh nhẹn hơn, bắt đầu giậm chân và ca hát, xoay quanh phòng theo những vòng rộng hơn.

Bấy giờ Ambrose mới ló mặt tới, ngồi xuống (gần như ngay chỗ ngưỡng cửa), mắt thèm thuồng dõi theo chai rượu đi vòng quanh.

Trưởng làng gọi với sang: “Bác chẳng bao giờ quay đầu, trừ phi nghe tiếng ly chạm nhau.”

“Thì cũng vì cái tiếng chạm ly ấy!” bác đáp. “Mà cho kẻ khát uống là có công đức đấy.”

“Đồ bầu da! Nước đây, uống đi!”

“Cái tốt cho trâu bò chưa chắc tốt cho người. Người ta bảo: ‘Nước lã thi thoảng uống thì cũng chẳng sao, chứ rượu thì chưa hại ai bao giờ!’”

“Rượu đây, bác nói hay thế cơ mà.”

“Ông trưởng làng uống trước đi!—Người ta còn bảo: ‘Nước cho lễ rửa tội, rượu cho đám cưới, nước mắt cho đám ma!’”

“Nói phải lắm: uống thêm chén nữa đi.”

“Chén thứ ba tôi cũng chẳng chối. Vợ cả thì tôi uống một chén, mà vợ hai thì hai chén!”

“Sao lại thế?”

“Vì mụ ấy chết đúng lúc cho tôi đi kiếm vợ ba.”

“Chà! Vẫn còn mơ tưởng đàn bà, mà mắt già cứ chập tối là chẳng thấy gì nữa!”

“Đâu phải lúc nào cũng cần thấy.”

Nghe vậy cả bọn cười ầm lên, còn đám đàn bà thì kêu:

“Về khoản mê rượu với mê nói, hai bác này xứng đôi lắm.”

“Có câu rằng: ‘Vợ khéo mồm, chồng khỏe tay, thì trên đời này việc gì mà chẳng nên.’”

Trưởng làng lúc này đã ngồi xuống cạnh Ambrose, những người khác xúm lại quanh, ai còn chỗ thì ngồi, không thì đứng vây quanh, chẳng buồn để ý đám nhảy có vướng hay không.

Rồi thì những câu nói dí dỏm, những lời bông đùa, những chuyện tiếu lâm, những trò chọc ghẹo vui vẻ cứ nổ ran như đạn, khiến ai nấy cười rung cả người. Ở khoản này Ambrose là tay cầm chịch, cứ nhè mặt người nghe mà trêu, hóm hỉnh và tếu đến mức họ cười muốn vỡ bụng. Trong đám đàn bà thì về tài pha trò Vachnikova chẳng chịu nhường ai; mụ kéo cây vĩ cầm chính, còn trưởng làng thì kéo bè trầm, trong chừng mực phẩm giá chức sắc cho phép.

Đám nhạc công cưa đàn hết sức bình sinh, kéo ra những điệu rộn rã nhất họ có; đám nhảy cũng lết chân nhanh hết cỡ, vừa hò vừa hét, gót chân gõ nhịp thoăn thoắt. Hào hứng và khoái chí, họ quên bẵng cả thiên hạ, thì một người tình cờ trông thấy Yankel đứng ngoài lối đi. Lập tức họ kéo tuột lão vào phòng. Lão Do Thái bỏ mũ, cúi chào và thi lễ thân tình với tất cả mọi người, chẳng buồn để ý đến những cái tên người ta trút xuống đầu mình.

“Đồ da vàng!—Đồ chưa rửa tội!—Đồ con ngựa cái!”

“Im mồm cả đi!” trưởng làng quát. “Mời bác ấy uống chứ! Này, một ly rượu ngon nhất!”

“Tôi đi ngang qua đường, muốn xem các bác nhà nông vui thú thế nào.—Cầu Chúa ban phúc cho ông trưởng làng.—Tôi xin nhấp một hớp rượu—sao lại không nhỉ?—chúc mừng đôi tân hôn!”

Boryna nâng chai mời Yankel; lão lấy vạt áo khoác dài lau ly, đội mũ lên đầu, rồi làm cạn một ly, tiếp đến ly thứ hai.

“Nán lại chút đi, Yankel: có ô uế gì bác đâu,” họ vui vẻ kêu lên. “Này nhạc công, chơi cho chúng tôi điệu nhảy Do Thái, để Yankel nhảy tưng lên nào.”

“Được, tôi nhảy chứ; sao lại không? Có tội tình gì đâu.”

Nhưng chưa kịp để đám nhạc công hiểu người ta muốn gì ở họ, Yankel đã lặng lẽ lẻn ra lối đi rồi biến mất ngoài sân. Lão đến là để lấy lại khẩu súng của mình.

Họ hầu như chẳng ai để ý lão đi. Suốt lúc ấy Ambrose vẫn tiếp tục cuộc mua vui của mình, với Vachnikova đệm bè xen-lô, có thể nói vậy. Và bác cứ thế cho đến bữa tối, khi tiếng nhạc dứt, bàn được đẩy ra, tiếng bát đĩa lách cách vang lên: vậy mà họ vẫn nghe, còn bác vẫn thao thao.

Boryna mời họ vào ăn, nhưng chẳng ăn thua. Yagna mời đi mời lại mấy lần. Trưởng làng chỉ kéo cô vào vòng người, bắt ngồi xuống cạnh mình, rồi nắm lấy tay cô.

Chính Yasyek (tục gọi là Lộn Tùng Phèo) rống lên: “Nào bà con ơi, vào ăn đi: đồ ăn nguội cả rồi.”

“Câm cái mồm lại, đồ ngu, không thì lấy lưỡi mà liếm đĩa.”

“Lão Ambrose! Lão nói dối như phường du mục, mà tưởng chúng tôi không biết chắc!”

“Yasyek, người ta nhét gì vào mồm thì cứ nuốt: mày giỏi khoản ấy. Còn tao thì để yên, mày không phải tay tao đâu!”

“Không phải tay ông! Cứ thử xem nào!” thằng nhóc ngốc nghếch hét lên. Nó tưởng Ambrose nói chuyện đánh nhau.

“Con bò cũng làm được mọi thứ mày làm... mà có khi còn hơn!”

“Chỉ vì bưng cái bô đêm cho cha xứ mà lão Ambrose tưởng thiên hạ chẳng ai khôn bằng lão.”

Ambrose phật ý, gầm gừ: “Thả con bê vào nhà thờ, nó bước ra vẫn hoàn con bê.—Đồ ngu!”

Mẹ Yasyek toan bênh con. Nó vào bàn trước tiên, rồi những người khác cũng vội vàng ngồi vào chỗ; bởi đám nấu bếp đã bưng lên những món còn bốc khói, mùi thơm nức cả phòng.

Họ ngồi theo thứ bậc, đúng như lễ nhập gia của cô dâu đòi hỏi: Dominikova cùng các con trai ngồi giữa, phù rể phù dâu ngồi với nhau; Boryna và Yagna vẫn đứng để hầu khách và trông chừng cho mọi sự được chu tất.

Tiếp đó là một quãng yên ắng, chỉ trừ lũ trẻ ranh ngoài kia làm ồn bên cửa sổ, đánh nhau chí chóe, và con Lapa sủa nhặng lên quanh nhà quanh lối đi. Cả bọn im lặng và giữ ý trong lúc ra sức chén sạch đồ ăn: chỉ nghe tiếng thìa lanh canh chạm vành đĩa và tiếng ly cụng nhau đi vòng quanh bàn.

Yagna bận rộn không lúc nào ngơi, đặt trước mặt mỗi khách một món ngon riêng: chỗ này miếng thịt, chỗ kia món gì đó thật ngon. Và cô mời mọc ai nấy đừng khách sáo, giọng lễ phép đến thế, dáng vẻ tự nhiên duyên dáng đến thế, sắc đẹp và lời nói dễ nghe của cô chinh phục mọi tấm lòng, đến nỗi lắm người đàn ông có mặt cứ phải ngây ra ngắm cô mà thán phục, ngay cả mẹ cô cũng đặt thìa xuống để nhìn con gái mà nở mày nở mặt.

Boryna cũng để ý thấy vậy, và khi cô tình cờ đi xuống bếp, ông theo sau, đuổi kịp cô ngoài lối đi, ôm chặt lấy cô và hôn cô cuống quýt.

“Mình ơi, mình đảm đang quá!—Cứ như bà chủ dinh điền—đường bệ mà việc gì cũng vừa ý!”

“Chứ chẳng phải sao?—Thôi ông chạy vào phòng đi: Gulbas với Simon ngồi tách ra một góc, mặt mũi cau có, ăn chẳng được mấy. Ông rủ họ uống với ông đi!”

Ông nghe lời, làm đúng mọi điều cô muốn. Còn Yagna lúc này thấy trong lòng vui lạ, chan chứa yêu thương. Cô biết mình là bà chủ của cái nhà này, biết rằng quyền hành đã vào tay mình bằng cách nào đó: và cùng với đó cô thấy trong người dâng lên một thứ uy quyền, một sự thanh thản và sức mạnh. Cô đi lại thong dong khắp nhà, nhìn đâu cũng bằng con mắt tinh tường, quán xuyến mọi việc như thể đã làm dâu từ lâu lắm.

“Cô ta là hạng người thế nào thì lão già rồi sẽ sớm biết thôi, ấy là việc của lão; nhưng theo tôi, cô ta có chất của một bà chủ nhà—mà một bà chủ giỏi nữa kia!” Eva lẩm bẩm với Yagustynka.

“Đứa ngu mà được lòng thì lúc nào cũng hóa khôn,” mụ kia đáp lại chua chát. “Mọi sự cứ thế cho đến khi cô ta chán ngấy lão già, rồi lại bắt đầu chạy theo mấy thằng trai trẻ.”

“Ừ, thằng Matthew đang rình đấy: nó có buông cô ta đâu.”

“Nhưng rồi nó sẽ phải buông! Sẽ có kẻ khác bắt nó buông!”

“Boryna à?”

“Boryna ư?” Mụ cười một nụ cười nham hiểm. “Không, còn kẻ mạnh hơn kia. Tôi muốn nói—thôi: rồi thời gian sẽ cho biết, bà sẽ thấy.—Vitek! Đuổi con chó ấy đi: nó sủa mãi nhức cả tai. Đuổi cả lũ nhóc kia nữa: chúng nó làm vỡ kính bây giờ, hay bày ra trò gì đấy.”

Vitek cầm gậy lao ra. Con chó thôi sủa. Nhưng ngoài kia vang lên tiếng la và tiếng chân rầm rập của một lũ nhóc chạy tán loạn. Nó đuổi chúng ra tận đường, rồi chạy về, cúi gập người tránh trận mưa đất đá ném theo.

Roch hiện ra trong bóng tối ở góc sân. “Vitek, đợi chút. Con gọi bác Ambrose ra cho ta; bảo là ta cần bác ấy gấp lắm, ta đợi ở hiên.”

Mãi một lúc sau Ambrose mới ra, mặt mũi cáu kỉnh hết chỗ nói. Bữa tối của bác bị cắt ngang, mà lại đúng vào món ngon nhất—lợn sữa hầm đậu.

“Gì? Gì thế? Nhà thờ cháy hay sao?”

“Đừng nói to thế. Sang chỗ Kuba đi: tôi e nó sắp chết.”

“Ôi, thì cứ để nó chết, đừng có làm người ta mất bữa tối! Mới chiều nay tôi còn ở với nó, bảo nó phải vào nhà thương cưa cái chân đi, thế là khỏi ngay.”

“Bác bảo nó thế à?—Ôi, vậy thì tôi hiểu rồi.... Tôi—tôi nghĩ nó đã tự chặt chân mình!”

“Lạy Chúa lạy Mẹ!—Chân—chân nó ư?”

“Ra ngay mà xem. Tôi định vào chuồng bò ngủ, vừa bước vào sân thì con Lapa chạy tới sủa, nhảy chồm lên, cắn áo tôi mà kéo. Tôi chẳng hiểu nó muốn gì; nhưng nó chạy lên trước, ngồi xuống ngưỡng cửa chuồng ngựa mà tru. Tôi lại đó thì thấy Kuba nằm ngay cửa, nửa trong nửa ngoài. Ban đầu tôi tưởng nó ra hóng gió rồi ngất giữa đường: thế là tôi bế nó về ổ rơm, thắp đèn lồng lên lấy nước cho nó; lúc ấy tôi mới thấy nó bê bết máu khắp người—mặt tái nhợt như xác chết, máu từ chân tuôn ra.”

Họ vào trong, Ambrose cố hết sức làm cho Kuba tỉnh lại; nhưng anh chàng khốn khổ đã kiệt sức lắm rồi. Anh thở chẳng ra hơi, tiếng khò khè lọt qua kẽ răng nghiến chặt đến nỗi muốn cho anh uống chút nước, họ phải lấy dao mà cạy ra.

Cái chân bị chặt đứt ở đầu gối, vẫn còn lủng lẳng bởi một mảnh da, máu chảy ròng ròng.

Một vũng máu lớn đọng trên ngưỡng cửa, ngay cạnh chiếc rìu bê bết máu và hòn đá mài—vốn vẫn để dưới mái hiên, giờ lăn lóc gần cửa.

“Ừ, nó tự chặt đấy. Sợ nhà thương.—Ngu thật, tưởng làm thế thì được việc: nhưng cũng gan lì và quyết đoán đấy chứ.—Lạy Chúa!... chân của chính nó!... không sao tin nổi.... Mà mất bao nhiêu là máu!”

Vừa lúc ấy Kuba mở mắt, đưa mắt nhìn quanh, thần trí dần trở lại.

“Đứt chưa?... Cháu chém hai nhát, rồi ngất đi———” anh thều thào.

“Có đau không?”

“Chẳng đau gì cả.... Người nhũn ra như nước... nhưng không ốm.”

Ambrose lau rửa rồi băng cái chân bằng giẻ ướt, Kuba nằm im suốt lúc ấy, chẳng buông một tiếng nào.

Roch quỳ gối cầm đèn lồng, miệng cầu nguyện sốt sắng; còn người bệnh thì mỉm cười—một nụ cười yếu ớt đẫm nước mắt, như đứa trẻ mồ côi bị bỏ lại ngoài đồng, chỉ biết rằng mẹ không có ở đấy chứ không biết rằng mẹ đã bỏ rơi mình, cứ vui với ngọn cỏ đung đưa trên đầu, với những tia nắng, chìa tay ra với lũ chim bay ngang, trò chuyện với hết thảy quanh mình theo cách riêng của nó: anh lúc này cũng thấy hệt như vậy. Anh thấy dễ chịu, chẳng đau đớn gì, lại còn thoải mái; vui đến mức chẳng bận tâm mảy may đến bệnh tật, mà trong bụng còn thầm hãnh diện về mình. Anh đã mài cái rìu sắc làm sao! Đã đặt cái chân lên ngưỡng cửa khéo làm sao, và—một nhát chưa đủ—đã dồn hết sức chém nhát thứ hai! Giờ thì hết đau rồi; vậy hẳn là anh đã làm nên việc.—Ôi, giá mà khỏe hơn một chút, anh đã chẳng nằm mục ra trên ổ rơm ấy nữa, mà dậy đi dự đám cưới... nhảy nữa kia—và ăn một miếng, vì anh thèm ăn lắm!

“Anh nằm yên đấy, đừng cựa quậy. Tôi sẽ bảo Yuzka, lát nữa anh sẽ có cái ăn.” Roch nói vậy, vỗ vỗ lên má anh; rồi cùng Ambrose ra sân.

“Nó đi trước lúc trời sáng thôi—ngủ thiếp đi như con chim nhỏ: trong người còn giọt máu nào nữa đâu.”

“Vậy thì phải cho người đi mời cha xứ ngay, khi anh ta còn tỉnh.”

“Cha đi dự tối ở dinh điền bên Vola rồi.”

“Tôi sẽ đi báo cha: không thể chậm trễ được.”

“Năm dặm đường, lại lội bộ xuyên rừng! Bác chẳng kịp đâu.—Không: xe của mấy người khách ăn xong là về đã thắng sẵn cả rồi; lấy một cỗ mà đi.”

Họ đánh một cỗ xe ra đường, và Roch trèo lên ngồi.

“Đừng quên Kuba đấy!” ông gọi với lại lúc xe chuyển bánh. “Trông nom nó với!”

“Được, được, tôi nhớ, không để nó nằm một mình đâu.”

Vậy mà gã quên bẵng gần như ngay tức khắc. Dặn Yuzka mấy món ăn xong, gã quay lại bàn tiệc, rồi dán mình vào chai rượu chặt đến nỗi chẳng mấy chốc chẳng còn nhớ gì nữa....

Yuzka vốn là con bé tốt bụng, liền bưng sang cho anh tất cả những gì kiếm được, chất đầy một đĩa, kèm nửa lít rượu.

“Đây, anh Kuba, phần anh đấy, ăn cho ngon nhé.”

“Chúa ban phúc cho em!—Xúc xích thì phải, tôi đoán vậy;—thơm quá đi mất!”

“Em rán lại cho anh, ăn mới đậm.” Cô bé đặt chiếc đĩa vào tay anh, vì trong chuồng ngựa tối om. “Nhưng anh uống ngụm rượu trước đã.”

Anh dốc cạn ly, không chừa lấy một giọt.

“Em ngồi với tôi một lát được không? Ở đây tôi thấy trống trải quá.”

Anh bẻ miếng ăn, cắn rồi nhai—nhưng chẳng nuốt nổi chút nào.

“Bên ấy vui vẻ cả chứ?”

“Ôi, vui lắm! Mà đông người ơi là đông! Cả đời em chưa thấy đám nào lắm khách thế.”

“Chứ sao, chứ sao,” anh nói, giọng đầy hãnh diện; “đám cưới nhà ông Boryna cơ mà?”

“Vâng; cha em thì khoái ra mặt ... cứ quấn lấy Jagna suốt!”

“Phải thôi, cô ấy đẹp thế cơ mà—đẹp chẳng kém gì bà lớn bên dinh điền.”

“Anh biết không, thằng Simon, con nhà Dominikova, phải lòng con Nastka rồi đấy!”

“Mẹ nó sẽ cấm cho mà xem. Nhà Nastka chỉ có ba mẫu ruộng, mà tới mười cái miệng ăn.”

“Thế nên bà ấy mới canh chừng gắt gao, hễ bắt gặp hai đứa với nhau là lôi ra mỗi đứa một nơi.”

“Trưởng làng có sang không?”

“Có. Nói chuyện ghê lắm, lại còn—cùng với bác Ambrose—chọc cho cả đám cười ngất.”

“Chứ sao nữa, đám cưới to thế, chủ nhà lại là người có vai vế thế?—Em có hay tin gì về anh Antek không?”

“Chao, chập tối em có chạy sang chỗ anh ấy, mang bánh với thịt với bánh mì cho mấy đứa nhỏ. Thế mà anh ấy đuổi em ra, ném theo cả mấy thứ ấy. Anh ấy gan lì lắm; mà dữ nữa. Ôi, dữ ơi là dữ! Trong túp nhà ấy chỉ thấy tiếng khóc với cảnh khổ. Chị Hanka thì cãi nhau với em gái suốt, suýt nữa thì thượng cẳng chân hạ cẳng tay.”

Anh không đáp, chỉ thở nặng nhọc hơn đôi chút.

“Yuzka này,” lát sau anh nói, “con ngựa cái!—tôi nghe nó rên. Từ chiều nó cứ nằm bệt: chắc sắp đến kỳ đẻ rồi, phải trông cho kỹ. Em nấu cho nó nồi cám. Nghe nó rên kìa! Mà tôi thì chẳng giúp được gì, yếu quá—chịu chết!”

Anh đã kiệt sức, một lúc lâu chẳng nói thêm gì nữa, trông như thiếp đi.

Yuzka đứng dậy, vội vã đi ra.

“Ces, Ces, Ces!” anh gọi con ngựa cái, khi chợt bừng tỉnh.

Con ngựa hí khẽ một tiếng, rồi giật dây buộc đến nỗi sợi xích lại kêu loảng xoảng.

“Thế là ít ra một lần trong đời, mình cũng được ăn no! Ừ, mà cả mày nữa, con chó ngoan, cũng có phần: khỏi phải rên rỉ.”

Anh thử nuốt thêm một miếng xúc xích nữa, nhưng vô ích: miếng ăn nghẹn ngang cổ họng.

“Lạy Chúa, lạy Chúa, thức ăn cả đống thế này ... mà mình không sao ăn nổi lấy một miếng!”

Phải, hoàn toàn vô ích: anh không ăn được. Bàn tay anh rũ xuống, và vẫn nắm chặt miếng thịt, anh giấu nó xuống dưới lớp rơm lót giường.

“Nhiều thế này! Chưa bao giờ nhiều thế! Vậy mà đành bỏ phí!”—Anh thấy tủi trong lòng.

“Nhưng thôi, để ta nghỉ một lát đã; lát nữa ăn được thì tha hồ mà tiệc tùng.”

Sau đó anh vẫn không ăn nổi, rồi lịm dần vào cơn mê man, tay còn giữ khúc xúc xích, chẳng hay con Lapa đang lén gặm dần.

Bỗng nhiên anh tỉnh trí lại.—Bữa tối đã xong, và từ bên kia sân, một tràng nhạc ập vào tai anh mạnh đến nỗi vách chuồng ngựa cũng rung lên, đàn gà hoảng hốt trên sào cục tác ầm ĩ.

Cuộc nhảy đã vào lúc tưng bừng náo nhiệt nhất—tiếng cười, tiếng đùa, tiếng vui. Hết đợt này đến đợt khác, tiếng chân giậm vang lên, và tiếng ré lảnh lót của các cô gái xuyên thủng màn đêm.

Thoạt tiên Kuba còn lắng tai; nhưng chỉ lát sau anh quên hết mọi sự. Cơn thiếp ngủ chộp lấy anh, cuốn anh đi vào một thứ bóng tối vang động, như thể chìm dưới dòng nước xoáy chảy xiết rì rầm. Nhưng khi cuộc nhảy càng ồn hơn, khi tiếng huyên náo của những gót giày giậm đất như sắp đập vỡ tan tành mọi thứ, anh khẽ cựa mình: linh hồn anh ngước nhìn ra khỏi ngục tối nơi nó nằm; bừng khỏi cõi quên, trở về từ những khoảng cách vô tận, nó lắng nghe.

Những lúc như thế, Kuba lại cố ăn một chút, hoặc thì thầm rất khẽ, mà tự đáy lòng:

“Ceska, Ces, Ces!”

Và giờ đây, cuối cùng, linh hồn anh đang từ từ rút đi—chắp cánh bay xuyên qua toàn cõi vạn vật. Là con chim thần vừa đủ lông đủ cánh, thoạt tiên nó chấp chới quanh quẩn, chưa bay cao nổi, và đôi lúc lại dấy lên chút quyến luyến với mảnh đất thiêng là thân xác nó, nơi nó những muốn nghỉ lại cho đỡ mỏi đường bay, và khao khát xoa dịu nỗi đau ly biệt giữa chốn người ở. Nó quay về mặt đất, về giữa những người thân của anh, những người nó thương yêu, thảm thiết gọi anh em mình, van xin họ đỡ nâng: nhưng ít lâu sau, được quyền năng và lòng thương xót của Chúa làm cho mạnh mẽ, nó mới bay bổng lên cao được, lên tận những cánh đồng huyền bí của mùa xuân bất tận, những khoảnh đất hoang vô biên vô hạn mà Chúa đã làm cho đẹp đẽ bằng ánh nắng vĩnh cửu và niềm vui đời đời.

Và nó bay lên cao nữa, cao nữa, cao nữa, cao mãi—phải, cho tới khi đặt được chân xuống——

Nơi con người không còn nghe thấy tiếng than khóc, cũng chẳng nghe những hợp âm nghịch tai buồn thảm của muôn loài có hơi thở——

Nơi chỉ có hoa huệ thơm toả hương dịu ngọt, nơi những cánh đồng hoa nở đưa mùi ngọt như mật lan trong không khí; nơi những dòng sông đầy sao chảy trên lòng suối muôn màu; nơi đêm chẳng bao giờ tới——

Nơi những lời kinh lặng lẽ mãi mãi bay lên, như khói hương, thành từng đám mây thơm ngát; nơi chuông ngân, nơi đàn dạo êm đềm; và đoàn người được cứu chuộc—các Thiên thần cùng các Thánh—đồng thanh hát ngợi khen Chúa trong Hội Thánh, Thành đô thiêng liêng và bền vững muôn đời!

Phải, rã rời và chỉ mong được yên nghỉ, linh hồn Kuba đã bay về nơi ấy!

* * * * *

Còn trong nhà thì ai nấy đều đang nhảy—vui chơi hết sức nồng nhiệt và hết lòng hết dạ. Còn vui hơn cả tối hôm trước, vì rượu thịt được dọn ra hào phóng hơn, chủ nhà lại mời mọc nằng nặc hơn. Thế là họ nhảy cho đến khi không nhảy nổi nữa.

Cả gian nhà sôi sục như cái vạc đặt trên đống lửa lớn. Hễ cuộc vui có vẻ chùng xuống là lập tức phường nhạc lại rướn lên hăng hơn; và khách khứa, như một cánh đồng bị gió lùa mà dập dờn, lại bật dậy, lại nhảy với lửa mới, tiếng hát mới, tiếng ồn và náo động mới.

Bấy giờ hồn vía họ chảy tan ra trong niềm hào hứng bốc như núi lửa của chủ nhà; máu họ sôi lên, lý trí gần như buông xuôi, tim đập trong cơn cuồng dại nhất. Với họ lúc này, mỗi cử động đều là một điệu nhảy, mỗi tiếng kêu đều là một câu hát, mỗi cái nhìn đều là một tia ngất ngây!

Và cứ thế suốt đêm, mãi cho tới sáng. Nhưng ngày lên xám xịt và lặng lẽ: những tia rạng đông hiện ra cùng với từng khối mây dày ảm đạm. Mặt trời chưa kịp mọc, thế gian đã tối sầm và buồn thảm. Rồi tuyết rơi: thoạt tiên xoáy tròn, chấp chới, thưa thớt—như lá kim rụng khỏi cây thông trong một ngày lộng gió; rồi mới rơi thật sự.

Rồi, như thể lọt qua một cái sàng, tuyết đổ xuống thành từng bông thẳng đứng, thẳng tuột, đều tăm tắp, đơn điệu, không một tiếng động, phủ kín mái nhà, cây cối, bờ giậu, và cả mặt đất, như một tấm chăn lông trắng mênh mông.

Đám cưới rốt cuộc cũng thật sự tàn. Đành rằng tối họ còn hẹn gặp nhau ở quán rượu để “kết đám”; nhưng lúc này thì họ quyết định ai về nhà nấy.

Chỉ có phù rể và phù dâu, với phường nhạc dẫn đầu, xếp hàng nơi hiên nhà và đồng thanh hát một bài ngắn, trong đó họ tự nhận là kẻ hầu tận tuỵ của đôi vợ chồng mới cưới, và chúc hai người ngủ ngon—vào lúc sáng bạch!

Cũng chính lúc ấy, Kuba đặt linh hồn mình dưới chân thánh của Chúa Giêsu....

HẾT PHẦN I